1.1 Sự cần thiết Báo cáo thường niên là một phương tiện công bố thông tin của các công ty niên yết, theo sổ tay CBTT trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội thì: “Báo cáo thường niên là ấn phẩm thường niên cung cấp thông tin toàn diện về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty trong năm liền trước [38]. Do vậy, thông tin cung cấp trong báo cáo thường niên sẽ giúp cho các bên có liên quan đánh giá để đưa ra quyết định kinh tế. Do vậy, công bố thông tin trong BCTN nhằm hướng tới tính minh bạch, công khai thông tin hữu ích cho Nhà đầu tư và cho quản lý Nhà nước[22]. Thực tế, việc công bố thông tin trong BCTN theo các văn bản hướng dẫn chỉ gợi ý các đề mục, chưa hướng dẫn chuyên sâu về nội dung công bố, do vậy mức độ công bố thông tin sẽ phụ thuộc vào tính tự nguyện của các công ty niêm yết [31]. Vì vậy, luận án được thực hiện xuất phát từ lý do thứ nhất đó là: tầm quan trọng của công bố thông tin nói chung và CBTT trong BCTN nói riêng đối với người sử dụng thông tin. ” Thứ hai, thực hiện luận án xuất phát từ lý do: sự thay đổi quy chế hướng dẫn CBTT của Nhà nước ảnh hưởng đến hành vi công bố thông tin của các công ty niêm yết. Thực vậy, vấn đề công bố thông tin được các tác giả trên thế giới bắt đầu nghiên cứu ở đầu thập niên những năm 70 và phát triển mạnh mẽ ở thập niên những năm 90. Các nhà nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau đã thực hiện nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau như Mỹ, Anh, Nhật, UK,[24]…. và ở nhiều thời điểm khác nhau. Ở Việt Nam chủ đề này mới được quan tâm trong những năm gần đây. Cụ thể, để minh bạch thông tin, Bộ Tài chính đã xây dựng và ban hành thông tư hướng dẫn về công bố thông tin của công ty niêm yết từ năm 2007 (Thông tư số 38/2007/TT-BTC). Ba năm sau đó, Bộ Tài chính ban hành thông tư mới thay thế (Thông tư số 09/2010/TT-BTC) nhằm mục đích tăng cường công bố thông tin của các công ty. Ở giai đoạn này, có một số nghiên cứu về công bố thông tin của các công ty niêm yết như nghiên cứu Kelly Bao Anh Huynh Vu (năm 2012), nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013), nghiên cứu của Lê Thị Trúc Loan (2012). Đến năm 2012, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư hướng dẫn về công bố thông tin (Thông tư 52/2012/TT-BTC, ngày 05/4/2012) thay thế cho Thông tư 38/2007/TT-BTC, và đến năm 2015, Bộ tài chính đã ban hành thông tin 155/2015/TT-BTC về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Sự thay đổi về quy chế CBTT liệu có ảnh hưởng ít nhiều đến hành vi công bố thông tin của các công ty, để trả lời cần phải được xem xét và đánh giá sự phù hợp đối với công bố thông tin của các công ty niêm yết. Thứ ba, đánh giá mức độ công bố thông tin và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở mỗi nghiên cứu có sự khác nhau do địa điểm nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và mẫu nghiên cứu khác nhau. Nên nghiên cứu thực nghiệm mỗi giai đoạn là cần thiết nhằm giải thích hiện tượng và tiến triển về công bố thông tin trong mỗi giai đoạn, qua đó bổ sung vào cơ sở lý thuyết về công bố thông tin. Hơn nữa, nghiên cứu công bố thông tin là nghiên cứu mang tính trừu tượng, phụ thuộc vào thời gian và địa điểm nghiên cứu [31]. Từ đó, việc nghiên cứu, thực trạng về mức độ công bố thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở giai đoạn hiện nay là rất cần thiết. Do đó, thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong BCTN của các công ty niêm yết trên HOSE” thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của luận án là tìm hiểu, đánh giá công bố thông tin trong báo cáo thường niên của công ty niêm yết. Cụ thể: + Đánh giá được mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết; + Nhận diện và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ công bố thông tin của các CTNY ở thời điểm này.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - -
VÕ THỊ THÙY TRANG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP HỒ CHÍ MINH (HOSE)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng, Năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BIỂU BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
LỜI CAM ĐOAN x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1 Sự cần thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa của nghiên cứu và những đóng góp của luận án 4
7 Bố cục của luận án 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 7
2.1 Khái niệm, mục đích và lợi ích của công bố thông tin 7
2.1.1 Khái niệm, mục đích của công bố thông tin 7
2.1.2 Lợi ích của công bố thông tin 9
2.2 Các lý thuyết có liên quan 12
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 12
2.2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (asymetric information) 14
2.2.3 Lý thuyết tín hiệu (signaling theory) 16
2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Propritary cost theory) 17
2.3 Hướng dẫn công bố thông tin trong báo cáo thường niên ở Việt Nam 18
2.3.1 Lịch sử hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 18
Trang 32.3.2 Hướng dẫn công bố thông tin theo Thông tư 52/2012/TT-BTC 21
2.3.3 Những thay đổi về công bố thông tin từ năm 2013 22
2.4 Tổng quan nghiên cứu 22
2.4.1 Xây dựng các chỉ mục công bố thông tin 23
2.4.2 Đo lường mức độ công bố thông tin 24
2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 25
2.4.4 Kết quả đạt được của các nghiên cứu trước đây 28
2.4.5 Khoảng trống từ các nghiên cứu trước đây 29
Kết luận chương 2 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 34
3.3 Phương pháp đo lường mức độ công bố thông tin 46
3.3.1 Xây dựng chỉ mục thông tin 47
3.3.2 Phương pháp đo lường chỉ mục công bố thông tin 49
3.4 Mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 51
3.4.1 Nhận diện và đo lường các biến độc lập 51
3.4.2 Mô hình hồi quy đa biến 55
3.5 Thu thập dữ liệu 56
3.6 Kỹ thuật phân tích 59
Kết luận chương 3 62
CHƯƠNG 4: MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN HOSE 63
4.1 Mức độ công bố thông tin chung 63
4.2 Mức độ công bố thông tin theo ngành 67
4.3 Mức độ công bố thông tin theo loại thông tin 68
4.3.1 Mức độ công bố thông tin theo nội dung công bố thông tin chung của doanh nghiệp 69
4.3.2 Mức độ công bố thông tin thuộc nội dung tình hình tài chính 70
Trang 44.3.3 Mức độ công bố thông tin thuộc nội dung quản trị công ty 73
4.3.4 Mức độ công bố thông tin thuộc nội dung tình hình đầu tư, thực hiện dự án 75
4.3.5 Mức độ công bố thông tin thuộc nội dung cơ cấu cổ đông, thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu 76
4.3.6 Mức độ công bố thông tin thuộc nội dung trách nhiệm xã hội 77
4.3.7 Mức độ công bố thông tin thuộc nội dung dự báo và kế hoạch phát triển79 4.4 Phân tích các chỉ mục có mức công bố thông tin thấp 81
4.5 Phân tích các chỉ mục có mức công bố thông tin cao 83
4.6 So sánh kết quả nghiên cứu theo hướng dẫn công bố thông tin 85
4.6.1 So sánh với nghiên cứu Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) 85
4.6.2 So sánh mức độ CBTT theo thông tư 155/2015/TT-BTC 86
Kết luận chương 4 88
CHƯƠNG 5: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BCTN 89
5.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 89
5.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin chung 93
5.2.1 Phân tích sự tương quan giữa các biến trong mô hình 93
5.2.2 Phân tích hồi quy đa biến 97
5.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin thành phần 102
5.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu 114
Kết luận chương 5 121
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 122
6.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 122
6.1.1 Mức độ công bố thông tin 125
6.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 126
6.2 Hàm ý 128
Nâng cao ý thức, trách nhiệm của doanh nghiệp về CBTT 128
Đối với nhà đầu tư hay người sử dụng thông tin báo cáo thường niên 132
Trang 5Đối với Nhà nước 132 6.3 Kết luận 133 Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu cho tương lai 137
Trang 6DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 28 Bảng 3.1 Bảng tổng hợp các chỉ mục thông tin công bố 49
Bảng 3.3 Mẫu nghiên cứu phân theo ngành kinh tế 59
Bảng 4.2 Mức độ công bố thông tin theo ngành 68
Bảng 4.3
Mức độ công bố thông tin theo nội dung công bố
Mức độ công bố thông tin thuộc nội dung tình hình
Trang 7Bảng 4.11 Các chỉ mục có mức độ công bố thông tin cao 84 Bảng 4.12 So sánh kết quả nghiên cứu mức độ CBTT với kết quả nghiên cứu Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) 85 Bảng 4.13 So sánh kết quả nghiên cứu mức độ CBTT năm 2013
Bảng 5.2 Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình 96 Bảng 5.3 Kết quả tóm tắt các chỉ số trong mô hình hồi quy 99
Bảng 5.6 Kết quả bảy mô hình hồi quy theo bảy loại thông tin công bố 105 Bảng 5.7 Tổng hợp kết quả bảy mô hình hồi quy 107 Bảng 5.8 Kết quả phân tích tám mô hình hồi quy 117 Bảng 5.9 Tổng hợp kết quả tám mô hình hồi quy 117
Bảng 5.10 Bảng đối chiếu kết quả nghiên cứu với các giả thuyết
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Sơ đồ 3.2 Quy trình đo lường mức độ CBTT trong BCTN 47
Mô hình 2 Biến phụ thuộc thành phần Mức độ công bố thông tin
Mô hình 3 Biến phụ thuộc thành phần Mức độ công bố thông tin
Mô hình 4 Biến phụ thuộc thành phần Mức độ công bố thông tin
Mô hình 5 Biến phụ thuộc thành phần Mức độ công bố thông tin
tình hình đầu tư thực hiện dự án (VnDI_4) 113
Mô hình 6 Biến phụ thuộc thành phần Mức độ công bố thông tin
cơ cấu cổ đông, đầu tư VCSH (VnDI_5) 114
Mô hình 7 Biến phụ thuộc thành phần Mức độ công bố thông tin
Mô hình 8 Biến phụ thuộc thành phần Mức độ công bố thông tin
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTN: Báo cáo thường niên
BCTC: Báo cáo tài chính
CBTT: Công bố thông tin
CTNY: Công ty niêm yết
CK: Chứng khoán
HĐQT: Hội đồng quản trị
HOSE: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
IFC: Tổ chức hợp tác tài chính quốc tế (International Finance Corporation)
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic operation and Development )
VnDI_2: Mức độ công bố thông tin thuộc thành phần tình hình tài chính
VnDI_3: Mức độ công bố thông tin thuộc thành phần quản trị công ty
VnDI_4: Mức độ công bố thông tin thuộc thành phần tình hình đầu tư và thực hiện
dự án
Trang 10VnDI_5: Mức độ công bố thông tin thuộc thành phần cơ cấu cổ đông, đầu tư vốn chủ sở hữu
VnDI_6: Mức độ công bố thông tin thuộc thành phần trách nhiệm xã hội
VnDI_7: Mức độ công bố thông tin thuộc thành phần dự báo và kế hoạch
Trang 11LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới
sự hướng dẫn người nghiên cứu khoa học
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được
ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, ngoại trừ một số kết quả được công bố trong các công trình khoa học của chính tác giả và người hướng dẫn Tất cả nội dung được kế thừa, tham khảo từ nguồn tài liệu khác đều được tác giả trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2019
Nghiên cứu sinh
Trang 12
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Sự cần thiết
Báo cáo thường niên là một phương tiện công bố thông tin của các công ty niên yết, theo sổ tay CBTT trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội thì: “Báo cáo thường niên là ấn phẩm thường niên cung cấp thông tin toàn diện về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty trong năm liền trước” [38] Do vậy, thông tin cung cấp trong báo cáo thường niên sẽ giúp cho các bên có liên quan đánh giá để đưa ra quyết định kinh tế Do vậy, công bố thông tin trong BCTN nhằm hướng tới tính minh bạch, công khai thông tin hữu ích cho Nhà đầu tư và cho quản lý Nhà nước[22] Thực tế, việc công bố thông tin trong BCTN theo các văn bản hướng dẫn chỉ gợi ý các đề mục, chưa hướng dẫn chuyên sâu về nội dung công bố, do vậy mức
độ công bố thông tin sẽ phụ thuộc vào tính tự nguyện của các công ty niêm yết [31]
Vì vậy, luận án được thực hiện xuất phát từ lý do thứ nhất đó là: tầm quan trọng của công bố thông tin nói chung và CBTT trong BCTN nói riêng đối với người sử dụng thông tin
Thứ hai, thực hiện luận án xuất phát từ lý do: sự thay đổi quy chế hướng dẫn CBTT của Nhà nước ảnh hưởng đến hành vi công bố thông tin của các công ty niêm yết Thực vậy, vấn đề công bố thông tin được các tác giả trên thế giới bắt đầu nghiên cứu ở đầu thập niên những năm 70 và phát triển mạnh mẽ ở thập niên những năm 90 Các nhà nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau đã thực hiện nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau như Mỹ, Anh, Nhật, UK,[24]… và ở nhiều thời điểm khác nhau Ở Việt Nam chủ đề này mới được quan tâm trong những năm gần đây Cụ thể, để minh bạch thông tin, Bộ Tài chính đã xây dựng và ban hành thông
tư hướng dẫn về công bố thông tin của công ty niêm yết từ năm 2007 (Thông tư số 38/2007/TT-BTC) Ba năm sau đó, Bộ Tài chính ban hành thông tư mới thay thế (Thông tư số 09/2010/TT-BTC) nhằm mục đích tăng cường công bố thông tin của các công ty Ở giai đoạn này, có một số nghiên cứu về công bố thông tin của các công ty niêm yết như nghiên cứu Kelly Bao Anh Huynh Vu (năm 2012), nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013), nghiên cứu của Lê Thị Trúc Loan
Trang 13(2012) Đến năm 2012, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư hướng dẫn về công bố thông tin (Thông tư 52/2012/TT-BTC, ngày 05/4/2012) thay thế cho Thông tư 38/2007/TT-BTC, và đến năm 2015, Bộ tài chính đã ban hành thông tin 155/2015/TT-BTC về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Sự thay đổi về quy chế CBTT liệu có ảnh hưởng ít nhiều đến hành vi công bố thông tin của các công ty, để trả lời cần phải được xem xét và đánh giá sự phù hợp đối với công bố thông tin của các công ty niêm yết
Thứ ba, đánh giá mức độ công bố thông tin và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở mỗi nghiên cứu có sự khác nhau do địa điểm nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và mẫu nghiên cứu khác nhau Nên nghiên cứu thực nghiệm mỗi giai đoạn là cần thiết nhằm giải thích hiện tượng và tiến triển về công bố thông tin trong mỗi giai đoạn, qua đó bổ sung vào cơ sở lý thuyết về công
bố thông tin Hơn nữa, nghiên cứu công bố thông tin là nghiên cứu mang tính trừu tượng, phụ thuộc vào thời gian và địa điểm nghiên cứu [31] Từ đó, việc nghiên cứu, thực trạng về mức độ công bố thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở giai đoạn hiện nay là rất cần thiết
Do đó, thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin trong BCTN của các công ty niêm yết trên HOSE” thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận án là tìm hiểu, đánh giá công bố thông tin trong báo cáo thường niên của công ty niêm yết Cụ thể:
+ Đánh giá được mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết;
+ Nhận diện và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ công
bố thông tin của các CTNY ở thời điểm này
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi cần giải đáp trong luận án là:
Trang 14(1) Thực trạng mức độ công bố thông tin trong BCTN của các công ty niêm yết ngay sau thời điểm ban hành thông tư hướng dẫn công bố thông tin theo thông tư 52/2012/TT-BTC như thế nào ?
(2) Nhận diện và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết ?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết Công bố thông tin được đánh giá theo hai khía cạnh: i) Mức độ công bố thông tin, và ii) các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, luận án đánh giá công bố thông tin trong báo cáo thường niên, gồm tất các loại thông tin định tính, định lượng; bắt buộc và tự nguyện Trong đó, nhấn mạnh đến thông tin tự nguyện Đánh giá công bố thông tin bắt buộc chỉ xem xét những mục tin lớn theo gợi ý của Quy chế về hướng dẫn CBTT trong khi thông tin tự nguyện là các nội dung thông tin trong các mục tin này Báo cáo thường niên năm 2013 được lựa chọn do đó là năm đầu tiên sau khi có hướng dẫn CBTT áp dụng cho công ty niêm yết (TT 52/2012/TT-BTC) Bên cạnh đó, nhằm đánh giá sự thay đổi về mức độ CBTT của các công ty theo thời gian, phân tích so sánh bổ sung giữa năm 2013 với năm 2017 của 10% công ty trong mẫu được thực hiện Việc chỉ chọn 10% số công ty trong mẫu để so sánh là nhằm đánh giá tính đại diện, và do giới hạn về thời gian và khối lượng công việc không cho phép so sánh cho toàn bộ
số công ty trong mẫu
Về thời gian, luận án chỉ đánh giá CBTT trong báo cáo thường niên của các công ty ở thời điểm năm 2013 sau khi có hướng dẫn công bố thông tin của các công
ty niêm yết (năm 2012), và 10% dữ liệu nghiên cứu, 26 BCTN năm 2017 của 26 công ty có mức độ CBTT cao ở năm 2013 Nhiều nghiên cứu trên thế giới đều xem
Trang 15xét CBTT trong một năm như nghiên cứu của Chow, C.W and Wong-Boren, A (1987), nghiên cứu của Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) và rất nhiều nghiên cứu trong thời gian gần đây[24]
Về không gian, do giới hạn về thời gian và khối lượng công việc xử lý các chỉ mục công bố thông tin bằng thủ công mất nhiều thời gian nên nghiên cứu chỉ giới hạn ở các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, không bao gồm các ngân hàng và các công ty tài chính Sở giao dịch chứng khoán
TP HCM có tính đại diện cao cho thị trường chứng khoán Việt Nam, do phần lớn các công ty lớn đều niêm yết ở đây, và đây cũng là thị trường có quy mô lớn hơn so với Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Từ đó lựa chọn các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM có thể có tính đại diện cao cho kết quả nghiên cứu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng, để đánh giá (1) Định lượng và đánh giá mức độ công bố thông tin; và (2) Định lượng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên
sở giao dịch chứng khoán TPHCM, qua mô hình hồi quy đa biến OLS
Cụ thể, định lượng và đánh giá mức độ công bố thông tin trong BCTN của các CTNY trên HOSE bằng phương pháp tự đo lường, định lượng theo phương pháp không có trọng số
Định lượng và phân tích cách yếu tố ảnh hưởng bằng cách dựa vào các lý thuyết và các bằng chứng khoa học, các giả thuyết được xây dựng Mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin được thiết lập để kiểm định dữ liệu thu thập Các kỹ phân tích như thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa biến được vận dụng để tìm kiếm bằng chứng về các yếu tố giải thích mức độ công bố thông tin
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu và những đóng góp của luận án
1.6.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 16Nghiên cứu này đánh giá công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán sau thời điểm có sự thay đổi về quy chế hướng dẫn CBTT của Nhà nước Trên gốc độ này, kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về công bố thông tin của các công ty có liên quan đến sự quản lý của nhà nước; qua đó
bổ sung vào cơ sở lý thuyết về công bố thông tin về hành vi công bố thông tin của các công ty dưới ảnh hưởng của các quy định có tính hướng dẫn của Nhà nước Điều này khác biệt ít nhiều so với các nghiên cứu ở nước ngoài trước đây: nhấn mạnh đánh giá công bố thông tin của các công ty dưới áp lực của thị trường
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Do mục tiêu nghiên cứu của luận án không phải đánh giá công bố thông tin của các công ty dưới áp lực và dẫn dắt của thị trường mà là xem xét liệu thay đổi về quy chế CBTT có ảnh hưởng đến hành vi CBTT của các công ty nên tính thực tiễn của luận án chỉ ở giới hạn nhất định Theo đó, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho quản lý nhà nước xem xét đánh giá tính hữu hiệu của cơ chế quản lý CBTT thông qua ban hành quy chế CBTT Kết quả nghiên cứu cũng cung cấp tài liệu về công bố thông tin của công ty trong một giai đoạn lịch sử nhất định giúp cho đào tạo sau đại học về chủ đề này
1.7 Bố cục của luận án
Kết cấu của luận án bao gồm các phần sau:
Chương 1: Giới thiệu
Trong phần này, luận án nêu rõ tính cấp thiết của luận án, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của luận án, bố cục của luận án
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin
Chương này trình bày một số khái, thuật ngữ, lợi ích của công bố thông tin,
lý thuyết giải thích công bố thông tin và tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và thế giới
Trang 17Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu, kỹ thuật thu thập và phân tích
dữ liệu Luận án cũng đã tổng quan các nghiên cứu sử dụng đến phương pháp nghiên cứu được lựa chọn trong luận án, để từ đó cho thấy sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu của luận án là phù hợp
Chương 4: Mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên HOSE
Chương này trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu theo nội dung thứ nhất đã được đặt ra, đó là: Mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TPHCM Kết quả nghiên cứu của chương này cũng nhằm mục đích trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ 1 của luận án và làm căn cứ để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở chương tiếp theo
Chương 5: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Chương này trình bày kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty trong mẫu nghiên cứu Nội dung đầu tiên của chương trình bày kết quả phân tích mô tả các biến độc lập, nội dung tiếp theo phân tích điều kiện và các yếu tố của mô hình hồi quy OLS các yếu tố ảnh hưởng và cuối cùng là kết luận chương
Chương 6: Kết luận và hàm ý
Chương này luận án đã đưa ra những nhận xét chung và trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở chương 4 và chương 5 đề xuất một số kiến nghị đối với đối tượng lập,
sử dụng và quản lý báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên HOSE Từ
đó, cũng nêu lên hạn chế của luận án và hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
Để làm cơ sở cho việc giải thích kết quả công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM, chương này trình bày khái niệm, mục đích và lợi ích của công bố thông tin, các lý thuyết giải thích và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin Từ đó, tìm ra các khe trống trong nghiên cứu Góp phần quan trọng cho việc giải thích và bàn luận kết quả nghiên cứu ở các chương sau
2.1 Khái niệm, mục đích và lợi ích của công bố thông tin
2.1.1 Khái niệm, mục đích của công bố thông tin
Thị trường chứng khoán là một thể chế tài chính cao cấp của nền kinh tế thị trường [40] Khi tham gia vào TTCK đòi hỏi các định chế, tổ chức hoặc cá nhân nhà đầu tư đều dựa trên nguyên tắc và cơ sở lòng tin Điều này do hoạt động của thị trường chủ yếu dựa vào những đánh giá, nhận định về sự phát triển, triển vọng của các chứng khoán trong tương lai Nói cách khác, thông tin là cơ sở cho hoạt động và
sự phát triển của TTCK, là yếu tố để nhà đầu tư dựa vào và định giá chứng khoán khi thực hiện đầu tư[22]
Công bố thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK Nguyên tắc công bố thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết, nghĩa là phải thực hiện công bố thông tin[40] Nói cách khác, công bố thông tin là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết, các thông tin về tình hình thị trường Thông thường, các thông tin này phải được thực hiện theo các chuẩn mực, tiêu chuẩn chung để đảm bảo tính kịp thời, dễ hiểu và chính xác Công bố thông tin được tiến hành theo các chế độ thường xuyên, liên tục, định
Trang 19kỳ hoặc đột xuất thông qua các phương tiện công bố thông tin sao cho đạt hiệu quả nhất[22] Nguyên tắc này nhằm bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời nó cũng có hàm nghĩa rằng, một khi thông tin đã được cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác, người đầu
tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình [40]
Để phân biệt, thông thường người ta sử dụng khái niệm công bố thông tin của tổ chức niêm yết để chỉ nghĩa vụ cung cấp các thông tin liên quan của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và khái niệm thông tin thị trường để chỉ các thông tin liên quan đến tình hình thị trường thường do Sở Giao dịch chứng khoán chịu trách nhiệm công bố Ngoài ra, các thành phần tham gia vào hoạt động của thị trường như công ty chứng khoán, Ủy ban chứng khoán, phương tiện truyền thông cũng cực kỳ quan trọng Nói tóm lại, thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động
và phát triển của TTCK và công khai thông tin, chính là nghĩa vụ của các bên đóng góp vào sự phát triển của thị trường [40]
Theo “sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết” dành cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, công bố thông tin là
“Phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và kịp thời” [38]
Theo nguyên tắc quản trị công ty của OECD thì: “Khuôn khổ quản trị công
ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty”[4] Theo đó, việc công bố thông tin được định nghĩa như
là một cách thức để đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đều có thể tiếp cận thông tin thông qua một quy trình minh bạch để đảm bảo cho việc tìm kiếm và thu thập thông tin được dễ dàng, bất kể mục đích tiếp cận thông tin là gì [40] Dựa vào tính pháp lý, công bố thông tin bao gồm hai loại: công bố bắt buộc và công bố tự nguyện Công bố bắt buộc (mandatory disclosure) là những thông tin phải công bố theo quy định của các văn bản có tính pháp lý ở mỗi quốc gia Công bố tự nguyện
Trang 20(voluntary disclosure) là công bố thông tin theo cách tự nguyện của công ty, không
có tính bắt buộc Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin mà luật pháp không yêu cầu, nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như nhà đầu tư, nhà phân tích tài chính,
….Ngày nay, công bố thông tin tự nguyện thu hút mối quan tâm lớn của người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó, và các công ty ngày càng được khuyến cáo
là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin[31]
Việc công bố thông tin đôi khi bị nhầm lẫn với tính minh bạch Đáng tiếc là hai khái niệm này thường bị sử dụng thay thế cho nhau một cách nhầm lẫn Dù mới nhìn qua thì việc công bố thông tin và tính minh bạch có vẻ là một, nhưng thực tế
đó là hai khái niệm khác nhau [40] Công ty có thể công bố một lượng lớn thông tin không có giá trị đối với những người sử dụng các thông tin được công bố đó Những thông tin quan trọng có thể bị che đậy Thông tin được công bố có thể không thích hợp, hoặc tệ hơn, bị bóp méo để che đậy tình hình thực tế của công ty Chẳng hạn, dù công ty có thể công bố cơ cấu sở hữu của mình theo yêu cầu của luật pháp, những chủ sở hữu thực sự và mức độ kiểm soát của họ vẫn có thể bị che giấu sau những cơ cấu pháp lý phức tạp như những pháp nhân phục vụ các mục đích đặc biệt, các công ty mẹ ở nước ngoài và các tập đoàn[22] Một chế độ công bố thông tin hiệu quả khuyến khích sự minh bạch chính là đặc trưng cơ bản trong công tác giám sát thị trường của các cơ quan quản lý và đóng vai trò trung tâm trong việc giúp các cổ đông thực thi quyền sở hữu của mình trên cơ sở có đầy đủ thông tin[40]
2.1.2 Lợi ích của công bố thông tin
Thông tin là một yếu tố quan trọng trong hoạt động cũng như sự phát triển của TTCK Không có một thị trường nào, tầm quan trọng của thông tin đạt đến mức
độ như TTCK Trên loại hình thị trường này, nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán không những chỉ quan tâm đến các thông tin về tình hình của chính bản thân tổ chức niêm yết, tình hình giao dịch trên thị trường mà còn cả những thông tin ngành,
Trang 21thông tin tình hình kinh tế - xã hội, pháp luật, chính trị, đối ngoại[31].… Thông tin không những có tác động đến đối tượng đầu tư trên TTCK mà còn ảnh hưởng trở lại đến đối tượng thực hiện công bố thông tin (tổ chức niêm yết) và cơ quan quản lý thị trường (Ủy ban chứng khoán hay Sở giao dịch)[40]
Chính vì vậy, vấn đề công khai thông tin quyết định sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán Một TTCK mà thông tin không được công khai hay thiếu minh bạch sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng mất lòng tin từ nhà đầu tư [40]. Việc thực hiện công bố thông tin đóng góp không nhỏ cho mục tiêu phát triển thị trường[3] Do vậy, việc xây dựng và thiết lập một hệ thống phục vụ hoạt động công bố thông tin trên TTCK là một trong những khâu quan trọng của việc hình thành thị trường Hệ thống công bố thông tin trong sự vận hành của TTCK đóng vai trò như chiếc cầu nối về thông tin giữa các tổ chức phát hành với công chúng đầu
tư, giúp nhà đầu tư đề ra và thực hiện các quyết sách đầu tư của chính mình [31]
Đối với nhà đầu tư, thông tin chính là cơ sở hình thành nên quyết định đầu
tư Từ những thông tin đa dạng thu thập được trên thị trường, nhà đầu tư bắt buộc phải có sự theo dõi, nhận định và phân tích thông tin để đi đến quyết định đầu tư của riêng mình Một thị trường với hệ thống công bố thông tin từ tổ chức niêm yết được tổ chức chặt chẽ và hiệu quả sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu
tư nước ngoài Điều này cho thấy, hệ thống công bố thông tin từ tổ chức niêm yết
và thông tin thị trường từ Sở giao dịch là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tính cạnh tranh của thị trường
Mặt khác, việc công bố thông tin chính xác và kịp thời có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các cổ đông, các nhà đầu tư tiềm năng, các cơ quan pháp luật và các bên có quyền lợi liên quan khác Việc tiếp cận các thông tin trọng yếu giúp các cổ đông bảo vệ quyền lợi của mình và giúp các đối tượng tham gia thị trường cải thiện khả năng đưa ra những quyết định kinh tế hợp lý hơn Việc công bố thông tin cho phép đánh giá và giám sát các hoạt động của Ban giám đốc điều hành, đồng thời buộc Ban giám đốc phải có trách nhiệm giải trình trước công ty và các cổ đông
Trang 22Việc công bố thông tin sẽ đem lại lợi ích cho công ty vì điều đó cho phép công ty thể hiện trách nhiệm giải trình của mình trước các cổ đông, hành động một cách minh bạch đối với các thị trường và duy trì niềm tin của công chúng Các chính sách công
bố thông tin hiệu quả cũng sẽ góp phần giảm thiểu chi phí vốn Cuối cùng, việc công
bố thông tin cũng sẽ giúp các chủ nợ, nhà cung cấp, khách hàng và người lao động đánh giá vị trí của mình, thích ứng với những thay đổi và định hình các mối quan hệ của họ với công ty [31]
Như vậy, sự phát triển của TTCK phụ thuộc rất lớn vào yếu tố thông tin và vấn đề tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin của các đối tượng liên quan Một thị trường thông tin “yếu” chắc chắn không thể là một thị trường phát triển lành mạnh Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc công bố thông tin trên TTCK
Đối với tổ chức niêm yết, việc công bố thông tin một cách chính xác, đầy đủ
và kịp thời về tình hình hoạt động của công ty sẽ giúp cho nhà đầu tư có những thông tin cần thiết cho các quyết định đầu tư của mình Các thông tin được cung cấp theo nguyên tắc trên sẽ giúp bảo vệ nhà đầu tư, duy trì một thị trường công bằng và trật tự[4]..
Thông qua hoạt động công bố thông tin, các cơ quan quản lý và điều hành thị trường có thể đảm bảo được tính công khai, công bằng và hiệu quả các hoạt động giao dịch Ngoài ra, thông qua các tác động của thị trường các tổ chức niêm yết buộc phải nâng cao trách nhiệm và hoạt động của mình [31]
Ở nhiều nước trên thế giới, công bố thông tin đã trở thành một thứ văn hóa kinh doanh vì cổ đông và những người có quyền lợi liên quan đến công ty cần được thông tin kịp thời và chính xác về tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh
và tình hình quản lý, điều hành công ty Những thông tin này phải đáng tin cậy và được phổ biến rộng rãi cho công chúng một cách kịp thời và nhanh chóng Đó là điều kiện để những người sử dụng thông tin ra quyết định đúng đắn về công ty, trong đó có việc mua, bán chứng khoán TTCK là nơi thực hiện việc xã hội hóa đầu
tư, qua đó thể hiện sự đánh giá của xã hội đối với giá trị công ty, nên chất lượng
Trang 23công bố thông tin sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành giá cả chứng khoán một cách chính xác hay lệch lạc [22]
Từ đó, có thể thấy rằng, thông tin càng nhanh nhạy, chính xác càng thúc đẩy TTCK hoạt động có hiệu quả, giảm thiểu rủi ro do sự sai lệch thông tin gây nên Chính vì tầm quan trọng đó, hiện nay, hầu hết các TTCK trên thế giới đều chú trọng đến hoạt động công bố thông tin thị trường Ngoài việc xây dựng các chuẩn mực trong hoạt động công bố thông tin, đưa ra hàng loạt các dữ liệu thống kê, các chỉ số quan trọng và phân chia theo nhiều tiêu thức phục vụ nhiều nhóm người sử dụng khác nhau, mỗi TTCK đều có một hệ thống CBTT thị trường tương xứng đi kèm
Hệ thống thông tin thị trường hữu hiệu phải đảm bảo việc cung cấp thông tin công bằng và hiệu quả cho người đầu tư, đáp ứng nhu cầu thông tin cho toàn thị trường
và phải phù hợp với đặc trưng của từng giai đoạn phát triển cụ thể của TTCK nói riêng cũng như của toàn bộ nền kinh tế nói chung [4]
Do vậy, công bố thông tin đóng vai trò quan trọng và mang lại lợi ích đáng kể cho công ty, tuy nhiên thông tin tài chính và hoạt động của công ty rất nhạy cảm và
do vậy việc CBTT được các công ty chú ý và công bố thận trọng, đặc biệt là những thông tin tự nguyện [31]
2.2 Các lý thuyết có liên quan
Như đã đề cập trong phần 2.1.2, công bố thông tin mang lại giá trị cho doanh nghiệp Việc công bố thông tin nhiều hay ít của các công ty có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau Để giải thích cho hiện tượng này, các nhà nghiên cứu thường dựa vào các lý thuyết kinh tế và quản trị Nội dung sau đây sẽ trình bày tóm lược việc vận dụng các lý thuyết có liên quan để giải thích mức độ công bố thông tin của các công ty
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện (Agency theory) có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế đã được phát triển bởi Alchian và Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976[11] Theo lý thuyết đại diện, quản trị công ty được
Trang 24định nghĩa là mối quan hệ giữa những người đứng đầu với các cổ đông Trong lý thuyết này, các cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là người đứng đầu công ty, thuê những người khác thực hiện công việc, ủy quyền hoạt động của công ty cho các giám đốc hoặc những người quản lý, họ là các đại diện cho các cổ đông[11]
Vai trò đại diện của HĐQT với chức năng quản lý trong việc phục vụ các cổ đông thông qua việc phê chuẩn các quyết định của các nhà quản lý và giám sát việc thực hiện những quyết định này Vai trò này được trình bày trong rất nhiều nghiên cứu (Baysinger & Butler, 1985; Baysinger & Hoskisson, 1990; Daily & Dalton, 1994; Fama & Jensen, 1983; Lorsch & MacIver, 1989) Có rất nhiều nghiên cứu đã kiểm định nhân tố cấu trúc HĐQT với chức năng quản lý và giám sát (Barnhart, Marr & Rosenstein, 1994; Bhagat & Black, 1998; Daily & Dalton, 1994; Gales & Kesner, 1994; Kiel & Nicholson, 2003; Pearce & Zahra, 1992), kết quả cho thấy trách nhiệm đầu tiên của HĐQT theo lý thuyết đại diện là hướng tới cổ đông để đảm bảo tối đa hóa lợi ích cổ đông [22]
Trọng tâm của lý thuyết đại diện trên mối quan hệ giữa ông chủ và người đại diện (ví dụ là cổ đông và nhà quản lý công ty) đã tạo ra sự bất ổn do sự bất đối xứng
về thông tin khác nhau [19] Sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý có thể dẫn tới các nhà quản lý của công ty hành động không vì lợi ích của cổ đông, do kĩ năng và kiến thức chuyên biệt của họ về công ty Điều này sẽ đem lại lợi ích cho các nhà quản lý
mà không phải các chủ sở hữu, vì vậy một cơ chế giám sát được thiết kế để bảo vệ lợi ích cổ đông[28] Cơ chế giám sát nhấn mạnh tới vai trò của kế toán trong việc giảm chi phí đại diện trong một tổ chức, bởi vì nếu một nhà quản lý được tặng thưởng vì đóng góp của họ, ví dụ như lợi nhuận tài chính, họ sẽ nỗ lực tăng lợi nhuận, điều mà sẽ dẫn đến tăng phần thưởng hoặc đãi ngộ thông qua việc lựa chọn một phương pháp kế toán nhất định [11]
Xuất phát từ những lập luận trên, vấn đề đại diện chính là làm thế nào để khiến đại diện hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông Điều này dẫn đến phát sinh chi phí đại diện như chí phí giám sát [18] Jensen và Meckling (1976) định nghĩa chi phí đại diện là tổng chi phí giám sát để hạn chế những hoạt động khác thường
Trang 25của đại diện, chi phí cam kết bởi đại diện để đảm bảo những hành động nhất định của đại diện sẽ không làm tổn hại đến cổ đông hoặc đảm bảo cổ đông được bồi thường nếu những hành động đó xảy ra Tuy nhiên, vấn đề đại diện phụ thuộc vào tính chất sở hữu của mỗi quốc gia[11] Trong những nước mà cấu trúc sở hữu phân tán, nếu nhà đầu tư không đồng ý với nhà quản lý hoặc thất vọng với kết quả hoạt động của công ty thì họ sẽ lựa chọn rút lui, thể hiện thông qua việc giảm giá cổ phiếu Trong khi đó những nước với cấu trúc sở hữu tập trung và những cổ đông lớn chiếm ưu thế lớn thì lại có xu hướng kiểm soát nhà quản lý và lấn át cổ đông nhỏ lẻ
để đạt được lợi ích kiểm soát cá nhân [19]
Lý thuyết đại diện giải thích việc các công ty công bố thông tin nhiều hay ít
là do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý[31] Sở dĩ có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý của công ty là do tách rời trách nhiệm gánh chịu rủi ro và quyền quản lý, điều hành của doanh nghiệp [33] Theo đó, nhà quản
lý là người nắm giữ thông tin và dễ dàng tiếp cận và là đó là động lực để CBTT tự nguyện, giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa công ty (cổ đông) và nhà quản lý doanh nghiệp [22] Tóm lại, việc công bố thông tin nhiều hay ít theo lý thuyết đại diện là có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý[22] Theo đó, yếu tố quy
mô HĐQT và HĐQT độc lập không điều hành có ảnh hưởng đến mức độ CBTT
2.2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (asymetric information)
Trong hơn hai thập kỷ qua, lý thuyết về các thị trường với thông tin bất cân xứng (asymetric information) đã và đang trở thành một lĩnh vực quan trọng và sống động trong nghiên cứu kinh tế Ngày nay, các mô hình với thông tin không hoàn hảo (imperfect information) là những công cụ không thể thiếu của các nhà kinh tế
Mô hình này có phạm vi ứng dụng rất rộng rãi Nền tảng của lý thuyết này được thiết lập vào những năm 1970 do công lao của ba nhà kinh tế: George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz – những người được nhận giải Nobel về kinh tế năm 2001 nhờ “những phân tích về các thị trường với thông tin bất cân xứng” [18]
Thông tin bất cân xứng có thể được hiểu theo nhiều hướng khác nhau, tuy nhiên cũng có những đặc điểm như sau: (1) Có sự khác biệt về thông tin giữa các
Trang 26bên tham gia giao dịch; (2) Một trong hai bên có thông tin chính xác hơn; (3) Có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa 2 bên[18] Trên TTCK, thông tin bất cân xứng làm cho nhà đầu tư đối mặt với những cơ hội và rủi ro khác nhau trong việc đưa ra quyết định lựa chọn Nhưng, một môi trường đầu tư minh bạch là phải làm sao hạn chế sự khác biệt này ? Các quy định pháp luật phải buộc các bên tham gia thị trường công khai và minh bạch thông tin[31]
Cùng với lý thuyết đại diện, lý thuyết thông tin bất cân xứng đóng vai trò quan trọng và là vấn đề trung tâm của tài chính công ty và công bố thông tin, nhằm giảm thiểu thông tin bất cân xứng xảy ra cho nhà đầu tư Thông tin bất cân xứng xảy ra khi có một nhóm thành viên có thông tin nhiều và tốt hơn nhóm khác Xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và nhà đầu tư có thể dẫn đến phân bổ tối ưu các nguồn lực trong công ty[22]
Trong hoạt động của TTCK, thông tin bất cân xứng xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy các thông tin liên quan, dẫn đến tình trạng lựa chọn bất lợi Khi đó, người mua (các nhà đầu tư) không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời, hay rơi vào tình trạng lựa chọn bất lợi Họ thường trả giá thấp hoặc cao hơn giá trị đích thực của chứng khoán Do đó, những công ty có cổ phiếu tốt cũng không còn động lực để làm tăng giá trị của chứng khoán[18] Trên thị trường chỉ còn lại những chứng khoán chất lượng xấu, hay còn gọi là những “trái chanh” bỏ
đi, hàng tốt bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi cho cả hai bên Hiện tượng lựa chọn bất lợi đã cản trở các giao dịch phát triển theo chiều hướng hai bên cùng có lợi Khi các nhà quản lý của công ty hành động vì lợi ích ngắn hạn của mình, cố tình che đậy hoặc trì hoãn việc công bố thông tin ra bên ngoài, các nhà đầu tư sẽ chịu bất lợi[11] Trong tình trạng thông tin bất cân xứng, nhà đầu tư chỉ có thể trả một mức giá là mức giá trung bình cho cả chứng khoán tốt và chứng khoán xấu Như vậy, ở địa vị những doanh nghiệp có mã chứng khoán tốt, họ sẽ không bao giờ chấp nhận mức giá như vậy bởi vì họ cho rằng giá trị chứng khoán của họ là cao hơn Nếu tình trạng này thường xuyên xảy ra, nhà đầu tư rơi vào thế lựa chọn bất lợi Trên thị
Trang 27trường sẽ tồn tại những mã chứng khoán xấu, có giá trị thấp hơn giá mà các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng trả Do đó, TTCK có nguy cơ sụp đổ[11]
Thông tin bất cân xứng được đánh giá cao hiện nay trong quá trình lập kế hoạch ngân sách như: lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các mục tiêu kinh doanh Quá trình lập ngân sách với sự tham gia thông tin bất cân xứng, cũng liên quan đến các biến số khác, đã được nghiên cứu bởi Milani (1975), Shields và Young (1993), Dunk (1993), Shields và Shields (1998), Fisher, Frederickson và Peffer (2002) Tân
et al (2003), Kyj và Parker (2008), Zainuddin et al (2008), Silva (2009) Hendriksen và Văn Breda (1999) nhấn mạnh rằng có thông tin bất cân xứng khi không phải tất cả các điều kiện được biết đến cho cả hai bên, và do đó, hậu quả nhất định không được coi là của họ[22]
Thông tin bất cân xứng cũng có thể diễn ra giữa các trung gian tài chính khác với các nhà đầu tư Ví dụ, giữa công ty chứng khoán, các công ty kiểm toán, công ty xếp hạng tín nhiệm, phân tích tài chính với nhà đầu tư, khi các trung gian này có nhiều thông tin về doanh nghiệp hơn và cố tình che giấu nhà đầu tư nhằm kiếm lợi cá nhân Kết quả là các nhà đầu tư không có thông tin sẽ rơi vào lựa chọn bất lợi khi ra các quyết định đầu tư trên thị trường[11]
2.2.3 Lý thuyết tín hiệu (signaling theory)
Lý thuyết tín hiệu được ra đời vào đầu những năm 1970, dựa trên hai đóng góp nghiên cứu chính: Arrow (1972) và Spence (1973) Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng việc công bố thông tin tự nguyện là một phương tiện cho các tổ chức để phân biệt mình với người khác về tính hiệu suất và chất lượng[27] Việc sử dụng hiệu suất cao và kiểm toán viên lớn được coi là yếu tố thúc đẩy cho các loại hình công bố thông tin [24] Vì vậy, bằng cách kiểm tra xem có mối quan hệ giữa các loại hình kiểm toán viên và hiệu suất công ty (bao gồm lợi nhuận và đòn bẩy tài chính) và mức độ công bố thông tin của công ty[11]
Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có hiệu suất cao hơn sử dụng thông tin tài chính như một công cụ để truyền tín hiệu đến thị trường [27] Ross
Trang 28(1977) cho rằng, tỷ số nợ có thể được coi như là một cách chỉ ra các công ty tốt từ cái xấu là Nợ Hơn nữa, theo Oyeler et al (2003), các nhà quản lý của các công ty
có lợi nhuận cao làm tăng mức độ công bố thông tin của công ty, nhằm báo hiệu cho cổ đông và công bố thông tin ra thị trường, qua đó nhằm tăng mức độ cạnh tranh cũng như thu hút quan tâm của nhà đầu tư [36]
2.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Propritary cost theory)
Chi phí sở hữu giải thích động lực cho các nhà quản lý không công bố một số thông tin tự nguyện [35] Lý thuyết này cho rằng các nhà quản lý có thể không muốn công bố thêm thông tin nếu việc công bố thông tin sở hữu có thể ảnh hưởng đến công ty [11] Lý thuyết chi phí sở hữu đã được sử dụng để giải thích công bố thông tin giảm thiểu do tính chất sở hữu và độ nhạy của các thông tin này so với các thông tin khác như báo cáo lưu chuyển tiền tệ [33] Depoers và Jeanjean (2010) nghiên cứu tần số của hành vi công khai tài chính, cho thấy mức độ và hành vi của đối thủ cạnh tranh có thể giải thích việc công bố và không công bố thông tin tài chính[22]
Chi phí chủ sở hữu được xem xét như một rào cản đối với việc công bố thông tin Những bất lợi của cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư của công ty Nhiều nhà nghiên cứu giả thuyết rằng việc công bố thông tin nhiều hơn cho nhà đầu tư có thể làm tổn hại đến vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường Những nghiên cứu này cho rằng các công ty được khuyến khích không công bố nhiều thông tin để làm giảm vị thế cạnh tranh của họ, mặc dù chi phí huy động vốn có thể cao hơn [22]
Ở khía cạnh khác, công bố nhiều thông tin làm tăng gánh nặng chi phí cho công ty (chủ sở hữu là người gánh chịu cho chi phí này) Do đó, chi phí lập và công
bố thông tin cũng là một rào cản đối với công ty niêm yết Đối với công ty lớn, gánh nặng chi phí này họ có thể chịu đựng được nhưng đối với những công ty nhỏ, đây là một yếu tố có ảnh hưởng đáng kể [37]
Trang 29Theo tác giả Trần Ngọc Thơ (2015), sử dụng lý thuyết chi phí sở hữu để giải thích lý do vì sao luôn có những sai lệch giữa các thông tin rủi ro trong nội bộ và các thông tin rủi ro công bố chính thức ra công chúng Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tìm thấy những bằng chứng thực nghiệm về chi phí sở hữu như là một trong những nhân tố quan trọng nhất khi công ty công bố các thông tin rủi ro trên báo cáo tài chính[54] Gần đây, một số nhà kinh tế mở rộng thêm lý thuyết chi phí sở hữu thông tin Theo đó, quyết định công bố thông tin còn được xem như là một hàm số của các chi phí hệ lụy (Consequential Costs) Trước hết, công ty sẽ gánh chịu chi phí do dòng tiền tương lai sụt giảm từ việc công bố một thông tin cụ thể nào đó, nhưng sau đó có khả năng gia tăng trở lại theo nhiều cách khác nhau[54]
2.3 Hướng dẫn công bố thông tin trong báo cáo thường niên ở Việt Nam 2.3.1 Lịch sử hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường, pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung và pháp luật về CBTT trên TTCK nói riêng đã có nhiều thay đổi
Đầu tiên là Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về chứng khoán và TTCK, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK được quy định rải rác tại các chương, điều khác nhau Đến Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ thay thế Nghị định số 48/1998/NĐ-CP đã có một Chương riêng (Chương VI từ Điều 51 đến Điều 64) quy định về nghĩa vụ CBTT cụ thể cho từng đối tượng tham gia thị trường Để thi hành Nghị định số 144/2003/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 57/2004/TT- BTC ngày 17/06/2004 hướng dẫn việc CBTT trên TTCK Thông tư này đã tác động mạnh mẽ đến việc thực thi nghĩa vụ CBTT, nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia thị trường về nghĩa vụ cung cấp và được biết thông tin; đồng thời cũng góp phần vào việc phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT[25]
Trang 30Ngày 29/6/2006, Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 được Quốc Hội khóa
XI thông qua, góp phần hoàn chỉnh thể chế pháp luật nói chung và TTCK nói riêng Đối với vấn đề CBTT, Luật chứng khoán năm 2006 đã tạo nên một bước tiến vượt bậc trong việc nâng cao tính minh bạch của thị trường và đã dành một chương riêng (Chương VIII) quy định về CBTT
Để cụ thể hóa các quy định về CBTT tại Luật Chứng khoán năm 2006, ngày 18/4/2007 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 38/2007/TT-BTC hướng dẫn về việc CBTT trên TTCK Tuy nhiên, trong giai đoạn này TTCK Việt Nam có sự thay đổi và phát triển đột biến cả về quy mô và chủng loại hàng hóa từ làn sóng niêm yết, do đó dẫn đến khó khăn trong việc kiểm soát hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường và đòi hỏi phải thay đổi hệ thống CBTT trên TTCK Sự ra đời của Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc CBTT trên TTCK (sau đây gọi tắt là Thông tư 09/2010/TT-BTC) thay thế Thông tư 38/2007/TT-BTC Thông tư 09/2010/TT-BTC đã bổ sung thêm đối tượng CBTT là
“tổ chức đăng ký giao dịch” và bước đầu yêu cầu các tổ chức này CBTT, đồng thời yêu cầu công ty đại chúng phải lập website với đầy đủ các chuyên mục về quan hệ
cổ đông, trong đó phải có Điều lệ công ty, quy chế quản trị nội bộ, Báo cáo thường niên, Báo cáo tài chính và các vấn đề liên quan đến họp Đại hội cổ đông Đây là cơ
sở để các công ty đại chúng áp dụng hệ thống CBTT điện tử, qua đó đảm bảo tính kịp thời và phổ biến của thông tin công bố Đối với Báo cáo tài chính, ngoài việc kế thừa quy định tổ chức niêm yết phải công bố BCTC năm đã được kiểm toán và Báo cáo tài chính quý, Thông tư 09/2010/TT-BTC còn bổ sung quy định công ty niêm yết phải CBTT Báo cáo tài chính bán niên (6 tháng đầu năm) đã được soát xét bởi
tổ chức kiểm toán được chấp thuận Ngoài ra, Thông tư cũng bổ sung nhiều trường hợp công ty đại chúng phải CBTT, đặc biệt là các thông tin phải công bố bất thường trong vòng 24 giờ; đồng thời quy định nguyên tắc UBCKNN chấp thuận tạm hoãn CBTT trong trường hợp các đối tượng CBTT không thể thực hiện đúng thời hạn vì những lý do bất khả kháng và buộc công ty phải thực hiện công bố ngay sau khi sự kiện bất khả kháng đã được khắc phục Có thể nói, sự ra đời của Thông tư
Trang 3109/2010/TT-BTC đánh dấu sự thay đổi toàn diện về định chế CBTT trên TTCK trước đòi hỏi minh bạch hóa thị trường cũng như đáp ứng nhu cầu về thông tin của nhà đầu tư Thông tư này cùng với các văn bản pháp quy khác như Nghị định 84/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán (thay thế Nghị định số 14/2007/NĐ-CP); Nghị định 85/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định số 36/2007/NĐ-CP) và sau đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán ngày 24 tháng
11 năm 2010 đã tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK nói chung cũng như hoạt động CBTT của công ty đại chúng nói riêng
Với nỗ lực công khai hóa, minh bạch hóa TTCK và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của nhà đầu tư, ngày 05/4/2012 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 52/2012/TT-BTC hướng dẫn CBTT trên TTCK (sau đây gọi tắt là Thông tư số 52/2012/TT-BTC) thay thế cho Thông tư 09/2010/TT-BTC với nhiều quy định mới Tại Thông
tư này, lần đầu tiên chế định CBTT đối với công ty đại chúng áp dụng theo quy mô công ty
Bên cạnh Thông tư số 52/2012/TT-BTC, các văn bản pháp quy khác như Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/6/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản trị công ty đại chúng, trong đó có quy định nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng liên quan đến quản trị công ty và Nghị định 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán (thay thế Nghị định 85/2010/NĐ-CP) đã quy định cụ thể các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm chế độ báo cáo và CBTT Các văn bản này đã tạo ra hệ thống văn bản thống nhất, đồng bộ điều chỉnh hoạt động CBTT của các chủ thể tham gia thị trường, trong đó có công ty đại chúng
Ngày 6/10/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 155/2015/TT-BTC (Thông tư 155) hướng dẫn CBTT trên thị trường chứng khoán, thay thế Thông tư số 52/2012/TT-BTC, với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung so với Thông tư 52,
Trang 32nội dung sửa đổi bao gồm: về thuật ngữ, nguyên tắc CBTT được quy định bổ sung bằng Tiếng Anh, về người thực hiện CBTT, CBTT của công ty đại chúng được phép gia hạn nhưng không quá 100 ngày và công bố thông tin bất thường, CBTT của tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn, CBTT của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, CBTT của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán, Nghĩa vụ CBTT của các đối tượng khác, nghĩa vụ CBTT của Trung tâm lưu ký chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán Thông tư 155, được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hơn nữa trách nhiệm CBTT của các thành viên thị trường và nhà đầu tư, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK, đồng thời nâng cao tính công khai minh bạch của thị trường[54]
2.3.2 Hướng dẫn công bố thông tin theo Thông tư 52/2012/TT-BTC
Thứ nhất, hướng dẫn công bố thông tin theo thông tư 52/2012/TT-BTC, không quy định cụ thể công bố thông tin trong báo cáo thường niên, yêu cầu đầu tiên theo điều 3 là: “việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật”, và điều 7 thông tư này quy định: “Báo cáo thường niên chậm nhất là hai mươi (20) ngày sau khi công bố Báo cáo tài chính năm được kiểm toán Việc công bố thông tin phải được thực hiện trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng, phương tiện công bố thông tin của UBCKNN, SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch) và lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười (10) năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo Thông tin tài chính trong Báo cáo thường niên phải phù hợp với Báo cáo tài chính năm được kiểm toán” [51] Về nội dung, phần phụ lục của thông tư này chỉ gợi ý những nội dung cần công bố, không quy định cụ thể, chi tiết trong từng nội dung Do vậy, việc công bố thông tin trong BCTN của từng công ty phụ thuộc phần lớn vào tính tự nguyện của nhà quản trị công ty
Trang 332.3.3 Những thay đổi về công bố thông tin từ năm 2013
(a) Những thay đổi về công bố thông tin theo thông tư 52/2012/TT-BTC so với thông tư 09/2010/TT-BTC
Thông tư 52/2012/TT-BTC đã có những bước thay đổi đáng kể về quy định công bố thông tin trên thông tư 09/2010/TT-BTC Những thay đổi lớn gồm: thay đổi nhiều khái niệm, bổ sung khái niệm mới và quy định chặt chẽ hơn về nội dụng thông tin công bố [51]
(b) Những thay đổi về công bố thông tin theo thông tư 155/2015/TT-BTC so với thông tư 52/2012/TT-BTC
Về cơ bản công bố thông tin trong BCTN của thông tư 155/2015/TT-BTC không có nhiều thay đổi hơn so với thông tư 52/2012/TT-BTC Thông tư 155/2015/TT-BTC bổ sung công bố bằng tiếng nước ngoài, một số thay đổi trong khái niệm như bỏ khái niệm như “cổ đông nội bộ” thành “người nội bộ của công ty đại chúng”, bỏ thuật ngữ công ty đại chúng cổ đông lớn, một số quy định cũng có
sự thay đổi, nhưng quy định nội dung BCTN không có sự thay đổi lớn [54]
2.4 Tổng quan nghiên cứu
Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề công bố thông tin các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Khởi đầu là nghiên cứu công bố thông tin bắt buộc, đã mang lại những lợi ích thiết thực như Singhvi và Dasai (1971), Firth (1979), Cooke (1992), Raffournier (1995), Giner (1997), Archambault, Healy và Palepu (2001),… Thời gian gần đây và đến thời điểm hiện tại các nghiên cứu tập trung vào công bố thông tin tự nguyện ở các quốc gia Các nghiên cứu đi vào đánh giá mức độ công bố thông tin và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin[22] Ở Việt Nam, cũng có nhiều nghiên cứu trong thời gian gần đây, nhưng chủ yếu nghiên cứu công bố thông tin và tính minh bạch thông tin của BCTC, mỗi nghiên cứu đứng trên khía cạnh và quan điểm khác nhau, dữ liệu thu thập khác nhau, thời điểm nghiên cứu khác nhau, nên kết quả nghiên cứu khác
Trang 34nhau như: nghiên cứu của Kelly Bao Anh Huỳnh Vũ (2012), nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013), nghiên cứu Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), nghiên cứu của Đào Trọng Nguyên (2015), nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Hà Xuân Thạch và Trịnh Thị Hợp (2017) Thế nhưng, đây là loại nghiên cứu về việc xem xét có hay không việc công bố thông tin của doanh nghiệp, nên mỗi nghiên cứu có kết quả khác nhau tùy thuộc vào phạm vị và thời điểm nghiên cứu Nên cần có sự xem xét và đánh giá thường xuyên[31]
Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin được các tác giả thực hiện trên 2 bước, bước 1 nghiên cứu mức độ công bố thông tin và bước 2 nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin[22]
2.4.1 Xây dựng các chỉ mục công bố thông tin
Công bố thông tin là một khái niệm trừu tượng, đặc biệt là phân biệt công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện Như đã trình bày ở trên, nghiên cứu dạng này thường thực hiện: (1) đo lường mức độ công bố thông tin; (2) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Để đo lường mức độ CBTT cần phải xây dựng các chỉ mục công bố thông tin [22] Các nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt trong việc xây dựng các chỉ mục công bố thông tin và dựa vào các nguyên tắc khác nhau để xây dựng Vì vậy, nghiên cứu dạng này thường được đánh giá là mang tính chủ quan của nhà nghiên cứu [11] Chính vì vậy, việc lựa chọn các yếu tố để tính các chỉ mục (Items) công bố thông tin trong báo cáo thường niên cũng có sự khác biệt giữa các nghiên cứu Tuy nhiên, việc lựa chọn các chỉ mục thông tin công bố phụ thuộc vào bản chất và bối cảnh của lĩnh vực hoạt động và bối cảnh của quốc gia [22] Cũng như việc xác định các chỉ mục phụ thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia trong từng giai đoạn đó, như Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) xây dựng chỉ mục căn cứ vào Thông tư 38/2007/TT-BTC, ngày 18/4/2007 của Bộ trưởng bộ tài chính1[22]
1 Hiện tại thực hiện theo thông tư 52/2012/TT-BTC, ban hành ngày 5/4/2012, của Bộ trưởng bộ tài chính về việc CBTT trên thị trường chứng khoán
Trang 35Số lượng chỉ mục công bố thông tin là khác nhau trong các nghiên cứu Lymer et al (1999) nghiên cứu 117 chỉ mục; Xiao et al (2004) có 82 chỉ mục (bao gồm : 58 chỉ mục thuộc nội dung CBTT bắt buộc và 24 chỉ mục về tự nguyện); Bollen và cộng sự (2006) chỉ số bao gồm 29 chỉ mục và Aly (2008) có 89 chỉ mục (bao gồm 58 chỉ mục bắt buộc và 31 chỉ mục tự nguyện);Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) có 84 chỉ mục; Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013) thiết lập 156 chỉ mục trên BCTC, nhưng cho báo cáo tài chính Sự biến động của các chỉ mục công
bố thông tin sẽ dẫn đến khó khăn trong việc so sánh kết quả của các nghiên cứu với nhau [44]
2.4.2 Đo lường mức độ công bố thông tin
Theo Ronald F Premuroso (2008); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nguyễn Công Phương (2013); Kabir Ibrahim (2014),… có hai cách tiếp cận trong việc đo lường mức độ công bố thông tin theo chỉ mục thông tin: cách tiếp cận có trọng số (weighted disclosure approach) và không có trọng số (unweighted disclosure approach) Các nhà nghiên cứu như Wallace (1987), Cooke (1992), Hossain và cộng sự (1994), Owusu – Ansha (1998), Camfferman và Cook (2002), Hossain và Hammani (2009) chọn kỹ thuật phân tích lưỡng phân (dichotomous) để
đo lường mức độ công bố thông tin (cách tiếp cận không có trọng số) [31] Luận án lựa chọn đo lường không có trọng số vì loại bỏ được tính chủ quan trong cảm nhận của người sử dụng thông tin công bố Mặt khác, các nghiên cứu gần đây cho thấy có
sự tương đồng giữa đo lường chỉ mục thông tin có trọng số và không có trọng số [33]
Theo cách tiếp cận không có trọng số, những chỉ mục thông tin được công bố
sẽ gán là 1, và ngược lại sẽ gán là 0, từ đó tính trung bình, đó chính là mức độ công
bố thông tin Phương pháp này để hạn chế tính chủ quan, cần chia nhỏ các chỉ mục thông tin đưa vào đánh giá Còn phương pháp có trọng số, từng chỉ mục tin đánh giá mức độ công bố theo tỷ lệ, gán tỷ lệ công bố cho mục tin cần đánh giá, tính giá trị trung bình, đó là mức độ công bố thông tin Do xác định tỷ lệ theo cảm nhận của nhà nghiên cứu, nên dễ dẫn đến kết quả thiếu chính xác
Trang 36Do vậy, các nghiên cứu thường sử dụng phương pháp không có trọng số Mặt khác, theo nghiên cứu của Francisco Bravo Urquiza, María Cristina Abad Navarro, Marco Trombetta (2010) có sự tương đồng giữa hai phương pháp này[11]
2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Có nhiều yếu tố được lựa chọn để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Tùy theo mục tiêu và bối cảnh nghiên cứu, các nhà nghiên cứu
đã lựa chọn yếu tố phù hợp, phần lớn dựa vào nghiên cứu trước đây và lý thuyết liên quan (như lý thuyết đại diện, lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết tín hiệu và lý thuyết chi phí sở hữu) Sau đây trình bày tổng lược một số nghiên cứu điển hình
Ở góc độ công ty, giả thuyết về các yếu tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp là: quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách cổ tức, công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả kết luận rằng các yếu tố như chính sách cổ tức và đòn bẩy tài chính không ảnh hưởng đến mức độ CBTT[22] Ngoài ra, đối với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, các công ty đưa ra các quyết định kinh doanh có thể ảnh hưởng đến nhu cầu thông tin của người sử dụng BCTC với giả thuyết rằng: quá trình hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các CTNY Quá trình này gồm: quy mô công ty, ngành nghề kinh doanh và doanh thu xuất khẩu Cheung và cộng sự (2005), đưa ra 3 biến quản trị có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin gồm: quyền sở hữu, cơ cấu HĐQT và quy mô của HĐQT Trong khi nghiên cứu của Ronald F Premuroso (2008) xác định các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: đòn bẩy tài chính; tổng chi phí hoạt động trên doanh thu thuần; lợi nhuận trước thuế, lãi vay, khấu hao và giá trị hao mòn trên tổng tài sản; chỉ tiêu thu hồi vốn đầu tư; quy mô doanh nghiệp và dòng tiền hoạt động Nghiên cứu của Francisco Bravo Urquiza, María Cristina Abad Navarro, Marco Trombetta (2010) thì các yếu tố ảnh hưởng được chọn là: quy mô doanh nghiệp, chỉ tiêu hoàn vốn đầu
tư, đòn bẩy tài chính, mức độ tăng trưởng, có niêm yết ở nước ngoài để đưa vào phân tích Kabir Ibrahim (2014) chỉ lựa chọn các yếu tố: thời gian niêm yết, chỉ tiêu
Trang 37hoàn vốn đầu tư, mức độ phân tán sở hữu vốn; quy mô doanh nghiệp, khả năng tăng trưởng, ngành nghề kinh doanh
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng thực hiện ở TTCK Việt Nam có các nghiên cứu: Nghiên cứu của Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) lựa chọn các yếu tố: quy mô công ty, lợi nhuận, đòn bẩy tài chính, ngành nghề kinh doanh, chủ thể kiểm toán, thời gian niêm yết và nơi niêm yết; trong khi nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013) lựa chọn các yếu tố: Quy mô của công ty, đòn bẩy tài chính, thời gian niêm yết, khả năng sinh lời của công ty, khả năng thanh toán, chất lượng của công ty kiểm toán và lĩnh vực hoạt động; Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015) lựa chọn các yếu tố: loại ngành, công ty kiểm toán, tính thanh khoản, lợi nhuận, thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, quy mô, đoàn bẩy và tỷ lệ vốn nước ngoài
Như vậy, tùy vào các nghiên cứu khác nhau để lựa chọn các yếu tố để đưa vào
mô hình nghiên cứu Có thể tổng hợp các yếu tố như sau:
Bảng 2.1 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Tỷ lệ vốn nhà nước
Tỷ lệ vốn nhà nước/vốn nước ngoài
Cheung và cộng sự (2005) ; Kabir Ibrahim (2014); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015)
Quy mô HĐQT
Số lượng thành viên HĐQT Cheung và cộng sự (2005) ;
Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015)
Trang 38Yếu tố Cách đo Nghiên cứu liên quan
Sự độc lập của
HĐQT
Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập không điều hành Cheung và cộng sự (2005)
Quy mô công ty
Logarit tổng tài sản/tổng doanh thu/giá trị vốn hóa thị trường
Ronald F Premuroso (2008) ; Francisco Bravo Urquiza, María Cristina Abad Navarro, Marco Trombetta (2010); Kabir Ibrahim (2014); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013); Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015)
Đòn bẩy tài chính
Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản
Ronald F Premuroso (2008) ; Francisco Bravo Urquiza, María Cristina Abad Navarro, Marco Trombetta (2010); Kabir Ibrahim (2014); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013); Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015)
Khả năng sinh lời
Lợi nhuận/Vốn chủ sở hữu hoặc Lợi nhuận/Tổng tài sản
Ronald F Premuroso (2008) ; Kabir Ibrahim (2014); Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013); Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu
Trang 39Yếu tố Cách đo Nghiên cứu liên quan
Hoài (2015)
Thời gian niêm yết
Thời gian niêm yết đến thời điểm nghiên cứu
Kabir Ibrahim (2014); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nguyễn Công Phương và cộng
sự (2013)
Lĩnh vực hoạt động
Biến Dummy: gán 1 cho sản xuất và gán 0 cho phi sản xuất
Kabir Ibrahim (2014); Nguyễn Công Phương và cộng sự (2013); Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015)
Chất lượng công ty
kiểm toán
Biến Dummy: gán 1 cho công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán Big4, ngược lại gán 0
Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nguyễn Công Phương
và cộng sự (2013); Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015)
Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu có liên quan
2.4.4 Kết quả đạt được của các nghiên cứu trước đây
Về kết quả nghiên cứu, như đã tổng hợp ở mục a,b,c ở mục 2.3.2, do cách tiếp cận khác nhau, việc lựa chọn mẫu khác nhau, thời điểm và địa điểm nghiên cứu khác nhau, nên kết quả nghiên cứu có sự khác biệt Mức độ công bố thông tin theo
Trang 40nghiên cứu của Nguyễn Công Phương (2013) là 25% cho BCTC của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TPHCM ; Kết quả 20,31% cho mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên ở cả 2 sàn Hà Nội và TPHCM theo nghiên cứu của Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nghiên cứu Kabir Ibrahim (2014) ở Nigeria là 43% Thông thường mức độ công bố thông tin theo nghiên cứu của các tác giả trên thế giới ở các thị trường chứng khoán nước ngoài cao hơn ở thị trường chứng khoán Việt Nam Lý giải cho vấn đề này là do các nước có thị trường chứng khoán phát triển lâu, mạnh về mọi mặt và ý thức của nhà quản trị trong công
bố thông tin, cũng như quy định về mặt pháp lý của các quốc gia này [22]
Cũng tương tự như mức độ công bố thông tin, các yếu tố ảnh hưởng cũng có
sự khác biệt giữa các nghiên cứu Về xác định biến độc lập, các nghiên cứu hầu như đều lựa chọn đó là: quy mô doanh nghiệp, thời gian niêm yết, ngành nghề kinh doanh, chủ thể kiểm toán, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, tỷ lệ vốn nhà nước hoặc vốn nước ngoài Có chăng sự khác biệt là việc lựa chọn các yếu tố nhằm đánh giá tình hình tài chính và khả năng phát triển của công ty Kết quả nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng là khác nhau, có yếu tố thì nghiên cứu này là đồng thuận nhưng nghiên cứu khác lại không có ý nghĩa thống kê hoặc ảnh hưởng ngược chiều Lý do
có sự khác biệt là do nghiên cứu thực hiện ở các quốc gia khác nhau, thời điểm nghiên cứu khác nhau và đặc biệt là kích cỡ của mẫu khác nhau nên dẫn đến kết quả
có sự khác biệt Hơn nữa sự khác biệt có thể là do phạm vi đo lường chỉ số công bố thông tin và cách thức lựa chọn chỉ mục thông tin và đo lường chỉ số công bố thông tin có thể đã tạo nên sự khác biệt[22]
2.4.5 Khoảng trống từ các nghiên cứu trước đây
Qua tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu về công bố thông tin được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Mỗi nghiên cứu có cách đo lường và tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây được quan tâm nhiều, nhưng chưa
có nhiều nghiên cứu về mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong BCTN, cỡ mẫu lớn Mặt khác, các hạn chế của các nghiên cứu khi xây dựng chỉ mục còn mang nặng tính chủ quan của nhà nghiên cứu, cách đánh giá cũng