1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

60 723 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn TP.HCM, ngày……tháng……n ăm 2015 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên : NGUYỄN VĂN BẢO Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh : 24/08/1971 Nơi sin

Trang 1

-

NGUYỄN VĂN BẢO

“CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ

CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO

TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM

YẾT TRÊN SỞ GIAO DNCH CHỨNG KHOÁN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số ngành: 60340301 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM NGỌC TOÀN

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 04 năm 2015

Trang 2

Cán bộ hướng dẫn khoa học (Ghi rõ họ tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Tiến sĩ Phạm Ngọc Toàn

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP.HCM

ngày 19 tháng 04 năm 2015

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

1 PGS.TS Phan Đình Nguyên Chủ tịch

2 TS Nguyễn Thị Mỹ Linh Phản biện 1

3 TS Nguyễn Ngọc Ảnh Phản biện 2

4 TS Dương Thị Mai Hà Trâm Uỷ viên

5 TS Mai Đình Lâm Uỷ viên, Thư ký

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã

được sửa chữa

Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn

TP.HCM, ngày……tháng……n ăm 2015

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : NGUYỄN VĂN BẢO Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh : 24/08/1971 Nơi sinh: Quảng Ngãi

I-Tên đề tài: “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG

TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DNCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

II-Nhiệm vụ và nội dung:

 Thực hiện nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các DN niêm yết trên SGDCK TP.HCM

 Nghiên cứu lý luận, đo lường, đưa ra giả thuyết và xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các DN niêm yết trên SGDCK TP.HCM

 Thu thập và xử lý số liệu của các yếu tố trong năm tài chính 2013 Từ đó rút ra được kết quả những yếu tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các DN niêm yết trên SGDCK TP.HCM

 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các DN niêm yết trên SGDCK TP.HCM

III-Ngày giao nhiệm vụ : Ngày 18 / 08 / 2014 IV-Ngày hoàn thành nhiệm vụ : Ngày 12 / 02 / 2015 V-Cán bộ hướng dẫn khoa học : Tiến sĩ Phạm Ngọc Toàn CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(H ọ tên và chữ ký) (H ọ tên và chữ ký)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả

nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình

nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được

cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

TP H ồ Chí Minh, ngày 10 tháng 03 năm 2015

Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy TS Phạm Ngọc Toàn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm Luận văn này

Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể Quý Thầy Cô, những người đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian theo học cao học tại trường Đại học Công nghệ TP.Hồ Chí Minh

Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn đồng nghiệp, đồng môn trong lớp học đã cùng nhau học tập, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm trong công việc

Sau cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn đến gia đình tôi, những người thân luôn bên cạnh động viên, hỗ trợ tôi, luôn cho tôi tinh thần làm việc và học tập trong suốt quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu này

TP H ồ Chí Minh, ngày 10 tháng 03 năm 2015

Học viên thực hiện

Nguyễn Văn Bảo

Trang 4

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến

mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết Trên cơ sở đó, nêu ra tầm

quan trọng và tính hiệu quả của việc công bố thông tin của các công ty niêm yết Nâng

cao trình độ hiểu biết giúp các nhà đầu tư có cái nhìn sâu rộng và chính xác hơn trong

các quyết định đầu tư của họ Góp phần nâng cao tính lành mạnh và công bằng của một

thị trường chứng khoán

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố Khả năng sinh lời, Tài sản cố định, Tỷ

l ệ sở hữu cổ đông nước ngoài không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các

doanh nghiệp niêm yết Trong khi đó, các yếu tố Quy mô doanh nghiệp, Chủ thể kiểm

toán, Thành ph ần HĐQT, Thời gian hoạt động, Khả năng thanh toán lại ảnh hưởng

đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết theo mô hình sau với

mức độ phù hợp 47.1%:

MucdoCBTT = 0.433*Quymodn + 0.334*Thoigianhd + 0.336*Thanhphanhdqt

+ 0.390*Kiemtoan + 0.184*Knthanhtoan

Một vài đề xuất với các doanh nghiệp niêm yết nhằm tăng mức độ công bố

thông tin để tăng uy tín đối với khách hàng và thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư đã

được đưa ra Các nhà đầu tư có thể dựa vào các yếu tố có ảnh hưởng này để biết được

thông tin mà các doanh nghiệp đưa ra có mức độ tin cậy như thế nào, qua đó kết hợp

với một số thông tin khác để đưa ra các quyết định chính xác của mình Đồng thời,

kiến nghị các nhà xây dựng chính sách cần có cái nhìn tổng quát, sâu rộng hơn khi ban

hành các chủ trương chính sách có liên quan đến công bố thông tin cũng như các biện

pháp chế tài khi doanh nghiệp vi phạm

Đề tài có những hạn chế nhất định về thời gian và mẫu nghiên cứu Tuy nhiên,

đề tài cũng đã mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo để hoàn thiện hơn nữa việc

công bố thông tin

ABSTRACT

The research objective of this thesis aims at determining the factors affecting the level of the postedenterprises’sinformation disclosure Based on that, to quote the importance and effectiveness of the posted companies’s information disclosure Enhancing the level of understandingwill help investors have a deeper, wider and more accurate view in their investment decisions Contributing to enhance the healthiness and equiy of the security market

The result of research showed that the factors of the profitability, the fixed assets, the ownership ratio of foreign shareholders have not affected the level of

information disclosure of posted enterprises Whereas, the factorsof the enterprise scale, the auditsubject, the composition of BOD, the operation period, the repayment ability have had an influence on the level of information disclosure of posted enterprises according to the following patterns with the appropriate level of 47.1%:

The level of information disclosure = 0.433*the enterprise scale + 0.334* the operation period+0.336*the composition of BOD +0.390*audit +0.184*the payment

ability Some proposals for the posted enterprisesaim ataugmentingthe level of information disclosure to increase the prestige with customers and attract the investors’sattention that have been given Investors can rely on the factors having theseeffects toknow the information thatenterprises have given how the confidence levelhas, wherebycombining with some ofother information to make the exactdecisions At the same time, proposing the policy activistsshould have adeeper and wider overview, when issuing policies related to the information disclosure as well

as sanctions in case the enterprises have violetted

The theme has certain restrictions in time and research samples However, the theme has also opened the direction of further research to improve more and more about the information disclosure

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Nội dung nghiên cứu 4

1.6 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan 4

1.6.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 4

1.6.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

1.8 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9

1.9 Cấu trúc của luận văn 9

Kết luận chương 1 9

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 10

2.1 Tổng quan về công bố thông tin 10

2.1.1 Khái niệm chung về công bố thông tin 10

2.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin 12

2.1.2.1 Yêu cầu công bố thông tin trong chuNn mực kế toán 12

2.1.2.2 Yêu cầu công bố thông tin trong Báo cáo tài chính 14

2.1.2.3 Yêu cầu công bố thông tin đối với công ty niêm yết 14

2.1.3 Đo lường mức độ công bố thông tin 15

2.1.3.1 Đo lường không trọng số 18

2.1.3.2 Đo lường có trọng số 18

2.1.3.3 Đo lường hỗn hợp 18

2.2 Các lý thuyết nền về công bố thông tin 19

2.2.1 Lý thuyết đại diện 19

2.2.2 Lý thuyết tín hiệu 20

2.2.3 Lý thuyết về chi phí chính trị 21

2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu 21

2.2.5 Lý thuyết hợp pháp 22

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 23

2.3.1 Quy mô doanh nghiệp 24

2.3.2 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp 25

2.3.3 Thành phần Hội đồng quản trị 25

2.3.4 Sở hữu cổ đông nước ngoài 26

2.3.5 Chủ thể kiểm toán 27

2.3.6 Tài sản cố định 28

2.3.7 Khả năng sinh lời 29

2.3.8 Khả năng thanh toán 29

2.4 Các giả thuyết nghiên cứu 30

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 30

Kết luận chương 2 32

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

Trang 6

3.1 Quy trình nghiên cứu 33

3.2 Chọn mẫu nghiên cứu 34

3.3 Chọn các mục thông tin công bố trong Báo cáo tài chính 34

3.4 Mô hình nghiên cứu 35

3.4.1 Mô hình tổng quát 35

3.4.2 Mã hóa các biến 36

3.5 Đo lường các biến trong mô hình 37

3.5.1 Đo lường biến phụ thuộc 37

3.5.2 Đo lường các biến độc lập 37

3.6 Cách xử lý dữ liệu 39

Kết luận chương 3 41

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

4.1 Mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp 42

4.1.1 Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin 42

4.1.2 Thống kê mô tả các biến độc lập 43

4.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình 45

4.3 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 46

4.3.1 Phân tích mô hình lần 1 46

4.3.1.1 Mô hình lần 1 46

4.3.1.2 Kiểm định mô hình lần 1 46

4.3.2 Phân tích mô hình các lần tiếp theo 48

4.3.2.1 Cách loại bỏ các biến và mô hình lần cuối 48

4.3.2.2 Kiểm định mô hình hồi quy lần cuối 52

4.3.3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận về kết quả nghiên cứu 59

4.3.3.1 Kết quả nghiên cứu 59

4.3.3.2 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 60

Kết luận chương 4 64

CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHN 65

5.1 Các đề xuất và kiến nghị 65

5.1.1 Đề xuất với doanh nghiệp nhằm tăng mức độ công bố thông tin 65

5.1.1.1 Lựa chọn các công ty kiểm toán có uy tín để tăng mức độ công bố thông tin 65 5.1.1.2 Tăng tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị để tăng mức độ công bố thông tin 66

5.1.1.3 Tăng khả năng thanh toán để tăng mức độ công bố thông tin 67

5.1.2 Kiến nghị đối với nhà đầu tư 68

5.1.3 Kiến nghị đối với các nhà xây dựng chính sách 68

5.1.3.1 Quản lý và xử phạt các vi phạm về công bố thông tin 68

5.1.3.2 Quản lý việc tuân thủ các quy định về quản trị công ty 70

5.1.3.3 Tăng cường chất lượng kiểm soát nội bộ và kiểm toán độc lập 70

5.2 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 71

Kết luận chương 5 71

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Tiếng Việt 74

Tiếng Anh 75

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GAAP : Những nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận

ISAB : Hội đồng chuNn mực kế toán quốc tế

IFRS : ChuNn mực Báo cáo tài chính quốc tế

TTGDCK : Trung tâm giao dịch chứng khoán

VACPA : Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Kết quả thống kê mô tả chỉ số CBTT các doanh nghiệp

niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM 42 4.2 Bảng kết quả thống kê mô tả các biến độc lập 43 4.3 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 45 4.4 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình lần 1 47 4.5 Các thông số thống kê trong mô hình hồi quy bằng

4.11 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến

4.12 Các thông số thống kê trong mô hình hồi qui lần cuối

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Đồ thị phân tán giữa mức độ CBTT và phần dư

từ hồi qui

53

4.2 Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuN n hóa 54

4.3 Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuN n hóa 55

4.4

Mô hình lý thuyết chính thức điều chỉnh về mức độ

CBTT trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết

trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM

60

MỞ ĐẦU

Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp luôn là tài liệu vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư BCTC được coi là một bức tranh toàn diện về tình hình tài chính, sức mạnh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Thông tin trên BCTC là căn cứ quan trọng, có độ tin cậy cao và gần như là duy nhất để đánh giá khả năng hoạt động của một doanh nghiệp Từ đó, nhà đầu tư sẽ phân tích, xem xét và

ra quyết định đầu tư phù hợp Để BCTC của các doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hơn các thông tin hữu ích cho nhà đầu tư trong việc ra quyết định, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 38/2007/TT-BTC ngày 18 tháng 04 năm 2007 hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, trong đó có đưa ra bốn biểu mẫu của bộ BCTC mà các doanh nghiệp phải lập và nộp theo quy định và Thông tư số 52/2012/TT-BTC yêu cầu việc CBTT của các công ty niêm yết phải đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và kịp thời Sau nhiều năm thực hiện quy định này, nhìn chung các doanh nghiệp, đặc biệt

là các doanh nghiệp niêm yết đã thực hiện lập và công khai BCTC đúng thời hạn và mẫu biểu quy định, góp phần tích cực nhằm đảm bảo cho thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam hoạt động công bằng, lành mạnh và có hiệu quả Tuy nhiên, thời gian vừa qua, việc CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết còn rất nhiều bất cập như việc báo cáo lỗ thành lãi để thu hút nhà đầu tư, có sự sai lệch trọng yếu của một số chỉ tiêu trên BCTC trước và sau kiểm toán, chậm công bố thông tin BCTC so với thời gian quy định Việc thông tin thiếu minh bạch như vậy sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của các nhà đầu tư, giảm niềm tin của cổ đông với doanh nghiệp, có tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến cách thức, quy trình để lập BCTC tổng hợp theo đúng chuN n mực, chế độ kế toán hiện hành nhưng chưa thật sự quan tâm đến chất lượng thông tin được cung cấp thông qua BCTC như thế nào Chất lượng thông tin đảm bảo uy tín của doanh nghiệp Nhà đầu tư quan tâm, đánh giá cao doanh nghiệp khi họ thực sự cảm nhận tính trung thực trong thông tin BCTC của doanh nghiệp

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú Thông tin là yếu tố

then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả các đối tượng tham

gia thị trường Thông tin sẽ phản ảnh tình hình tài chính, bản chất của doanh nghiệp,

qua đó các nhà đầu tư có thể nhận định, phân tích và đầu tư có hiệu quả Vì vậy, để

đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách minh bạch, công khai thì

thông tin cung cấp của các doanh nghiệp phải thực hiện một cách công khai, minh

bạch Nguyên tắc công khai được hiểu như là sự cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực

và kịp thời Với yêu cầu thông tin ngày càng cao của các đối tượng này, thông tin

chính thống và thông tin phi chính thống đều được huy động từ mọi nguồn, từ các

phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, sách báo, internet đến các thông

tin mang tính truyền miệng qua các diễn đàn, sàn giao dịch

Trong thực tế, việc CBTT của các doanh nghiệp niêm yết đang bị xem nhẹ Nhà

đầu tư chưa nhận được những thông tin tương xứng về doanh nghiệp mà họ bỏ vốn để

đầu tư Việc công khai thông tin, đặc biệt là thông tin kế toán được cung cấp dưới dạng

BCTC là nghĩa vụ bắt buộc các doanh nghiệp phải công bố trung thực và đầy đủ, kịp

thời Những quy định hiện nay về CBTT trên thị trường chứng khoán chưa được chặt

chẽ dẫn đến các công ty niêm yết trên sàn CBTT sai lệch và chậm trễ, không cập nhật

thường xuyên, gây thiệt hại cho nhà đầu tư và người sử dụng thông tin Để duy trì một

hệ thống thị trường vốn hiệu quả, điều cần thiết là phải có những BCTC chất lượng

cao Một thị trường vốn có tính thanh khoản cao đòi hỏi sự sẵn có và đầy đủ của thông

tin minh bạch để tất cả những người tham gia có thể đưa ra quyết định khi họ phân bổ

vốn Vì vậy, trong bối cảnh phát triển còn non trẻ của thị trường chứng khoán Việt

Nam hiện nay, nhu cầu hoàn thiện thông tin BCTC do các doanh nghiệp phát hành

ngày càng tỏ ra cấp thiết và thực tiễn Việc nghiên cứu các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC giúp cho các tổ chức, các nhà điều hành thấy được các tác động này để có thể có những quy định phù hợp và khả thi Xuất phát từ thực tiễn nêu

trên, đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh” đã được tác giả lựa chọn để nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu tổng quát:

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Th ứ nhất: Những lý thuyết nào liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp?

Th ứ hai: Thực trạng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh

nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào?

Trang 10

Th ứ ba: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh

nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh?

Th ứ tư: Giải pháp nào để tăng cường mức độ công bố thông tin của các doanh

nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTC của

các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM

Phạm vi nghiên cứu: thông tin công bố trong báo cáo tài chính năm 2013 của

100 doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM

Thời gian nghiên cứu: BCTC năm 2013

1.5 Nội dung nghiên cứu

+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận về mức độ CBTT và các yếu tố ảnh hưởng đến

+ Đề xuất một số gợi ý nhằm tăng cường thông tin công bố của các doanh

nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.6 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan

1.6.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Nội dung CBTT đã được nghiên cứu trong nhiều thời điểm và với các phạm vi

khác nhau tại nhiều quốc gia trên thế giới Đã có nhiều công trình nghiên cứu khác

nhau với mức độ nghiên cứu sâu rộng trên toàn thế giới về mức độ công bố thông tin

của các doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến nó

Năm 1995, Gray, Meek trong “Factors influencing voluntary annual report

disclosure U.S., U.K., and continental European multinational corporations” đã

nghiên cứu thực nghiệm ở 116 doanh nghiệp ở Mỹ, 64 doanh nghiệp ở Anh và 46 doanh nghiệp ở Châu Âu là các tập đoàn đa quốc gia về các yếu tố ảnh hưởng đến CBTT tự nguyện trong báo cáo hàng năm Kết quả cho thấy rằng quy mô công ty, khu vực mà công ty hoạt động, thời gian niêm yết, ngành nghề kinh doanh là các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc CBTT

Nghiên cứu của Nandi và Ghosh (2012) “Corporate governance attributes, film characteristics and the level of corporate disclosure: Evidence from the Indian listed firms” đã cho thấy quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận và khả năng thanh toán

có ảnh hưởng cùng chiều đến mức độ CBTT, còn đòn bNy và thành phần HĐQT có ảnh hưởng ngược chiều đến mức độ CBTT

Nghiên cứu của Sanjay Bhayani (2012) “The relationship between comprehensiveness of Corporate disclosure anh firm characteristics in India” cũng đã cho thấy rằng các công ty có khuynh hướng công bố nhiều thông tin hơn, thông tin minh bạch hơn là các công ty có quy mô lớn, đòn bNy cao, lợi nhuận cao, niêm yết tại thị trường chứng khoán nước ngoài và được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn Tuy nhiên, thời gian hoạt động của một công ty và tình trạng cư trú (công ty đa quốc gia và công ty trong nước) không ảnh hưởng đáng kể đến mức độ CBTT

Nghiên cứu của Aljifri và Alzarouni (2013) “The association between firm characteristics and corporate financial disclosures: evidence from UAE companies” đã tìm hiểu tác động của các yếu tố như: loại ngành, quy mô, lợi nhuận, khả năng thanh toán, tỷ lệ

sở hữu cổ đông nước ngoài, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập đến mức độ CBTT Kết quả cho thấy yếu tố loại ngành và quy mô công ty có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ CBTT

Tiếp theo, nghiên cứu của Mohamed Moustafa Soliman (2013) “Firm characteristics and the Extent of Voluntary Disclosure: The Case of Egypt” đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa các đặc điểm của doanh nghiệp với mức độ CBTT trong BCTC của hơn

50 doanh nghiệp ở Ai Cập đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn 2007 – 2010 bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến các yếu tố: quy mô doanh

Trang 11

nghiệp, chủ thể kiểm toán, lợi nhuận, thời gian niêm yết Kết quả là quy mô doanh nghiệp

và lợi nhuận có mối quan hệ đáng kể đến mức độ công bố thông tin trong BCTC của các

doanh nghiệp, còn chủ thể kiểm toán và thời gian hoạt động của doanh nghiệp không có

mối quan hệ nào với mức độ CBTT

1.6.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Các nghiên cứu trong nước cũng thể hiện một sự quan tâm lớn của các nhà nghiên

cứu đối với vấn đề CBTT kế toán trong BCTC, đặc biệt là các công ty niêm yết trên sàn

chứng khoán

Nghiên cứu của Đoàn Nguyễn Trang Phương (2010) về các yếu tố ảnh hưởng đến

mức độ CBTT của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam cho rằng hai nhân tố

khả năng sinh lời và chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Nghiên cứu này

giới thiệu một phương pháp ghi nhận chỉ số công bố thông tin Tuy nhiên, mẫu nghiên cứu

chỉ có 50 công ty, một con số khá khiêm tốn so với tổng thể hơn 250 danh nghiệp niêm yết

tại thời điểm đó

Năm 2008, hai tác giả Lê Trường Vinh, Hoàng Trọng đã nghiên cứu về tính minh

bạch của thông tin được công bố từ các doanh nghiệp niêm yết Đề tài “Các yếu tố ảnh

h ưởng đến minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”

đi theo một hướng khác Thông qua việc phát bảng câu hỏi, tác giả đã dùng đánh giá của

nhà đầu tư để thành lập nên chỉ số đại diện cho mức độ minh bạch của thông tin Tuy

nhiên, theo tác giả thì đối tượng sử dụng thông tin từ báo cáo của các doanh nghiệp niêm

yết không chỉ giới hạn ở bộ phận nhà đầu tư mà đòi hỏi cần phải có một thang đo khách

quan cho mọi đối tượng sử dụng thông tin

Năm 2012, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Phương và cộng sự: “Nghiên cứu

th ực trạng công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở giao

d ịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” đã giới thiệu phương pháp khoa học khi xây

dựng hệ thống chỉ mục đo lường mức độ công bố khá hoàn chỉnh và lập luận một cách chặt

chẽ về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT Tác giả đã hệ thống hoá và đóng góp

nhiều giải pháp nhằm cải thiện mức độ CBTT trong BCTC Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa phân tích ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về đặc điểm quản trị và sở hữu đến mức độ CBTT của doanh nghiệp

Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2013): “Nghiên cứu mức độ công bố thông tin kế toán c ủa các doanh nghiệp ngành xây dựng yết giá tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”

chỉ nghiên cứu tác động của các biến thuộc đặc điểm tài chính đối với việc CBTT như: quy

mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bNy nợ, khả năng thanh toán hiện hành, chủ thể kiểm toán và tốc độ tăng trưởng doanh thu Kết quả cho thấy chỉ có yếu tố Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến mức độ CBTT, các biến còn lại không có ý nghĩa

Trong nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013): “Nghiên cứu các nhân tố ảnh

h ưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm

y ết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”, tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu

tố: quy mô doanh nghiệp; khả năng sinh lời; đòn bNy nợ; khả năng thanh toán; chủ thể kiểm toán; thời gian hoạt động và tài sản cố định Kết quả đã chỉ ra rằng yếu tố khả năng sinh lời

và yếu tố tài sản cố định là các yếu tố tác động đến mức độ CBTT trong BCTC

Nguyễn Thị Thanh Phương (2013): “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công b ố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch

ch ứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” đã mở rộng mô hình nghiên cứu của mình khi đưa

ra các nhân tố thuộc về quản lý doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu và tính chất công ty Mô hình nghiên cứu này gồm 15 biến độc lập: tỷ lệ thành viên HĐQT không phải nhà quản trị;

sự đồng nhất chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc; số lượng thành viên HĐQT; ban kiểm soát; sở hữu của cổ đông nước ngoải; sở hữu nhà nước; quy mô doanh nghiệp; đòn bNy tài chính; mức độ sinh lời; khả năng thanh toán; thời gian niêm yết; lĩnh vực hoạt động; tình trạng niêm yết; kiểm toán độc lập; số công ty con Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố: quy mô doanh nghiệp; mức độ sinh lời; thời gian niêm yết; kiểm toán độc lập; tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp

Trang 12

Dựa trên các nghiên cứu trước đây, tác giả đã kế thừa một số đặc điểm như: tìm hiểu

về các yếu tố tác động lên mức độ CBTT và phân tích tác động của chúng thông qua mô

hình định lượng Đồng thời, luận văn bổ sung thêm những điểm mới trong nghiên cứu như

chỉ số CBTT được mở rộng ra trên cả các thông tin bắt buộc trên BCTC và thông tin tự

nguyện được hướng dẫn trên các chuNn mực kế toán chưa được cụ thể ở BCTC Nghiên cứu

toàn diện và có hệ thống về các đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT,

bao gồm cả những đặc điểm liên quan đến quản trị doanh nghiệp

Nghiên cứu sẽ tiếp tục xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông

tin của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM thông qua sử dụng các mô

hình, kết quả các yếu tố của các tác giả đã nghiên cứu trước đây như: Quy mô doanh

nghiệp; Thời gian hoạt động của doanh nghiệp; Thành phần HĐQT; Tỷ lệ sở hữu

cổ đông nước ngoài; Chủ thể kiểm toán; Khả năng sinh lời; Khả năng thanh toán

1.7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng Sử

dụng phương pháp định tính bằng cách nghiên cứu các dữ liệu qua thời gian kết hợp

giữa lý luận và thực tiễn, thu thập số liệu, so sánh kết quả nghiên cứu với các công

trình nghiên cứu trước Đồng thời, vận dụng các phương pháp định lượng thông qua

các công cụ toán thống kê với sự hỗ trợ từ phần mềm Excel và phần mềm SPSS 20.0

để xây dựng mô hình hồi quy nhằm đo lường mức độ CBTT và các yếu tố ảnh hưởng

đến mức độ CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết Cụ thể:

+ Thu thập BCTC của các công ty niêm yết trên trên SGDCK Tp.HCM

+ Thiết lập chỉ số phản ánh mức độ CBTT (disclosure index) trong BCTC

+ Đo lường mức độ CBTT qua chỉ số CBTT

+ Thiết lập các biến, đo lường ảnh hưởng của các biến đến mức độ CBTT trong

BCTC của các công ty niêm yết thông qua mô hình hồi quy bội

1.8 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

+ Về mặt khoa học: bổ sung và củng cố cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp

+ Về mặt thực tiễn: nghiên cứu là tài liệu giúp cho các đối tượng sử dụng BCTC của các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp, đồng thời đây cũng là cơ sở khoa học giúp cho các doanh nghiệp thấy được tầm quan trọng

và tính pháp lý của việc CBTT trong BCTC

1.9 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục các hình, các bảng và phụ lục, luận văn được bố cục gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về mức độ công bố thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Đề xuất và kiến nghị

đã chọn lọc và đưa ra một số yếu tố có khả năng tác động đến mức độ CBTT trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM Phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và cấu trúc của luận văn cũng đã được tác giả đưa ra trong chương này

Trang 13

CHƯƠNG 2

CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

2.1 Tổng quan về công bố thông tin

2.1.1 Khái niệm chung về công bố thông tin

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK là CBTT Nguyên

tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có

nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt

động của mình cho công chúng đầu tư biết

Trong Sổ tay CBTT dành cho các công ty niêm yết, CBTT được hiểu là phương thức

để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công

chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời Trong định nghĩa

này, chúng ta có thể hiểu rằng, minh bạch thông tin “là sự công bố thông tin kịp thời và

đáng tin cậy, cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình

hình và hi ệu quả của một đơn vị, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt

động này” (Theo International Finance Corporation, Public disclosure and transparency,

Yerevan, May 2006)

Cụ thể hơn, CBTT kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung

cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các

báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)

CBTT bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc và các công bố tự nguyện (hay

không bắt buộc) Công bố bắt buộc (Madatory disclosure) là những công bố kế toán được

yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ Những

công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Kinh doanh, Ủy ban chứng

khoán, các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP (Generally Accepted Accounting Principles)

và các chuNn mục kế toán Hiện nay, CBTT bắt buộc mặc dù đã được quy định cụ thể trong

các văn bản pháp quy tuy nhiên mức độ tuân thủ vẫn khác nhau giữa các doanh nghiệp, ý thức về CBTT ở các doanh nghiệp vẫn chưa cao Công bố tự nguyện (voluntary disclosures)

là sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc, có nghĩa là một doanh nghiệp có thể có hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu

Theo xu hướng hiện nay thì các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó và các công ty cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin dạng này

Nghiên cứu thông tin được công bố trên BCTC chính là nghiên cứu hành vi CBTT bắt buộc Tuy nhiên, nội dung được quy định trên BCTC vẫn có một số nội dung bị chi phối bởi chuNn mực kế toán chỉ mang tính hướng dẫn, do đó những thông tin này chỉ mang tính chất đặc điểm của thông tin cống bố tự nguyện Như vậy trong phạm vi nghiên cứu này, nội dung thông tin BCTC bao gồm thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện

CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và làm giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng

sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adina, Ion – 2008) Do đó, hành vi CBTT, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán, có ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm vi mô trong tình hình tài chính của từng doanh nghiệp, từng nhà đầu tư mà còn lan rộng trong cả nền kinh tế Điều đó giải thích vì sao các nghiên cứu về mức độ CBTT, tác động và các yếu tố ảnh hưởng của nó không ngừng được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới Việc nghiên cứu này đã và đang

là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh nghiệp

Có nhiều cách tiếp cận với thông tin được công bố của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, như qua website của các doanh nghiệp, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, …Nguồn thông tin mà các nhà đầu tư, các bên thứ ba, các cơ quan quản lý có thể sử dụng bao gồm một hệ thống đa dạng các báo cáo thường niên, báo cáo bán niên, báo cáo bất thường … của các doanh nghiệp

Trang 14

2.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin

2.1.2.1 Yêu cầu CBTT trong chu9n mực kế toán

Trong ISAB Framework – khuôn mẫu lý thuyết, bốn tính chất quan trọng của thông

tin kế toán được yêu cầu phải thể hiện là:

• Tính có thể hiểu được (understandability): người lập BCTC giả định rằng người

sử dụng có một kiến thức nhất định về kinh doanh, các hoạt động kinh tế và kế toán Tuy

nhiên không có nghĩa là các thông tin phức tạp nhưng thích hợp với nhu cầu ra quyết định

kinh tế của người sử dụng lại có thể không trình bày trên BCTC với lý do là chúng được cho

là quá khó hiểu đối với người sử dụng

• Tính thích hợp (Relevance): thông tin được cho là thích hợp khi nó ảnh hưởng đến

quyết định của người sử dụng, giúp họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai

hay điều chỉnh các đánh giá trong quá khứ của họ Thông tin thích hợp chịu ảnh hưởng bởi

bản chất và tính trọng yếu của nó

Trong một vài trường hợp, chỉ riêng bản chất cũng đủ để xác định tính thích hợp của

chúng Ví dụ: báo cáo của một đơn vị thành viên có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro

và cơ hội mà đơn vị đang đối mặt mà không cần xét đến tính trọng yếu của kết quả đạt được

của đơn vị thành viên đó trong kỳ báo cáo Trong các trường hợp khác, cả bản chất và mức

trọng yếu của thông tin đều quan trọng Ví dụ: giá trị của mỗi loại hàng hoá tồn kho chủ yếu

đều quan trọng đối với doanh nghiệp

Thông tin được xem là trọng yếu nếu thiếu hay sai lệch thông tin có thể ảnh hưởng

đến người sử dụng khi họ dựa trên BCTC để ra quyết định Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ

lớn của khoản mục hay sai sót được đánh giá trong từng trường hợp cụ thể

• Tính đáng tin cậy (Reliability): thông tin đáng tin cậy là thông tin không chứa đựng

các sai sót hay thiên lêch trọng yếu và được trình bày trung thực Để đạt được điều này,

thông tin cần phải được:

+ Trình bày trung thực (Faithful representation): trình bày các sự kiện, nghiệp vụ

theo đúng nội dung xảy ra hay dự đoán hợp lý Phần lớn các thông tin tài chính có thể được

trình bày thiếu trung thực không phải vì thiên lệch mà do khó khăn trong việc xác định nghiệp vụ hay sự kiện cũng như đo lường giá trị của nghiệp vụ

+ Tôn trọng nội dung hơn hình thức (Substance over form): các nghiệp vụ hay sự

kiện phải được tính toán và trình bày theo nội dung và tính chất kinh tế chứ không phải đơn thuần theo hình thức pháp lý Nội dung và hình thức pháp lý không phải lúc nào cũng nhất quán

+ Khách quan (Neutrality): thông tin được trình bày phải khách quan, không bị

xuyên tạc, không được trình bày nhằm để đạt được kết quả đã được xác định trước

+ Thận trọng (Prudence): thận trọng là việc cân nhắc trong điều kiện không chắc

chắn Nguyên tắc thận trọng không cho phép khai thiếu tài sản và thu nhập hay khai khống chi phí

+ Đầy đủ (Completeness): thông tin trình bày trên BCTC phải đầy đủ trong giới hạn

của tính trọng yếu và chi phí Việc thiếu thông tin có thể dẫn đến thông tin sai lệch hay chệch hướng và thông tin có thể trở nên không đáng tin cậy hay không thích hợp

• Tính có thể so sánh được (Comparability): thông tin phải trình bày để người sử

dụng có thể so sánh các BCTC của đơn vị trong một khoảng thời gian nhằm xác định xu hướng về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của các đơn vị khác nhau với nhau nhằm

so sánh đánh giá tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự thay đổi tình hình tài chính của các bên

Theo chuNn mực kế toán VAS 01: ChuNn mực chung, quy định rõ các yêu cầu cơ bản đối với kế toán: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh được

• Trung thực: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ

sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung

và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh

• Khách quan: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với

thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo

Trang 15

• Đầy đủ: mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được

ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót

• Kịp thời: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời,

đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ

• Dễ hiểu: các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu

đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh,

về kinh tế tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong

BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh

• Có thể so sánh: các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh

nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi chúng được tính toán và trình

bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để

người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp

hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin kế hoạch, dự toán

2.1.2.2 Yêu cầu CBTT trong BCTC

Theo VAS 01: ChuNn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của BCTC

BCTC phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ

kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của BCTC Các yếu tố liên quan

trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải

trả và Vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh

doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, Thu nhập khác, Chi phí và

Kết quả kinh doanh

2 1.2.3 Yêu cầu CBTT đối với công ty niêm yết

Đối với công ty niêm yết, áp lực CBTT tăng lên nhiều lần khi mà đối tượng chủ sở

hữu được mở rộng, khoảng cách giữa chủ sở hữu và quản lý trở nên lớn hơn Nhu cầu tìm

hiểu thông tin không chỉ riêng chủ sở hữu mà còn là các nhà đầu tư Chính vì vậy, yêu cầu

CBTT đặt ra cho các công ty niêm yết luôn chặt chẽ và đầy đủ hơn so với các công ty khác

Các quy định này nhằm ngăn chặn việc che giấu thông tin hay CBTT thiếu chính xác làm

ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng thông tin và cũng để duy trì một cơ chế giám sát có hiệu quả từ các bên có liên quan và công chúng đầu tư đối với hoạt động của các công

ty niêm yết Việc CBTT chính xác có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với các doanh nghiệp niêm yết

Để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư cũng như sự phát triển bền vững của thị trường

và đáp ứng nhu cầu quản lý của Nhà nước, Luật chứng khoán yêu cầu một sự CBTT cao hơn Cụ thể thông tư mới nhất hiện nay số 52/2012/TT-BTC yêu cầu việc CBTT của các

công ty niêm yết phải đảm bảo tính “đầy đủ, chính xác và kịp thời” theo quy định của

pháp luật Hoạt động CBTT phải do Giám Đốc hoặc người được uỷ quyền thực hiện và phải chịu trách nhiệm về nội dung được công bố

Tính đầy đủ thể hiện ở các quy định cụ thể về thể loại, nội dung và hình thức công

bố, cả thông tin công bố thường niên và bất thường có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng

Tính chính xác là các thông tin được công bố phải là các thông tin trung thực, khách quan và đáng tin cậy Việc CBTT phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được uỷ quyền công bố thực hiện

Yêu cầu về tính kịp thời của các thông tin không chỉ mang tính tự nguyện mà còn là mang tính bắt buộc vì trong thị trường chứng khoán, mọi sự chậm trễ có thể làm thông tin mất đi hoặc giảm phần lớn tác dụng Việc quy định chặt chẽ thời gian tối đa để CBTT trong từng trường hợp, chẳng hạn như trong CBTT định kỳ, các công ty niêm yết phải cung cấp BCTC năm đã được kiểm toán chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán, điều này thể hiện yêu cầu về tính kịp thời cao

2.1.3 Đo lường mức độ công bố thông tin:

Trong các nghiên cứu về CBTT, một trong những hạn chế thường hay bị bắt gặp là

sự đo lường quy mô của việc công bố (Healy và Palepu, 2001) Các lý thuyết hiện có chấp nhận một sự đa dạng các cách tiếp cận về đo lường CBTT Một số nghiên cứu chấp nhận một bức tranh định tính về các phân tích tài liệu và phân tích thuộc về ngôn ngữ, việc sử

Trang 16

dụng các chỉ số công bố đã được khái quát hoá trong nghiên cứu Theo Beattie, McInnes và

Fearnley (2004), để đo lường việc công bố có thể kể đến hai cách tiếp cận khác nhau đó là

loại chủ quan và nửa khách quan

Loại chủ quan hướng về những phân tích xếp loại các công ty theo số lượng thông

tin được công bố Các loại thang đo dùng cho loại chủ quan được đưa ra bởi AIMR (Hiệp

hội Nghiên cứu và Đầu tư) hay bởi Standard & Poor’s Các nghiên cứu nửa khách quan bao

gồm việc sử dụng các công cụ như phân tích nội dung chuyên sâu, nghiên cứu tài liệu,

nghiên cứu ngôn ngữ và các chỉ số công bố

Tuy nhiên tính chủ quan của các nhà nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến giá trị của

nghiên cứu Do đó các phương pháp khách quan hơn dần dần phát triển để vượt qua những

hạn chế của loại chủ quan Để đo lường CBTT, các nhà nghiên cứu đã dùng một cách mới là

liệt kê tất cả các mục, các nhóm dữ liệu được công bố như một số các từ hay câu bao gồm

trong báo cáo thường niên (Marston và Shrives, 1991) Việc dùng các câu như là một đơn vị

để phân tích đã trở nên phổ biến (Entwistle, 1999) Mặc định rằng một mức độ cao hơn về

chất lượng thông tin tốt hơn hoặc minh bạch hơn được đưa đến bởi số câu chứa thông tin

hiện hành được công bố nhiều hơn

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến các yếu tố ảnh

hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập

trung vào các doanh nghiệp niêm yết ở các nước đang phát triển Hầu hết các chỉ số

được sử dụng trong các lý thuyết công bố thực nghiệm cân nhắc đến phạm vi (hay

độ bao phủ) như một sự đại diện cho chất lượng thông tin Các mục thông tin được

đo lường trong các biến giả, nếu được công bố thì nhận giá trị 1 hay ngược lại thì

nhận giá trị 0 Tuy nhiên cũng có khi các mục dữ liệu được định giá trị theo bản

chất của thông tin, thông tin nào định lượng được thì có giá trị cao hơn thông tin

không định lượng được trong nghiên cứu Chúng được cân đo trong sự phù hợp với

các thông tin quan trọng có liên quan khác, mặc dù không có sự thống nhất về lợi

ích của việc đo lường này

Đo lường mức độ CBTT đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn CBTT là khái niệm trừu tượng do không có một đặc trưng nổi bật để có thể sử dụng cho việc đo lường chất lượng hay mức độ CBTT Để phục vụ cho việc đo lường đánh giá về mức độ CBTT và cũng để định hướng cho việc CBTT trong tương lai, cần thiết phải vạch ra một chuNn mực tin cậy về CBTT Điều này góp phần làm giảm đi sự thiếu hiệu quả của thị trường vốn, giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (theo Adina và Ion, 2008)

Để đo lường mức độ CBTT, các nhà nghiên cứu trước đây đã chọn một trong ba

cách: cách thứ nhất là thuật toán dựa vào cơ sở dữ liệu điều tra AIMR (Association for Investment Management and Research) hoặc FAF (Financial Analysts Federation); cách

th ứ hai là dựa vào dự báo của quản trị công ty; cách thứ ba là tự đo lường Tuy nhiên, mỗi

cách đều có một hạn chế nhất định Để lượng hoá chính xác mức độ CBTT trong BCTC, các nghiên cứu đã được thực hiện đi qua hai bước cơ bản:

Trước tiên các nhà nghiên cứu xây dựng một thang chuNn đã được thực hiện trong các nghiên cứu đi trước khác nhau phụ thuộc vào yêu cầu công bố của mỗi quốc gia, trình

độ phát triển thị trường vốn và nhận định chủ quan của nhà nghiên cứu.Vấn đề này đã được Yuan Dinh, Linghui Fu, Herve Stolowy và Huiwen Wang, 2004 thống kê trong nghiên cứu:

“Disclosure and determinants studies: An extension using the divisive clustering method”

Số chỉ mục thông tin được lựa chọn để nghiên cứu không giống nhau mặc dù có thể các nghiên cứu cùng hướng đến một đối tượng như thông tin công bố là tự nguyện hay bắt buộc thì số chỉ mục cũng có sự khác biệt lớn

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu dùng thang chuNn đã xây dựng để mã hoá từng chỉ mục thông tin trong mỗi quan sát Việc đo lường hay mã hoá theo thang chuNn được xây dựng cũng tồn tại những cách tiếp cận khác nhau Thông thường, có ba phương án được tiếp cận để đo lường, đó là Đo lường không trọng số, Đo lường có trọng số và Đo lường hỗn hợp

Trang 17

2.1.3.1 Đo lường không trọng số:

Dựa vào thang chuNn đã được xây dựng, các mục thông tin nếu được công bố trong

BCTC sẽ được gán giá trị 1, nếu thông tin có phát sinh mà không được công bố sẽ được gán

giá trị 0, còn nếu thông tin đó không phát sinh thì sẽ không được gán giá trị Theo đó, các

chỉ mục thông tin được theo dõi ở giác độ có công bố hay không và ngầm định mỗi chỉ mục

có vai trò ngang nhau trong đánh giá Các tác giả như Wallace (1987), Cooke (1991, 1992),

Ameh và Nicols (1994), Owusu Assh (1998), … đã sử dụng cách tiếp cận này trong các

nghiên cứu của họ

2.1.3.2 Đo lường có trọng số:

Khác với phương pháp đo lường không trọng số, phương pháp này yêu cầu các mục

thông tin được chọn lọc cùng với việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chỉ mục là thấp hay

cao Từ đó, một hệ thống trọng số phản ánh mức độ quan trọng của từng thông tin được xây

dựng song song với hệ thống chỉ mục thông tin được chọn lọc trong thang chuNn Việc đo

lường được thực hiện như là đo lường không trọng số nhưng sau khi được gán giá trị, chúng

lại được nhân với trọng số đã được xây dựng trước đó Singhvi và Desai (1971), Barret

(1977), Marson (1986) đã sử dụng cách tiếp cận này

2.1.3.3 Đo lường hỗn hợp:

Là sự kết hợp cả hai phương pháp đo lường có trọng số và không trọng số như trong

nghiên cứu của Fracisco, Mria và Marco: “Thiết kế các chỉ số công bố – có hay không sự

khác bi ệt?” Ở đây, tác giả sử dụng việc đo lường CBTT dựa trên xây dựng ba chỉ số công

bố: chỉ số chất lượng, chỉ số phạm vi, chỉ số về số lượng Mỗi chỉ số xây dựng dựa trên

phương pháp trọng số như chỉ số SCI (scope index) sẽ được gán là 0 nếu không được công

bố; được gán là 0.5 nếu công bố là định tính, được gán là 1 nếu công bố là định lượng và

phương pháp không trọng số như chỉ số COV (coverage dimension), ESM (economic sign

and measure index), OLT (outlook profile index), …

Tuy nhiên, hạn chế lớn khi sử dụng phương pháp đo lường có trọng số và đo lường

hỗn hợp là mỗi cá nhân khi nghiên cứu sẽ có những quan điểm khác nhau khi đánh giá trọng

số của mỗi khoản mục thông tin làm cho kết quả nghiên cứu mang tính chủ quan cao nên dễ cho ra những kết quả khác biệt Để hạn chế điều đó, nghiên cứu này tập trung vào đánh giá mức độ CBTT trong BCTC với những thông tin được quy định rõ ràng từ các văn bản pháp

luật liên quan bằng phương pháp đo lường không trọng số

2.2 Các lý thuyết nền về công bố thông tin

Trong các nghiên cứu trước, để giải thích mức độ CBTT, các nhà nghiên cứu thường

sử dụng lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đó là lý thuyết đại diện, lý thuyết dấu hiệu, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyết kinh tế chính trị và lý thuyết tính hợp pháp

2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện định nghĩa một mối quan hệ đại diện như một hợp đồng, theo

đó một hay nhiều người cam kết với một người khác để thực hiện một vài dịch vụ nhân danh họ, nó bao hàm việc ủy thác một số quyền ra quyết định cho người đại diện (Jensen

và Meckling, 1976) Lý thuyết này mô tả mối quan hệ giữa các bên của doanh nghiệp như giữa người quản lý và các cổ đông, giữa các cổ đông và chủ nợ Nhà đầu tư uỷ thác việc ra quyết định, chiến lược và điều hành hoạt động cho các nhà quản lý, còn nhà quản lý sẽ hành động và đưa ra quyết định tối đa hoá giá trị cổ đông và đảm bảo rằng các khoản nợ sẽ được hoàn trả cho các chủ nợ Tuy nhiên, lý thuyết người đại diện cũng mô tả, các nhà quản lý có khả năng sử dụng các vị trí và quyền lực của họ để đảm bảo lợi ích riêng của

họ Có thể rằng người đại diện không phải lúc nào cũng hành động làm lợi nhất cho người đứng đầu Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và kiểm soát công ty và các vấn đề bất đối xứng thông tin từ các nhà quản lý và các cổ đông đã xảy ra vấn đề người đại diện Điều này có thể sẽ gây ra sự lựa chọn bất lợi và các vấn đề ở khía cạnh đạo đức khác bởi vì các nhà đầu tư luôn hoài nghi rằng liệu các nhà quản lý có đang hành động vì lợi ích của công

ty hay không Khi hai bên, nhà đầu tư và người quản lý có mâu thuẫn về lợi ích thì chi phí đại diện sẽ xuất hiện Nhà đầu tư phải trả chi phí giám sát để giám sát các hoạt động bất thường của người quản lý Để đảm bảo các hành động và quyết định của người quản lý không gây hại đến lợi ích của công ty, người quản lý phải trả chi phí ràng buộc Mâu thuẫn

Trang 18

về lợi ích cũng tạo ra những mất mát phụ trội do phúc lợi không được tối đa hoá Tổng chi

phí giám sát, chi phí ràng buộc và mất mát phụ trội được gọi là chi phí đại diện vì chi phí

này xuất phát từ mối quan hệ giữa nhà đầu tư và người quản lý (Jensen và Meckling,

1976)

Lý thuyết đại diện cho rằng sự xung đột sẽ tăng lên khi có thông tin không đầy đủ

và không đối xứng giữa nhà đầu tư và người quản lý của doanh nghiệp Vấn đề này có thể

được hạn chế tối đa bằng cách cung cấp thêm thông tin Một vài yếu tố ảnh hưởng đến

mức độ CBTT có quan hệ với lý thuyết đại diện là quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh

lời, chủ thể kiểm toán, thành phần HĐQT, sở hữu cổ đông nước ngoài Chi phí đại diện

phụ thuộc vào kích cỡ của doanh nghiệp (Rodriguez Pere, 2004) vì vậy các doanh nghiệp

lớn thường công bố nhiều thông tin hơn để làm giảm chi phí này Sự xung đột lợi ích có

thể xảy ra khi thông tin không đầy đủ, bất đối xứng nên khi lợi nhuận cao, khả năng sinh

lời cao cũng cần phải CBTT nhiều hơn để hạn chế xảy ra vấn đề này Mặt khác, kiểm

toán độc lập bên ngoài đóng một vai trò trong việc giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa

nhà quản lý và nhà đầu tư Ngoài ra, khi số thành viên HĐQT không tham gia điều hành

càng nhiều thì chi phí đại diện càng cao Để hạn chế chi phí này, các nhà đầu tư thường

yêu cầu các nhà quản lý phải CBTT nhiều hơn Đặc biệt, do sự tách biệt về địa lý giữa

nhà quản lý và các cổ đông nước ngoài nên nhu cầu về thông tin cũng sẽ cao hơn từ các

cổ đông nước ngoài

2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)

Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng thông tin không đối xứng giữa công ty và nhà đầu tư

gây ra sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư Để tránh tình trạng này, các doanh nghiệp CBTT

một cách tự nguyện và đưa ra tín hiệu đến thị trường (Watts và Zimmerman, 1986) Nó

cũng đã được sử dụng để giải thích CBTT trên báo cáo của công ty (Ross, 1977) Theo lý

thuyết tín hiệu, các nhà quản lý là những người mong đợi một tín hiệu tăng trưởng cao trong

tương lai sẽ có động cơ phát tín hiệu này tới các nhà đầu tư Một trong những phương tiện

để phát tín hiệu này là CBTT Nhà quản lý sẽ CBTT nhiều hơn để báo hiệu cho các nhà đầu

tư thấy rằng công ty mà họ đang quản lý là tốt hơn so với các công ty khác với mục đích thu hút đầu tư và nâng cao uy tín của mình Quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt động, giá trị tài sản cố định, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán là các nhân tố ảnh hưởng đến các quyết định về CBTT để tránh sự lựa chọn bất lợi Các doanh nghiệp có quy mô lớn, thời gian hoạt động lâu, giá trị tài sản cố định lớn, khả năng sinh lời cao và khả năng thanh toán cao thường có xu hướng CBTT nhiều hơn để tạo niềm tin và thu hút nhà đầu tư Các doanh nghiệp này thường sử dụng các thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường Việc công bố nhiều thông tin là một tín hiệu hướng các nhà đầu tư quan tâm đến doanh nghiệp

2.2.3 Lý thuyết về chi phí chính trị (Political Theory)

Lý thuyết về chi phí chính trị cho rằng các hoạt động kinh tế và chính trị xã hội luôn chạy song hành cùng nhau Vì vậy muốn xem xét hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì nên xem xét trong bối cảnh xã hội và nền tảng chính trị, nhất là đối với các doanh nghiệp niêm yết

Lý thuyết về chi phí chính trị còn cho rằng các cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định có liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp (như chính sách thuế, hạn chế độc quyền, cạnh tranh …) dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty (Watts và Zimmerman, 1986) Để hạn chế chi phí chính trị, các doanh nghiệp sẽ CBTT tự nguyện nhiều hơn Quy

mô và mức độ sinh lời khuyến khích các công ty công bố nhiều thông tin hơn để giảm thiểu các chi phí này Các công ty lớn hơn phải chịu chi phí chính trị cao hơn, dẫn đến mức độ CBTT lớn hơn (Watts và Zimmerman, 1986) Để tránh đi trách nhiệm pháp lý và giải thích mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng CBTT nhiều hơn

2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary cost theory)

Các chi phí sở hữu được xem xét như một hạn chế quan trọng của việc CBTT Những bất lợi của cạnh tranh ảnh hưởng đến việc quyết định cung cấp các thông tin riêng tư Nhiều nhà nghiên cứu giả thiết rằng việc CBTT nhiều hơn đến nhà đầu tư có thể làm tổn hại đến vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường (Newman và Sansing, 1993) Nghiên cứu

Trang 19

này cho rằng các doanh nghiệp được khuyến khích không CBTT để khỏi làm giảm vị thế

cạnh tranh của họ mặc dù chi phí huy động vốn có thể cao hơn Lý thuyết này giả định rằng

không có mâu thuẫn giữa nhà quản trị và chủ sở hữu và các công bố tự nguyện là luôn luôn

có thể tin cậy được (Dye, 2001) Lý thuyết này được xem như là một hạn chế quan trọng

nhất trong CBTT Các chi phí và lợi ích của việc CBTT được cân nhắc kỹ trước khi quyết

định có hay không việc CBTT đó Những bất lợi trong cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến quyết

định cung cấp thông tin riêng tư Các doanh nghiệp có động cơ để CBTT nếu như họ tìm

thấy được một số lợi ích từ việc công bố này như giảm chi phí vốn chủ sở hữu và lợi ích của

việc công bố lớn hơn chi phí của nó hay việc CBTT này không gây hại cho giá trị cổ phiếu

của công ty Quy mô công ty đóng một vai trò quan trọng để hạn chế tối thiểu những chi phí

liên quan đến CBTT, với những công ty càng lớn thì mức độ CBTT càng ít đi (Land và

Lundholm, 1993)

2.2.5 Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory)

Lý thuyết tính hợp pháp cho rằng không thể nghiên cứu các vấn đề về kinh tế mà

không xem xét đến các yếu tố luật pháp, xã hội Khái niệm về tính hợp pháp xuất phát từ

khái niệm hợp đồng xã hội, nơi mà một tổ chức có nguồn gốc hợp pháp từ các hợp đồng

giữa nó và xã hội Lý thuyết tính hợp pháp giả định rằng một tổ chức cần hoạt động trong

định mức, tiêu chuNn đã xác định giữa các tổ chức và xã hội Do đó, tổ chức này luôn luôn

cố gắng để tìm kiếm sự hợp pháp Khi một tổ chức cảm thấy rằng tính hợp pháp của nó

đang bị đe doạ, nó sẽ theo đuổi một số chiến lược để giữ lại tính hợp pháp này Theo lý

thuyết này, các doanh nghiệp lớn có xu hướng CBTT nhiều hơn và xem nó như là công cụ

để giảm thiểu những áp lực từ các quy định của chính phủ

Lý thuyết hợp pháp lý giải vì sao một tổ chức phải CBTT Sản phNm của quá trình

trao đổi của công ty và xã hội là báo cáo của công ty Vì vậy, công cụ để đối phó với nhu

cầu của xã hội là việc CBTT Các công ty, đặc biệt là các công ty lớn, đang cố gắng đưa các

thông điệp đến các bên có liên quan rằng công ty đang phù hợp với mong đợi của họ và

thuyết phục họ về hoạt động của công ty để duy trì tính hợp pháp đang có

Tóm lại, những lý thuyết trên đã giải thích được sự ảnh hưởng của các yếu tố: Quy

mô doanh nghiệp, Thời gian hoạt động của doanh nghiệp, Thành phần HĐQT, Tỷ lệ sở hữu cổ đông nước ngoài, Chủ thể kiểm toán, Tài sản cố định, Khả năng sinh lời, Khả năng thanh toán đến mức độ CBTT và sự cần thiết phải CBTT Tuy nhiên, các lý thuyết chỉ giải thích được một cách chung chung Do đó, để nhận diện chính xác mức

độ ảnh hưởng như thế nào của các yếu tố đó thì cần phải có nghiên cứu bằng định lượng

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT

Thông qua việc phân tích các mối quan hệ tương tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp kết hợp với các lý thuyết dự đoán để giải thích về chiều hướng tác động của các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu tập trung vào việc nhận diện các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố Quá trình này được thực hiện thông qua việc tổng hợp từ các nghiên cứu trước để xem các yếu tố nào thực sự có ảnh hưởng đến mức độ CBTT, sau đó phân tích các lý thuyết công bố và phán đoán số yếu tố cũng như chiều ảnh hưởng của nó đến mức độ CBTT của doanh nghiệp

Doanh nghiệp khi CBTT phải trình bày và công bố những thông tin theo quy định được hướng dẫn trong các văn bản có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật kế toán, ChuNn mực kế toán, Luật chứng khoán và các thông tư văn bản hướng dẫn khác,… Do CBTT là bắt buộc nên doanh nghiệp phải tuân thủ theo cách lập, trình bày

và công bố Tuy vậy, thông tin được công bố của một số doanh nghiệp vẫn chưa đầy

đủ, công khai và minh bạch theo yêu cầu Vì vậy vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu xem yếu tố nào đã ảnh hưởng đến mức độ CBTT Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các yếu tố có liên quan đến Quy mô doanh nghiệp, Thời gian hoạt động của doanh nghiệp, Thành phần HĐQT, Tỷ lệ sở hữu cổ đông nước ngoài, Chủ thể kiểm toán, Tài sản cố định, Khả năng sinh lời, Khả năng thanh toán đều có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp

Trang 20

2.3.1 Quy mô doanh nghiệp:

Quy mô doanh nghiệp được đánh giá qua các chỉ tiêu như tổng tài sản, tổng

nguồn vốn, doanh thu thuần hay tổng số lao động của doanh nghiệp Theo lý thuyết đại

diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết tính hợp pháp và các

nghiên cứu trước đây thì Quy mô doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng

ảnh hưởng đến mức độ CBTT Điều này được giải thích như sau: phạm vi kinh doanh

của các doanh nghiệp lớn thường đa dạng hơn về sản phNm và phạm vi địa lý so với

các doanh nghiệp nhỏ Do đó, quản trị ở đơn vị trung tâm của công ty cần có một hệ

thống thông tin đầy đủ, chi tiết để đưa ra các quyết định quản lý và kinh doanh có hiệu

quả Vì vậy các doanh nghiệp lớn thường có đủ nguồn lực và chuyên môn cần thiết để

đáp ứng việc CBTT Theo lý thuyết đại diện thì có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và

kiểm soát công ty và các vấn đề bất đối xứng thông tin từ các nhà quản lý và các cổ đông

đã xảy ra vấn đề chi phí đại diện Do đó, ở các công ty lớn với số lượng cổ đông nhiều, chi

phí đại diện sẽ gia tăng vì các công ty có khuynh hướng nỗ lực hơn trong việc giám sát

người quản lý Để làm giảm chi phí này, các công ty có xu hướng CBTT ngày càng nhiều

hơn Theo lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp lớn nhận thức rằng việc phát tín hiệu, công

bố nhiều thông tin cho người sử dụng sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn do đó sẽ làm tăng

giá trị cổ phiếu hơn Hơn nữa, việc CBTT chi tiết có thể đưa các công ty nhỏ vào thế bất

lợi so với các công ty lớn cùng ngành nghề Lý thuyết chi phí chính trị chỉ ra rằng các

doanh nghiệp có quy mô nhỏ sẽ có chi phí chính trị ít hơn các doanh nghiệp có quy mô

lớn Do đó, doanh nghiệp có quy mô càng lớn sẽ càng công bố nhiều thông tin hơn để làm

giảm chi phí chính trị và gia tăng sự tin cậy trên thị trường Còn theo lý thuyết tính hợp

pháp, các công ty lớn có xu hướng công bố nhiều thông tin hơn và sử dụng nó như là công

cụ để làm giảm áp lực từ những quy định của chính phủ

Nghiên cứu của Nandi và Ghosh (2012), nghiên cứu của Mohamed Moustafa

Soliman (2013) đã cho thấy quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ đáng kể đến mức độ

CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp Tại Việt Nam, nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân

(2013) đo lường Quy mô doanh nghiệp bằng Tổng Tài sản và nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương (2013) đo lường Quy mô doanh nghiệp bằng cả hai chỉ tiêu là Tổng Tài sản

và Tổng Doanh thu Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy quy mô doanh nghiệp có mối quan

hệ với mức độ CBTT

2.3.2 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp:

Theo lý thuyết tín hiệu và các nghiên cứu trước thì thời gian hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Nhiều nghiên cứu trước đã cho rằng có mối quan hệ thuận chiều giữa thời gian hoạt động của doanh nghiệp với mức độ CBTT Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động càng lâu thì việc lập và trình bày BCTC càng được cải thiện hơn vì chúng có nhiều điều kiện thực tế hơn cho quá trình báo cáo như

bộ máy kế toán, khả năng áp dụng công nghệ thông tin… Các công ty có thời gian hoạt động lâu dài có nhiều thành tựu để báo cáo nhằm tăng danh tiếng của nó, còn các công

ty có thời gian hoạt động còn ngắn chưa có nhiều danh tiếng trên thị trường nên việc công bố nhiều thông tin có thể ảnh hưởng tiêu cực đến vị thế cạnh tranh của họ Owusu – Ansah (1998), Caferman và Cooke (2002) đã cho thấy rằng thời gian hoạt động của doanh nghiệp có tác động tích cực đến mức độ CBTT trong các nghiên cứu của mình Ngược lại, nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013) lại không tìm thấy mối liên hệ giữa thời gian hoạt động và mức độ CBTT Hầu hết trong các nghiên cứu này, Thời gian hoạt động đều được tính từ lúc doanh nghiệp bắt đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán đến thời điểm nghiên cứu

Trang 21

quản lý (Jensen và Meckling, 1976) Để làm giảm mâu thuẫn này, HĐQT sẽ thực hiện

quyền lực của mình để theo dõi và kiểm soát quản lý

Theo Yanesari (2012), nếu các thành viên HĐQT đều giữ quyền quản lý hoặc có

mối quan hệ nhân thân, quyền sở hữu với công ty thì vai trò này sẽ bị hạn chế vì có khả

năng các thành viên HĐQT sẽ quản lý hoạt động của công ty theo hướng có lợi cho

mình mà không có lợi cho các cổ đông khác Do đó, luật về quản trị doanh nghiệp của

các quốc gia thường có yêu cầu trong cơ cấu HĐQT công ty phải có ít nhất 1/3 các

thành viên HĐQT là độc lập, không tham gia điều hành hoạt động công ty Các thành

viên này sẽ giám sát hoạt động của HĐQT, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn,

giúp bảo vệ lợi ích chính đáng của các cổ đông Một công ty có tỷ lệ thành viên HĐQT

độc lập cao sẽ giám sát tốt hơn các hành vi của nhà quản lý và do đó cũng giảm bớt

xung đột giữa nhà đầu tư và người quản lý Để làm được điều này, các thành viên

HĐQT độc lập có xu hướng khuyến khích và hỗ trợ CBTT nhiều hơn ra bên ngoài

Các nghiên cứu trước đo lường yếu tố này bằng cách so sánh tỷ lệ giữa số thành

viên HĐQT không điều hành với tổng số thành viên HĐQT Mối quan hệ thuận chiều

giữa tỷ lệ này được đưa ra bởi Chen và Jaggi (2000), Hanifa và Cooke (2002) Tuy

nhiên, nghiên cứu về vấn đề này của Barako (2007) lại cho ra kết quả ngược lại Còn ở

Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương (2013) lại cho thấy tỷ lệ thành

viên HĐQT không tham gia điều hành có ảnh hưởng không đáng kể đến mức độ

CBTT

2.3.4 Sở hữu cổ đông nước ngoài:

Theo lý thuyết đại diện, có sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các cổ đông và nhà

quản lý Các cổ đông tăng cường giám sát các hành vi của người quản lý nhằm đảm

bảo lợi ích của mình thông qua việc muốn biết nhiều hơn về thông tin doanh nghiệp

Các nhóm cổ đông khác nhau có nhu cầu về các loại thông tin khác nhau như thông tin

về dự báo, thông tin về lợi nhuận, thông tin về trách nhiệm xã hội Do đó, các công ty

có số lượng cổ đông lớn thì nhu cầu CBTT sẽ cao hơn Đặc biệt, nhu cầu về thông tin

cũng sẽ cao hơn từ các cổ đông nước ngoài do sự tách biệt về địa lý giữa nhà quản lý

và các cổ đông nước ngoài

Theo Sartawi và cộng sự (2012), quyền sở hữu là một biến quan trọng giải thích nhu cầu về thông tin dự kiến sẽ lớn hơn khi một tỷ lệ lớn cổ phiếu được sở hữu bởi các

cổ đông nước ngoài Hơn nữa, nó phù hợp với lập luận rằng các công ty có xu hướng công bố thêm thông tin để hạn chế việc bất đối xứng thông tin để thu hút các nhà đầu

tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài cũng có khả năng sử dụng quyền bỏ phiếu tán thành của mình để tác động đến vấn đề CBTT

Yếu tố này được xác định trong các nghiên cứu trước bằng cách tính tỷ lệ của cổ đông nước ngoài so với cổ đông toàn doanh nghiệp Khi nghiên cứu các doanh nghiệp niêm yết tại Malaysia, Hanifa và Cooke (2002) đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài và mức độ CBTT Ngược lại, ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương (2013) lại cho ra kết quả là mối quan hệ ngược chiều

2.3.5 Chủ thể kiểm toán:

Kiểm toán là một phần bắt buộc trong BCTC của các công ty niêm yết Kiểm toán đảm bảo cho các báo cáo của các doanh nghiệp phù hợp với các quy định của luật pháp Nó là yếu tố quan trọng đảm bảo tính trung thực và khách quan của các thông tin tài chính, làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư và quản lý kinh doanh Để giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư, lý thuyết đại diện cho rằng kiểm toán độc lập đóng một vai trò rất quan trọng Công ty kiểm toán lớn hoạt động như một cơ chế để làm giảm chi phí đại diện và phát huy nhiều hơn vai trò giám sát bằng cách hạn chế hành vi cơ hội của nhà quản lý (Jensen và Meckling, 1976)

Về quy mô, công ty kiểm toán được chia ra làm hai nhóm là nhóm các công ty kiểm toán lớn và nhóm các công ty kiểm toán nhỏ Nhóm công ty kiểm toán lớn hay còn gọi là nhóm Big Four hiện nay, bao gồm bốn công ty là Deloitte Touche Tohmatsu

Trang 22

(Deloitte), Ernst and Young (E&Y), KPMG và Price Waterhouse Coopers (PWC) Các

công ty kiểm toán còn lại được xếp vào các công ty kiểm toán nhỏ

Thông thường trong các nghiên cứu trước, yếu tố này được xác định thông qua

một biến giả Người ta chia các công ty kiểm toán độc lập ra làm hai nhóm các công ty

lớn và nhỏ Bhayani (2012) cho rằng các công ty kiểm toán lớn quan tâm nhiều hơn

đến việc bảo vệ danh tiếng của mình do đó nó sẽ đầu tư nhiều thời gian hơn cho việc

kiểm toán báo cáo của các doanh nghiệp Nếu có rủi ro xảy ra trong việc kiểm toán, các

công ty kiểm toán lớn sẽ chịu thiệt hại nhiều hơn các công ty kiểm toán nhỏ Mặt khác

các công ty kiểm toán nhỏ vì không có sức ảnh hưởng lớn đến mức độ CBTT của

doanh nghiệp nên họ có xu hướng làm vừa lòng khách hàng hơn là đặt chất lượng

CBTT lên hàng đầu Đối với các doanh nghiệp, việc lựa chọn các công ty kiểm toán

lớn cũng là một cách để doanh nghiệp phát tín hiệu với các nhà đầu tư rằng nội dung

của các thông tin mà họ cung cấp đảm bảo tính minh bạch, khách quan và trung thực

Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013) không tìm thấy mối liên hệ giữa chủ thể

kiểm toán và mức độ CBTT

2.3.6 Tài sản cố định:

Tài sản cố định là tư liệu sản xuất có giá trị lớn và liên quan đến nhiều kỳ sản

xuất kinh doanh Theo thời gian thì giá trị của tài sản cố định sẽ bị giảm dần thông qua

việc trích khấu hao Khấu hao chính xác là cơ sở cho việc tính toán tái sản xuất và tái

đầu tư Theo lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định lớn sẽ công

bố nhiều thông tin hơn Thông tin liên quan đến tài sản cố định và khấu hao là rất cần

thiết để các cổ đông phân tích, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp cũng như phân

tích được mức sinh lợi từ tài sản Các doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định lớn và

hiệu quả sử dụng tài sản cố định cao thì mức độ CBTT sẽ nhiều hơn Do đó, có mối

quan hệ cùng chiều giữa giá trị tài sản cố định và mức độ CBTT

Khi đề cập đến Tài sản cố định, các nghiên cứu trước đo lường theo tỷ suất sử

dụng tài sản cố định so với Tổng tài sản Điều này đã được Phạm Thị Thu Đông (2013)

tìm thấy trong nghiên cứu của mình Còn theo nghiên cứu của Lê Trường Vinh (2008) lại không tìm thấy mối liên hệ nào giữa yếu tố Tài sản cố định và mức độ CBTT

2.3.7 Khả năng sinh lời:

Khả năng sinh lời đo lường thành quả hoạt động của một doanh nghiệp Theo lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp có lợi nhuận cao sẽ muốn phát đi nhiều tín hiệu thông qua việc CBTT để phân biệt với các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp nhằm giúp gia tăng giá trị cổ phiếu của họ Ngoài ra, các doanh nghiệp hoạt động kém cũng sẽ CBTT nhiều thông tin để giải thích tại sao tình hình hoạt động của họ lại như vậy

Để đo lường yếu tố này, các nghiên cứu trước sử dụng chỉ số ROA và ROE Theo Lang và Lundholm (1993) thì mối quan hệ này không rõ ràng và tuỳ thuộc vào mức độ sinh lời và bối cảnh thực tế của doanh nghiệp Ở Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013) tìm thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa khả năng sinh lời và mức độ CBTT, còn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phương lại cho ra kết quả

là một mối quan hệ ngược chiều

2.3.8 Khả năng thanh toán:

Khả năng thanh toán hay còn gọi là tính thanh khoản là khả năng đáp ứng tình hình nợ của doanh nghiệp trong ngắn hạn Tính thanh khoản được hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, các khoản phải thu có khả năng chuyển đổi thành tiền dễ dàng, thuận tiện cho việc chi tiêu hay thanh toán Sự khó khăn trong chuyển đổi để đáp ứng nghĩa vụ hiện tại của nó trong việc thanh toán lãi và gốc cho các chủ nợ có khả năng dẫn doanh nghiệp đến bờ vực phá sản Thanh khoản là một đặc tính quan trọng của công ty trong đó có ảnh hưởng lớn đến mức độ CBTT của doanh nghiệp Lý thuyết tín hiệu cho rằng một công ty có tính thanh khoản cao sẽ công bố nhiều thông tin như là một cách phát thêm tín hiệu tích cực cho các nhà đầu tư để tăng niềm tin của

họ và ngược lại, một công ty có tính thanh khoản thấp sẽ hạn chế việc CBTT để che giấu những thông tin yếu kém ra ngoài

Trang 23

Trong các nghiên cứu trước đây, yếu tố này được xác định bằng cách sử dụng

chỉ tiêu Hệ số thanh toán hiện hành của các doanh nghiệp Nandi và Ghosh (2012) đã

tìm thấy mối quan hệ giữa tính thanh khoản và mức độ CBTT Còn ở Việt Nam,

nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013) lại không tìm thấy mối liên hệ giữa tính

thanh khoản và mức độ CBTT

2.4 Các giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở các lý thuyết đã được nêu ở trên, các biến được đưa ra để nghiên cứu

trong các giả thuyết sau:

H1: Các doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức độ công bố thông tin trong BCTC

nhiều hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

H2: Doanh nghiệp có thời gian hoạt động càng lâu thì mức độ CBTT trong

BCTC càng nhiều

H3: Doanh nghiệp có tỷ lệ thành viên HĐQT không tham gia điều hành càng

lớn thì mức độ CBTT càng cao

H4: Doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu cổ đông nước ngoài so với cổ đông toàn

doanh nghiệp càng lớn thì mức độ CBTT càng cao

H5: Doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn thuộc nhóm

Big Four sẽ CBTT trong BCTC nhiều hơn các doanh nghiệp khác

H6: Doanh nghiệp có tài sản cố định càng lớn thì mức độ CBTT trong BCTC

càng cao

H7: Các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thì mức độ công bố thông tin trong

BCTC nhiều hơn các doanh nghiệp có khả năng sinh lời thấp

H8: Doanh nghiệp có khả năng thanh toán càng cao thì mức độ CBTT trong

BCTC càng nhiều hơn các doanh nghiệp có khả năng thanh toán thấp

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Từ nền tảng là những cơ sở lý thuyết kinh tế kết hợp với những nghiên cứu đã

được công bố trước đây, cho thấy có mối quan hệ giữa đặc điểm của công ty với mức

độ CBTT trong BCTC Nghiên cứu đưa ra các kỳ vọng tương quan giữa các biến độc lập là các đặc điểm của doanh nghiệp với biến phụ thuộc là mức độ CBTT Có rất nhiều biến độc lập đã được nghiên cứu trước đây, tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đưa ra 8 yếu tố như trong mô hình:

Thành phần HĐQT Quy mô

doanh nghiệp

Khả năng sinh lời

Tỷ lệ sở hữu cổ

đông nước

ngoài

MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Khả năng thanh toán

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 24

Kết luận chương 2:

Trong chương 2, tác giả đã nêu ra các khái niệm, yêu cầu và cách đo lường mức độ

CBTT cùng với các lý thuyết về CBTT bao gồm lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý

thuyết ảnh hưởng chính trị, lý thuyết chi phi sở hữu và lý thuyết tính hợp pháp Đồng thời,

tác giả đã phân tích và tổng hợp lại để đưa ra mô hình với các yếu tố tác động là các đặc

điểm của doanh nghiệp như: Quy mô doanh nghiệp, Thời gian hoạt động của doanh

nghiệp, Thành phần HĐQT, Tỷ lệ sở hữu cổ đông nước ngoài, Chủ thể kiểm toán, Tài

sản cố định, Khả năng sinh lời, Khả năng thanh toán lên Mức độ CBTT trong BCTC

Tám biến độc lập này được kế thừa từ các nghiên cứu trước ở Việt Nam và các nước

trên thế giới có tình hình kinh tế tương đồng với Viêt Nam Qua đó, tác giả đã đưa ra

tám giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu trong luận văn Đây là cơ sở

và là tiền đề cho việc đi sâu nghiên cứu sự ảnh hưởng của tám biến độc lập này lên

biến phụ thuộc là mức độ CBTT trong các chương sau

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Luận văn được thực hiện nhằm phân tích và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM thông qua phương pháp định tính và định lượng theo các bước

sau:

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp,

phạm vi nghiên cứu

Phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng sau đó đưa ra giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu sơ bộ

Các nghiên cứu trước có liên quan, tổng quan về CBTT và các lý thuyết nền về CBTT

Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Đề xuất và hướng nghiên cứu

tiếp theo

Trang 25

3.2 Chọn mẫu nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu tập trung vào BCTC năm 2013 của các doanh nghiệp niêm

yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với các tiêu chí như sau:

+ Không thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán do các đặc trưng khác

biệt của nó so với các loại hình còn lại

+ BCTC thu thập là BCTC đã được kiểm toán

+ Có đầy đủ bộ BCTC gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh

doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC

Đồng thời cần phải có báo cáo của kiểm toán độc lập kèm theo để xác minh mức độ

trung thực của BCTC và nhận diện một số lỗi (nếu có) theo ý kiến của kiểm toán độc lập

Theo nguồn Hose, tính tại ngày 31/12/2013 có 303 cổ phiếu công ty được niêm

yết trên SGDCK Tp.HCM với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá khoảng 313 nghìn tỷ

đồng Số lượng này bao gồm nhiều ngành nghề và quy mô khác nhau

Dựa theo quyết định 486-TCKT/CN năm 1966 quy định về phân ngành cụ thể

trong công nghiệp, trong số 303 doanh nghiệp niêm yết này có 17 công ty tài chính

Dựa vào yêu cầu mẫu chọn, ta loại bỏ 17 công ty tài chính này, còn lại 286 công ty là

tổng thể điều tra Trong tổng thể điều tra này, tiến hành chọn ngẫu nhiên 100 công ty,

số lượng này chiếm 34.965% trong tổng thể Tỷ lệ này đảm bảo điều kiện về cỡ mẫu

theo nghiên cứu của Haire và cộng sự (2000) (lớn hơn 30% đối với tổng thể dưới

1000) Báo cáo tài chính của 100 công ty này (phụ lục 1) được tải về và kiểm tra, thu

thập số liệu theo các chỉ mục cần thiết

3.3 Chọn các mục thông tin công bố trong BCTC

Hầu hết các nghiên cứu về CBTT trước đây đều đưa ra một hệ thống các chỉ mục

thông tin để dựa vào đó đo lường Tuy nhiên, giữa các hệ thống này có sự khác biệt đáng kể

Ngoài nguyên nhân khách quan như sự khác nhau về thời điểm, đặc điểm công bố từng

quốc gia thì yếu tố chủ quan cũng là một trong những nguyên nhân chính Với mong muốn

hạn chế tính chủ quan này, nghiên cứu dự kiến xây dựng hệ thống chỉ mục dựa theo yêu cầu

về công bố trong các văn bản pháp luật một cách chặt chẽ nhất Cụ thể:

+ Luật kế toán ngày 17/06/2007

+ Hệ thống chuNn mực kế toán, tập trung vào các chuNn mực: ChuNn mực 01 – ChuNn mực chung; ChuNn mực 04 – Tài sản cố định vô hình; ChuNn mực 05 – Bất động sản đầu tư; ChuNn mực 08 – Thông tin tài chính và những khoản góp vốn liên doanh; ChuNn mực 17 – Thuế thu nhập doanh nghiệp; ChuNn mực 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng; ChuNn mực 21 – Trình bày BCTC; ChuNn mực 24: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; ChuNn mực 26 – Thông tin về các bên liên quan; ChuNn mực 28 – Báo cáo bộ phận; ChuNn mực 29 – Thay đổi chính sách kế toán ước tính; ChuNn mực 30 – Lãi trên cổ phiếu + Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của BTC về chế độ kế toán + Luật Chứng khoán và Thông tư 210/2009/TT-BTC ngày 06/11/2009 của BTC về Hướng dẫn áp dụng chuNn mực kế toán quốc tế về trình bày BCTC và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính

+ Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 của BTC về Hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Hệ thống chỉ mục này gồm hai phần chính: phần 1- theo biểu mẫu được trích ra từ hệ thống BCTC của Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và thông tư 210/2009/TT-BTC; phần 2 – các chỉ mục thông tin lấy từ yêu cầu công bố trong chuNn mực kế toán nhưng chưa được cụ thể trong Quyết định 15/2006/QĐ-BTC Có tất cả 160 chỉ mục được đưa ra trong nghiên

Mô hình này được sử dụng để kiểm định các giả thuyết được đặt ra ở trên và có dạng:

Trang 26

Y = +

Trong đó: Y : chỉ số công bố thông tin

X1, X2, X3, Xn: biến độc lập của mô hình

: sai số ngẫu nhiên

3.4.2 Mã hóa các biến

Bảng 3.1: Mã hóa các biến

Biến độc lập

Thời gian hoạt động của doanh nghiệp X2

Như vậy, sau khi mã hóa các biến, mô hình trong nghiên cứu này có dạng:

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + β7X7 + β8X8 +

Trong đó:

Y: biến phụ thuộc – mức độ CBTT trong BCTC

X1,X2,X3,X4,X5,X6,X7,X8: các biến độc lập của mô hình

: tham số chặn

β1, β2, β3, β4, β5, β6, β7, β8: các tham số chưa biết

: sai số ngẫu nhiên

3.5 Đo lường các biến trong mô hình 3.5.1 Đo lường biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc là mức độ công bố thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp Để hạn chế tính chủ quan vốn có của người nghiên cứu, tác giả chọn phương pháp đánh giá qua việc đo lường theo phương pháp không trọng số

Theo hệ thống các chỉ mục đã xây dựng, tiến hành kiểm tra và đánh giá các mục thông tin trong BCTC được nghiên cứu theo kỹ thuật lưỡng phân Mục thông tin trong BCTC sẽ được gán giá trị 1: nếu có công bố; gán giá trị 0: nếu có nghiệp vụ phát sinh mà không công bố; không gán giá trị nếu tại doanh nghiệp nghiệp vụ về khoản mục tương ứng không tồn tại

Chỉ số mức độ công bố thông tin được tính cho mỗi doanh nghiệp như sau:

1

j n ij i j

j

d I

Ij: Chỉ số công bố thông tin của công ty j, 0≤ Ij ≤1;

dij = 1 nếu mục thông tin được công bố

dij = 0 nếu mục thông tin không được công bố

I j = 1 doanh nghiệp công bố đầy đủ thông tin trong BCTC n: số lượng mục thông tin mà doanh nghiệp có thể công bố

n ≤ 160

3.5.2 Đo lường các biến độc lập

Ký hiệu, cách đo lường và chiều ảnh hưởng của các biến độc lập được mô tả trong bảng sau:

Trang 27

Bảng 3.2: Đo lường các biến độc lập của mô hình

Stt Ký

hiệu Tên biến

Chỉ tiêu đo lường và cách xác định

Chiều ảnh hưởng

Nguồn nghiên cứu

3 X3 Thành phần

HĐQT

Số thành viên HĐQT không điều hành/Tổng số thành viên HĐQT

+

Hanifa và Cooke (2002); Nguyễn Thị Thanh Phương (2013)

+

Hanifa và Cooke (2002); Nguyễn Thị Thanh Phương (2013)

5 X5 Chủ thể kiểm

toán

Biến giả: nhận giá trị 1 nếu công ty kiểm toán nằm trong nhóm Big Four, nhận giá trị 0 nếu công ty kiểm toán nằm trong nhóm còn lại

+

Bhayani (2012);

Phạm Thị Thu Đông (2013)

6 X6 Tài sản cố

định

Lấy Nguyên giá TSCĐ trừ đi khấu hao đã trích chia cho tổng tài sản [(Tài sản cố định – Khấu hao)/Tổng tài sản]

+

Phạm Thị Thu Đông (2013); Lê Trường Vinh (2008)

8 X8 Khả năng

thanh toán

Lấy Tài sản ngắn hạn chia cho Nợ ngắn hạn (Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn)

+

Nandi và Ghosh (2012); Phạm Thị Thu Đông (2013)

3.6 Cách xử lý dữ liệu:

Theo danh sách công ty niêm yết tại trang web của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, trong số các doanh nghiệp đạt yêu cầu của mẫu chọn, chọn ngẫu nhiên 100 doanh nghiệp Công việc thu thập số liệu sẽ được thực hiện lần lượt qua các bước

Bước 3: Kiểm tra dữ liệu:

Trước tiên sử dụng cách kiểm tra dữ liệu đơn giản ngay trên cửa sổ dữ liệu bằng cách dùng lệch Sort Case sắp xếp dữ liệu giảm dần, kiểm tra lại các giá trị không phải là 0

và 1, chú ý đến các giá trị 2 (hoặc các giá trị khác 0 và 1) để kiểm tra lại xem thực sự có hay không có phát sinh, hay các giá trị khác do nhập nhầm

Trang 28

Tiếp theo, một số chỉ mục khó phân định là không có trình bày hay không có

nghiệp vụ phát sinh, phải tiến hành kiểm tra trong mối tương quan giữa các chỉ mục với

nhau (Phụ lục 3)

Bước 4: Tính toán các biến: chỉ số công bố thông tin Ij và các biến độc lập khác

Bước 5: Tiến hành mã hóa thông tin theo như phương pháp mã hóa nêu trên

Kết quả sẽ được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 kết hợp cùng với

phần mềm Microsoft Office Excel

Quy trình được tiến hành thông qua các phương pháp phân tích sau:

+ Phân tích mô tả: dùng để mô tả về hiện tượng hoặc những đặc điểm, tính chất

liên quan đến tổng thể nghiên cứu Chủ yếu đi sâu thống kê mô tả đối với mức độ CBTT

chung và thống kê mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT

+ Phân tích tương quan: dùng để kiểm định mối tương quan tuyến tính giữa các biến

trong mô hình, giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập và giữa các biến độc lập với nhau

Khi hệ số tương quan từ 0.5 trở lên thì hai biến được coi là có mối tương quan chặt chẽ

Nghiên cứu này sử dụng hệ số tương quan Pearson để kiểm định mối quan hệ giữa các biến

và phát hiện vấn đề đa cộng tuyến giữa chúng Đa cộng tuyến xảy ra khi hai hay nhiều biến

độc lập có mối tương quan với nhau rất cao Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng

Ngọc (2008), trong một phương trình, nếu tồn tại đa cộng tuyến thì có thể sẽ gây khó khăn

trong việc phân biệt những tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc Hệ số phóng

đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor) là chỉ số thường dùng để kiểm tra hiện tượng

đa cộng tuyến Thông thường, trong một mô hình, khi R2 < 0.8 và nếu VIF của một biến

độc lập >5, hoặc khi R2 > 0.8 và nếu VIF của một biến độc lập >10 thì hiện tượng đa cộng

tuyến có thể xảy ra (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)

+ Phân tích hồi quy đa biến: dùng để xác định mối quan hệ giữa biến độc lập và biến

phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng Dựa vào hệ số R2 đã được

điều chỉnh (Adjusted R square) cho biết mô hình hồi quy được xây dựng phù hợp đến

mức nào, yếu tố nào có hệ số beta lớn hơn thì có thể nhận xét rằng yếu tố đó có mức

độ ảnh hưởng lớn hơn các yếu tố khác trong mô hình nghiên cứu

Thông qua thống kê mô tả và các phương pháp kiểm định dữ liệu, tính toán các tham số cơ bản, kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phương pháp tương quan và hồi quy tuyến tính để tìm ra yếu tố thực sự ảnh hưởng

Kết luận chương 3:

Thông qua chương 3, tác giả đã đưa ra một phương pháp tiếp cận áp dụng cho nghiên cứu này BCTC của các doanh nghiệp là trọng tâm của nghiên cứu vì nó đóng vai trò chính trong giao tiếp giữa các doanh nghiệp và các bên liên quan Báo cáo tài chính của

100 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM (chiếm 34.965% tổng thể) được lựa chọn ngẫu nhiên để nghiên cứu

Tác giả đã xây dựng bộ chỉ mục về CBTT dựa theo yêu cầu về công bố trong các văn bản pháp luật một cách chặt chẽ Phương pháp đo lường các biến độc lập và biến phụ thuộc đã được xây dựng để phục vụ cho việc thu thập số liệu Mô hình nghiên cứu và các phương pháp phân tích mô hình như phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa biến cũng đã được nêu ra ở chương này

Trang 29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Mức độ công bố thông tin trong BCTC của các doanh nghiệp

4.1.1 Thống kê mô tả chỉ số CBTT

Với cách đo lường biến phụ thuộc Y đã được nêu ở chương 3, chỉ số mức độ CBTT

được tính theo công thức (1) được thể hiện ở phụ lục 4

Số liệu này được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Kết quả xử lý được thể hiện ở

Giá trị trung bình

Độ lệch chuNn

Valid N (listwise) 100

Ngu ồn: Phân tích dữ liệu – phụ lục 5

Nhìn vào bảng 4.1, ta thấy chỉ số CBTT của các doanh nghiệp niêm yết đã được

khảo sát trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM đạt trung bình là 0.8321 so với mức độ

công bố đầy đủ là 1 Tức là, tại Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM, mức độ CBTT bình

quân của các doanh nghiệp niêm yết chỉ đạt 83.21%, còn gần 17% các chỉ mục thông tin cần

thiết chưa được trình bày Mức độ công bố đầy đủ cao nhất đã đạt 98% và mức thấp nhất là

71% với độ lệch chuNn là 0.06826 Khoảng cách giữa giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của

mức độ CBTT là 27%, điều này cho thấy mức độ CBTT giữa các doanh nghiệp có sự chênh

lệch tương đối Hay nói cách khác, vẫn còn tồn tại nhiều doanh nghiệp niêm yết CBTT chưa

đầy đủ Điều này dễ làm cho các đối tượng sử dụng BCTC có khả năng nhận định và phân

tích số liệu bị nhầm lẫn

Khi thông tin không được công bố đầy đủ, để đảm bảo tính chính xác thì một số thông tin quan trọng phải được kiểm tra kỹ Chẳng hạn, đó là những thông tin về các khoản mục trên BCTC, nhất là các khoản mục nằm ngoài bảng cân đối kế toán, những thay đổi trong định giá các hợp đồng giao dịch trên thị trường, các dự án đầu tư Với mức độ CBTT như trên thì có gần 17% thông tin đang bị che dấu Hiện tượng che dấu thông tin là nguyên nhân dẫn đến mất tính nghiêm minh, chính xác và minh bạch của BCTC

4.1.2 Thống kê mô tả các biến độc lập

Các số liệu đã được thu thập, tính toán và thể hiện ở phụ lục 4 được xử lý bằng phần

mềm SPSS 20.0 Kết quả như sau:

Bảng 4.2: Bảng kết quả thống kê mô tả các biến độc lập

Số quan sát

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

Giá trị trung bình

Độ lêch chuNn

Ngu ồn: Phân tích dữ liệu – phụ lục 5

Nhìn vào bảng 4.2, ta thấy:

Biến quy mô doanh nghiệp có sự khác biệt rất lớn, nhỏ nhất là 189tỷ (10^11.28, lớn nhất là 75.773 tỷ (10^13.88) và giá trị trung bình là 1.239 tỷ (10^12.0929) Điều này cho thấy quy mô doanh nghiệp là rất đa dạng, tùy theo ngành nghề kinh doanh

Thời gian hoạt động của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu này cũng được phân bổ dài từ 1 đến 13 năm và trung bình là hơn 4 năm

Trang 30

Số thành viên HĐQT không tham gia điều hành trung bình là 0.2617 (26.17%) cho

thấy trong các doanh nghiệp, số thành viên độc lập rất ít, số thành viên vừa nằm trong

HĐQT vừa tham gia điều hành công ty chiếm đa số Đặc biệt có doanh nghiệp, tỷ lệ này

chiếm đến 90%, tuy nhiên, cũng có doanh nghiệp tỷ lệ này là 0%

Tỷ lệ sở hữu cổ đông nước ngoài trung bình là 15.3761%, mức tối thiểu là 0%, tối đa

là 49% Nhìn chung hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài đang ngày càng quan tâm tới thị

trường vốn Việt Nam

Biến Chủ thể kiểm toán có mức trung bình là 60%, có nghĩa là các doanh nghiệp

hiện nay đang có xu hướng chọn lựa những công ty kiểm toán có tên tuổi (nhóm BigFour)

để giao phó trách nhiệm kiểm soát lại các số liệu của mình trên BCTC trước khi công bố

Cơ cấu tài sản cố định trong các doanh nghiệp được phân bố không đồng đều nhau

trong tổng tài sản Có doanh nghiệp, giá trị tài sản cố định là dưới 0.1% nhưng cũng có

doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định đạt 87% và trung bình là 24.80%

Khả năng sinh lời trung bình là 3.98%, tỷ lệ này là thấp nếu so sánh với trần lãi suất

huy động năm 2013 là 6%, thậm chí có doanh nghiệp khả năng sinh lời còn bị âm Điều này

cho thấy sự khó khăn của nền kinh tế trong các năm gần đây do tác động của cuộc khủng

hoảng kinh tế thế giới Việc gửi tiền vào ngân hàng sinh lời cao hơn là mua cổ phần của các

doanh nghiệp khiến nhiều nhà đầu tư chưa thực sự tin tưởng vào các doanh nghiệp Việt

Nam

Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp có sự khác biệt lớn, lớn nhất là 229.78 và

nhỏ nhất là 0.29 Khả năng thanh toán hiện hành của các doanh nghiệp đạt trung bình

4.5886 là tương đối cao, tuy nhiên không phải hệ số này càng lớn càng tốt Tính hợp lý của

hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào có tài sản lưu động chiếm

tỷ trọng cao trong tổng tài sản (thường gặp ở ngành Thương mại) thì hệ số này cao và ngược

lại

4.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình

Tương quan Pearson thể hiện mối liên hệ giữa các cặp biến Nghiên cứu dùng kiểm định Pearson để kiểm tra mối quan hệ giữa tất cả các biến có được bao gồm 1 biến phụ thuộc và 8 biến độc lập Nếu giá trị tuyệt đối của hệ số Pearson càng gần đến 1 thì hai biến này càng có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ

Theo lý thuyết, nếu sự tương quan giữa các biến độc lập không vượt quá 0.5 và những sự tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập lớn hơn các sự tương quan giữa các biến độc lập thì coi như không có sự bội tương quan giữa các biến độc lập

Bảng 4.3: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình Correlations

Y 1.000 538 596 520 426 364 -.245 266 311

X1 .538 1.000 072 099 378 -.322 -.051 -.092 -.144 X2 .596 072 1.000 165 280 -.002 -.072 188 -.128 X3 .520 099 165 1.000 196 -.295 -.109 110 008 X4 .426 378 280 196 1.000 -.403 -.084 246 -.034 X5 .364 -.322 -.002 -.295 -.403 1.000 069 -.067 075 X6 -.245 -.051 -.072 -.109 -.084 069 1.000 -.001 -.057 X7 .266 -.092 188 110 246 -.067 -.001 1.000 027 X8 .311 -.144 -.128 008 -.034 075 -.057 027 1.000

Ngu ồn: Phân tích dữ liệu – phụ lục 5

Qua bảng ma trận tương quan giữa các biến được trình bày ở bảng 4.3, ta thấy: + Mức độ CBTT tương quan ý nghĩa với các biến độc lập X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7, X8 ở mức độ tương đối Ngoại trừ biến X6 có mối quan hệ ngược chiều, còn lại các biến khác đều có mối quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc Hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập dao động từ 245 đến 596 Theo tác giả Hoàng Trọng, mối tương quan này là từ yếu đến trung bình Trên thực tế, với mức ý

Ngày đăng: 02/08/2016, 05:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4.1  Đồ thị phân tán giữa mức độ CBTT và phần dư - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
4.1 Đồ thị phân tán giữa mức độ CBTT và phần dư (Trang 8)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 23)
Bảng 3.1:  Mã hóa các biến - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 3.1 Mã hóa các biến (Trang 26)
Bảng 3.2:  Đo lường các biến độc lập của mô hình - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 3.2 Đo lường các biến độc lập của mô hình (Trang 27)
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả chỉ số CBTT các doanh nghiệp niêm yết trên Sở - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả chỉ số CBTT các doanh nghiệp niêm yết trên Sở (Trang 29)
Bảng 4.5:  Các thông số thống kê trong mô hình hồi quy bằng phương pháp Enter - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4.5 Các thông số thống kê trong mô hình hồi quy bằng phương pháp Enter (Trang 31)
Bảng 4.4: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình lần 1 - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4.4 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình lần 1 (Trang 31)
Bảng 4.7:  Các thông số thống kê trong mô hình hồi quy lần 2 bằng phương pháp  Enter                                                                                                               Coefficients a - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4.7 Các thông số thống kê trong mô hình hồi quy lần 2 bằng phương pháp Enter Coefficients a (Trang 32)
Hình 4.1: Đồ thị phân tán giữa mức độ CBTT và phần dư từ hồi qui - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Hình 4.1 Đồ thị phân tán giữa mức độ CBTT và phần dư từ hồi qui (Trang 34)
Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chu9n hóa - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Hình 4.3 Đồ thị Histogram của phần dư – đã chu9n hóa (Trang 35)
Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chu9n hóa - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Hình 4.2 Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chu9n hóa (Trang 35)
Bảng 4.10: Bảng ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4.10 Bảng ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập (Trang 36)
Bảng  ma  trận  tương  quan  cho  thấy  hệ  số  tương  quan  giữa  các  biến  độc  lập - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
ng ma trận tương quan cho thấy hệ số tương quan giữa các biến độc lập (Trang 36)
Hình 4.4: Mô hình lý thuyết chính thức điều chỉnh về mức độ CBTT trên - Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên cơ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Hình 4.4 Mô hình lý thuyết chính thức điều chỉnh về mức độ CBTT trên (Trang 38)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w