Trong đó, tính công khai, minh bạch thông tin trên BCTC của cácdoanh nghiệp niêm yết DNNY được quan tâm từ nhiều nhóm đối tượng khácnhau, không chỉ là ban lãnh đạo doanh nghi ệp mà BCTC
Trang 1-MAI THỊ HOA
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦATHÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội, Năm 2020
Trang 2-MAI THỊ HOA
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦATHÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 9.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn KH 1: PGS,TS Lê Thị Thanh Hải Người hướng dẫn KH 2: GVC,TS Nguyễn Tuấn Duy
Hà Nội, Năm 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
Mai Thị Hoa
Trang 4Thị Thanh Hải và GVC,TS Nguyễn Tuấn Duy là giáo viên hướng dẫn trực tiếp tôithực hiện luận án này Thầy, Cô đã luôn giúp tôi định hướng nghiên cứu, dành chotôi những lời động viên, những lời khuyên, những lời góp ý, phê bình hết sức quýbáu giúp tôi có thể hoàn thiện luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy/Cô Khoa Kế toán – Kiểm toán, trường
ĐH Thương Mại đ ã tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên môn giúp tôi cũng nhưcác NCS khác nâng cao trình đ ộ và cập nhật những kiến thức mới và đã giúp đỡ,hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể sư phạm Khoa Sau đại học – Trường ĐHThương Mại đ ã luôn hướng dẫn, tạo đi ều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiêncứu và hoàn thiện thủ tục
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể sư phạm Khoa Tài chính – Đầu tư, Họcviện Chính sách và phát triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nơi tôi công tác đã tạo điềukiện và giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn đ ến các anh (chị) là lãnh đ ạo, giám đ ốc, kế toántrưởng, kế toán tại các doanh nghiệp và các chuyên gia đã hỗ trợ tôi trong quá trìnhthu thập dữ liệu nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đ ến gia đ ình,anh em, bạn bè luôn cổ vũ, động viên tôi, tạo điều kiện tốt nhất để tôi nghiên cứu vàhoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận án
Mai Thị Hoa
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 17
4 Câu hỏi nghiên cứu 18
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
6 Phương pháp nghiên cứu 19
7 Đóng góp của luận án 19
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 21
1.1 Tổng quan về minh bạch thông tin trên BCTC 21
1.1.1 Minh bạch thông tin 21
1.1.2 Thông tin trên Báo cáo tài chính 22
1.1.3 Minh bạch thông tin trên BCTC 23
1.2 Vai trò của minh bạch thông tin trên BCTC 23
1.3 Tiêu chí đánh giá và đo lường mức độ minh bạch thông tin trên Báo cáo tài chính 25
1.3.1 Tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 25
1.3.2 Đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 27
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của các thông tin trên BCTC 29 1.4.1 Một số lý thuyết nền tảng 30
1.4.2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 40
2.1 Doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 40
2.1.1 Doanh nghiệp niêm yết 40
Trang 7niêm yết 45
2.2.1 Hệ thống báo cáo tài chính 45
2.2.2 Quy định về lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam 47
2.2.3 Đặc điểm báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 51 2.3 Khái quát thực trạng về lập, trình bày và công bố thông tin trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phi tài chinh niêm yết 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 59
3.1 Thiết kế nghiên cứu 59
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 59
3.1.2 Mô hình nghiên cứu. 61
3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu và quy trình thực hiện trong nghiên cứu định tính 83
3.2.1 Thu thập dữ liệu 83
3.2.1.1 Đối tượng khảo sát trong nghiên cứu định tính 83
3.2.1.3 Quy trình thực hiện nghiên cứu định tính 84
3.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu trong nghiên cứu định lượng 84
3.3.1 Thu thập dữ liệu 84
3.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu định lượng 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 94
4.1 Kết quả nghiên cứu định tính 94
4.1.1 Tổng hợp ý kiến chuyên gia về các tiêu chí đo lường tính minh bạch thông tin 94 4.1.2.Tổng hợp ý kiến chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng 94
4.1.3 Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia về thực trạng minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY. 95
Trang 84.2.2 Kết quả thống kế mô tả về thực trạng mức độ minh bạch thông tin trên
BCTC của các DNPTCNY 96 4.2.3 Thống kê mô tả về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông
tin trên BCTC của các DNPTCNY 98
4.2.4 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo 99
4.2.5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 103
4.2.6 Kết quả phân tích tương quan và hồi quy bội 112
4.2.7 Kết quả kiểm định giả thuyết 117
4.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch của thông tin trên Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 119
4.3.1 Kiểm soát nội bộ 119
4.3.2 Hội đồng quản trị 119
4.3.3 Ban giám đốc 121
4.3.4 Ban kiểm soát 122
4.3.5 Nhân viên kế toán 124
4.3.6 Môi trường pháp lý 125
4.3.7 Kiểm toán độc lập 132
4.3.8 Về phần mềm kế toán 133
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 134
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BCTC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 135
5.1 Kết luận 135
5.1.1 Kết luận về tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam 135 5.1.2 Kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam 136 5.2 Khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 138
Trang 95.2.3 Đối với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và Bộ tài chính 147
5.2.4 Đối với các công ty kiểm toán độc lập 153
5.2.5 Đới với Hội nghề nghiệp, cơ sở đào tạo 154
5.2.6 Đối với các nhà đầu tư 156
5.3 Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 157
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 159
KẾT LUẬN 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
Trang 10Bảng 1.2: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch 38
Bảng 3.1 Thang đo tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY 66
Bảng 3.2 Tổng hợp thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch 78
thông tin trên BCTC của các DNPTCNY 78
Bảng 3.3 Số lượng các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam tính đến 18.5.2018 85
Bảng 3.4 Mã hóa các đặc tính đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY 87
Bảng 3.5 Mã hóa các thuộc tính đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến tính 89
minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY 89
Bảng 4.01: Mức độ minh bạch thông tin trên BCTC tại các DNPTCNY 96
Bảng 4.02: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin BCTC tại các DN 98
Bảng 4.03 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng thang đo tính MBTT trên BCTC và các yếu tố ảnh hưởng 100
Bảng 4.04 Kiểm định tính thích hợp của EFA 103
Bảng 4.05 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát 103
Total Variance Explained 103
Bảng 4.06 Ma trận xoay các yếu tố 104
Bảng 4.07 Ma trận hệ số tưương quan Pearson 113
Bảng 4.08 Tóm tắt mô hình 114
Bảng 4.09 Phân tích ANOVA 114
Bảng 4.10 Bảng hồi quy 115
Bảng 4.11 Thứ tứ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc 116
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu 117
Trang 11Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của luận án 60 Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 62
Trang 12BCTC Báo cáo tài chính
BIG 4 Bốn doanh nghiệp kiểm toán hàng đầu thế giới gồm: KPMG, PWC
(PricewaterhouseCoopers), E&Y (Ernst&Young), Deloitte
CBTT Công bố thông tin
CĐKT Cân đối kế toán
CTKT Doanh nghiệp kiểm toán
DNNY Doanh nghiệp niêm yết
DNPTCNY Doanh nghiệp niêm yết
FASB Hội đồng chuẩn mức Kế toán tài chính Mỹ
HĐQT Hội đồng quản trị
HNX Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
HSX Sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
IASB Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế
IFC Tổ chức Tài chính Quốc tế
IFRS International Financial Reporting Standards (Chuẩn mực báo cáo tài
chính quốc tế)KQKD Kết quả kinh doanh
KTĐL Kiểm toán độc lập
KSNB Kiểm soát nội bộ
MBTT Minh bạch thông tin
MBTTTC Minh bạch thông tin tài chính
MĐMB Mức độ minh bạch
MTPL Môi trường pháp lý
NVKT Nhân viên kế toán
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PMKT Phần mềm kế toán
Trang 13SET Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán
TGNY Thời gian niêm yết
TVHDQT Thành viên hội đồng quản trị
TTTC Thông tin tài chính
UBCK Ủy ban chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
U.S GAAP United State Generally Accepted Accounting PrinciplesVAA Hội kế toán viên hành nghề Việt Nam
VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực vàchế độ kế toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp về tìnhhình tài chính, kết quả kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp Có thểcoi BCTC là sản phẩm của quá trình lập, trình bày và cung cấp thông tin của mộtđơn vị kế toán Trong đó, tính công khai, minh bạch thông tin trên BCTC của cácdoanh nghiệp niêm yết (DNNY) được quan tâm từ nhiều nhóm đối tượng khácnhau, không chỉ là ban lãnh đạo doanh nghi ệp mà BCTC còn được quan tâm đặcbiệt từ các nhà đầu tư, các chuyên gia phân tích, các đối tác, các cơ quan quản lý….Công khai, minh bạch là phương tiện hữu hiệu để các đối tượng quan tâm có được
sự nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là thựctrạng tài chính khi đưa ra các quyết định kinh tế Tuy nhiên, thông tin trên BCTCđược trình bày và công bố như thế nào để đáp ứng được nhu cầu người sử dụng vẫncòn khoảng cách tương đối lớn giữa thực tế và kỳ vọng Song, tính công khai minhbạch của thông tin trên BCTC phụ thuộc vào chất lượng của quá trình tạo lập, trìnhbày và công bố thông tin của các doanh nghiệp, quá trình này chịu ảnh hưởng củanhiều các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Chính vì vậy, hiện nay trênthế giới và Việt Nam, vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Một số công trình trên thế giới khi nghiên cứu nhận thức của nhà đầu tư vềthông tin trên BCTC, kết quả cho thấy đa số các nhà đầu tư đều đánh giá BCTC lànguồn cung cấp thông tin quan trọng nhất cho việc ra quyết định so với các nguồnthông tin khác Tuy nhiên, các nhà đầu tư cũng phản hồi rằng tính công khai, minhbạch của BCTC bị hạn chế do thiếu thông tin công khai hoặc có công khai nhưng rấtkhó hiểu
Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán ngày càng phát triển, theo đó các quyđịnh về pháp lý liên quan ngày càng được bổ sung hoàn thiện Đặc biệt là các quyđịnh liên quan đến lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC Các quy định nàyđược hoàn thiện theo hướng ngày càng nâng cao tính công khai, minh bạch củathông tin Song, một số quy định còn mang tính định hướng chưa thực sự cụ thể, rõràng, chưa có sự ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý Điều này, dẫn đến khả năngvận dụng quy định pháp luật vào thực tiễn ở mỗi doanh nghiệp có sự khác nhau nhấtđịnh Bên cạnh, các DNNY đã có ý thức chấp hành tốt các quy định của pháp luật
Trang 15trong việc lập, trình bày và công bố BCTC vẫn còn không ít số lượng doanh nghiệpchưa chú trọng đến tính công khai, minh bạch của thông tin trên BCTC Các thôngtin công bố còn nặng về hình thức, mới chỉ dừng lại ở yêu cầu công khai chứ chưachú trọng đến tính minh bạch, vẫn còn phổ biến các tình trạng như: Công bố BCTCkhông kịp thời, số liệu trước và sau khi kiểm toán có sự chênh lệch tương đối lớn;giao dịch với các bên liên quan chưa được thuyết minh đầy đủ; trình bày các chỉ tiêutrên BCTC chưa đầy đủ, chưa đúng quy định của chuẩn mực kế toán và một số quyđịnh liên quan; một số khoản mục trọng yếu trên BCTC chưa được trình bày đầy đủ,chi tiết và rõ ràng… làm ảnh hưởng đến khả năng đọc hiểu thông tin cũng như ảnhhưởng đến niềm tin của công chúng khi sử dụng thông tin trên BCTC của cácDNNY để đưa ra quyết định kinh tế.
Tuy nhiên, tính công khai, minh bạch của thông tin trên BCTC không dễ dàngđánh giá và nhận biết Đến nay, ở Việt Nam và trên thế giới cũng chưa có bộ chỉ sốchính thức nào được sử dụng để đánh giá tính minh bạch của các thông tin trên BCTCcủa các DNNY Do vậy, các tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTCcủa các nghiên cứu trước vẫn còn rời rạc, chưa nhất quán, chưa đồng bộ
Để đ ánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC là việc không dễ dàng, song làm thế nào để biết được các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC càng khó hơn Bởi vì, chỉ khi hiểu rõ, nắm vững và kiểm soát được các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC mới giúp nhà quản lý doanh nghiệp,các cơ quan quản lý xác định được các giải pháp phù hợp để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC có thể xuất phát từ bên trong và bên ngoài, có thể từ phía các DNNY với vai trò là người cung cấp thông tin, từ phía các công ty kiểm toán trong việc phát hiện
và báo cáo các sai phạm trọng yếu trên BCTC, hay từ phía môi trường pháp lý liên quan, hay do một yếu tố nào khác Mặt khác, số lượng các doanh nghiệp phi tài chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DNNY trên TTCK VN (khoảng 90%), đadạng về lĩnh vực kinh doanh như: Xây dựng, sản xuất, thương mại, dịch vụ,…có vaitrò rất lớn trong sự phát triển của nền kinh tế Theo đó, đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC của các DNPTCNY cũng rất đa đạng bao gồm Ban lãnh đạo doanh nghiệp, nhà đầu tư, ngân hàng, các đối tác, cơ quan quản lý Nhà nước, công ty kiểmtoán và các chuyên gia phân tích chứng khoán…Do đó, sự minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của các đối tượng
sử dụng thông tin Để có thể đưa ra những khuyến nghị và giải pháp một cách phù
Trang 16hợp, mang tính khả thi cao nhằm đảm bảo và nâng cao tính minh bạch thông tin trênBCTC của DNPTCNY yết trên TTCK Việt Nam, cần thiết phải xác định được cácyếu tố và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến tính minh bạch của thông tin trênBCTC, đặc biệt là thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yếttrên thị trường chứng khoán.
Ở Việt Nam tính đến nay, theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứuchính thức nào xác định các yếu tố, cũng như lượng hóa mức độ ảnh hưởng của cácyếu tố đến tính minh bạch của các thông tin trên BCTC của DN PTCNY trên thịtrường chứng khoán (TTCK) dưới góc độ người cung cấp thông tin, mặc dù vấn đềnày đang nhận được sự quan tâm không chỉ từ các nhà nghiên cứu mà còn từ cácnhà quản lý doanh nghiệp, cơ quan quản lý, nhà đầu tư, công ty kiểm toán… Đâyđược coi là phương pháp kiểm soát tính minh bạch thông tin trên BCTC từ gốc
Từ những lý do trên, NCS lựa chọn nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết (DNPTCNY) trên TTCK Việt Nam” với mong muốn
góp phần làm sáng tỏ vấn đề đang được quan tâm, đồng thời là cơ sở để tác giả đềxuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của cácDNPTCNY trên TTCK Việt Nam
2 Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu về đánh giá tính minh bạch thông tin và tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính.
Đánh giá tính minh bạch thông tin nói chung, minh bạch thông tin trênBCTC nói riêng là một việc không hề dễ dàng Cho đến nay, các công trình nghiêncứu về tính minh bạch thông tin trên BCTC có thể chia theo hai hướng tiếp cận khácnhau: Một số công trình nghiên cứu cho rằng minh bạch thông tin đồng nghĩa vớimức độ công bố thông tin, trong khi đó có những công trình nghiên cứu lại cho rằngminh bạch thông tin phải được xem xét theo các đặc tính của thông tin công bố Dovậy, các tiêu chí đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC cũng dựa trên những
cơ sở khác nhau
Với các công trình nghiên cứu cho rằng minh bạch thông tin trên BCTC đồngnghĩa với mức độ công bố thông tin, thường xuất phát từ quan điểm của người sửdụng thông tin đặc biệt là từ cảm nhận của nhà đầu tư để đánh giá mức độ minhbạch thông tin trên BCTC Trong các nghiên cứu này, để đánh giá mức độ minhbạch thông tin, các nhà nghiên cứu thường dựa trên bộ tiêu chí đánh giá tính minh
Trang 17bạch của các tổ chức có uy tín như OECD, S&P, CIFAR Theo Robert Bushman vàcộng sự (2001) nghiên cứu về minh bạch thông tin tài chính ở góc độ công ty chorằng minh bạch thông tin tài chính là sự sẵn có của thông tin cho các đối tượng sửdụng, tác giả sử dụng chỉ số CIFAR đ ể đo lường mức đ ộ minh bạch thông tin tàichính của công ty Trong đó, chỉ số CIFAR là chỉ số được Trung tâm phân tích vànghiên cứu tài chính quốc tế (IAAT – International Accounting and AuditingTrends) xây dựng năm 1995, chỉ số này gồm 90 khoản mục thông tin tài chính vàphi tài chính được công bố trên các báo cáo thường niên của các công ty niêm yết.
Bộ chỉ số này bao gồm các câu hỏi nhằm đánh giá có hay không việc công bố thôngtin chứ chưa tập trung vào việc đánh giá chất lượng của thông tin công bố
Theo Mine Aksu and Arman Kosedag (2005) nghiên cứu minh bạch thôngtin quản trị và thông tin trên BCTC với mẫu nghiên cứu là 52 doanh nghiệp tại ThổNhĩ Kỳ, tác giả đã vận dụng chỉ số minh bạch và công bố thông tin của Standardand Poor’s (S&P) dựa trên BCTC bằng 109 câu hỏi chia thành 3 nhóm trong đó có
35 câu hỏi liên quan đến công khai minh bạch thông tin tài chính và tính hình kinhdoanh Các câu hỏi khảo sát cũng tập trung đánh giá sự tuân thủ các quy định vềcông bố thông tin chứ chưa tập trung vào đánh giá tính minh bạch thông tin theo cácđặc tính chất lượng của thông tin công bố Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độcông khai và minh bạch thông tin tài chính của 52 doanh nghiệp chỉ đạt ở mức trungbình 6/10 điểm Tuy nhiên, chỉ số của S&P chỉ dừng lại ở việc đánh giá xem cácdoanh nghiệp niêm yết có công bố các thông tin liên quan hay không mà ít có cáccâu hỏi khác để phân biệt mức độ minh bạch thông tin của từng nội dung của chỉ số(như: thực hiện đúng quy định, thực hiện tốt quy định…) và chưa đánh giá đượcmức độ minh bạch thông tin một cách toàn diện
Nghiên cứu của Chueng và cộng sự (2005) cho rằng minh bạch thông tin làmức độ công bố thông tin tài chính và thông tin quan trị công ty, nghiên cứu này sửdụng bảng khảo sát được thiết kế dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD do Hiệphội các giám đốc Viện Thai Institute of Director (IOD)’s thực hiện đánh giá mức độminh bạch thông tin của các công ty niêm yết Ở Việt Nam, Sở giao dịch chứngkhoán Hà Nội cũng đã công khai b ộ tiêu chí đánh giá công b ố thông tin và minhbạch thông tin được xây dựng trên cơ sở tham khảo bộ nguyên tắc quản trị công tycủa OECD với 70 câu hỏi chia thành 2 nhóm: Một là nhóm gồm 41 câu hỏi về việctuân thủ các quy đ ịnh pháp lý Hai là nhóm gồm 29 câu hỏi về thông lệ quốc tế.Điểm được đánh giá theo thang điểm 0-1-2 Tổng điểm tối đa mà một DNNY có thể
Trang 18đạt được là 97 điểm Để đảm bảo nhất quán về phương pháp đánh giá từ góc nhìncủa nhà đầu tư, trong quá trình đánh giá dù doanh nghiệp niêm yết có áp dụng cácquy định pháp lý và thông lệ tốt nhưng không công bố ra thị trường vẫn sẽ khôngđược tính điểm.
Đối với nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng sự (Năm 2007), đã d ựa trên chỉ
số “hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và CBTT - ITDRS” đ ể đánh giá mức đ ộminh bạch thông tin của các DNNY Đây là ch ỉ số đánh giá xếp hạng về sự minhbạch và CBTT của các DNNY được xây dựng ở Đài Loan Chỉ số này bao gồm 88khoản mục công bố được phân chia thành 5 nội dung: (1) Sự tuân thủ với các quyđịnh về công bố, (2) Sự kịp thời của các báo cáo, (3) Sự công bố các dự báo tàichính, (4) Sự công bố báo cáo thường niên, (5) Sự CBTT trên website của công ty.Bên cạnh những ưu điểm trong việc xếp hạng của ITDRS, thì ng hiên cứu của Yu-Chil Lin đưa ra nhận định rằng, xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin củaITDRS chỉ đánh giá được mức độ công bố thông tin của các công ty mà không thểxem xét được chất lượng thông tin đi kèm với những công bố này
Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, cho thấy khi đứng trênquan đi ểm của người sử dụng thông tin đ ể đánh giá mức đ ộ minh bạch thông tintrên BCTC thì chỉ tập trung đánh giá v ề có hay không việc công bố thông tin trênBCTC chứ chưa tập trung đánh giá mức độ minh bạch thông tin một cách toàn diện,đầy đủ dẫn đến trường hợp những thông tin được công bố nhưng lại chưa chắc đãđảm báo tính minh bạch và ngược lại có những thông tin đảm bảo tính minh bạchnhưng không được công bố Do vậy, có nhiều công trình nghiên cứu đã lựa chọncách tiếp cận thứ hai là đánh giá tính minh bạch thông tin thông qua các đặc tính củathông tin công bố Các tác giả cho rằng dù khách quan hay chủ quan thì các thôngtin trên BCTC là sản phẩm của quá trình lập, trình bày và cung cấp thông tin nên đểđảm bảo tính minh bạch thì các thông tin đó nên được kiểm soát từ quá trình này.Theo Tara Vishwanath và Daniel Kaufmann (2001), Minh bạch thông tin tài chính
là việc cung cấp và miêu tả các thông tin tài chính, kinh tế một cách kịp thời và có
chất lượng cho những đối tượng quan tâm, bao gồm các đặc tính: Đầy đủ, kịp thời,
Trang 19Theo Bert J Zarb (2006), dưới góc độ nghề nghiệp của kế toán viên côngchứng với vai trò là xác minh về tính trung thực và hợp lý của các thông tin trênBCTC của các DN khách hàng, tác giả cho rằng để thông tin tài chính hữu ích vàkịp thời, thì thông tin tài chính cũng phải đáng tin cậy, có thể so sánh được, nhấtquán và minh bạch Một cách để đạt được tính minh bạch trong báo cáo tài chính làthông tin phải được thiết lập với một bộ nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi
và có chất lượng cao Trong một thị trường toàn cầu, một bộ các báo cáo tài chính
đã được chuẩn bị sử dụng các chuẩn mực kế toán của một quốc gia không có nghĩa
là chúng sẽ có thể so sánh được với các quốc gia khác Hơn nữa, các phép đo kếtoán được sử dụng trong các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi của mộtquốc gia có thể không được sử dụng hoặc có thể không quen thuộc với người dùng
ở một quốc gia khác Nếu báo cáo tài chính có thể được thiết lập bằng cách sử dụngmột bộ chuẩn mực kế toán được chấp nhận rộng rãi, thì sự hiểu biết của của người
sử dụng thông tin có thể được mở rộng cho vô số người dùng ở các quốc gia khácnhau Nhiệm vụ để có được một bộ tiêu chuẩn như vậy là bộ tiêu chuẩn báo cáo tàichính quốc tế (IFRS) do Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) ban hành và IFRSđang có ảnh hưởng đến bối cảnh quốc tế hiện nay
Theo Gheorghe, Mironela (2009) nghiên cứu về minh bạch thông tin trênBCTC và trách nhiệm giải trình, tính minh bạch đề cập đến nguyên tắc tạo ra mộtmôi trường thông tin dễ tiếp cận, dễ hiểu đối với tất cả các bên tham gia thị trườngtrong việc ra các quyết định kinh tế Trách nhiệm giải trình đề cập đến nhu cầu sửdụng thông tin các thành viên tham gia thị trường Nghiên cứu này cho rằng thôngtin trình bày trên BCTC hữu ích cho người dùng phải mang các đặc tính cơ bản là:
Sự phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được, dễ hiểu, kịp thời, có lợi ích so với chi phí
bỏ ra Các nhà cung cấp thông tin phải tuân thủ yêu cầu về chất lượng thông tin và công bố thông tin để đạt được sự cân bằng các đặc tính định tính trên trong một môi
trường cụ thể
Theo nghiên cứu của Ferdy van Beest và G.B, ‘Suzanne Boelens (2009), tácgiả cho rằng tính minh bạch của thông tin tài chính được đo lường thông qua các
tiêu chí đánh giá chất lượng của thông tin trên BCTC, bao gồm các đặc tính: Sự phù
hợp, Sự trung thực khách quan, sự dễ hiểu, so sánh được và kịp thời.
Theo Nguyễn Đình Hùng (2010) nghiên cứu về hệ thống kiểm soát tính minhbạch thông tin tài chính của các DNNY, cho rằng thông tin trên BCTC phải đượctrình bày và công bố theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán và các quy định về công
Trang 20bố thông tin hiện hành Trong nghiên cứu của minh tác giả cũng đưa ra quan điểm
về tính minh bạch thông tin tài chính bao gồm các đặc tính như: Kịp thời, đầy đủ,
chính xác, nhất quán và thuận tiện.
Theo Xuan QI, Dan LIU (2012), nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin
kế toán của các DNNY tại Trung Quốc, theo quan điểm của tác giả tính minh bạch
thông tin kế toán là phản ánh mức độ công bố thông tin tự nguyện và thông tin bắt
buộc cả về số lượng và chất lượng nhằm cung cấp thông tin ữu ích của những đối tượng quan tâm.
Theo MarianaMan, Maria Ciurea (2016), nghiên cứu về tính minh bạch của
thông tin kế toán, tác giả cho rằng minh bạch thông tin kế toán phải đảm bảo về số
lượng và chất lượng của thông tin được công bố Chất lượng thông tin kế toán phải
đáp ứng theo yêu cầu của chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế ( IFRS) của IASB
Theo Nguyễn Trọng Nguyên (2016) và Phạm Quốc Thuần (2016) nghiên cứu
về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC Tác giả cho rằng
thông tin tài chính có chất lượng thì phải bao gồm các đ ặc tính như: Thích hợp,
trung thực, so sánh, dễ hiểu và kịp thời Để đánh giá chất lượng thông tin trên
BCTC tác giả đã tham khảo các thuộc tính đo lư ờng chất lượng thông tin trênBCTC của FASB & IASB 2010, đ ồng thời kế thừa phương pháp đo lư ờng củaFerdy van Beest & công sự (2009) đ ể đo lường các đ ặc tính chất lượng thông tintheo thang đo likert
Như vậy, với cách tiếp cận minh bạch thông tin thông theo các đặc tính củathông tin công bố, các tác giả đều cho rằng tính minh bạch của thông tin trên BCTCkhông chỉ đảm bảo về số lượng mà còn đảm bảo về chất lượng thông tin Do vậy, bộchỉ số đo lường đánh giá tính minh bạch thông tin theo đặc tính của thông tinthường được căn cứ theo khuôn mẫu IAS, IFRS của các tổ chức kế toán quốc tế nhưIASB, FASB sẽ đầy đủ hơn, bao quát hơn, qua đó mức độ minh bạch thông tin trênBCTC giữa các DN sẽ được phân biệt rõ nét hơn Ngoài ra, các tác giả cũng chorằng để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC thì phải xác định và kiểm soátđược các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo lập và cung cấp thông tin trên BCTC.Quá trình này được thực hiện bởi chính các doanh nghiệp niêm yết- người cung cấpthông tin
2.2 Các công trình nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC.
Đến nay, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng
Trang 21đến tính công khai, minh bạch thông tin nhưng phạm vi nghiên cứu khác nhau, có công trình nghiên cứu ở phạm vi xuyên quốc gia, có công trình nghiên cứu ở phạm
vi doanh nghiệp hay có những công trình chỉ nghiên cứu trong phạm vi giới hạn ởcác báo cáo kế toán của một doanh nghiệp (như: báo cáo thường niên, báo cáo quảntrị, báo cáo tài chính) Do vậy, các yếu tố ảnh hưởng ở mỗi công trình nghiên cứucũng chưa thống nhất về cả số lượng các yếu tố và nội dung Hơn nữa, tùy vào cáchtiếp cận khái niệm minh bạch thông tin của mỗi công trình, dẫn đến các yếu tố ảnhhưởng đến tính minh bạch thông tin cũng khác nhau Qua tổng quan, có thể hệthống hóa các yếu tố ảnh hưởng theo các nhóm yếu tố sau:
Các yếu tố thuộc về đặc điểm tài chính
Các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến mức độ minh bạch và công bố thông tintrên BCTC là các yếu tố được đo lường bởi các số liệu thứ cấp lấy từ BCTC của các
DNNY như là các yếu tố: Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, hiệu quả sử
dụng tài sản, lợi nhuận, tài sản đảm bảo,…Điển hình về việc nghiên cứu các yếu tố
này, có thể khái quát như sau:
Quy mô doanh nghiệp
Các nghiên cứu trước đây đã xác định biến quy mô có ảnh hưởng đáng kể đến công bố thông tin (CBTT) của các DNNY Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng các DN có quy mô lớn thì minh bạch hơn DN nhỏ Nhận định này được rút ra
từ kết quả nghiên cứu xuyên quốc gia của các tác giả: Wallace (1994), Meek (1995), Ahmed and Courtis (1999), và Zarzeski (1996), Robert Bushman và cộng sự(2001), Archambault (2003), Khanna và cộng sự (2004) Ngoài ra, kết quả này cũngđược khẳng định qua báo cáo chương trình đánh giá chất lượng “Công bố thông tin vàminh bạch của các DNNY trên sàn GDCK HN năm 2015-2016” do SGDCK HN thựchiện Các nghiên cứu trên đưa ra lý do giải thích cho mối quan hệ giữa quy mô doanhnghiệp và mức độ minh bạch thông tin là do nhu cầu công khai thông tin hay có thể làcác doanh nghiệp lớn công bố nhiều thông tin hơn để giảm áp lực chính trị hoặc cácdoanh nghiệp lớn thường có nhiều nguồn lực sản xuất nên công khai thông tin nhiềuhơn Cụ thể, một số nghiên cứu (Robert Bushman và cộng sự, 2001; Archambault,2003) cũng cho rằng, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có nhiều nhà đầu tư lớnhơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, thông tin do họ công bố thường nhạy cảm hơn với sựgiám sát nhiều hơn từ công chúng, nhà đầu tư và chính phủ
Đòn bẩy tài chính
Một số nghiên cứu của các tác giả trước đây cho rằng, doanh nghiệp có đòn
Trang 22bẩy tài chính cao sẽ công bố nhiều thông tin tài chính hơn các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính thấp Khi các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thì sẽ chịu sự giám sát nhiều hơn từ các bên liên quan (Ahmed và Courtis, 1999; Archambault, 2003) Các chủ nợ sẽ yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin nhiều hơn để đảm bảo lợi ích của họ Nhà quản lý sẽ thuyết phục các chủ nợ trong việc cho vay bằng việc CBTT nhiều hơn để giảm chi phí nợ vay Đồng thời, thông qua lý thuyết đại diện, có thể thấy rằng, đây là cách để nhà quản lý giảm chi phí đại diện Tăng cườngmức độ công bố thông tin và minh bạch thông tin sẽ làm giảm sự bất đối xứng thôngtin giữa các chủ nợ và nhà quản lý, do đó làm giảm chi phí đại diện Ngoài ra, Jaggi
và Low (2000) nhận thấy rằng mức độ CBTT sẽ gia tăng ở các doanh n ghiệp có đònbẩy tài chính cao đối với các quốc gia theo trường phái thông luật, ngược lại,
ở quốc gia mà hệ thống pháp luật theo luật La Mã thì lại không có mối quan hệ nàogiữa đòn bẩy tài chính và mức độ CBTT Các công trình nghiên cứu trong nước, cũngcho thấy, tồn tại mối quan hệ thuận chiều giữa đoàn bẩy tài chính với mức độ công khaiminh bạch thông tin (Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương, 2014)
Hiệu quả sử dụng tài sản
Các nghiên cứu trước đây đều cho rằng, các doanh nghiệp có hiệu quả s ửdụng tài sản cao thường công bố thông tin rõ ràng và đầy đủ hơn để duy trì lợi thếcho nhà quản lý (người đại diện) và để thu hút sự chú ý của nhà đầu tư về tính hiệuquả trong công tác quản trị nói chung và việc sử dụng tài sản nói riêng của ngườiđại diện (Stephen Yan-Leung Cheung và cộng sự, 2005) Đây cũng là cách phát tínhiệu cho nhà đầu tư hiện tại và tương lai thấy được triển vọng phát triển trong tươnglai của của doanh nghiệp
Lợi nhuận
Các doanh nghiệp có lợi nhuận tốt công bố nhiều thông tin hơn để nhà quản
lý có cơ hội được hưởng các khoản lợi ích nhiều hơn từ cổ đông hay nhận được khen thưởng từ cổ đông hoặc để duy trì vị thế của mình ( Stephen Yan-Leung
Cheung và cộng sự, 2005; Robert M Bushman và Abbie J Smith; Jouini Fathi, 2013) Ngoài ra, theo lý thuyết thông tin bất cân xứng, trên TTCK, các DNNY có tình hình tài chính lành mạnh, kết quả kinh doanh tốt và có dự án đầu tư triển vọng thường chủ động trong việc CBTT ra bên ngoài (Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng, 2008; Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015) Lợi nhuận là cách mà các DNNY phát tín hiệu ra thị trường, để các nhà đầu tư phân biệt được chứng khoán tốt và xấu nhằm hạn chế tình trạng lựa chọn bất lợi (Michael Spence, 1973) Các doanh nghiệp có lợi nhuận cao
Trang 23thường công bố nhiều thông tin nhằm thu hút sự quan tâm của thị trường và các nhàđầu tư, từ đó giá trị cổ phiếu của họ được gia tăng Trong khi đó, doanh nghiệp cólợi nhuận thấp thường công bố ít thông tin hay công bố không rộng rãi nhằm chedấu những lý do hay tình trạng hoạt động kém hiệu quả nếu lợi nhuận thấp (Lang vàLundholm, 1993 và Khanna & cộng sự , 2004).
Tài sản đảm bảo
Một số nghiên cứu cho rằng doanh nghiệp có giá trị tài sản đảm bảo cao thì
sẽ CBTT cho nhà đầu tư bên ngoài nhiều hơn nhằm giúp cho nhà đầu tư ra cácquyết định đầu tư (nhóm tác giả Cheung và cộng sự, 2005) khi thực nghiệm tạiTTCK Hồng Kông) Tuy nhiên, ngược với kết quả nghiên cứu trên là kết quả nghiêncứu của Jensen và Meckling (1976) lại cho rằng công ty có tài sản nhiều lại ít cónhu cầu công bố thông tin tài chính vì họ lo ngại người cho vay có thể nắm giữquyền sở hữu tài sản của công ty nếu công ty bị phá sản
Các yếu tố thuộc về đặc điểm quản trị công ty
Quản trị công ty được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữudoanh nghiệp Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông), nhưng để công tytồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của hội đồng quản trị (HĐQT), sự điều hànhcủa Ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động Những người này không phảilúc nào cũng có chung ý chí, lợi ích và quyền lợi Điều này dẫn đến cần phải có một
cơ chế để nhà đầu tư, cổ đông và các bên liên quan đến doanh nghiệp có thể kiểmsoát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Nhiều nghiên cứu đãtập trung vào mối quan hệ giữa quản trị và hiệu quả công ty Một số nghiên cứu chothấy quản trị công ty tốt dẫn đến CBTT và minh bạch tốt hơn (Mitton 2002; Lins2003) Tuy nhiên không có sự bảo đảm nào việc công bố và minh bạch tốt hơn sẽdẫn đến hiệu quả doanh nghiệp tốt hơn Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giớiđánh giá mức độ ảnh hưởng của một số đặc điểm về quản trị công ty đến tính minhbạch thông tin thông qua các yếu tố như sau:
Quy mô hội đồng quản trị
Đặc điểm quan trọng khác của HĐQT là quy mô của HĐQT Jensen (1983)cho rằng, quy mô HĐQT lớn hơn dẫn đến thảo luận ít chân thật hơn về các vấn đềquan trọng, từ đó làm cho việc giám sát của HĐQT sẽ không tốt, dẫn đến hệ thốngCBTT trong công ty cũng yếu kém hơn Yermack (1996) trích trong Chueng vàcộng sự (2005) đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô HĐQT và giá trịcông ty trong các công ty có quy mô lớn ở Mỹ Một nghiên cứu khác của Huther
Trang 24(1997) thực hiện trên mẫu các công ty dịch vụ tiện ích công cộng của Mỹ với kếtquả cho thấy quy mô HĐQT càng lớn thì hiệu quả hoạt động của công ty càng thấp.Năm 1998, nghiên cứu của nhóm tác giả Eisenberg và cộng sự về mối quan hệ giữaquy mô HĐQT và lợi nhuận của các công ty nhỏ ở Thụy Điển Kết quả cho thấy quy
mô HĐQT càng lớn thì lợi nhuận của các công ty nghiên cứu càng thấp
Sự kiêm nhiệm giữa chủ tich HĐQT và Giám đốc
Các nghiên cứu trước đây đã tìm ra những bằng chứng cho thấy những doanhnghiệp khi kiêm nhiệm hai chức danh thì công bố ít thông tin hơn (Gul và Leung,2004) Theo lý thuyết ủy nhiệm, việc kết hợp hai chức năng này sẽ ảnh hưởng tiêucực đến chức năng kiểm soát của HĐQT Theo nghiên cứu của Bader Al Shammari(2010), việc kiêm nhiệm này dẫn đến việc xu hướng che dấu những thông tin bất lợicủa doanh nghiệp đến với cổ đông Tính minh bạch thông tin sẽ gia tăng chỉ khi táchhai chức năng Tổng Giám đốc và Chủ tịch HĐQT (Jouini Fathi, 2013) Mặt khác,theo nghiên cứu thực nghiệm của David B Farber (2004) xem xét 87 doanh nghiệptrước và sau thời điểm phát hiện gian lận tại Hoa kỳ, Ông kết luận những doanhnghiệp có sự kiêm nhiệm hai chức năng thì số lượng gian lận nhiều hơn Tuy nhiên,theo Cheng và Courtenay (2004) nghiên cứu 104 doanh nghiệp niêm yết tạiSingapore thì việc kiêm nhiệm hai chức danh không có mối tương quan đến mức độminh bạch thông tin tài chính
Tại Việt Nam, có nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2016); Lê Thị MỹHạnh (2015) cũng cho rằng sự bất kiêm nhiệm giữa hai chức danh này sẽ góp phầnlàm gia tăng tính minh bạch thông tin
Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập
Thành viên HĐQT, đặc biệt là các thành viên độc lập giúp n âng cao vai trògiám sát của HĐQT (Fama và Jensen, 1983; Agrawal và Knoeber, 1996) Họ có thểgiúp giảm thiểu cơ hội che dấu thông tin của những nhà quản lý (Kelton và Yang,2008) Theo David B Farber (2004), Ienciu (2012) tỷ lệ thành viên độc lập trongHĐQT càng cao thì tỷ lệ gian lận và phù phép gian lận càng thấp Mặt khác,Mohamed Akhtaruddin và các cộng sự (2009); Eugene C.M Cheng, StephenM.Courtenay (2006), Chiraz Ben Ali (2009), Nurwati Ashikkin Ahmad Zaluki(2009) Ienciu (2012) cho rằng với tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT càng cao thìmức độ công bố các thông tin tự nguyện cũng như các thông tin phi tài chính càngnhiều (> 50% thì mức độ công bố tự nguyên cao hơn những doanh nghiệp không cóthành viên HĐQTĐL) Bên cạnh đó, thành viên HĐQTĐL còn giúp nâng tinh minh
Trang 25bạch của thông tin trên BCTC công bố.
Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2016),
Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) cũng cho rằng tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT càngcao thì mức độ công khai minh bạch thông tin càng cao
Ban kiểm soát (BKS)
BKS của doanh nghiệp bao gồm các chuyên gia về tài chính và các thànhviên không điều hành có trách nhiệm giám sát tình hình tài chính doanh nghiệp, tínhhợp pháp trong các hoạt động của các thành viên HĐQT, Tổng giảm đốc/giám đ ốcđiều hành, sự phối hợp hoạt động giữa BKS với HĐQT và Tổng giám đốc/giám đốcđiều hành với cổ đông và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và điều lệdoanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và cổ đông.Nhiệm vụ chủ yếu của BKS là giám sát quá trình lập và trình bày BCTC của Bangiám đốc, đồng thời tiến hành giám sát kiểm toán độc lập BCTC nhằm gia tăng tínhminh bạch của BCTC Theo luật doanh nghiệp Việt nam (2005), BKS có tráchnhiệm kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực trong tổ chức công tác kế toán
và lập BCTC Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn ĐìnhHùng (2010); Nguyễn Trọng Nguyên (2016); Phạm Quốc Thuần (2016) cho rằngBKS có số lượng thành viên độc lập, số thành viên có chuyên môn, trưởng ban kiểmsoát có chuyên môn thì sự minh bạch thông tin trên BCTC càng cao
Ban giám đốc
Barnea và các tác giả (1985), chứng minh rằng khi nhà quản lý của công ty
sở hữu những thông tin quan trọng hoặc mang tính chất bí mật thì sẽ dẫn đến thôngtin bất cân xứng, điều này sẽ dẫn đến rủi ro về đạo đức, các lựa chọn sai lệch và do
đó giảm sự minh bạch của thông tin Nghiên cứu của Zhara và các tác giả (2000),cho thấy số lượng các thành viên của Ban giám đốc càng am hiểu về hệ thống chuẩnmực kế toán và các quy định liên quan đến công bố thông tin sẽ làm gia tăng tínhminh bạch thông tin trên BCTC Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của NguyễnĐình Hùng (2010) cho thấy mối tương quan giữa Ban giám đốc và sự minh bạchthông tin trên BCTC
Kiểm soát nội bộ
Theo COSO (Committee of Sponsoring Organization of the TreadwayCommission), kiểm soát nội bộ là một quá trình (bao gồm các thủ tục và quy định), ảnhhưởng bởi các nhà quản lý, cá nhân, được thiết lập nhằm cung cấp mức độ đảm bảo lợp
lý liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp trên các khía cạnh:
Trang 26- Kiểm soát hoạt động (Sử dụng nguồn lực hiệu quả)
- Kiểm soát báo cáo tài chính (Các báo cáo tài chính công bố là đáng tin cậy)
- Kiểm soát tuân thủ (tuân theo các quy định nội bộ và luật pháp hiện hành)Kiểm soát nội bộ hiệu quả đối với báo cáo tài chính rất cần thiết cho mộtcông ty để quản lý một cách hiệu quả việc kinh doanh và đáp ứng được nghĩa vụ của công ty đối với các nhà đầu tư Bởi vì nhà quản lý của công ty, chủ công ty, các nhà đầu tư và các đối tượng khác đều phải dựa trên các thông tin tài chính được công bố của doanh nghiệp để ra các quyết định Kiểm soát nội bộ vững mạnh cũng cung cấp các
cơ hội tốt hơn trong việc phát hiện và ngăn chặn các gian lận (Zinatul Iffah Binti
Abdullah và các công sự, 2015) Ví dụ, rất nhiều gian lận dẫn đến sự trình bày sai trên báo cáo tài chính do khả năng nhân viên có thể khai thác các điểm yếu trong kiểm soát nội bộ Trong tình huống như vậy, báo cáo về kiểm soát nội bộ có thể lấy lại được niềmtin của các nhà đầu tư bằng cách cải thiện sự hiệu quả của kiểm soát nội bộ để giảm phạm vi ảnh hưởng của các gian lận (Nguyễn Đình Hùng, 2010)
Năng lực của nhân viên kế toán
Năng lực chuyên môn sẽ được thể hiện trong quá trình làm việc bao gồm khảnăng lập báo cáo và trình bày báo cáo kế toán, khả năng thống kê, phân tích tàichính, khả năng lập và phân tích báo cáo kế toán cũng như quản trị tài chính doanhnghiệp…Đặc biệt, kế toán trong các DNNY thì đòi hỏi phải có năng lực chuyênmôn cao hơn do các DNNY có quy mô lớn, ngành nghề kinh doanh phức tạp, hìnhthức sở hữu đa dạng, sức ép về công bố thông tin và minh bạch thông tin từ các cổđông.Theo nhiều nghiên cứu trước như của He, TJ.Wong, Young (2012), Zehri &Chouaibi (2013), Bewley, Graham and Peng (2013) cho thấy trình độ của nhân viên
kế toán có mối quan hệ với tính minh bạch thông tin trên BCTC
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần (2016) cho rằng Năng lựcnhân viên kế toán là một nhóm các yếu tố có liên quan đến kỹ năng, kiến thức củanhân viên trong công tác kế toán cho phép họ hoàn thành trách nhiệm về công việc
kế toán của mình nhằm đảm bảo tính minh bạch của thông tin trên BCTC
Các yếu tố bên ngoài.
Kiểm toán độc lập
Nhiều nghiên cứu cho rằng tính minh bạch thông tin trên BCTC của cácdoanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi các công ty kiể m toán độc lập (Kết quảnghiên cứu của Fargher và cộng sự, 2001; Archambault, 2003) Lý giải thêm điềunày, lý thuyết thông tin hữu ích khẳng định rằng, do đặc điểm mất cân đối về mặt
Trang 27thông tin giữa các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, trên TTCKnhững đối tượng bên ngoài, thường là các nhà đầu tư có xu hướng dựa vào thông tintrên BCTC như một tài liệu quan trọng cho việc ra các quyết định kinh tế NếuBCTC được kiểm toán bởi các doanh công ty kiểm toán lớn, có uy tín sẽ đượcnhững đối tượng sử dụng thông tin tin cậy hơn Hơn nữa, người trực tiếp thực hiệncuộc kiểm toán chính là các kiểm toán viên nên chất lượng kiểm toán sẽ phụ thuộcphần lớn vào năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp của kiểm toánviên Các công ty kiểm toán có uy tín thì họ sẽ khắt khe hơn trong việc tuyển dụng
và đào tạo nhân viên Việc tìm đến công ty kiểm toán có uy tín như là một lời khẳngđịnh với cổ đông về tính minh bạch trong kết quả kiểm toán và độ tin cậy của BCTC
mà DNNY công bố Có nhiều công trình trong và ngoài nước đã nghiên cứu sự ảnhhưởng của kiểm toán độc lập đến chất lượng thông tin trên BCTC cũng như ảnhhưởng đến mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY, điển hình như:Nguyễn Trọng Nguyên (2016), Phạm Quốc Thuần (2016), Zinatul Iffah BintiAbdullah (2015), Nguyễn Đình Hùng (2010), Eccher và Healy (2000), Hu (2002) và
Wu và các tác giả (2005), Lang và Lundholm (1993) và Khanna & cộng sự (2004),Bùi Thị Thủy (2014)
Môi trường pháp lý
Năm (2006) nhằm chứng minh việc cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắcđược thừa nhận khi soạn lập BCTC nhằm gia tăng sự minh bạch khi soạn lập BCTC
có nghiên cứu của Bert J Zarb với tên gọi “The Quest for Transparency in
Financial Reporting: Certified Public Accountant” đăng trên CPA Journal 76.9.
Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng để đạt được sự minh bạch t rong BCTC thìtrước hết thông tin cần trình bày phải được chuẩn bị và thiết lập theo các nguyên tắc
kế toán và chuẩn mực kế toán Làm được điều đó, thông tin BCTC sẽ được sử dụngrộng rãi cho người sử dụng ở bất kỳ quốc gia nào Ngoài ra, tác giả tin rằng cáchtiếp cận tốt nhất là nên sử dụng IFRS kết hợp với US GAAP khi soạn lập BCTC và
US GAAP nên hội tụ dần với IFRS
Năm 2010, nhằm xem xét quan điểm soạn lập BCTC, nghiên cứu củaThomas J Phillips et el đăng trên Academy of Accounting and Financial Studies
Journal 14.4 với tựa đề “Transparency in financial reporting: a look at rules- based
versus principles-based standards” Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhà quản lý
doanh nghiệp có mong muốn thiết lập BCTC dựa trên các chuẩn mực kế toán, trongkhi các nhà đầu tư và chủ nợ lại nghiêng về quan điểm nên thiết lập BCTC dựa trênluật lệ
Trang 28Một môi trường pháp lý đầy đủ nghĩa là đảm bảo bao quát hết tất cả các vấn
đề liên quan đến việc lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC của các DNNYtrên thị trường chứng khoán Theo Nguyễn Thị Thanh Loan (2017) chuẩn mực kếtoán Việt Nam chưa có “ Báo cáo vốn chủ sở hữu”, có báo cáo lại chi tiết quá (Bảngcân đối kế toán, Bảng thuyết minh báo cáo), có báo cáo lại cô đọng quá (Báo cáokết quả hoạt động kinh doanh) Mặc dù Bảng thuyết minh BCTC khá chi tiết nhưngcách trình bày lại chưa rõ ràng, không có nhiều số liệu để so sánh, đánh giá, không
có thêm thông tin ngoài thước đo giá trị, không sử dụng các công cụ để phân tíchluôn trên các báo cáo, các nội dung công khai trên BCTC của Việt nam ít hơn so vớichuẩn mực quốc tế
Hơn nữa, một môi trường pháp lý hoàn thiện đòi hỏi phải có sự phù hợp tức
là phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, phải cập nhật để phù hợp với xu thế pháttriển, không lạc hậu, lỗi thời Nếu các quy định và hướng dẫn chưa phù hợp hoặc không phù hợp với thực tế dẫn đến việc các công ty kiểm toán cũng như DNNY có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất đối với cùng một vấn đề làm hạn chế đến chất lượng kiểm toán qua đó sẽ ảnh hưởng tính minh bạch BCTC của các
DNNY Ngoài ra, chế tài xử phạt và chất lượng của các bên liên quan cũng là yếu tố quan trọng giúp cho môi trường pháp lý hoàn thiện Riêng đối với các DNNY trên thị trường chứng khoán thì thông tin trên BCTC có rất nhiều đối tượng quan tâm, do vậy một chế tài xử phạt đủ mạnh và quy định rõ trách nhiệm pháp lý cho các bên liên sẽ đảm bảo được quyền lợi cho những đối tượng sử dụng thông tin đặc biệt là nhà đầu tư làm cho thị trường chứng khoán ngày càng minh bạch và hiệu quả
(Nguyễn Đình Hùng, 2010) Theo nghiên cứu của Eccher và Healy (2000), Hu (2002) và Wu và các tác giả (2005) đều cho kết luận: số liệu kế toán dựa trên Chuẩn mực kế toán quốc tế cũng không mang lại thêm giá trị so với số liệu kế toán dựa trênChuẩn mực kế toán Trung quốc, sở dĩ có kết quả này là do thiếu cơ chế kiểm soát vàgiám sát chứ không phải là do bản chất của Chuẩn mực kế toán quốc tế Điều đó chothấy, nếu chuẩn mực kế toán tốt chưa đủ mà còn cần các quy định bắt buộc liên quanđến công bố báo cáo tài chính thì mới mang lại sự minh bạch và hiệu quả cho các thông tin trên BCTC
2.3 Khoảng trống nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến luận án.Tác giả thấy rằng:
Minh bạch thông tin nói chung hay minh bạch của thông tin trên BCTC nói
Trang 29riêng là một khái niệm khá trừu tượng và khó đo lường một cách trực tiếp và đầy
đủ Do vậy, cách tiếp cận của các công trình trước cũng chưa rõ ràng, nhất quán.Một số công trình tiếp cận dưới góc độ người sử dụng thông tin, cho rằng minh bạchthông tin đồng nghĩa với công bố thông tin Trong khi đó, một số công trình khácxem xét tính minh bạch thông tin thông qua quá trình soạn lập và cung cấp thôngtin Do vậy, để đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC , các nhà nghiên
cứu thường đánh giá qua các đặc tính của thông tin công bố như: Thích hợp, tin cậy,
kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh.
Từ cách tiếp cận khái niệm minh bạch thông tin khác nhau dẫn đến việc ápdụng các phương pháp đo lường, đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTCcũng khác nhau Có những công trình vận dụng bộ tiêu chí được công bố từ các tổchức trên thế giới như S&P, CIFAR, OECD, IDTRS…để đánh giá mức độ minhbạch thông tin và công bố thông tin, song những bộ tiêu chí này chủ yếu tập trungvào số lượng thông tin công bố, ít quan tâm đến chất lượng thông tin Bên cạnh đó,
có những nghiên cứu đã thiết lập bộ tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tintheo các đặc tính của thông tin trình bày và công bố trên BCTC dựa trên các khuônmẫu nhất định như IAS, IFRS Bộ tiêu chí đo lường theo cách tiếp cận này có ưuđiểm không những đánh giá tính minh bạch thông tin dựa trên số lượng thông tinđược công bố mà còn chú trọng đến chất lượng của thông tin, giúp cho kết quả đánhgiá chính xác, đầy đủ hơn Cho đến nay cũng chưa có bộ tiêu chí chính thức nào vềđánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC được công bố áp dụng tại Việt Nam,
mà chủ yếu là vận dụng trên cơ sở kế thừa từ các nghiên cứu của nước ngoài, tùyvào phạm vi nghiên cứu cũng như cách tiếp cận mà bộ tiêu chí đánh giá của mỗicông trình cũng chưa được nhất quán, vẫn còn rời rạc Do vậy, việc nghiên cứu đểxây dựng một bộ tiêu chí đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC của cácDNNY mang tính hệ thống bao hàm đầy đủ các đặc tính minh bạch của thông tintrên BCTC là rất cần thiết
Về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC, hầu hếtcác công trình nghiên cứu đều tập trung vào việc nghiên cứu các yếu tố thuộc đặcđiểm tài chính và đặc điểm quản trị của doanh nghiệp (DN) nhằm đánh giá mức độảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC, rất ít các công trình nghiên cứucác yếu tố ảnh hưởng đến quá trình soạn lập và công bố thông tin trên BCTC Mặtkhác, mặc dù chất lượng hay tính minh bạch của thông tin trên BCTC có ý nghĩaquan trọng đối với người sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu tư Song, người
Trang 30sử dụng thông tin khi đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC thường phụthuộc nhiều vào cảm nhận của bản thân đối với những thông tin có sẵn, được cungcấp bởi các doanh nghiệp, họ không phải là người tạo ra thông tin đó nên những yếu
tố ảnh hưởng đến việc tạo ra Báo cáo tài chính minh bạch dường như rất ít đượcngười sử dụng thông tin quan tâm cũng như không đủ cơ sở để đánh giá Hơn nữa,chất lượng thông tin công bố của các doanh nghiệp niêm yết luôn là mối quan tâmhàng đầu của mọi thị trường chứng khoán Thông tin công bố minh bạch, đảm bảochất lượng sẽ bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, tạo sự minh bạch, ổn định và phát triển củathị trường Chất lượng và minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi
tài chính niêm yết phụ thuộc vào hai yếu tố: Thứ nhất, bản thân thông tin trong các báo cáo mà công ty lập; Thứ hai, hoạt động công bố thông tin trên thị trường Vì
vậy, việc đảm bảo chất lượng và minh bạch thông tin trên BCTC công bố phải đượcxem là trách nhiệm pháp lý đối với các DNPTCNY Có thể thấy, để nâng cao tínhminh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY thì cần phải xem xét các yếu tốảnh hưởng đến quá trình thu thập, xử lý và công bố thông tin trên BCTC - quá trìnhnày được thực hiện bởi người cung cấp thông tin là bản thân các DNPTCNY
Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTCtrong các nghiên cứu trước cũng rời rạc, chưa hệ thống Các công trình trong nướcđược thực hiện chủ yếu bằng phương pháp nghiên cứu định tính, rất ít các nghiêncứu thực nghiệm và các nghiên cứu lượng hóa được mức độ minh bạch thông tintrên BCTC cũng như ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ minh bạch thông tintrên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết
Về phạm vi nghiên cứu, đa số các công trình nước ngoài thường nghiên cứutrên phạm vi quốc gia Còn các công trình trong nước thường mới chỉ dừng lại ởphạm vi từng Sở giao dịch chứng khoán (tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội hoặctại Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh)
Do vậy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tintrên BCTC của các DNPTCNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới góc độngười cung cấp thông tin bằng việc sử dụng kết hợp 2 phương pháp định tính vàđịnh lượng là nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận và có có giá trị về mặt thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận án: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạchcủa thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết (DNPTCNY)
Trang 31và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY nói riêng và các DNNY nói chung.
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa, bổ sung và góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết về minh bạchthông tin trên BCTC và các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông ti n trênBCTC dưới góc độ người cung cấp thông tin
- Xác định mức độ minh bạch thông tin trên BCTC và các yếu tố ảnh hưởng cũng như lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trênBCTC của các DNPTCNY nói riêng và các DNNY nói chung trên TTCK Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích và trả lời các câu hỏi sau:
(1) Minh bạch thông tin trên BCTC và các yếu tố nào ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC dưới góc độ người cung cấp thông tin?
(2) Thực trạng về mức đ ộ minh bạch thông tin trên BCTC của cácDNPTCNY và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính minh bạch thông tin trênBCTC như thế nào?
(3) Các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch của thông tin trên BCTCcủa các DNPTCNY trên TTCK?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Minh bạch thông tin trên BCTC và yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu minh bạch thông tin trên BCTC
và yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNYtrên TTCK Việt Nam dưới góc độ người lập, trình bày và công bố thông tin
Phạm vi không gian: Tác giả tiến hành thu thập số liệu và khảo sát tại các
doanh nghiệp phi tài chính niêm yết (DNPTCNY) trên TTCK Việt Nam Tác giảkhông thực hiện khảo sát các tổ chức tài chính như ngân hàng, các tổ chức tín dụng,doanh nghiệp chứng khoán, các doanh nghiệp bảo hiểm… niêm yết
Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu các nội dung liên quan đến luận án
được thực hiện từ năm 2015-2019
Trang 326 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước cơ bản: Nghiêncứu tổng thể để khám phá bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứukiểm định bằng phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp định tính: Nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh
bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY, hình thành mô hình nghiên cứu, xâydựng các giả thuyết nghiên cứu, thiết lập bảng hỏi điều tra; các thang đo nháp và thang
đo chính thức thông qua việc tổng hợp, phân tích từ quá trình tổng quan các công trìnhnghiên cứu trước trong và ngoài nước đồng thời kết hợp với phỏng vấn, trao đổi với cácchuyên gia về lĩnh vực tài chính, kế toán - kiểm toán, chứng khoán
Phương pháp định lượng: Được thực hiện trên cơ sở mô hình nghiên cứu đã
xác định ở bước nghiên cứu định tính nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và
sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của cácyếu tố đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK
7 Đóng góp của luận án
Các đóng góp về mặt lý luận
Thứ nhất, dựa vào các nghiên cứu tiền nhiệm về minh bạch thông tin trên
BCTC luận án hệ thống hóa, tổng hợp và phân loại cách tiếp cận về tính minh bạchthông tin trên BCTC theo hai hướng: (1) Minh bạch thông tin dưới góc độ người sửdụng thông tin và (2) minh bạch thông tin dưới góc độ người cung cấp thông tin
Thứ hai, luận án đã hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch
thông tin trên BCTC của các DNPTCNY theo nhóm các yếu tố ảnh hưởng, trong đóphân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTCdưới góc độ người cung cấp thông tin
Thứ ba, luận án chỉ rõ vai trò cũng như cơ sở vận dụng của các lý thuyết làm
nền tảng cho nghiên cứu về minh bạch thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến minhbạch thông tin trên BCTC
Thứ tư, về phương pháp nghiên cứu, luận án đã sử sụng kết hợp hai phương
pháp nghiên cứu: định tính và định lượng để xây dựng mô hình nghiên cứu cũngnhư kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với 8 biến độc lập là các yếu tốảnh hướng và biến phụ thuộc là tính minh bạch thông tin trên BCTC của các
DNPTCNY
Các đóng góp về mặt thực tiễn
Thứ nhất, dựa theo các khuôn mẫu về đặc tính của thông tin trên BCTC của
các tổ chức lập quy và các nghiên cứu trước, luận án đã xây dựng được bộ tiêu chí
Trang 33đo lường đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY gồm
5 đặc tính minh bạch (Thích hợp, Tin cậy, Có thể so sánh, Kịp thời và Thuận tiện)với 21 thuộc tính đo lường
Thứ hai, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, dưới góc độ người cung
cấp thông tin, có 7/8 yếu tố ảnh hưởng thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến tínhminh bạch của thông tin trên BCTC với 29 thuộc tính đo lường Trong đó, yếu tốMôi trường pháp lý có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến tính minh bạch của thông tintrên BCTC với tỷ lệ 38.8 %, tiếp theo là yếu tố Nhân viên kế toán (NVKT) với tỷ lệ37.2%, yếu tố Ban kiểm soát (BKS) với tỷ lệ 34.4%, yếu tố Kiểm toán độc lập(KTĐL) với tỷ lệ 33.3%, yếu tố Hội đồng quản trị (HĐQT) với tỷ lệ 29.1%, yếu tốPhần mềm kế toán (PMKT) với tỷ lệ 25.5% và thấp nhất là yếu tố Ban giám đốc(BGĐ) với tỷ lệ 22%
Thứ ba, trên cơ sở kết quả về nghiên cứu định lượng đã trình bày trong phần
thực tiễn, luận án cũng đã trình bày một số khuyến nghị và giải pháp để nâng caotính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY qua nghiên cứu định lượngcác yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC Các khuyến nghị vàgiải pháp chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả quản trị công ty của các DNPTCNY,nâng cao năng lực nhân viên kế toán, hoàn thiện môi trường pháp lý, lựa chọn phầnmềm kế toán có chất lượng, lựa chọn công ty kiểm toán có uy tín, từ đó sẽ nângcao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY nói riêng và cácDNNY nói chung
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạchcủa thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCKViệt Nam
Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch củathông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK VN
Trang 34CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH
BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Tổng quan về minh bạch thông tin trên BCTC
1.1.1 Minh bạch thông tin
Minh bạch thông tin là một khái niệm rất trừu tượng, do vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về minh bạch thông tin
Một số quan điểm cho rằng minh bạch thông tin là phản ánh mức độ công bốthông tin Minh bạch thông tin là số lượng thông tin mà trên đó, các nhà kinh tế dựa vào
đó để đưa các quyết định và kỳ vọng của họ, thông tin công bố càng đầy đủ thì tínhminh bạch thông tin càng cao (Andrew Schnackenberg, 2000; Dipiazza và Ecccles,2002) Vaccaro và Madsen (2009) cũng cho rằng minh bạch thông tin là mức độ đầy đủcủa thông tin được cung cấp liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị
Như vậy, có thể thấy các quan điểm trên xem xét minh bạch thông tin thườngtập trung vào số lượng thông tin công bố, trong khi đó, một số quan điểm khác xemxét tính minh bạch thông tin không chỉ tập trung vào mức độ công bố thông tin màcòn quan tâm đến chất lượng thông tin được công bố Minh bạch là một khái niệmkhá trừu tượng, khi xem xét tính minh bạch thông tin, công khai thôi chưa đủ màcòn bao gồm cả khả năng tiếp cận thông tin một cách công bằng, bình đẳng, thuậntiện trong việc tiếp cận thông tin đối với các đối tượng sử dụng thông tin, các thôngtin phải được cung cấp nhất quán, mọi chính sách kinh tế mà DN đưa ra phải có khảnăng dự đoán trước và có thái độ cởi mở (Đậu Anh Tuấn, 2006) Cùng với quanđiểm này, Lâm Thị Hồng Hoa (2009), cũng cho rằng minh bạch thông tin có nghĩa
là những thông tin về thực trạng đang diễn ra, về các quyết định mà mỗi đối tượngquan tâm sử dụng cho các mục đích khác nhau phải là những thông tin có thể dễdàng tiếp cận, thấy được, hiểu được , tính minh bạch có liên quan chặt chẽ đến tínhtrách nhiệm Tính trách nhiệm yêu cầu các chủ thể cung cấp thông tin phải lý giảiđược các chính sách sử dụng trong hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm đốivới quyết định và kết quả tạo ra Tara Vishwanath và Daniel Kaufmann (2001) cũngnhấn mạnh rằng, minh bạch thông tin là việc trình bày, miêu tả và cung cấp cácthông tin kinh tế một cách kịp thời và có chất lượng cho những đối tượng quan tâm
Từ các quan điểm trên, có thể thấy rằng minh bạch thông tin không chỉ dừnglại ở việc xem xét mức độ công bố thông tin và còn bao gồm cả chất lượng thông tin
Trang 35được công bố Thực tế, chất lượng thông tin công bố chỉ có thể được kiểm soát từquá trình soạn lập, trình bày và công bố thông tin Do đó, để nhìn nhận một cáchbao quát nhất, đầy đủ nhất về tính minh bạch thông tin cũng như các yếu tố ảnhhưởng đến tính minh bạch thông tin, NCS đứng trên quan điểm của người cung cấpthông tin để nghiên cứu.
Theo đó, minh bạch thông tin được hiể u là việc thông tin được công bố đầy
đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng từ người cung cấp thông tin cho các đốitượng sử dụng thông tin
1.1.2 Thông tin trên Báo cáo tài chính
Thông tin trên BCTC được nhìn nhận theo hai góc độ như sau:
Dưới góc độ người sử dụng thông tin , thông tin trên BCTC không chỉ gắnliền thông tin tài chính, mà nó còn bao gồm những thông tin phi tài chính (Alishah.S.Z, 2009) Thông tin BCTC đảm bảo chức năng thiết yếu cho thị trường vốnhiệu quả, vì vậy doanh nghiệp ngoài việc cung cấp thông tin quy định luật pháp cầnphải bổ sung những thông tin mang tính chất tự nguyện về những phân tích đánhgiá, các dự báo của nhà quản lý (Healy và Palepu, 2001)
Dưới góc độ người cung cấp thông tin , BCTC (Financial statements) là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả tài chính của doanh nghiệp BCTCcung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ (IASB, 2012) Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày thông tin về: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ, khoản góp vốn của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền Thông thường, một hệ thống BCTC bao gồm: báo cáo tình hình tài chính, báo cáo thu nhập; báo cáo vốn chủ sở hữu; báo cáo lưu chuyển tiền và thuyết minh BCTC Việc soạn lập và công bố thông tin trên BCTC là trách nhiệm của đơn vị lập báo cáo BCTC cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính về đơn
vị báo cáo cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2018)
Như vậy, đứng trên quan điểm của người cung cấp thông tin thì thông tin trênBCTC là kết quả của quá trình tạo lập, trình bày và công bố thông tin của các đơn vị
kế toán, bao gồm các thông tin tài chính (tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí vàdòng tiền) và thông tin phi tài chính (cơ hội, rủi ro, cơ cấu nhân sự, đặc điểm
Trang 36hoạt động sản xuất kinh doanh, chính sách kế toán…) Thông tin trên BCTC luônnhận được sự quan tâm từ nhiều đối tượng như nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhànước, các đối tác và bản thân các doanh nghiệp khi đưa ra các quyết định liên quan.
Do vậy, làm thế nào để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC là việ c hếtsức quan trọng và cần thiết
1.1.3 Minh bạch thông tin trên BCTC
Mặc dù chưa có một khái niệm chính thức nào về tính minh bạch của thôngtin trên BCTC Song, dưới góc độ người cung cấp thông tin, minh bạch thông tintrên BCTC được hiểu như sau:
Minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính được đảm bảo thông qua việccông bố đầy đủ và có thuyết minh rõ ràng về những thông tin hữu ích, cần thiết choviệc ra quyết định kinh tế của nhiều đối tượng sử dụng thông tin Thông tin trênBCTC minh bạch thì thông tin đó phải đáng tin cậy, kịp thời, có thể so sánh được,
dể hiểu, dễ tiếp cận, các nhà cung cấp thông tin phải tuân thủ yêu cầu về trình bày
và công bố thông tin (Bert J Zarb, 2006; Gheorghe, Mironela, 2009)
Như vậy, khi nghiên cứu dưới góc độ người cu ng cấp thông tin, NCS chorằng: Minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính là quá trình soạn lập, trình bày và
công bố một cách công khai và đảm bảo chất lượng về toàn bộ thông tin liên quan
đến tình hình tài chính, kết quả hoạt động, dòng tiền và các thông tin bổ sung kháctrên thuyết minh BCTC nhằm tuân thủ các quy định pháp lý liên quan đồng thời đápứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng
1.2 Vai trò của minh bạch thông tin trên BCTC
Minh bạch thông tin trên BCTC có vai trò rất quan trọng không chỉ đối vớicác đối tượng sử dụng thông tin mà còn quan trọng đối với bản thân các doanhnghiệp cung cấp thông tin Cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với bản thân các doanh nghiệp Minh bạch thông tin sẽ mang
lại lợi ích rõ rệt cho doanh nghiệp: Làm gia tăng uy tín trên thị trường chứng khoán,gia tăng niềm tin đối với các nhà đầu tư, giảm chi phí huy động vốn…
Thứ hai, minh bạch trên BCTC góp phần giảm thiểu rủi ro và chi phí trung
gian đối với nhà đầu tư Các nhà đầu tư thực chất là những người mua trên TTCK
Họ thường rơi vào lựa chọn bất lợi khi không có thông tin đầy đủ so với những nhàquản lý bên trong doanh nghiệp hay các cổ đông chiến lược Do đó, họ có thể bịthiệt hại nếu chọn phải những chứng khoán xấu hoặc phải tốn nhiều chi phí để sànglọc thông tin và kiểm soát việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp để hạn chế rủi ro
Trang 37đạo đức trên thị trường Đối tượng thường chịu thiệt hại lớn nhất là các nhà đầu tưthiểu số, mua chứng khoán với số lượng ít Enron, Worldcom ở Mỹ hay gần đây làOlympus ở Nhật là những ví dụ rõ ràng về tác hại của sự không minh bạch thôngtin Cuối cùng sự phá sản của Enron, Worldcom hay Olympus đã gây ra những thiệthại lớn cho nhà đầu tư và chủ nợ của họ, đồng thời cũng làm mất niềm tin của côngchúng về những công bố của các công ty cũng như các quy định kiểm soát các công
ty đại chúng mà nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu minh bạch thông tin tài chính.Minh bạch thông tin tài chính giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn.Minh bạch thông tin sẽ giúp nhà đầu tư có quyền kiểm soát chất lượng của nhữngchứng khoán trên thị trường Qua đó họ sẽ xác định mức giá giao dịch tối ưu nhấtcho mình Đối với các thông tin khác trên TTCK, đặc biệt là thông tin tình hình kinhdoanh của các doanh nghiệp mà các nhà đầu tư quan tâm, minh bạch hóa thông tin
sẽ cho họ biết doanh nghiệp đó đang trong tình trạng nào, đang có những thuận lợihay khó khăn gì và tương lai ra sao Qua đó, các nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết địnhđùng đắn và thích hợp hơn
Thứ ba, đối với cơ quan quản lý Nhà nước Với việc tiếp cận dễ dàng mọi
thông tin trên TTCK, việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời hơn, các
cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn tổng quát và sát thực hơn về TTCK Từ
đó, các cơ quan này sẽ có những biện pháp phù hợp để hạn chế và ngăn chặn cáchành vi vi phạm trên TTCK, thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô hiệu quả hơn,đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường
Thứ tư, đối với thị trường chứng khoán Theo lý thuyết thị trường hiệu quả,
một thị trường không minh bạch thông tin nói chung, thông tin tài chính nói riêng,với quá nhiều thông tin bị che giấu, nơi mà các giao dịch và giá cả của các loạichứng khoán không phản ánh đầy đủ, kịp thời các thông tin liên quan đến doanhnghiệp phát hành, chính là biểu hiện của thị trường không hiệu quả Khi đó, nhà đầu
tư sẽ ngại không muốn tham gia, các công ty làm ăn tốt không muốn phát hànhchứng khoán trên thị trường do lo sợ vì định giá thấp Như vậy, hàng hóa, ngườimua, người bán trên thị trường đều thưa thớt Điều này, sẽ giảm tính thanh khoảncủa TTCK và tính hiệu quả của thị trường cũng suy yếu Khi đó, các nguồn vốntrong nền kinh tế sẽ không được huy động và phân bố một cách hiệu quả, gây tácđộng tiêu cực đối với nền kinh tế về nhiều mặt Quá trình hội nhập quốc tế diễn ramạnh mẽ thì TTCK các nước trên thế giới ngày càng liên kết nhiều hơn, điều đó,giúp các nhà đầu tư có thể tìm ra những cơ hội đầu tư mới trên các TTCK khu vực
Trang 38và thế giới Do đó, minh bạch thông tin tài chính sẽ là một tiêu chí quan trọng đểTTCK của một quốc gia có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, quyết định khảnăng cạnh tranh với các TTCK tại các nước khác.
1.3 Tiêu chí đánh giá và đo lường mức độ minh bạch thông tin trên Báo cáo tài chính
1.3.1 Tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC
Từ quan điểm tiếp cận tính minh bạch thông tin trên BCTC từ góc độ ngườicung cấp thông tin, luận án sẽ xem xét tính minh bạch thông tin trên BCTC theo hainhóm tiêu chí: chất lượng thông tin trên BCTC và mức độ công bố thông tin (khảnăng tiếp cận thông tin của người sử dụng)
Thứ nhất, về chất lượng thông tin trên BCTC
Chất lượng thông tin trên BCTC chính là chất lượng của sản phẩm do côngtác kế toán tài chính tạo ra thông qua quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin kếtoán Chất lượng này cùng với một số yếu tố khác là tiêu chuẩn và thước đo đolường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC Để có cơ sở đánh giá chất lượng củathông tin trên BCTC, luận án sẽ xem xét về yêu cầu chất lượng thông tin tài chínhqua các quan điểm tiếp cận khác nhau của các tổ chức quốc tế
(1) Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB)
Để đánh giá chất lượng của thông tin trên BCTC, quan điểm của IASB dựavào các tiêu chí: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được vàkịp thời
Có thể hiểu được: Người đọc được giả thiết là có một kiến thức nhất định vềkinh tế, kinh doanh, kế toán và thiện chí, nỗ lực để đọc BCTC Tuy nhiên, thông tin
về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừkhỏi BCTC chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng
Thích hợp: Thông tin có chất lượng khi nó thích hợp với nhu cầu đưa raquyết định của người sử dụng Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp người đọcđánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giátrước đó
Tính thích hợp bao gồm tính dự đoán và tính xác nhận, hai đặc điểm này quan trọng với nhau Tính thích hợp của thông tin phụ thuộc vào nội dung và tính trọng yếu
Thông tin được coi là trọng yếu khi sự sai lệch hay bỏ sót nó có thể gây ảnhhưởng đến các quyết định của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào
số tiền và thông tin hoặc sai sót hay sự đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Trọng yếu
Trang 39không phải là một tiêu chuẩn chất lượng mà là một ngưỡng phân cách.
Đáng tin cậy: Đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót trọng yếu và không bịthiên lệch, đồng thời phản ánh trung thực vấn đề cần trình bày Thông tin có thểthích hợp nhưng không đáng tin cậy
Có thể so sánh được: Thông tin trên BCTC có chất lượng khi có thể so sánhđược với năm trước, với doanh nghiệp khác Để có thể so sánh được, BCTC phải :
- Áp dụng các nguyên tắc kế toán nhất quán
- Khai báo về chính sách kế toán sử dụng trên BCTC
Kịp thời: Thông tin luôn sẵn có để giúp những người sử dụng BCTC kịp đưa
ra các quyết định Thông thường, những thông tin cũ thường kém hữu ích hơn, tuynhiên một số thông tin vẫn có tính kịp thời sau khi kết thúc kỳ báo cáo một thờigian
(2) Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán tài chính Mỹ (FASB)
Đối với FASB, trước tháng 9/2010, chất lượng của thông tin trên BCTCđược đánh giá qua các đặc điểm: tính phù hợp, tính đáng tin cậy và khả năng so sánh được
Tính phù hợp (tính thích hợp): Thông tin kế toán là thích hợp khi nó có khảnăng thay đổi quyết định của n gười sử dụng Để đảm bảo tính thích hợp, thông tinphải: Có giá trị dự đoán hay đánh giá và kịp thời
Tính đáng tin cậy: Thông tin kế toán đáng tin cậy trong phạm vi nó có thểkiểm chứng, khi được trình bày trung thực và không có sai sót hoặc thiên lệch
Khả năng so sánh được: Thông tin kế toán phải được đo lường và báo cáo theo cùng một phương thức để có thể so sánh được giữa các doanh nghiệp
Cùng với xu hướng hội tụ kế toán thì từ tháng 9/2010, quan điểm đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC của FASB cũng tương tự như IASB
Tóm lại, từ các quan điểm tiếp cận trên, có thể thấy rằng, chất lượng thôngtin trên BCTC có thể được đánh giá thông qua các đặc điểm: Thích hợp, tin cậy, cóthể so sánh, kịp thời, dễ hiểu
Thứ hai, về khả năng tiếp cận thông tin của người sử dụng
Khả năng tiếp cận thông tin là một tiêu chí quan trọng vì kể cả khi các thông tinđược nộp cho cơ quan quản lý đúng hạn thì tính minh bạch của thông tin cũng bị hạnchế nếu chỉ có một số lượng hạn chế người sử dụng tiếp cận được thông tin này Thôngthường có 3 cách để công bố thông tin (CBTT) ra công chúng: (1) CBTT bằng văn bản,báo chí; (2) CBTT bằng hệ thống điện tử; (3) CBTT bằng hệ thống Inernet
Trang 40Hầu hết các nước đều chấp nhận nhiều phương thức CBTT đồng thời Cùngvới sự phát triển của công nghệ thông tin, phương thức CBTT bằng Internet đã trởnên phổ biến và là một kênh thông tin được nhiều người sử dụng thông tin tin cậy.Tuy vậy, xét về mặt luật pháp, Internet vẫn chưa được nhiều quốc gia thừa nhận làkênh thông tin hợp pháp nếu các doang nghiệp không công bố bằng văn bản.
Để đánh giá mức độ tiếp cận thông tin của người sử dụng, tác giả xem xéttiêu chí sau đây:
- Người sử dụng thông tin nắm được thông tin công bố của doanh nghiệp từnhững phương tiện CBTT nào? Các phương tiện CBTT càng phổ biến thì côngchúng càng dễ tiếp cận Nói cách khác, chi phí liên quan đến tiếp cận thông tin phảiđược giảm thiểu với nhà đầu tư Doanh nghiệp có hệ thống CBTT hay không?
- Thông tin trên BCTC có được CBTT kịp thời, chính xác và đầy đủ, dễ hiểucho người sử dụng hay không? trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc công bố vàgiải trình thông tin trên BCTC như thế nào?
- Ngôn ngữ sử dụng trên BCTC có thuận tiện cho người sử dụng hay không? Tóm lại, để đánh giá mức độ tiếp cận thông tin của người sử dụng cần dựatrên các tiêu chí cụ thể như: Đầy đủ, kịp thời, chính xác, dễ hiểu, dễ tiếp cận
1.3.2 Đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC
Đến nay, vẫn chưa có phương pháp chính thức nào được áp dụng để đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC Do vậy, khi đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính hay thông tin trên BCTC, tùy theo cách tiếp cận của mỗi công trình sẽ có phương pháp đo lường mức độ minh bạch khác nhau Để đánh giá
và đo lường sự minh bạch thông tin tài chính, các nghiên cứu trước đây thường dựa vào các tiêu chí được đưa ra thông qua các chỉ số đo lường do các tổ chức quốc tế
có uy tín xây dựng Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng dựa vào các yêu cầu về đặc điểm chất lượng thông tin trên BCTC do các tổ chức quốc tế ban hành làm cơ sở xây dựng các biến để đo lường mức độ minh bạch của thông tin trên BCTC Do các điều kiện về văn hóa, kinh tế, chính trị, hoàn cảnh và mục tiêu xem xét khác nhau nên việc đo lường vẫn chưa đầy đủ và còn một số hạn chế nhất định Tuy nhiên, mỗicách thức lựa chọn đều đáp ứng phần nào đó mục tiêu nghiên cứu mà các công trìnhnghiên cứu đề ra Xuất phát từ việc xác định tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin ở mục 1.3.1, tính minh bạch thông tin trên BCTC phải đảm bảo các đặc tính về chất lượng và các yêu cầu về công bố thông tin Do vậy, tác giả sẽ dựa trên các đặc tính chất lượng thông tin từ những khuôn mẫu của IASB, FASB, các