1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận lao động việt nam đang đứng trước nguy cơ thất nghiệp công nghệ do đổi mới công nghệ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư quan điểm của anhchị như thế nào về nhận định này

22 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lao động Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thất nghiệp công nghệ do đổi mới công nghệ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế lao động
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 69,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

20 TRƯỜNG ĐỀ TIỂU LUẬN GIỮA KỲ LỚP KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ XÃ HỘI 2022 LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC NGUY CƠ THẤT NGHIỆP CÔNG NGHỆ DO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ QUAN ĐIỂM CỦA ANHCHỊ NHƯ THẾ NÀO VỀ NHẬN ĐỊNH NÀY? Họ tên học viên Mã số học viên Ngày sinh Lớp Khóa học Hà Nội 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I MÔT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC NGUY CƠ THẤT NGHIỆP CÔNG NGHỆ DO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH CUỘC.

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

I.

MÔT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG

VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC NGUY CƠ THẤT

NGHIỆP CÔNG NGHỆ DO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP

1.1 Bối cảnh ra đời và đặc trưng của cuộc Cách mạng Công nghiệp

1.2 Đặc điểm thất nghiệp công nghệ do tác động của cuộc Cách

mạng Công nghiệp lần thứ tư 7

II.

NHỮNG NGUY CƠ VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP KHẮC

PHỤC TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM THẤT

NGHIỆP CÔNG NGHỆ DO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP

2.1 Nguy cơ đối với lao động Việt Nam về thất nghiệp công nghệ

trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư 112.2

Định hướng giải pháp khắc phục tình trạng lao động Việt Nam

thất nghiệp công nghệ do đổi mới công nghệ trong bối cảnh cuộc

Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư 14

Trang 3

MỞ ĐẦU

Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội hết sức phức tạp Vì vậy, đâykhông chỉ là vấn đề lớn được các nhà kinh tế học tập trung nghiên cứu, mà còn làmối quan tâm đặc biệt của các quốc gia, dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triểncủa mình Trong xã hội tư bản, thất nghiệp chính là nguồn dự trữ sức lao động dùng

để mở rộng sản xuất Đồng thời, nhà tư bản lợi dụng nạn thất nghiệp để tăng cườngbóc lột công nhân tại nghiệp nhằm mục đích thu được ngày càng nhiều giá trị thặng

dư, qua đó mà củng cố địa vị thống trị của mình V.I Lênin đã chỉ ra rằng: “Thấtnghiệp là vật phụ thuộc cần thiết của kinh tế tư bản chủ nghĩa, không có nó thì kinh

tế tư bản chủ nghĩa không thể tồn tại và phát triển được” [11, tr.190]

Với cách nhìn như vậy, “sự xuất hiện cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ

tư với sự thay đổi mang tính bước ngoặt, làm đảo lộn tất cả quan điểm, cách nhìnnhận cũ của con người về thế giới đương đại và những điều tất yếu mà nó tạo ravới những chuyển biến, những xáo trộn chưa từng thấy trong lịch sử nhân loạicũng là một lẽ đương nhiên Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh

mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó sẽ làm gia tang nguy cơ thất

nghiệp” [4, tr.189] Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Lao động Việt Nam đang đứng

trước nguy cơ thất nghiệp công nghệ do đổi mới công nghệ trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và

thực tiễn sâu sắc

Trang 4

NỘI DUNG

I MÔT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC NGUY CƠ THẤT NGHIỆP CÔNG NGHỆ DO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

1.1 Bối cảnh ra đời và đặc trưng của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư

Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư gắn liền với thuật ngữ “Công nghiệp 4.0,lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ Công nghệ Ha-nô-vơ ở Cộng hòa Liên bangĐức năm 2011 Năm 2012, thuật ngữ này được đặt tên cho một chương trình hỗ trợcủa Chính phủ Liên bang Đức hợp tác với giới nghiên cứu và các hiệp hội côngnghiệp hàng đầu của Đức nhằm cải thiện quy trình quản lý và sản xuất trong cácngành chế tạo thông qua điện toán hóa Ngày 20 tháng 01 năm 2016, Diễn đàn kinh

tế thế giới (WEF) lần thứ 46 đã chính thức khai mạc tại thành phố Đa-vốt của Thụy

Sĩ, với chủ đề Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thu hút sự tham dự của 40nguyên thủ quốc gia và trên 2.500 quan khách từ hơn 100 quốc gia Khái niệm cuộccách mạng công nghiệp lần thứ tư hay Công nghiệp 4.0 đã được làm rõ tại diễn đànnày Từ đó đến nay, thuật ngữ Công nghiệp 4.0 được sử dụng rộng rãi trên thế giới

để mô tả cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [3, tr.120]

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ra đời trong bối cảnh:

Một là, “khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 đặt

ra yêu cầu phải điều chỉnh, thậm chí thay đổi căn bản mô hình phát triển theo hướngcân bằng hơn, hiệu quả và bền vững hơn Các nguy cơ về an ninh năng lượng, anninh môi trường đòi hỏi các nước đẩy mạnh đầu tư, nghiên cứu đổi mới, sáng tạo,tìm ra các giải pháp công nghệ, tối ưu hóa quá trình sản xuất theo hướng thân thiệnvới môi trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng” [3, tr.156]

Hai là, “trước sự cạnh tranh gay gắt của các nền kinh tế mới nổi nhờ lợi thế

chi phí lao động thấp, các nước công nghiệp phát triển đứng trước sức ép rất lớnphải tái cơ cấu kinh tế để tiếp tục duy trì vị thế dẫn dắt nền kinh tế thế giới, nhất làtrong các ngành công nghệ cao” [3, tr.157]

Ba là, “do xu hướng già hóa dân số, lực lượng lao động giảm không những

làm giảm tốc độ tăng trưởng mà còn làm giảm năng lực cạnh tranh của các nước

Trang 5

công nghiệp phát triển và một số nền kinh tế mới nổi, đòi hỏi các nước này đầu

tư nhiều hơn vào phát triển khoa học, công nghệ nhằm bù đắp thiếu hụt laođộng” [3, tr.158]

Bốn là, “sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ trên lĩnh vực trí tuệ

nhân tạo, công nghệ người máy, internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn, công nghệ in3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, vật liệu mới, lưu trữ năng lượng vừa làđộng lực, vừa tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc tiến hành cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ tư” [3, tr.160]

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những đặc trưng sau:

Một là, “nhờ khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp

cận với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởinhững đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực” [3, tr.190]

Hai là, “tốc độ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là không có tiền lệ

trong lịch sử Nếu các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây diễn ra với tốc độtuyến tính, thì tốc độ phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là theohàm số mũ” [3, tr.191]

Ba là, “cuộc cách mạng lần này làm thay đổi căn bản cách thức con người tạo

ra sản phẩm, từ đó tạo nên cách mạng về tổ chức các chuỗi sản xuất - giá trị Bềrộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi mạnh mẽ củatoàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị của xã hội loài người” [3, tr.193]

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - cơ hội và thách thức đối với Việt Nam:

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những tác động to lớn về kinh tế

-xã hội và môi trường ở tất cả các cấp độ: toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia;các tác động này mang tính tích cực trong dài hạn song cũng tạo ra nhiều thách thứctrong ngắn hạn và trung hạn

Về mặt kinh tế, “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động mạnh

mẽ đến sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế thế giới chuyển sang kinh tế tri thức - thôngminh Các thành tựu mới của khoa học, công nghệ được ứng dụng để tối ưu hóaquá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng và quản lý, quản trị Với việctăng cường tự động hóa và ứng dụng số hóa trong quá trình sản xuất, tài nguyênthiên nhiên, lao động phổ thông chi phí thấp ngày càng mất dần lợi thế; sản xuất

Trang 6

đang chuyển dịch dần từ các nước có nhiều lao động phổ thông và tài nguyên sangnhững nước có nhiều trung tâm nghiên cứu, phát triển, nhiều lao động có kỹ năng,chuyên môn cao và gần thị trường tiêu thụ Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn tăngtrưởng chủ yếu dựa vào công nghệ và đổi mới, sáng tạo; đây là những động lựckhông giới hạn thay cho tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, sử dụngvốn, lao động phổ thông là những yếu tố đầu vào luôn có giới hạn Cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ tư cũng sẽ tác động tích cực đến tiêu dùng và giá cả Theo đó,người dân được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với những sản phẩm và dịch vụ mớivới chi phí thấp hơn, như: gọi taxi, đặt vé máy bay, mua bán sản phẩm, thanh toán,nghe nhạc, xem phim qua mạng Những đột phá về công nghệ trong các lĩnh vựcnăng lượng, vật liệu, internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, người máy, in 3Dgiúp giảm mạnh áp lực chi phí, qua đó làm giảm giá cả hàng hóa và dịch vụ Tất cả

sẽ giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” [6, tr.120]

Về mặt môi trường, “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động tích

cực trong ngắn hạn và hết sức tích cực trong trung hạn và dài hạn nhờ các ứng dụngcông nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu thân thiện với môi trường và cáccông nghệ giám sát môi trường đang phát triển nhanh được hỗ trợ bởi internet kếtnối vạn vật, giúp thu thập và xử lý thông tin liên tục theo thời gian thực cũng nhưđưa ra cảnh báo sớm về các thảm họa thiên nhiên” [6, tr.121]

Về mặt xã hội, “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu lao động xã hội ở nhiều nước với sự xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớpsáng tạo trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giảitrí, truyền thông, giáo dục, đào tạo, y tế, pháp luật Về việc làm, trong trung hạn vàdài hạn, các ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động kỹ năng thấp sẽ bị tác độngtrực tiếp và nhiều nhất do nhu cầu sử dụng lao động tay nghề cao tăng trong khi nhucầu sử dụng lao động kỹ năng thấp ngày càng giảm Nhóm lao động chịu tác độngmạnh nhất là lao động phổ thông do rất dễ bị thay thế bởi quá trình tự động hóa vàngười máy Chênh lệch giàu nghèo có khả năng tiếp tục gia tăng Cuộc cách mạngcông nghiệp lần này cùng với những thay đổi nhanh chóng và rộng khắp, đặt cácnhà quản lý trước những thách thức ở mức độ chưa từng có về yêu cầu nâng caotrình độ quản lý và tốc độ ra quyết định” [6, tr.125]

Trang 7

Đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tếsâu rộng; do đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động mạnh đến ViệtNam, cả tích cực cũng như bất lợi “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sựphát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, xã hội thông tin, kinh tế tri thức và sựbiến chuyển trong các chuỗi giá trị toàn cầu đang tạo ra thời cơ mới cho Việt Namhội nhập sâu rộng hơn và hiệu quả hơn vào nền kinh tế thế giới Do điều kiện chiếntranh và hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam đã không có cơ hội để tiếp cận và bắt nhịpngay từ đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba Vì vậy, việc thế giới mới khởiphát cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cơ hội rất quý giá mà Việt Namkhông có được trong suốt hơn 30 năm qua để nhanh chóng đón bắt, tiến thẳng vàolĩnh vực công nghiệp mới, tranh thủ các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến đểđẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thu hẹp khoảngcách phát triển Tiềm năng phát triển của Việt Nam hiện nay còn rất lớn, chúng tavẫn đang ở trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, song thách thức đặt ra với nước ta làlàm sao tranh thủ phát huy tối đa và hiệu quả các tác động tích cực của cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ tư Nếu tận dụng tốt cơ hội và vượt qua được các tháchthức, Việt Nam sẽ có khả năng thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước tiêntiến, sớm thực hiện được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Ngược lại, nếu không có chiến lược phù hợp thông qua đổi mới giáo dục, đào tạo,chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển khoa học, công nghệ thì sức ép đối với pháttriển của Việt Nam còn lớn hơn nhiều, khoảng cách giữa nước ta với các nước pháttriển sẽ ngày càng tang” [7, tr.59-60].

Bên cạnh những lợi ích và cơ hội to lớn, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ

tư cũng đang đặt ra những thách thức gay gắt, đặc biệt là thách thức an ninh phitruyền thống Sự ra đời của thuật ngữ “an ninh phi truyền thống” phản ánh sự thayđổi nhận thức của con người về an ninh và việc mở rộng nội hàm khái niệm an ninhquốc gia “Nếu an ninh truyền thống coi an ninh quốc gia là bảo vệ đất nước trướccác mối đe dọa hoặc tấn công quân sự cả từ bên ngoài và bên trong, thì an ninh phitruyền thống - ngoài việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, còn bao gồm cả việc bảo vệ conngười (cá nhân) và cộng đồng trước những mối đe dọa và nhân tố mang tính xuyênquốc gia, phi chính trị, phi quân sự Hiện nay, bên cạnh những thách thức an ninhtruyền thống, đất nước ta đang phải đối mặt với những nguy cơ an ninh phi truyền

Trang 8

thống, nhất là an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh kinh tế, an ninh nguồnnước, năng lượng, lương thực, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai,dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao Đảng, Nhànước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và kịp thời đưa ra nhiều chủ trương, chínhsách, biện pháp ứng phó có hiệu quả với các nguy cơ an ninh phi truyền thống” [7,tr.61] Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã khẳng định sự cần thiết củaviệc “sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyềnthống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng”.

Sự kết nối và tương tác thông qua internet đã tạo nên không gian mạng, mở ramột kỷ nguyên mới thúc đẩy tiến trình phát triển xã hội của loài người “Không gianmạng đã trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu và đóng vai trò rất quantrọng trong việc xây dựng xã hội thông tin và kinh tế tri thức, đem lại lợi ích to lớncho sự phát triển của xã hội loài người Bên cạnh những lợi ích của không gianmạng, thế giới cũng phải đối mặt với các nguy cơ, như: chiến tranh mạng, tình báomạng, gián điệp mạng, tấn công mạng, tội phạm mạng và hàng loạt vấn đề phức tạpmới, như lãnh thổ mạng, chủ quyền mạng, biên giới mạng, cửa khẩu mạng, biênphòng mạng, an ninh mạng Kết hợp giữa hệ thống ảo và thực thể, internet kết nốivạn vật và các hệ thống, tấn công mạng sẽ ngày càng gia tăng, không chỉ dừng lại ởmục đích thu thập thông tin bí mật, mà còn nhằm phá hoại cơ sở dữ liệu, hạ tầngcông nghệ thông tin, thậm chí trở thành những loại vũ khí nguy hiểm, có sức tànphá nặng nề, được sử dụng song hành cùng các loại vũ khí truyền thống khi xungđột vũ trang xảy ra” [7, tr.62]

Việt Nam là “một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanhnhất thế giới, tốc độ ứng dụng và phát triển internet ngày càng tăng nhưng cũng đặt

ra những nguy cơ, thách thức, tiềm ẩn những yếu tố đe dọa an ninh quốc gia, trật tự,

an toàn xã hội Các thế lực thù địch triệt để sử dụng mạng viễn thông, internet đểtuyên truyền, phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, gây rối, bạoloạn nhằm lật đổ chính quyền, thay đổi thể chế chính trị ở nước ta Xuất hiện hàngnghìn trang thông tin điện tử, blog, trang mạng xã hội, đặc biệt là trên facebook, cónội dung xấu, đăng tải ấn phẩm đồi trụy, bạo lực, trái với thuần phong mỹ tục củadân tộc Hoạt động tình báo mạng, tội phạm mạng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, gâyhậu quả ngày càng nghiêm trọng Hệ thống mạng thông tin quốc gia, nhất là hệ

Trang 9

thống mạng thông tin của các cơ quan, tổ chức trọng yếu vẫn sẽ là mục tiêu tấncông xâm nhập của tin tặc nước ngoài; nguy cơ mất an ninh, an toàn thông tin, lộ,lọt bí mật nhà nước sẽ ngày càng nghiêm trọng nếu không có giải pháp phòng,chống hữu hiệu” [7, tr.64].

1.2 Đặc điểm thất nghiệp công nghệ do tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư

Thất nghiệp do công nghệ (technological unemployment) là “thất nghiệp phát

sinh từ quá trình cơ giới hóa và tự động hóa các hoạt động sản xuất Cơ giới hóa và

tự động hóa cải thiện năng suất lao động bằng cách làm giảm số lao động cần thiết

để sản xuất và phân phối hàng hóa Nếu nhu cầu tăng do chi phí sản xuất và giá cảgiảm, người lao động có thể không bị thất nghệp, vì lực lượng lao động như cũ giờđây sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, chứ không làm giảm lực lượng lao động để sảnxuất ra mức sản lượng như cũ” [1, tr.54]

Trong khi cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi mạnh

mẽ phương thức sản xuất và chế tạo thì nhu cầu lao động có kỹ năng, trình độ caotăng mạnh “Công nghệ mới cũng sẽ thay thế nhiều việc làm cũ đồng thời tạo nênnhiều việc làm mới Người lao động trong nước, nhất là lao động có trình độ, taynghề sẽ có điều kiện tiếp cận với thị trường lao động rộng lớn hơn Tuy nhiên, laođộng Việt nam cũng sẽ phải đối mặt với các thách thức mới Quy mô việc làm thuhẹp do tự động hóa rôbốt sẽ thay thế nhiều công việc do con người vẫn làm Cáchmạng Công nghiệp lần thứ tư với nền tảng công nghệ thông tin, sử dụng dữ liệu lớn

và trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra lực lượng người máy có khả năng thao tác các công việcđòi hỏi sự tinh vi, chính xác với chi phí rẻ hơn mà không cần chi phí đào tạo banđầu, và đương nhiên không phải lo đến tình trạng chi trả lương, đình công, quan hệlao động,… như với lao động sống của con người Hội nhập kinh tế quốc tế vànhững dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam sẽ thay đổi cơ cấu ngành nghềnhư mở rộng ngành dệt may, chế biến, lắp ráp, du lịch dịch vụ… nhưng cũng đồngthời thu hẹp các ngành sử dụng lao động phổ thông Những lao động có trình độ vàtay nghề sẽ hưởng lợi, nhất là những ngành nghề được mở rộng trong khi những laođộng khác thì thu nhập sẽ giảm và khoảng cách thu nhập sẽ tăng lên” [6, tr.201]

Sự thay đổi công nghệ có thể dẫn tới tình trạng thay thế hoặc thu hút lao động

“Nếu một công nghệ mới làm giảm chi phí và giá cả, nhu cầu về lao động có thể

Trang 10

tăng lên Trong trường hợp đó, sự thay đổi về công nghệ có thể làm tăng mức sửdụng lao động trong ngành sản xuất máy móc phục vụ cho công nghệ mới và điềunày cũng dẫn đên việc làm tăng mức sử dụng lao động nói chung Thất nghiệp dođổi mới công nghệ có thể đặc biệt nghiêm trọng ở cấp địa phương, khi các ngànhcông nghiệp tập trung ở vùng nào đó bị ảnh hưởng bởi những thay đổi mạnh mẽtrong công nghệ Chẳng hạn, việc áp dụng máy công cụ điều khiển bằng số và các

cơ sở lắp ráp bằng người máy đã gây ra những tác động cực kỳ mạnh mẽ tới mức sửdụng lao động trong một số ngành công nghiệp ở các nước phát triển Các chươngtrình trợ giúp và đào tạo lại lao động của chính phủ có thể góp phần làm giảm nhẹảnh hưởng của thất nghiệp do đổi mới công nghệ ở chừng mực nào đó, nhưngthường xuyên có nhiều công nhân không lành nghề bị mất việc do tiến bộ côngnghệ” [6, tr.203]

Việt Nam là “một trong những nước kinh tế đang phát triển, quy mô dân số

và mật độ dân cư tương đối lớn so với các nước trên thế giới và tốc độ phát triểnnhanh, trong lúc đó việc mở rộng và phát triển kinh tế, giải quyết việc làm gặpnhiều hạn chế, như thiếu vốn sản xuất, lao động phân bổ chưa hợp lý, tài nguyênkhác chưa được khai thác hợp lý càng làm cho chênh lệch giữa cung và cầu về laođộng rất lớn, gây ra sức ép về vấn đề giải quyết việc làm trong toàn quốc Theonghiên cứu của Ban Nghiên cứu kinh tế ngành và lĩnh vực, trong những năm qua,thị trường lao động Việt Nam có những cải thiện nhất định về hệ thống chính sáchlao động, việc làm, tạo khung pháp lý để phát triển thị trường lao động, nâng caochất lượng, sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và giải quyết việc làm cho người laođộng Kết quả, giai đoạn vừa qua thị trường lao động có nhiều dịch chuyển tích cực,trong đó lao động dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp

và dịch vụ; từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức…” [5, tr.216]

Tuy nhiên, “thị trường lao động của Việt Nam vẫn bộc lộ không ít bất cập

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách được xây dựng chưa baophủ đầy đủ các chủ thể trên thị trường lao động Thị trường lao động Việt Nam vẫn

dư thừa lao động; chất lượng việc làm chưa cao; phát triển không đồng đều; laođộng đã qua đào tạo có chứng chỉ, bằng cấp còn thấp, mới đạt 24,5% năm 2020, cơcấu lao động đã qua đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn Các định chế trunggian, chính sách an sinh và bảo hiểm của thị trường lao động còn yếu, độ bao phủ

Trang 11

thấp, chưa đạt hiệu quả cao Lao động qua đào tạo tại Việt Nam tăng 20 điểm %, từ40% năm 2010 lên 64,5% năm 2020 Dù tăng mạnh nhưng tỉ lệ 64,5% lao động quađào tạo năm 2020 vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển nguồnnhân lực là 70% vào năm 2020 Ngoài ra, nếu chỉ xét những lao động có bằng cấpchứng chỉ từ 3 tháng trở lên, tỉ lệ này chỉ là 24,5% vào năm 2020 Chỉ tiêu trên cũngkhông đạt được mục tiêu đề ra là 25% Việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp chủyếu vẫn là sơ cấp và các hình thức đào tạo dưới 3 tháng, chiếm 75,3% năm 2019,trong khi đào tạo qua cao đẳng và trung cấp chỉ 24,7%” [5, tr.180].

Với Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, “Việt Nam có nhiều cơ hội về pháttriển trên các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, nông nghiệp, ngân hàng, tài chính Sự pháttriển và áp dụng các thành tựu mới về công nghệ sẽ mang lại tăng trưởng kinh tế choViệt Nam, góp phần trực tiếp cải thiện đời sống kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực.Mặt khác, việc áp dụng công nghệ số đã và đang giúp tạo công ăn, việc làm cho một sốlĩnh vực ngành, nghề mới ở Việt Nam như lái xe công nghệ, dịch vụ nhà cho thuê(Airbnb), kinh doanh trực tuyến , qua đó, góp phần tích cực vào việc nâng cao chấtlượng và cải thiện đời sống của một nhóm người lao động” [5, tr.181]

Tuy nhiên, “việc áp dụng công nghệ số và quá trình robot hóa sẽ dẫn tới tìnhtrạng mất việc làm nghiêm trọng đối với người lao động Những việc làm có nguy

cơ bị loại bỏ hoặc cắt giảm mạnh bao gồm: Công việc lặp đi, lặp lại; các giao dịch

mà nhân viên không cần bằng cấp, chỉ dựa trên quy trình chuẩn như các giao dịchtài chính Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (2019), trong 10 năm tớiViệt Nam sẽ phải đối mặt với sự thay thế lao động khi ứng dụng công nghệ số, dẫnđến sự thay đổi về mô hình sản xuất, văn hóa kinh doanh, mô hình tổ chức… Có tới70% số việc làm ở mức rủi ro cao (có xác suất bị thay thế trên 70%), 18% có rủi rotrung bình (có xác suất bị thay thế từ 30-70%) và 12% có rủi ro thấp (có xác suất bịthay thế dưới 30%) Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải xử lý, thích ứng với sựthay đổi này Có thể thấy, nguy cơ lao động ngành Nông, lâm và thủy sản; Côngnghiệp chế biến, chế tạo bị thay thế là rất lớn Đây là những ngành, nghề đang tạo

ra rất nhiều công ăn việc làm và góp phần cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam,trong đó, ngành Nông, lâm và thủy sản với 83,3% số việc làm có rủi ro cao; côngnghiệp chế bến, chế tạo với 74,4% số việc làm có rủi ro cao; bán buôn, bán lẻ có84,1% số việc làm có rủi cao Trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống, nguy cơ bị

Ngày đăng: 23/06/2022, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2001
3. Trần Khánh Đức (2010), Cách mạng 4.0 trong phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng 4.0 trong phát triển nguồn nhân lựctrong thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
7. Trần Minh Trung (2021), Để có việc làm cho người lao động trong thời đại 4.0, Tạp chí Thương mại, số 12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thương mại
Tác giả: Trần Minh Trung
Năm: 2021
9. Phùng Quang Võ (2019), Tăng cường hàm lượng kỹ thuật cho lao động Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 42/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lao động và Xã hội
Tác giả: Phùng Quang Võ
Năm: 2019
10. Phạm Văn Việt (2021), Thực trạng tình trạng thất nghiệp lao động Việt Nam dưới tác động cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, Tạp chí Lao động và sáng tạo, số 121/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Laođộng và sáng tạo
Tác giả: Phạm Văn Việt
Năm: 2021
1. Buelens, M. & Broeck, H. V. D. 2017. An analysis of differences in work motivation between public and private sector organizations. Public Administration Review, 67 Khác
4. Nguyễn Quang Hiển (2021), Thị trường lao động thực trạnh và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
5. Trần Đình Hoan (2022), Sử dụng nguồn lao động trẻ và giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Văn Toàn (2022), Cách mạng 4.0 và những hệ lụy đến thị trường lao động nước ta thời gian tới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Đình Ứng (2020), Giải pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w