1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quan lý văn hoá

26 434 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 266 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gia đình đông và vật chất để giáo dục con cái, đóng góp và giữ gìn văn hóa dân II NGUỒN GỐC XUẤT HIỆN GIA ĐÌNH : - Ngay từ khi loài người xuất hiện, con người đã buộc phải liên kết với

Trang 1

BÀI 01 (6 tiết)

KHÁI NIỆM, NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH

Thực hiện ngày: đến ngày tháng năm

MỤC ĐÍCH : Nhằm giới thiệu với học sinh những lý luận cơ bản về nguồn gốc sự hình thành gia đình, văn hoá gia đình Việt Nam YÊU CẦU : Học sinh nắm chắc kiến thức và nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của truyền thống văn hoá gia đình Việt Nam trong mọi thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước, biết vận dụng vào việc xây dựng gia đình văn hoá ở cơ sở I ỔN ĐỊNH TỔ CHỨC LỚP : Kiểm tra sĩ số: Ngày

Ngày

Ngày

II KIỂM TRA BÀI CŨ : Câu 1: Em hãy cho biết thế nào là gia đình ?

Câu 2: Em hãy nêu nguồn gốc phát triển của gia đình ?

III GIẢNG BÀI MỚI :

1 Đồ dùng chuẩn bị của giáo viên: Giáo án, Tài liệu giảng dạy

2 Đồ dùng chuẩn bị của học sinh: Vở ghi, bút viết

I ĐỊNH NGHĨA GIA ĐÌNH

Hiện nay trên thế giới có rất

nhiều định nghĩa về gia đình:

- Một tổ chức cơ sở gồm những

người liên kết với nhau bằng huyết

thống và nghĩa tình

- Tổ chức ấy có mục đích thiêng

liêng là xây dựng cho cơ sở đất nước

một tổ ấm cả về tinh thần và vật

chất Không có tổ ấm không có gia

đình

- Trong tự điển tiếng Việt đã định

nghĩa gia đình như sau: "Gia đình là

Huyết thống thì đã ró, nhưng nghĩa tình cũng rất quan trọng Hai vợ chồng không chung huyết thống, chỉ vì tình,

vì nghĩa mà gắn bó với nhau Không có con đẻ, có thể nuôi con nuôi Những nghĩa tử vẫn

là thành viên của gia đình Có lúc tò vò nuôi con nhện

Điều này Boutros Ghali, tổng thư ký Liên hiệp quốc đã nhận ra: “ gia đình là nơi ẩn náu

Trang 2

STT NỘI DUNG DKTG PHƯƠNG PHÁP

đơn vị xã hội thành lập trên cơ sở

dòng máu, bắt đầu có từ thời đại thị

tộc mẫu hệ; trong thời đại phong

kiến, thường có cha, mẹ, con, cháu,

có khi cả chắt nữa; trong thời đại tư

bản thường chỉ có vợ chồng và con

cái"

Trong tự điển của Pháp định nghĩa

gia đình là:

- Có cha mẹ và con cái sống

cùng một mái nhà Gia đình đông

và vật chất để giáo dục con cái,

đóng góp và giữ gìn văn hóa dân

II NGUỒN GỐC XUẤT HIỆN GIA ĐÌNH :

- Ngay từ khi loài người xuất

hiện, con người đã buộc phải liên

kết với nhau thành nhóm để sinh

sống Sự liên kết ấy bao gồm từ nhỏ

đến lớn như một gia đình, làng, xã,

Trong sự liên kết này, một quy luật

tự nhiên là người đàn ông liên kết

với người đàn bà để sinh sản ra con

người nhằm mục đích duy trì nòi

giống, được gọi là kết duyên vợ

chồng Mới đầu vợ chồng liên kết

theo kiểu quần hôn, dần dần phát

triển thành gia đình tiến bộ một vợ

một chồng như ngày nay

- Từ thế kỷ XV trở đi, cùng với

việc xác lập xã hội phong kiến sùng

thượng Nho giáo, gia đình Việt Nam

đã ổn định, có nề nếp, có truyền

thống Trên đại thể những nguyên lý

Những giá trị truyền thốngvăn hoá của gia đình và dântộc mà ngày nay cần kế thừa

và phát huy, đó là: Truyềnthống đạo đức, truyền thốnghiếu học, truyền thống tâmlinh và truyền thống thẩm mĩ

để góp phần xây dựng giađình văn hoá Việt Nam Cònnhiều giá trị truyền thống nữacần quan tâm phát huy, nhưngđây là cái cốt lõi để xây dựnggia đình, có giá trị nhân bảnsâu sắc

Gia đình là hạt nhân của xã hội Gia đình có chức năng chủ yếu là giáo dục con em, xây dựng và bồi dưỡng nhân cách, hình thành tâm hồn con

Trang 3

tu thân, tề gia, đưa gia đình vào

khuôn phép, được coi như chân lý

ngàn đời từ giai đoạn lịch sử này,

nước ta có ba loại gia đình:

sử gia đình Việt Nam đã chịuảnh hưởng sâu sắc của Nhogiáo về đaọ làm người (tuthân, tề gia, trị quốc, bìnhthiên hạ) nhưng trước hết làđạo làm con, làm dân, làm bềtôi

III MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN VỀ VĂN HOÁ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG.

1 Gia đình xưa kia:

- Mỗi dân tộc có nghi lễ, tập quán

hôn nhân riêng ở Việt Nam, dưới

chế độ phong kiến, thanh niên khi

đến tuổi trưởng thành lấy vợ, lấy

chồng theo phong tục tập quán của

dân tộc, của dòng họ Sau đó, cặp vợ

chồng tách ra thành gia đình riêng

Quan niệm xưa coi việc hôn nhân là

hệ trọng, là trách nhiệm và danh dự,

Mỗi hành động, cử chỉ của vợ hoặc

chồng là những yếu tố đưa gia đình

đến hưng thịnh hoặc suy vong Vì

vậy khi đã thành vợ chồng, nghĩa vụ

và tình thương là cao cả, là trên hết,

còn tình yêu hoà vào nghĩa vụ và

thình thương

Chính vì cha ông ta có quanniệm như vậy, chúng ta khônglấy làm lạ, đa số những cặp vợchồng xưa kia (dù là tảo hônhay ép duyên) họ sống vớinhau vẫn êm ấm, mặn nồngcho đến khi đầu bạc răng long

- Gia đình ở Việt nam trước đây là

gia đình phụ quyền, trọng nam,

- Sự phân quyền giữa vợ vàchồng ở gia đình Việt Nam

Trang 4

khinh nữ Song vai trò của người vợ

không hề bị triệt tiêu Người chồng

thường thể hiện vai trò của mình ở

những nơi, những việc ngoài xã hội,

chẽ và có nề nếp trên cơ sở của ba

mối quan hệ: Cha mẹ với con cái,

vợ với chồng và tình huynh đệ ruột

thịt

- Về tình nghĩa vợ chồng: Người

Việt Nam lấy chữ chung thuỷ và

trinh tiết làm hàng đầu

- Về tình nghĩa cha mẹ với con

cái: Người Việt Nam lấy chữ hiếu

làm hàng đầu Làm con phải biết

vâng lời cha mẹ, phải tôn kính ông

- Về tình nghĩa anh em ruột thịt:

Người Việt Nam coi tình anh em là

tình nghĩa quan trọng

* Tóm lại Mặt tốt của gia đình

Việt Nam xưa kia là bền vững và ổn

Mặt hạn chế của gia đình Việt

Nam xưa kia là thiếu dân chủ, thiếu

bình đẳng Sống trong gia đình gia

trưởng theo kiểu phong kiến, sự

chuyên quyền độc đoán của người

cha, người chồng làm hạn chế tài

năng, tư duy sáng tạo của con người,

làm chậm sự phát triển xã hội

Chính quan hệ bất bình đẳng thiếu

trước đây khác với gia đình ởNhật Bản và Trung Quốc ởNhật Bản và Trung Quốc,người chồng giữ vai trò chiphối tất cả Người vợ chỉ là

"cát dằng"(dây leo) phụ thuộchoàn toàn vào người chồng.Riêng ở Việt Nam, tuy giađình có chịu ảnh hưởng củahọc thuyết Khổng giáo, songvẫn còn giữ được bản sắc dântộc, người vợ trong gia đìnhvẫn giữ vai trò độc lập tươngđối Người vợ thể hiện bảnthân mình thông qua ngườichồng Người chồng lại thựchiện chức năng của mình với

ý nghĩa "của chồng, công vợ"

- Truyền thống này còn thểhiện ở tập tục thờ cúng tổ tiên,tục lệ giỗ tết, ma chay, cướixin Nhìn bề ngoài có vẻ

"nhiêu khê", "cổ hủ", song nólại có tác dụng củng cố giađình khá vững chắc

- Các cụ thường dạy bảo concháu: "Anh em như thể chântay", anh em ruột thịt phảithương yêu nhau, giúp đỡnhau khi hoạn nạn Nếu cha

mẹ mất sớm, người anh cảthay cha làm nghĩa vụ nuôi

em, dạy em nên người Vìvậy, anh em phải trên kính,dưới nhường, "lá lành đùm lárách" Tập tục này vừa đẹp,vừa nhân đạo ta nên giữ gìn

tự do, dân chủ đôi khi tạo ra hạnh

phúc giả và sự ổn định giả

2 Truyền thống văn hoá gia đình và truyền thống văn hoá dân tộc:

Trang 5

- Trước đây khi nói đến những gia

đình có nề nếp, con cái được giáo

dục, biết lễ nghĩa, kính trên, nhường

dưới, thuận hoà, thành đạt về học

vấn và nhân cách, được nhiều người

xung quanh noi gương, người ta

thường gọi là có gia phong

- Ngày nay, nếu chúng ta hiểu

truyền thống là những cái đã trở

thành nền nếp, được truyền lại và kế

thừa từ đời này sang đời khác, theo

một tần số nhất định, vừa được cải

biên thích hợp theo thời gian và môi

trường, hướng tới sự hài hoà ổn định

tương đối cho một cộng đồng nhỏ

hay to, thì ta cũng có thể nói có

truyền thống một gia đình, một dòng

họ, một địa phương và truyền thống

một dân tộc

- Truyền thống văn hoá gia đình

đòi hỏi các thế hệ phải duy trì những

nền nếp đã được hình thành trong

gia đình, danh dự của gia đình,

không được làm các việc xấu hổ đến

cha ông, tổ tiên và cao hơn nữa là

làm vẻ vang cho cha mẹ

- Dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh

hưởng của Nho giáo hàng ngàn năm,

nhiều giá trị của đạo lý Nho giáo

"nhân nghĩa, lễ, trí, tín" đã được

Việt Nam hoá, dân gian hoá và đã

trở thành những giá trị truyền thống

của gia đình và dân tộc Trong

những nấc thang phấn đấu của mẫu

người lý tưởng của xã hội Việt nam

trước đây: " Tu thân tề gia, trị quốc,

bình thiên hạ" thì việc tu thân trước

hết bắt đầu từ gia đình, với truyền

thống văn hoá gia đình và sau đó với

Gia phong theo nghĩa đơngiản, thường được hiểu lànhững quy củ ửng xử với bảnthân, trong gia đình và ngoài

xã hội mà mỗi thành viênđược giáo dục để tuân theo từthế hệ này sang thế hệ khác

- Cái tối thiểu của phát huytruyền thống văn hoá gia đình

mà ngày nay yêu cầu, trướchết gia đình phải là mái ấmcho các thành viên, là hàngrào che chắn các luồng gióđộc, ngăn chặn con cái phạmtội (Nguyên nhân của tìnhtrạng gia tăng tội phạm trongtầng lớp thanh thiếu niêntrong mấy chục năm qua Bêncạnh nguyên nhân khách quan

có tính xã hội, phải thấynguyên nhân quan trọng, cơbản trực tiếp là do những giađình không có nền nếp giáodục, không có truyền thốngvăn hoá)

- Truyền thống văn hoá vềđạo lý gắn liền với truyềnthống hiếu học vì nhân dânhiểu: "Nhân bất học bất tri lý".Nhân dân quan niệm "Để chocon đầy hòm vàng sao bằngdạy cho con một quyển sách".Truyền thống văn hoá hiếuhọc của các gia đình ViệtNam đã hun đúc và đào tạonên bao nhân tài cho đất nước

môi trường xã hội, với truyền thống

văn hoá dân tộc

- Vào thời kỳ cận đại và hiện đại,

truyền thống văn hoá dân tộc được

"Hiền tài là nguyên khí củaquốc gia Nguyên khí thịnh thì

Trang 6

thể hiện rõ trong truyền thống văn

hoá của nhiều gia đình trí thức Việt

Nam, đó là yêu nước, căm ghét kẻ

xâm lược, kẻ gian tà, coi trọng sự

học, tri thức, coi trọng nhân cách,

ngay thẳng trong sạch, trọng lẽ phải,

không ham giàu sang phú quý,

không chịu cúi luồn quỳ gối trước

cường quyền

* Tóm lại: truyền thống văn hoá

dân tộc được biểu hiện trong truyền

thống văn hoá gia đình Văn hoá là

mục tiêu phát triển xã hội và cũng là

động lực của phát triển xã hội vì vậy

không thể nào không quan tâm đặc

biệt đến văn hoá và truyền thống

văn hoá của các gia đình (có truyền

thống) Muốn đất nước phát triển,

muốn xây dựng nước Việt Nam giàu

mạnh, văn minh, tiến bộ, công bằng

như mong muốn, không thể không

có một đội ngũ trí thức "hiền tài", có

tài năng và nhân cách Truyền thống

văn hoá gia đình Việt Nam chủ yếu

lưcj để xây dựng đất nước giàu

mạnh, công bằng và văn minh

thế nước mạnh mà hưng thịnh.Nguyên khí suy thì thế nướcyếu mà thấp hèn"

3 Truyền thống của dòng họ và việc phát huy truyền thống của dòng họ:

Nhìn lại sự phát triển của dòng họ

Việt Nam trong lịch sử sẽ giúp con

cháu ngày nay thấy rõ những gì cần

phát huy:

- Tinh thần lao động kiên cường đi

khai phá cơ nghiệp mới, chống chọi

với thiên tai khắc nghiệt

- Tinh thần đoàn kết tương thân

tương ái giúp đỡ, khuyến khích dìu

dắt nhau để làm ăn sinh sống, tồn

tại ("Một miếng khi đói bằng một

tri, là tình cảm, là sức mạnhcủa mỗi người chúng ta Lẽsống của người Việt Nam ta

từ khi lớn lên cho đến khinhắm mắt xuôi tay là mang

Trang 7

gói khi no"

- Truyền thống hiếu học trọng đạo,

vươn lên không ngừng để chiếm

lĩnh đỉnh cao văn hoá của thời đại

mà mỗi thành viên trong dòng họ

đều thấm nhuần ngay từ khi còn

nhỏ ("Đói cho sạch rách cho thơm",

biết "Giấy rách phải giữ lấy lề"

- Tinh thần nhân nghĩa, lòng thương

yêu hay cứu giúp người nghèo khổ,

hoạn nạn, sa cơ lỡ vận của người

dân bình thường

- Là gương sáng về tinh thần dũng

cảm đấu tranh vì lợi ích của dân tộc,

vì truyền thống yêu nước của dân

thống của mình sẽ tạo nên sức mạnh

tinh thần khiến con cháu tự hào, noi

theo để làm vẻ vang cho tổ tiên dòng

họ cũng chính là cho dân tộc Phát

huy truyền thống của gia đình và

dòng họ đối với mỗi người Việt

Nam trong lịch sử và hiện nay luôn

luôn là nhu cầu tinh thần chính

đáng, vừa là biểu hiện của đạo lí

uống nước nhớ nguồn thuộc cõi tâm

linh thiền liêng, vừa có tác dụng

giáo dục thực tế đối với các thế hệ

nối tiếp, làm cho cuộc sống ngày

càng thiện mĩ; tinh thần vị tha, ý

thức dân tộc ngày càng được bồi

đắp; đất nước ta ngày càng văn minh

một trách nhiệm với nhữngngười xung quanh, với giađình, họ hàng, làng xóm, vớiđất nước Tục ngữ có câu:

"Chết một đống hơn sống mộtngười" đã nói lên trách nhiệm

vì tập thể, vì gia đình họ hàngcủa người Việt Nam

Giúp đỡ nhau xoá đói giảmnghèo trong dòng họ hoặcngoài xã hội, cho vay vốn,giúp nhau cách làm ăn, tạocông ăn việc làm,

Để phát huy truyền thống tốtđẹp của dòng họ, trong xã hộiViệt Nam hiện nay không thểkhông chú ý cảnh giác đấutranh loại trừ tư tưởng lạc hậu:đầu óc địa phương, tư tưởngcục bộ bản vị chi phối mọi suytính và việc làm Câu tục ngữ

"Một người làm quan cả họđược nhờ" không phải ngàynay đã hết ý nghĩa Tàn tíchcục bộ, bản vị, bè phái còn ănsâu rất nặng nề nhất là ở cáclàng xã (Có nơi người ta chỉkết nạp vào Đảng nhữngngười trong cùng chi cánh,bầu vào đảng uỷ xã nhiềungười trong cùng một dòng họ

và chia nhau nắm giữ cácchức vụ chủ chốt từ đó dẫn tớilàm sai pháp luật, tham ô,không công bằng, bao che chongười thân trong gia đình vàdòng họ, thậm chí dẫn đến

kết) Ngoài ra các dòng họ cũng cần cảnh giác với tư tưởng tự cao, tự đại, kì thị, khích bác những dòng họ vì nhiều lí do nào đó có những

Trang 8

điểm "kém"

4 Truyền thống hiếu thảo với ông bà, cha mẹ:

- Trong xã hội Việt Nam ta trước

đây, theo quan niệm của Nho giáo,

"chữ hiếu đứng đầu trăm nết, là gốc

của đạo đức con người" Người con

có hiếu phải hết lòng thương yêu

cha mẹ, phụng dưỡng khi còn sống,

tuyệt đối khi phục tùng, không sửa

đổi nhận xét việc làm của cha mẹ,

nối chí lập thân, làm vinh hiển cho

cha mẹ

- Chữ hiếu của Nho giáo khi vào

Việt Nam, dân tộc ta đã "Việt hoá"

phần nào những giáo lý cho thích

hợp với xã hội ta

- Nhân dân lao động Việt Nam tiếp

thu những mặt tích cực của chữ

hiếu, đó là tình cảm cao quý nhân

bản, biết ơn công sinh thành dạy dỗ,

tự giác có trách nhiệm, nghĩa vụ săn

sóc chăm nom, nuôi nấng, phụng

dưỡng cha mẹ cho đến khi qua đời;

thuốc men khi ốm đau, tống táng

chu đáo khi về già, tang trở nhớ tới

công ơn khi đã khuất Chu trình của

chữ hiếu là liên tục, cái gương của

việc thực hiện chữ hiếu của thế hệ

đó sẽ hưởng do thế hệ sau tiếp thu

và đáp lại Không một thế hệ cha mẹ

nào có thể được con cái đối xử tử tế

nếu thế hệ đó đối xử với thế hệ sinh

thành ra mình không ra sao

Sách "Nhị thập tứ hiếu" đãviết:

"Niệm chữ hiếu cho trònmột tiết

Thật suy ra trăm nết đềunên"

Khi cha mẹ chết, Nhogiáo khuyên người ta thựchiện chữ hiếu là "phụng sựngười đã chết như phụng sựngười đang sống"

Tầng lớp trí thức phong kiếnViệt nam như Nguyễn Trãi,Trần Hưng Đạo đã đặt lợi íchcủa Tổ quốc trên chữ hiếu củagia đình

IV TỔNG KẾT BÀI:

1 Hệ thống lại những nội dung đã dạy

- Nguồn gốc hình thành gia đình;

- Các giá trị văn hóa gia đình truyền thống

2 Trọng tâm: Các giá trị văn hóa gia đình truyền thống

V CÂU HỎI VỀ NHÀ:

Câu 1: Anh ( chị) hãy cho biết thế nào là gia đình ?

Câu 2: Anh ( chị) hãy nêu nguồn gốc phát triển của gia đình ?

Câu 3: Anh ( chị) hãy trình bầy truyền thống của dòng họ và việc phát huytruyền thống của dòng họ?

Trang 9

* Nhận xét giờ học:

TL HIỆU TRƯỞNG TỔ TRƯỞNG BỘ MÔN GIÁO VIÊN SOẠN BÀI Hà Xuân Dũng BÀI 02 (4 tiết) CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH Thực hiện từ ngày: tháng đến ngày tháng năm

* Mục đích, yêu cầu

Trang 10

- Giới thiệu những chức năng cơ bản của gia đình, vai trò của gia đình trongviệc xây dựng và phát triển một xã hội ổn định, tốt đẹp.

- Học sinh biết vận dụng kiến thức vào việc XD gia đình văn hóa ở cơ sở

I ỔN ĐỊNH TỔ CHỨC LỚP :

Kiểm tra sĩ số:

Ngày Ngày

II KIỂM TRA BÀI CŨ :

Câu 1: Anh ( chị ) hãy nêu nguồn gốc phát triển của gia đình ?

Câu 2: Anh ( chị ) hãy nêu một trong những truyền thống văn hóa gia đình

mà em thích nhất ?

III GIẢNG BÀI MỚI :

1 CHỨC NĂNG DUY TRÌ NÒI GIỐNG TỐT ĐẸP CHO CON NGƯỜI CHỦ NHÂN

XÃ HỘI:

- Gia đình thường được tạo thành trên

cơ sở kết hợp hai thực thể nam và nữ đã

trưởng thành bằng tình yêu lứa đôi và

tính trách nhiệm cao từ sự kết hợp đó

sinh ra thế hệ kế tiếp, khỏe mạnh, thông

minh

- Để có nói giống tốt, người cha và

người mẹ phải biết chăm sóc con ngay

từ khi mới hoài thai chi đến khi sinh

thành Cho con ăn đủ, nhiều dinh

dưỡng, người mẹ phải được chú ý tạo

hoàn cảnh sống tốt, điều kiện vật chất

đầy đủ, đới sống tinh thần phải được

chăm nom chu đáo Vì thế gia đình phải

- Từ thời sa xưa cho đến nay muốn có gia đình thì điều đầu tiên phải được tạo lập bởi hai thực thể Nam và nữ qua nhiều sự trong đố có ép duyên hay

tự tìm hiểu

- Từ hai thực thể đó có thể thành lập ra một hoặcnhiều gia đình

có kế hoạch lao động sản xuất và có kế

hoạch sinh đẻ để có điều kiện chăm sóc

con trẻ, đảm bảo chất lượng cuộc sống

trong gia đình

2 CHỨC NĂNG GIÁO DỤC CON NGƯỜI THÀNH NGƯỜI CÓ ÍCH CHO XÃ HỘI.

Trang 11

2.1 Đạo làm người:

- Biết thương yêu cha mẹ, gia đình,

đồng loại

- Có lòng nhân ái bao dung

- Biết yêu thương quê hương, đất

nước và dám xả thân cho quê hương, đất

nước lúc lâm nguy

- Làm trọn bổn phận, trách nhiệm

của người chồng, người vợ, người cha,

người mẹ, người con dâu, con rể, con

nuôi; có trách nhiệm với cha mẹ đẻ, nhà

chồng, nhà vợ, với ông bà tổ tiên và làm

trò nghĩa vụ của người công dân đối với

đất nước

2.2 Dạy con thành người có văn hóa:

- Không để cho con thất học, tạo điều

kiện cho con học tập tốt

- Biết phát triển khả năng tư duy, trí

tuệ để làm cơ sở hình thành, hoàn thiện

nhân cách cho trẻ, để từ đó trẻ có thể

phân biệt được điều đúng sai thiện - ác,

để tránh cái xấu, làm điều thiện, vươn

tới giá trị chân, thiện mỹ; có ý chí nghị

lực vượt khó, đạt hoài bão, ước mơ

- Giúp trẻ biết đối nhân, xử thế, ứng

xử tốt đẹp trong các quan hệ ở gia đình,

xã hội, tự nhiên, có trách nhiệm và ý

thức trách nhiệm trong các mối quan hệ

này

- Giúp trẻ biết chơi, biết học, biết lao

động, biết kết hợp việc học với hành để

thực sự là người biết làm việc, biết sống

và cống hiến trong tương lai, có năng

lực sáng tạo và làm chủ khoa học kỹ

thuật

- Tạo được sinh hoạt văn hóa trong gia

đình để trẻ có đời sống tinh thần phong

phú, lành mạnh Các bậc cha mẹ phải

biết cách giáo dục giới tính một cách cụ

thể và tế nhị để trẻ phát triển lành mạnh

về tình dục sau này và biết phân biệt rõ

sự khác biệt của giới và giới tính để có

sự phát triển bình thường

Trang 12

- Giáo dục cho con trẻ biết sống và

làm việc theo pháp luật

- Khi con đến tuổi dựng vợ gả chồng

giúp con có những kiến thức tiền hồn

nhân, dạy con cách làm vợ, làm chồng,

làm cha, làm mẹ trong tương lai

- Tạo nếp sống tốt đẹp trong gia

đình qua các thế hệ, góp phần củng cố

truyền thống, đạo đức gia đình, thực

hiện chuyển giao văn hóa giữa các thế

hệ và tiếp thu những thành tựu văn hóa

tốt đẹp của thời đại

3 CHỨC NĂNG "TỔ ẤM" CHO CÁC THÀNH VIÊN:

- Gia đình tốt đẹp là nơi mọi thành viên

tìm thấy niềm vui, hạnh phúc của mình

giữa những thành viên khác, là nơi cân

bằng giữa lao động, học tập với nghỉ

ngơi, tái sản xuất sức lao động, là nơi

chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, là chỗ dựa

vững chắc cho các thành viên khi gặp

thất bại, khó khăn, hoạn nạn để được an

ủi, động viên đứng vững trong cuộc

sống

- Gia đình là nơi thể hiện sự an

toàn, nồng thắm nhất tình yêu lứa đôi,

chống vợ, cha mẹ và con, nơi đây vợ

chồng tin cậy, thương yêu lẫn nhau

- Gia đình là nơi bảo vệ trẻ em,

chăm sóc người già, người ốm đau,

- Tạo nguồn vật chất để nuôi sống các

thành viên và tạo điều kiện cho cá nhân

phát triển toàn diện

- Gia đình thực sự là một đơn vị

kinh tế góp phần vào sự phát triển của

kinh tế, xã hội của đất nước

Trang 13

IV TỔNG KẾT BÀI:

1 Hệ thống lại những nội dung đã dạy

- Qua bài học này cần nắm vững 4 chức năng cơ bản của gia đình

- Nghiên cứu thêm tài liệu về thực trạng gia đình ở Sơn La

2 Trọng tâm: Chức năng cơ bản của gia đình.

V CÂU HỎI VỀ NHÀ:

Câu 1: Anh ( chị) hãy cho biết Gia đình có mấy chức năng? Hãy nêu chức năng giáo dục con người?

Câu 2: Anh ( chị) hãy cho biết tại sao gia đình là tổ ấm cho các thành viên?

* Nhận xét giờ học:

TL HIỆU TRƯỞNG TỔ TRƯỞNG BỘ MÔN GIÁO VIÊN SOẠN BÀI Hà Xuân Dũng BÀI 03 (2 TIẾT) SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH Thực hiện từ ngày: tháng đến ngày tháng năm

MỤC ĐÍCHYÊU CẦU:

Ngày đăng: 14/10/2013, 14:11

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Nguồn gốc hình thành gia đình; - Quan lý văn hoá
gu ồn gốc hình thành gia đình; (Trang 8)
Quá trình hình thành văn hóa dân tộc cũng là quá trình hình thành văn hóa gia đình. Chính gia đình là một thiết chế văn hóa tạo dựng nên xã hội có văn hóa - Quan lý văn hoá
u á trình hình thành văn hóa dân tộc cũng là quá trình hình thành văn hóa gia đình. Chính gia đình là một thiết chế văn hóa tạo dựng nên xã hội có văn hóa (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w