1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại khu di tích lịch sử tân trào, tỉnh tuyên quang, đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý phục vụ cho

192 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 5,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu tổng quát Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật, hệ thực vật, vai trò của thực vật, các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ CÔNG BA

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ TÂN TRÀO, TỈNH TUYÊN QUANG, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ CÔNG BA

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ TÂN TRÀO, TỈNH TUYÊN QUANG, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Ngành: Sinh thái học

Mã số: 9420120

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Lê Ngọc Công

2 NCVC.TS Lê Đồng Tấn

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Ngọc Công và NCVC TS Lê Đồng Tấn Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Tác giả luận án

Đỗ Công Ba

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Lê Ngọc Công và NCVC.TS Lê Đồng Tấn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này

Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, góp ý về chuyên môn của GS.TSKH Trần Đình Lý, PGS.TS Hoàng Chung, PGS.TS Nguyễn Văn Sinh, PGS.TS Lưu Đàm Cư, PGS.TS Nguyễn Thế Hưng, PGS.TS Sỹ Danh Thường, PGS.TS Hoàng Văn Ngọc, TS Đỗ Hữu Thư, TS Ma Thị Ngọc Mai, TS Lương Thị Thúy Vân, TS Đinh Thị Phượng cùng các chuyên gia trong lĩnh vực Sinh thái học, Động vật học, Lâm học, Thực vật học Tôi thực sự biết ơn những sự chỉ bảo quý báu đó

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ tôi xác định các loài thực vật ở khu vực nghiên cứu Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên Khu di tích lịch sử Tân Trào, Chi cục kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang Tôi cũng xin cảm ơn cán bộ, chuyên viên UBND các cấp và nhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, cũng như điều tra ngoài thực địa

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tân Trào; cán bộ, giảng viên Phòng Đào tạo, Khoa Khoa học Cơ bản đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian để tôi tập trung học tập và hoàn thành luận án

Cũng nhân dịp này cho tôi được tỏ lòng biết ơn đến gia đình và người thân

đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Tác giả luận án

Đỗ Công Ba

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

5 Những điểm mới của luận án 3

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Một số khái niệm liên quan 5

1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học 5

1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững 6

1.1.3 Khái niệm bảo tồn sinh học 8

1.1.4 Khái niệm thảm thực vật 10

1.2 Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật 10

1.2.1 Nghiên cứu về thảm thực vật 10

1.2.2 Nghiên cứu về hệ thực vật 17

1.3 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật 28

1.3.1 Các yếu tố làm suy giảm tính đa dạng thực vật 28

1.3.2 Các yếu tố làm tăng tính đa dạng thực vật 32

1.4 Nghiên cứu thảm thực vật, hệ thực vật ở tỉnh Tuyên Quang 34

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.2 Nội dung nghiên cứu 35

Trang 6

2.3 Thời gian nghiên cứu 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu 35

2.4.1 Phương pháp kế thừa 35

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực vật 36

2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 40

2.4.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn 42

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 43

3.1 Điều kiện tự nhiên 43

3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới 43

3.1.2 Địa hình 43

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 45

3.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng 46

3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 47

3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu 48

3.2.1 Dân số, dân tộc 48

3.2.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội 48

3.2.3 Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng 49

3.3 Đánh giá điều kiện thuận lợi và khó khăn về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của Khu di tích lịch sử Tân Trào trong việc bảo tồn, phát triển thảm thực vật 51

3.3.1 Thuận lợi 51

3.3.2 Khó khăn 52

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53

4.1 Đa dạng thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 53

4.1.1 Thảm thực vật tự nhiên 54

4.1.2 Thảm thực vật cây trồng 63

4.2 Đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 63

4.2.1 Đa dạng các taxon của hệ thực vật 63

4.2.2 Đa dạng thành phần dạng sống thực vật 69

4.2.3 Đa dạng giá trị sử dụng của hệ thực vật 70

Trang 7

4.2.4 Đa dạng yếu tố địa lý thực vật 73

4.2.5 Đa dạng giá trị bảo tồn của thực vật 75

4.3 Đánh giá vai trò của thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 78

4.3.1 Vai trò bảo tồn tính đa dạng khu hệ động vật 78

4.3.2 Vai trò bảo vệ môi trường và nguồn nước 79

4.3.3 Vai trò của thảm thực vật tự nhiên trong việc tạo cảnh quan và bảo vệ các di tích lịch sử 85

4.3.4 Vai trò của thảm thực vật rừng đối với sinh kế của người dân 90

4.3.5 Vai trò của thảm thực vật rừng đối với phát triển du lịch sinh thái 92

4.4 Các yếu tố ảnh đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 93

4.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thảm thực vật 93

4.4.2 Ảnh hưởng của con người đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 97

4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 119

4.5.1 Cơ sở pháp lý 119

4.5.2 Cơ sở thực tiễn 120

4.5.3 Các giải pháp chủ yếu để bảo tồn tính đa dạng thực vật 122

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125

1 Kết luận 125

2 Kiến nghị 127

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHẦN PHỤ LỤC 139

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Từ viết tắt Ý nghĩa

1 BĐKH Biến đổi khí hậu

2 BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường

3 BTTN Bảo tồn thiên nhiên

4 CTNR Canh tác nương rẫy

10 IUCN Intermatonal Union for Conservation of Nature and NatureRescources

(Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên)

11 KDTLS Khu di tích lịch sử

12 KVNC Khu vực nghiên cứu

13 ODB Ô dạng bản

14 OTC Ô tiêu chuẩn

15 PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

16 PTBV Phát triển bền vững

17 PTNT Phát triển nông thôn

18 QCVN Quy chuẩn Việt Nam

19 SĐVN Sách Đỏ Việt Nam

20 TĐT Tuyến điều tra

21 TTV Thảm thực vật

22 UBND Ủy ban nhân dân

23 UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (Tổ

chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc)

24 VQG Vườn Quốc gia

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam 41

Bảng 4.1 Hệ thống thảm thực vật ở Khu di tích lịch sử Tân Trào 53

Bảng 4.2 Diện tích rừng Tre, Nứa tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 59

Bảng 4.3 Phân bố các taxon của hệ thực vật Khu di tích lịch sử Tân Trào 64

Bảng 4.4 So sánh tỷ trọng của hệ thực vật Khu di tích lịch sử Tân Trào với hệ thực vật Việt Nam 65

Bảng 4.5 Các chỉ số đa dạng ở từng ngành của hệ thực vật Khu di tích lịch sử Tân Trào 66

Bảng 4.6 Mười họ thực vật có số loài lớn nhất ở Khu di tích lịch sử Tân Trào 67

Bảng 4.7 Hai mươi chi có số loài lớn nhất ở Khu di tích lịch sử Tân Trào 68

Bảng 4.8 Số lượng, tỷ lệ (%) các nhóm dạng sống thực vật ở Khu di tích lịch sử Tân Trào 69

Bảng 4.9 Giá trị sử dụng của thực vật ở Khu di tích lịch sử Tân Trào 70

Bảng 4.10 Các yếu tố địa lý của hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 73

Bảng 4.11 Thống kê các loài thực vật cần được bảo tồn của Khu di tích lịch sử Tân Trào 75

Bảng 4.12 Hiện trạng đất có rừng tại 11 xã của Khu di tích lịch sử Tân Trào (tháng 12/2017) 80

Bảng 4.13 Kết quả phân tích mẫu đất tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (QT18 - tháng 12/2017) 81

Bảng 4.14 Kết quả quan trắc không khí tại 2 điểm thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (tháng 12/2017) 82

Bảng 4.15 Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại 4 điểm thuộc huyện Yên Sơn, Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang (tháng 12/2017) 84

Bảng 4.16 Độ dày và khối lượng thảm mục dưới các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, năm 2017 85

Bảng 4.17 Hiện trạng các loại rừng tại Khu di tích lịch sử Tân Trào (năm 2018) 87

Bảng 4.18 Một số chỉ tiêu lâm học của các thảm thực vật trong các điểm di tích 88

Bảng 4.19 Nguồn thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp của các hộ dân tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, năm 2017 91

Trang 10

Bảng 4.20 Thống kê các loài cây gỗ thường bị khai thác tại Khu di tích lịch sử

Tân Trào 98

Bảng 4.21 Thống kê mục đích khai thác gỗ từ năm 1990 - 2018 tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 98

Bảng 4.22 Thống kê các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng tại Khu di tích lịch sử Tân Trào từ năm 2013-2017 99

Bảng 4.23 Thống kê các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng tại 5 xã điển hình của Khu di tích lịch sử Tân Trào từ năm 2013 - 2017 100

Bảng 4.24 Các loài cây khai thác làm thuốc tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 102

Bảng 4.25 Khối lượng cây thuốc khai thác tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 103

Bảng 4.26 Các loài cây có tinh dầu thường gặp tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 104

Bảng 4.27 Các loài cây ăn được người dân thường xuyên khai thác tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 105

Bảng 4.28 Các loài cây thường làm thức ăn cho gia súc tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 107

Bảng 4.29 Các loài thường khai thác làm cảnh tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 108

Bảng 4.30 Tỷ lệ thành phần dân tộc 2 xã tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 109

Bảng 4.31 Số hộ có hoạt động CTNR tại Khu di tích lịch sử Tân Trào từ năm 1980 - 2018 110

Bảng 4.32 Số lượng gia súc của huyện Sơn Dương và Yên Sơn (từ 2013-2017) 111

Bảng 4.33 Các phương thức chăn thả gia súc tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 111

Bảng 4.34 Số vụ và diện tích rừng bị cháy giai đoạn 2014 - 2018 tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 113

Bảng 4.35 Thu nhập bình quân của 3 xã tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, năm 2018 114

Bảng 4.36 Thống kê dân số trung bình của hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn 115

Bảng 4.37 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông với dân số của 5 xã tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 116

Bảng 4.38 Số lượng khách tham quan, du lịch tại Khu di tích lịch sử Tân Trào từ năm 2014 - 2018 117

Bảng 4.39 Thống kê cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 118

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ bố trí OTC và ODB ở thảm rừng 38

Hình 3.1 Sơ đồ Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang 44

Hình 4.1 Tỷ lệ (%) các ngành của hệ thực vật Khu di tích lịch sử Tân Trào 65

Hình 4.2 Phân bố tỷ lệ (%) yếu tố địa lý thực vật Khu di tích lịch sử Tân Trào 74

Hình 4.3 Lán Nà Lừa (Nà Nừa) tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 86

Hình 4.4 Biểu đồ giá trị sử dụng của các loài thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào 91

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 L do chọn ề tài

Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Trong những năm qua, ở Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới đã phải gánh chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán, mất đất canh tác, suy giảm hệ sinh thái và đa dạng sinh học…; Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu là do phát thải quá mức các khí nhà kính, đặc biệt là khí dioxitcacbon, diện tích và chất lượng rừng bị suy giảm, tầng ôzon bị phá hủy dẫn đến làm tăng nhiệt độ Trái đất và làm thay đổi khí hậu toàn cầu…

Chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam bao gồm chiến lược

giảm nhẹ (Mitigation) và chiến lược thích ứng (Adaptation) Một trong các giải

pháp thích ứng với biến đổi khí hậu là tăng cường bảo vệ rừng tự nhiên, trồng rừng

và phòng chống cháy rừng…[44] Tuy nhiên, trong những năm gần đây mặc dù đã

có nhiều cố gắng, nhưng diện tích rừng Việt Nam vẫn tiếp tục bị suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động khai thác gỗ trái phép, phá rừng lấy đất canh tác, mở rộng khu công nghiệp và cháy rừng, ; Theo thống kê năm 2015, Việt Nam có khoảng 14.061.000 ha rừng (gồm 10.175.000 ha rừng tự nhiên và 3.886.000 ha rừng trồng), với hệ thực vật, động vật rừng đa dạng, phong phú về chủng loại Đến năm 2018, rừng chỉ còn 13.785.642 ha, tỷ lệ che phủ đạt 41,65% nhưng vẫn chưa đảm bảo mức an toàn sinh thái cho sự phát triển bền vững của đất nước [8]

Tuyên Quang là tỉnh trung du miền núi phía Bắc với diện tích tự nhiên là 586.790 ha Tuyên Quang có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học cao và có điều kiện

tự nhiên khá thuận lợi cho việc nâng cao năng suất sinh học của các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo Điều này cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh học nói chung, khu hệ thực vật nói riêng để xây dựng chiến lược bảo tồn và phát triển bền vững ở Tuyên Quang là rất cần thiết, nó đóng vai trò quan trọng và là nhiệm vụ hàng đầu [1]

Khu di tích lịch sử Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) với 138 điểm di tích nằm trải rộng trên diện tích 48.035,27 ha (chiếm 8,12% diện tích tự nhiên toàn tỉnh)

Trang 13

thuộc địa bàn của 11 xã của 2 huyện Sơn Dương và Yên Sơn, cách Thành phố Tuyên Quang 45 km về phía Đông Nam Đây là vùng đồi núi thấp, có độ cao từ 95

- 814m so với mực nước biển Tân Trào là Khu di tích lịch sử của cách mạng Việt Nam thời kỳ Cách mạng tháng Tám, vì vậy ngày 10 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận Khu di tích lịch sử Tân Trào là Khu di tích Quốc gia đặc biệt Từ khi được công nhận là Khu di tích Quốc gia đặc biệt tới nay, chính quyền địa phương đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị đặc biệt của Khu di tích Tuy nhiên, việc nghiên cứu đánh giá tính phong phú, đa dạng và vai trò của thảm thực vật đối với sinh kế của người dân, bảo vệ môi trường và tạo nên cảnh quan của Khu di tích còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng tới việc quy hoạch, quản lý, bảo tồn cảnh quan và đa dạng sinh học Cùng với đó là sức ép dân số ngày càng gia tăng, các hoạt động khai thác gỗ, củi, dược liệu, phá rừng làm nương rẫy, săn bắt động vật trái phép… vẫn đang là thách thức lớn, bởi sinh kế của người dân địa phương phần lớn dựa và sản xuất nông, lâm nghiệp với nguồn thu nhập thấp, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số sống đan xen trong Khu di tích Vì vậy, đây là những nguyên nhân quan trọng làm suy giảm tính đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng tại Khu di tích lịch sử Tân Trào trong những năm qua

Từ những yêu cầu cấp bách trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý phục vụ cho phát triển bền vững”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật, hệ thực vật, vai trò của thực vật, các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật và mô tả được đặc điểm (hình thái, cấu trúc) các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

Trang 14

- Xác định được tính đa dạng của hệ thực vật bậc cao có mạch (thành phần loài, thành phần dạng sống, giá trị sử dụng, các yếu tố địa lý, giá trị bảo tồn) tại Khu

di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

- Xác định được vai trò của thực vật và các yếu tố tác động ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các kiểu thảm thực vật tự nhiên và rừng trồng, thành phần thực vật bậc cao có mạch tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang Các loài cây trồng nông nghiệp không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Ý nghĩa khoa học và nghĩa thực ti n

4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận án là những dẫn liệu khoa học mới về tính đa dạng của thảm thực vật (đặc điểm hình thái, cấu trúc của các kiểu thảm) và hệ thực vật (thành phần loài, thành phần dạng sống, giá trị sử dụng, các yếu tố địa lý, giá trị bảo tồn) tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

Luận án đưa ra những dẫn liệu khoa học về vai trò của thảm thực vật, hệ thực vật trong việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, sinh kế của người dân và những yếu tố tác động ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý thảm thực vật và hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững cả về kinh tế,

xã hội và môi trường

5 Những iểm mới của luận án

- Lần đầu tiên sử dụng khung phân loại của UNESCO (1973) để phân loại

và mô tả đặc điểm hình thái, cấu trúc của các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

Trang 15

- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tính

đa dạng của hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, gồm

726 loài, 462 chi, 137 họ, thuộc 6 ngành bậc cao có mạch

- Luận án làm sáng tỏ vai trò của thảm thực vật, hệ thực vật trong việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, sinh kế của người dân và những yếu tố tác động ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học

Thuật ngữ đa dạng sinh học (ĐDSH) được dùng lần đầu tiên vào năm

1988, sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ra đời năm 1992 thì thuật ngữ ĐDSH đã được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu [111] Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học Công ước ĐDSH (1992) đã định nghĩa: “ĐDSH là sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái” [103] Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên đưa ra khái niệm:

“ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [42] Ở Việt Nam, khái niệm về ĐDSH đã được Luật Đa dạng sinh học (2008) định nghĩa như sau:

“ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên” [66] Tuy

có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, tính đa dạng sinh học được thể hiện ở 3 mức độ sau đây [83]

1.1.1.1 Đa dạng gen

Đa dạng gen (hay đa dạng di truyền) được thể hiện ở mức độ phân tử, đó là trình tự sự sắp xếp của các nuleotit trong phân tử ADN của mỗi loài, thậm chí là của mỗi cá thể trong cùng một loài khác nhau là khác nhau Tính chất này qui định các đặc trưng về hình thái, sinh thái và tính di truyền của từng loài Đây là yếu tố tạo nên đa dạng của thế giới sinh vật trên Trái đất mà con người chúng ta đang sinh sống như hiện nay [69]

1.1.1.2 Đa dạng loài

Tính đa dạng loài được thể hiện ở mức độ cá thể, nó được đặc trưng bởi khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, thụ phấn) với nhau và cho các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản) giữa các loài với nhau Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên Trái đất, ở một vùng địa lý, một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định

Trang 17

1.1.1.3 Đa dạng hệ sinh thái

Trong tự nhiên tồn tại những quần xã sinh vật bao gồm các loài sinh vật sinh sống trong một không gian nhất định ở một thời điểm nhất định, có mối quan hệ với nhau và với các nhân tố của môi trường tạo thành một thể thống nhất, tương đối ổn định Những quần xã sinh vật như thế gọi là hệ sinh thái và ở đó vòng tuần hoàn vật chất, dòng năng lượng và dòng thông tin được thực hiện

Ða dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó [87]

Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [83], nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều công nhận trên thế giới có nhiều hệ sinh thái khác nhau, gồm: (1) Rừng mưa nhiệt đới; (2) Rừng mưa á nhiệt đới - ôn đới; (3) Rừng lá kim ôn đới ; (4) Rừng khô nhiệt đới ; (5) Rừng lá rộng ôn đới ; (6) Thảm thực vật Địa Trung Hải ; (7) Sa mạc và bán sa mạc ẩm ; (8) Đồng rêu và sa mạc; (9) Sa mạc, bán sa mạc lạnh ; (10) Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; (11) Đồng cỏ ôn đới; (12) Thảm thực vật vùng núi; (13) Thảm thực vật vùng đảo; (14) Thảm thực vật ao hồ

1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững

1.1.2.1 Khái niệm

Trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”, thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980 [16]

Khái niệm trên được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế, trong

báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) ghi rõ: “Phát triển

bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Hay nói cách khác,

phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường

ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người [80]

Qua các khái niệm trên ta thấy nội dung nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu, nước nghèo và giữa các thế hệ chứ không đơn thuần chỉ là các nhân tố sinh thái hay nhân tố xã hội, con người

Trang 18

1.1.2.2 Nội dung của phát triển bền vững

Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường [34]

Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng

trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch

Bền vững về xã hội là phải xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng

nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội

Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải

được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm

và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên )

và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người ), nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường trong sạch

Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển

sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững [34]

1.1.2.3 Các nguyên tắc của phát triển bền vững

Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “Hãy cứu lấy

Trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, năm 1991 đã nêu ra 9 nguyên

tắc của một xã hội bền vững Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa Thực

Trang 19

tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực tế hơn Hệ thống 7 nguyên tắc mới do Luc Hens (1995) xây dựng về phát triển bền vững bao gồm: (1) Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân; (2) Nguyên tắc phòng ngừa; (3) Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ; (4) Nguyên tắc bình đẳng trong nội

bộ thế hệ; (5) Nguyên tắc phân quyền, ủy quyền; (6) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; (7) Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (dẫn theo Nguyễn Đình Hòe, 2009 [37])

1.1.3 Khái niệm bảo tồn sinh học

Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng bảo tồn sinh học có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài, các quần xã và các HST; hai là xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và nếu có thể được, cứu trợ các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng hội nhập trở lại các HST đang còn phù hợp với chúng

1.1.3.2 Bảo tồn với phát triển bền vững ở Việt Nam

Bảo tồn với phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam đã được đặt ra từ vài chục năm gần đây, trong đó đề cập đến các vấn đề cơ bản như sau:

- Thể chế, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững ở Việt Nam

Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tới bảo tồn ĐDSH và PTBV Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường và phát triển năm 1992 và năm 1994 đã ký Công ước ĐDSH Một hệ thống thể chế, các chính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn ĐDSH và PTBV đã được xây dựng khá đầy đủ ở nước ta Cụ thể: Việt Nam đã thành lập Hội đồng PTBV từ năm 2005, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác

Trang 20

bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH, gắn với phát triển kinh tế-xã hội và nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật để triển khai thực hiện trên thực tế Nhiều chiến lược có liên quan đã được xây dựng, bao gồm: Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020; Chiến lược Quản lý hệ thống khu BTTN Việt Nam đến năm 2010; Kế hoạch hành động Quốc gia về bảo vệ ĐDSH của Việt Nam (2007) Một hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ xây dựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi năm 2005), Luật Tài nguyên nước (2012), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi năm 2004) và Luật Biển Việt Nam (2012)

- Nhận thức và cách tiếp cận trong phát triển bền vững và bảo tồn ĐDSH

Ở Việt Nam, Bộ chỉ tiêu PTBV cho Quốc gia đã được ban hành kèm theo Chiến lược PTBV của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và cho địa phương Ngoài ra, Bộ chỉ tiêu giám sát đánh giá PTBV địa phương giai đoạn 2013-2020 [19] đã nhấn mạnh tới thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng cacbon thấp, đồng thời giảm nhẹ tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), phòng chống thiên tai Cụ thể, chỉ tiêu GDP xanh bắt đầu thực hiện từ

2015 với khía cạnh hạch toán những chi phí ô nhiễm và thiệt hại do thiên tai, trong

hệ thống tài khoản Quốc gia và các phương pháp tính toán GDP xanh thống nhất cho toàn quốc đang trong quá trình áp dụng thử nghiệm [26] Đối với cấp độ địa phương, chỉ tiêu PTBV địa phương cũng đang được đề xuất áp dụng, đặc biệt là chỉ tiêu số 26 về “Số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại”, nhằm cung cấp thêm số liệu để tính toán GDP xanh tại địa phương Cách tiếp cận DPSIR cũng được áp dụng trong xây dựng các chỉ số/chỉ tiêu PTBV và bảo tồn ĐDSH, đặc biệt trong xây dựng chỉ

số PTBV giai đoạn 2011-2020 và chỉ số giám sát đánh giá ĐDSH [17] Ở Việt Nam, Bộ chỉ thị ĐDSH đã được xây dựng và sử dụng, góp phần vào việc đánh giá

và giám sát ĐDSH [61]

Hiện nay, cách tiếp cận quản lý dựa trên HST đã được áp dụng trong công tác quản lý bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam, thông qua áp dụng 12 nguyên tắc thực hiện trong quản lý [72] và đã xây dựng được tài liệu hướng dẫn cho quản lý các

Trang 21

khu đất ngập nước tại Việt Nam, dựa trên nhiều nghiên cứu trước đó về tiếp cận HST trong quản lý tài nguyên thiên nhiên [73] Cách tiếp cận này đã được áp dụng trong các ngành lâm nghiệp, thủy sản, các địa phương và một số khu bảo tồn để giải quyết đồng bộ vấn đề bảo tồn, sự chia sẻ công bằng các lợi ích và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên như ở VQG U Minh Hạ, khu DTSQ Cần Giờ…, cũng như xây dựng hành lang xanh nối giữa các khu bảo tồn [9] Ở Việt Nam, để thúc đẩy quá trình thích ứng với BĐKH ngày càng khốc liệt, cách tiếp cập thích ứng

dựa trên HST (Ecosystem-based adaptation) đã được nghiên cứu và triển khai Để

hoàn thiện công tác quản lý bảo tồn gắn với PTBV, Ủy ban Quốc gia chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam đưa ra và áp dụng cách tiếp cận “Tư duy hệ thống, Quy hoạch cảnh quan, Điều phối liên ngành, Kinh tế chất lượng” (SLIQ) trong việc xây dựng, quản lý các khu DTSQ do tổ chức UNESCO công nhận và đã được áp dụng tại khu DTSQ Cát Bà, khu DTSQ Đất ngập nước ven biển châu thổ Sông Hồng [97]

1.1.4 Khái niệm thảm thực vật

Thảm thực vật (Vegetation) là khái niệm được nhiều nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo Schmithusen (1976) [71] thảm thực vật là lớp thực bì của Trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [93] cho rằng thảm thực vật gồm các quần hệ thực vật bao phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (2006) [54] đưa ra khái niệm thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên toàn bộ bề mặt Trái đất Như vậy, thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm

thực vật rừng nhiệt đới, thảm thực vật núi đá vôi tỉnh Tuyên Quang

1.2 Nghiên cứu về tính a dạng thực vật

1.2.1 Nghiên cứu về thảm thực vật

1.2.1.1 Các nguyên tắc phân loại thảm thực vật

Thảm thực vật trên Trái đất vô cùng phong phú và đa dạng, cho đến nay người ta vẫn chưa tìm được những tiêu chuẩn có sự thống nhất chung để phân loại thảm thực vật Dựa trên các quan điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau các

Trang 22

nhà nghiên cứu đã đưa ra những nguyên tắc phân loại và xây dựng hệ thống phân loại khác nhau Mặc dù vậy, các hệ thống phân loại thảm thực vật trên thế giới tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

* Nguyên tắc phân loại lấy thành phần thực vật làm yếu tố chủ đạo:

Người đặt nền móng cho nguyên tắc này là Ragmar, Hult (1881) và được Schroter và Brockmann - Jerosch (1916) bổ sung hoàn thiện Về sau được Braun - Blanquet (1928) phát triển và đã xây dựng thành hệ thống phân loại thảm thực vật với đơn vị cơ bản là quần hợp (Association) (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2004 [29])

* Nguyên tắc phân loại lấy đặc điểm ngoại mạo làm yếu tố chủ đạo:

Theo nguyên tắc này thì không căn cứ vào thành phần thực vật, mà chủ yếu căn

cứ vào cấu trúc ngoại mạo của quần xã thực vật để phân loại Vì vậy, trong một đơn vị phân loại thảm thực vật có thể có nhiều quần xã thực vật có thành phần thực vật rất xa nhau về hệ thống sinh, nhưng lại có sự tương đồng về ngoại mạo Đơn vị phân loại cơ bản của các hệ thống phân loại theo nguyên tắc này là Quần hệ (Formation), tương ứng với thuật ngữ Kiểu thảm thực vật, kiểu Quần lạc thực vật [86]

* Nguyên tắc phân loại dựa trên phân bố không gian làm yếu tố chủ đạo:

Điểm xuất phát của nguyên tắc phân loại này là mối quan hệ nhân quả giữa thảm thực vật và không gian phân bố của chúng Vì vậy, việc nghiên cứu từng đơn

vị của thảm thực vật và giải thích nguyên nhân phân bố của chúng phải được bắt đầu từ các đơn vị cơ sở của thảm thực vật (các quần xã, quần hợp thực vật) Các nhà nghiên cứu cho rằng có 3 nguyên nhân chính chi phối sự phân bố không gian của thảm thực vật là: (1) Sự phân ly của giới thực vật do các nguyên nhân sinh học mang tính di truyền có liên quan đến lịch sử Trái đất; (2) Phân bố không gian của nơi sống và khác biệt giữa các khoảng không gian tiềm năng ở nơi sinh sống của thảm thực vật do các nhân tố sinh học; (3) Tác động của con người, nhờ các tác động này mà thảm thực vật địa phương thường mang những nét đặc biệt có liên quan đến lịch sử của nền văn hóa con người [86]

* Nguyên tắc phân loại lấy yếu tố phát sinh quần thể thực vật làm yếu tố chủ đạo:

Nguyên tắc phân loại này lấy các yếu tố phát sinh thảm thực vật như: khí hậu - thủy văn, địa lý - địa hình, địa chất - thổ nhưỡng, sinh vật (chủ yếu là khu hệ thực vật)

Trang 23

và con người làm yếu tố chủ đạo, do đó mỗi bậc phân loại đều gắn liền với các yếu tố phát sinh này Đơn vị cơ sở của nguyên tắc phân loại này là kiểu thảm thực vật (kiểu rừng) Kiểu thảm thực vật được coi là tương đương với quần hệ trong nguyên tắc phân loại theo cấu trúc ngoại mạo Trên kiểu thảm là nhóm kiểu thảm (hay quần hệ) Dưới các kiểu thảm là kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là quần hợp thực vật [86]

1.2.1.2 Các hệ thống phân loại thảm thực vật

* Trên thế giới

Ở Châu Âu, theo Schmithusen (1959) có hai hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu, đó là hệ thống phân loại các quần xã thực vật mà đơn vị cơ bản là quần hợp của Braun - Blanquet (1928) phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các nhà địa thực vật của Đức Ở Nga, ngay từ đầu thế kỷ XX, Morodov là người đầu tiên đặt nền móng vững chắc cho vấn đề phân loại rừng phục

vụ kinh doanh Kế thừa học thuyết của Morodov, trên quan điểm coi rừng là một sinh địa quần lạc, Sukasov đã xây dựng nên trường phái phân loại kiểu rừng, dựa vào những đặc điểm tổng hợp để phân loại (địa hình, thực bì, thổ nhưỡng) Tác giả chủ trương dùng đơn vị cơ bản phân loại thảm thực vật là quần hợp Ở Thụy Điển

có hai trường phái: trường phái sinh học (phân loại rừng dựa theo 2 nhân tố là độ

ẩm và độ phì của đất) và trường phái quần xã thực vật (dựa vào đặc trưng chủ yếu là

tổ thành thực vật và coi quần hợp là đơn vị cơ bản) [86]

Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978) thì Schimper (1898) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Trong hệ thống này Schimper đã chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần

hệ vùng núi Trong quần hệ khí hậu tác giả còn phân biệt các kiểu rừng khác nhau (rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai) Sau Schimper là hệ thống phân loại của Rubel, Ilinxki, Burt - Davy, Aubreville ; Trong hệ thống của Aubreville, ông

đã căn cứ vào độ tàn che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành rừng thưa và trảng, truông [93]

Ở vùng nhiệt đới gió mùa châu Á có hệ thống của Champion (1936) là hệ thống nổi bật và tương đối hoàn chỉnh, đã phân chia được 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt độ: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao Cách phân loại này hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến [86]

Trang 24

Ở vùng Nam Mỹ, Bear (1944) đề nghị một hệ thống phân loại cho những quần thể thực vật ở vùng này gồm 3 cấp: quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ Còn Forber (1958) đưa ra hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới dựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: lớp quần hệ, quần hệ và phân quần hệ

Tuy nhiên, nhược điểm của các hệ thống phân loại thảm thực vật nói trên là không thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố sinh thái với thảm thực vật hoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố sinh thái với nhau

Năm 1973, UNESCO [109] đã công bố khung phân loại thảm thực vật trên

Trái đất dựa trên những tiêu chuẩn chung nhất để có thể so sánh được các kết quả nghiên cứu ở các vùng khác nhau và có thể thể hiện được trên bản đồ có tỷ lệ 1:2.000.000 hay bé hơn Bảng phân loại này không dựa vào một nguyên tắc hay hệ thống đã có, mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với nhau ở những mức độ khác nhau Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin về sinh thái, địa lý Đây là bảng phân loại tuy còn mang tính chất nhân tạo, nhưng lại cần thiết theo yêu cầu thực tế hiện nay Hệ thống này được sắp xếp như sau:

I, II, etc = Lớp quần hệ (Formation class)

A, B, etc = Phân lớp quần hệ (Formation subclass)

1, 2, etc = Nhóm quần hệ (Formation group)

a, b, etc = Quần hệ (Formation)

(1), (2), etc = Phân quần hệ (Subformation)

(a), (b), etc = Các bậc nhỏ khác (Further subdivision)

* Ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện có các hệ thống phân loại thảm thực vật như sau:

a Hệ thống phân loại rừng theo hiện trạng

Trước năm 1960, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các tác giả người nước ngoài như Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Hàm Hy (1944), Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958) ;

Từ năm 1960, Loschau đã đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh Bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái như sau: (1) Loại I: gồm những đất trống đồi núi trọc, trảng cỏ và cây bụi ; (2) Loại II: gồm những

Trang 25

rừng non mới mọc; (3) Loại III: gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ; (4) Loại IV: gồm những rừng nguyên sinh chưa bị khai phá [86]

Đây là hệ thống phân loại rừng đã được sử dụng khá rộng rãi ở nước ta trong điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái Viện Điều tra và Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này để phân loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế và kinh doanh rừng

b Phân loại thảm thực vật rừng theo các nhân tố sinh thái phát sinh

Thái Văn Trừng (1978) [93] đã dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam Theo đó, ông chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu: (1) Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới; (2) Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới; (3) Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới; (4) Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới; (5) Kiểu rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới; (6) Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới; (7) Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp; (8) Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới; (9) Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới; (10) Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; (11) Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp; (12) Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ấm núi vừa; (13) Kiểu quần hệ khô vùng cao; (14) Kiểu quần hệ lạnh vùng cao Trong mỗi kiểu thảm thực vật tác giả lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ thuộc vào tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất), kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ

đó tuỳ theo độ ưu thế của loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp và quần hợp tự nhiên khác nhau

c Phân chia các hệ sinh thái rừng theo đai cao và điều kiện sinh thái

Trần Ngũ Phương (1970) xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam, tác giả đã chú ý đến việc nghiên cứu quy luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, các tính chất vật lý, hóa học và dinh dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển của rừng Bảng phân loại này gồm các đai rừng và kiểu rừng như sau: (1) Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, gồm: Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn, kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa

lá rộng thường xanh, kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, kiểu rừng nhiệt đới

Trang 26

lá rộng thung lũng, kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi; (2) Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, gồm: Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh, kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đất; (3) Đai rừng á nhiệt

đới mưa mùa núi cao, gồm 3 loại hình: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata), Đỗ quyên (Rhododendron simsii) [63]

Bảng phân loại rừng này được đánh giá là cụ thể, đơn giản, bước đầu được vận dụng trong quy trình tu bổ rừng ở nước ta Nhưng nhược điểm rõ nhất của bảng phân loại này cũng chỉ là bảng thống kê tên các kiểu quần hệ và xã hợp, ưu hợp thực vật điều tra được mà không làm nổi bật được quan hệ nhân quả giữa thảm thực vật với các điều kiện của môi trường

d Phân loại thảm thực vật rừng theo khung phân loại của UNESCO (1973)

Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật ở Việt Nam Theo bảng phân loại này, thảm thực vật Việt Nam gồm 5 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng rậm, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ trảng cây bụi, lớp quần hệ trảng cây bụi lùn và lớp quần hệ trảng cỏ [48]

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) cũng áp dụng khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973), đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ [83]

Nhiều nhà khoa học khác cũng đã áp dụng khung phân loại của UNESCO (1973) để tiến hành phân loại thảm thực vật trong nghiên cứu của mình như: Trần Đình Đại và cs (1990) [33]; Trần Đình Lý (1995, 2006) [53], [54]; Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2007) [83], [89]; Lê Đồng Tấn (2000) [81]; Lê Ngọc Công (2004) [29];

Ma Thị Ngọc Mai (2007) [56]; Nguyễn Văn Hoàn (2010) [36]; Đinh Thị Phượng (2010) [65], Nguyễn Thị Yến (2015) [101], Nguyễn Thanh Nhàn (2017) [62]

e Phân loại hệ sinh thái rừng tự nhiên theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp (2006)

Trên cơ sở 5 nhóm nhân tố sinh thái đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 8 hệ sinh thái chủ yếu Các hệ sinh thái rừng tự nhiên được ghi nhận theo cách phân loại này là: (1) Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; (2) Rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới; (3) Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi; (4)

Trang 27

Rừng lá kim tự nhiên; (5) Rừng thưa cây họ dầu; (6) Rừng ngập mặn; (7) Rừng tràm; (8) Rừng tre nứa

Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp có

cơ sở khoa học, được nghiên cứu sâu, phương pháp tiếp cận cũng không quá phức tạp Các hệ sinh thái này lại được phân cấp thành các kiểu phụ đủ chi tiết và dễ áp dụng cho mục tiêu phân vùng sinh thái lâm nghiệp, làm cơ sở xây dựng đường phát thải tham khảo và hệ thống giám sát, đánh giá khả năng hấp thụ carbon của các kiểu rừng cơ bản ở Việt Nam

* Nhận xét:

Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật rất phong phú,

kể cả về số lượng công trình cũng như nguyên tắc và phương thức phân loại thảm thực vật

Ở nước ta, cũng có khá nhiều bảng phân loại thảm thực vật với những nguyên tắc và phương pháp phân loại khác nhau Mỗi hệ thống phân loại đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Cho đến nay ở Việt Nam, bảng phân chia thảm thực vật của Loschau (1960) và của Thái Văn Trừng (1978) được sử dụng khá phổ biến, với những ưu nhược điểm của mỗi hệ thống phân loại Nếu như hệ thống phân loại của Loschau (1960) chỉ nhằm mục đích phục vụ việc phân loại rừng theo hiện trạng trữ lượng gỗ để kinh doanh rừng, khai thác gỗ, mà không dựa vào cơ sở sinh thái, phát sinh, phát triển, hoặc cấu trúc tổ thành của các thảm thực vật, thì hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng (1978) lại căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật Tác giả đã sắp xếp các kiểu thảm thực vật hiện có ở Việt Nam vào một khung hợp lý, có trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, đồng thời theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu kém nhất Đây là công trình tổng quát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái Tuy nhiên, hệ thống phân loại này cũng có nhược điểm là rất khó áp dụng cho những vùng lãnh thổ có diện tích không lớn (một tỉnh, một huyện)

Khung phân loại thảm thực vật toàn thế giới của UNESCO (1973) lại không dựa vào một nguyên tắc hay hệ thống đã có, mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với nhau ở những mức độ khác nhau Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là

Trang 28

cấu trúc ngoại mạo Vì vậy, hệ thống phân loại này có ưu điểm là rất dễ áp dụng và

có thể thể hiện được trên bản đồ đối với vùng nghiên cứu có diện tích không lớn

Với những lý do nói trên, chúng tôi lựa chọn khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) để làm cơ sở phân loại thảm thực vật ở Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, trong đề tài luận án tiến sĩ của mình

là 30.000 - 135.000 loài Theo Van lốp (1940) thực vật có hoa trên thế giới là 200.000 loài, theo Grosgayem (1949) là 300.000 loài Hai vùng giàu thực vật nhất thế giới là Brazin 40.000 loài và Malaysia 45.000 loài [87]

Ở Liên Xô cũ, từ năm 1928 đến 1932 được xem là mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachov đưa ra nhận định là số loài của hệ thực vật cụ thể vùng nhiệt đới ẩm thường là 1.500 - 2.000 loài Tiếp theo Tolmachov còn

có nhiều tác giả khác cũng quan tâm nghiên cứu thành phần loài thực vật như Alokhin (1904), Vưsotxki (1915), Craxit (1927), Sennhicov (1933), Creepva (1978)… (dẫn theo Hoàng Chung, 2004 [23])

Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái sau nương rãy tại Xishuang Bana, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã ghi nhận: nương rãy

bỏ hóa 3 năm có 21 loài thực vật thuộc 21 chi, 17 họ; bỏ hóa 19 năm thì có 167 loài, thuộc 134 chi, 60 họ (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000 [2])

Trong những năm gần đây, một số nước lân cận với Việt Nam đã công bố những công trình tiêu biểu của nước mình như: Thực vật chí Malaysia (1948-1972), Thực vật chí Thái Lan (1970-2012), Thực vật chí Đài Loan (1993-2000), Thực vật chí Trung Quốc (1994-2003), Thực vật chí Hồng Kông (2000-2009) (dẫn theo Đặng Quốc Vũ, 2016 [100])

Ở khu vực ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia), ngoài bộ sách nổi tiếng “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte xuất bản tại

Trang 29

Paris (1907-1952), còn có một số công trình tổng quát ít nhiều nói về hệ thực vật Đông Dương như các tác giả Vidal (1962), Schmid (1989) đã đưa ra con số khoảng 1.000 loài và dự đoán có thể tăng lên 12.000 đến 15.000 loài Những công trình lớn khác có thể kể đến là 29 tập của bộ Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam từ 1960-1997, bao gồm 74 họ cây có mạch do các nhà thực vật người Pháp biên soạn (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [87])

* Ở Việt Nam

Ngay từ thế kỷ XVIII, ở Việt Nam đã có công trình nghiên cứu về thực vật của tác giả nước ngoài như Loureiro (1790) Sang thế kỷ XIX có công trình của Pierre (1880 - 1888) và cho đến những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là

bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” do Lecomte chủ biên (1907 - 1952) Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô

tả được trên 7.000 loài thực vật trên toàn lãnh thổ Đông Dương Tuy nhiên con số này còn ít so với số loài có ở ba nước Đông Dương

Gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville chủ biên (1960 - 2001) cùng với nhiều tác giả khác Đến nay đã công bố

31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có

Bên cạnh đó một số họ thực vật riêng biệt đã được công bố như họ Orchidaceae Đông Dương của Seidenfeden (1992), họ Orchidaceae Việt Nam của Leonid Averyanov (1994), họ Euphorbiaceae của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), họ Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân (2000), họ Lamiaceae (2000) và họ Verbenaceae (2007) của Vũ Xuân Phương, họ Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002), họ Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2002), họ Apocynaceae của Trần Đình Lý (2007), họ Asteraceae của Lê Kim Biên (2007), họ Rutaceae của Bùi Thu Hà (2012), họ Cappaceae của Sỹ Danh Thường (2013) (dẫn theo Đặng Quốc Vũ, 2016 [100]) Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam

Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên, Viện Điều tra và Quy hoạch rừng

đã công bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988), giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh hoạ, đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do tác

Trang 30

giả Vũ Văn Dũng làm chủ biên [99]

Trần Đình Lý và cộng sự (1993) công bố 1.900 loài cây có ích ở Việt Nam [52]; Võ Văn Chi (1997) xuất bản từ điển cây thuốc Việt Nam [15]; Viện Dược liệu (2004) xuất bản cuốn Cây thuốc và động vật làm thuốc [98], hay 20 tập viết về Tài nguyên thực vật Đông Nam Á (1989 - 2002) do các nhà nhà khoa học Đông Nam Á (trong đó có các nhà khoa học Việt Nam) công bố [95]

Bên cạnh những công trình mang tích chất chung cho cả nước hay ít ra một nửa đất nước, có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùng được công

bố chính thức như hệ thực vật Tây Nguyên của Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984)

đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch [3]; Danh lục thực vật Phú Quốc của Phạm Hoàng Hộ (1985) [38] công bố 793 loài thực vật có mạch trong diện tích 592 km2;

Lê Trần Chấn và cộng sự (1990) công bố về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hoà Bình) [10]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) [84] đã giới thiệu 2.024 loài, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc cao của vùng núi cao Sa Pa - Fan

Si Fan, hay một loạt các bài báo về đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hoà Bình, núi đá vôi Sơn La, khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang của tỉnh Tuyên Quang, vùng ven biển Nam Trung Bộ, các Vườn Quốc gia Ba

Bể, Cát Bà, Bến En, Pù Mát, Phong Nha, Cát Tiên, Yok Đôn, Phong Nha - Kẻ Bàng

và Hoàng Liên do Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác công bố trong những năm gần đây (1995 - 2003) Ngoài những bài báo công bố, các tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ đã công bố cuốn sách “Tính đa dạng thực vật Cúc Phương” (1996), cùng với Mai Văn Phô công bố cuốn “Đa dạng sinh học khu hệ Nấm và Thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã” (2003) và cùng với Nguyễn Thanh Nhàn (2005) đã công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia

Pù Mát - Nghệ An” Nguyễn Tiến Bân (2003, 2005) đã thống kê thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8.500 loài, 2.050 chi, trong đó lớp Hai lá mầm

có 1.590 chi với trên 6.300 loài và lớp Một lá mầm có 460 chi với 2.200 loài (dẫn theo Nguyễn Thanh Nhàn, 2017 [62])

Gần đây đáng chú ý phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam

Trang 31

(2003), trong đó ông đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái, phân bố của 11.611 loài thực vật bậc cao có mạch [39]

Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2010 chi, 291 họ và 733 loài cây trồng [49]

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý tên loài theo hệ thống Brummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi và

395 họ thực vật bậc cao, trong đó 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loài chiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật [83]

Bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003 - 2005) do Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và cộng sự biên soạn đã được xuất bản Đây là tài liệu đầy

đủ và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam [5]

Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu

về hệ thực vật Điều đó cho thấy mức độ đa dạng của các taxon thực vật ở từng vùng, miền và quốc gia trên thế giới

Sau công trình của Warming, Drude (1887) đã phân chia phổ dạng sống thực vật theo diện mạo và chức năng, ví dụ như cây Một lá mầm và Hai lá mầm Hệ thống phân loại của Raunkiaer (1904) dựa trên dạng sống cơ bản của thực vật đáp ứng lại các điều kiện bất lợi của môi trường sống Đến năm 1934 Raunkiaer biên tập lại và được sử dụng rộng rãi cho đến nay Raunkiaer cũng đã tính toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên thế giới và tìm được tỷ lệ phần trăm bình cách (vai trò ngang nhau) cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn SN

- Phổ dạng sống điển hình (Natural Spectrum) và công thức phổ dạng sống tiêu

Trang 32

chuẩn là SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th Đó là cơ sở để so sánh các phổ dạng sống của các vùng khác nhau trên Trái Đất Thường ở vùng nhiệt đới ẩm, nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm khoảng 80%, nhóm cây chồi sát đất (Ch) khoảng 20%, những nhóm khác hầu như không có Trái lại, ở các vùng khô hạn thì nhóm cây một năm (Th) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) lại có tỷ lệ khá cao, còn nhóm cây chồi trên (Ph) thì giảm xuống (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978 [93])

Thái Văn Trừng (1978) trong công trình nghiên cứu thảm thực vật rừng Việt Nam đã áp dụng hệ thống phân chia của Raunkiaer (1934) và ông còn sử dụng các

ký hiệu khác cho hình dạng, kích thước và tính chất của lá cây, tán cây, cách sắp xếp cành cây [93] Một số tác giả như Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) đã xây dựng phổ dạng sống thực vật ở Vườn Quốc gia (VQG) Cúc Phương, với nhóm cây chồi trên đất (Ph) chiếm 57,78% [46]; Lê Trần Chấn và cs (1999) nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam với 54,68% thuộc nhóm Ph [12]; Ngô Tiến Dũng (2004) cho biết

ở VQG Yok Đôn là 71,73% nhóm Ph [32]; Đặng Quốc Vũ (2016) nghiên cứu ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (Thanh Hóa) với 78,65% thuộc nhóm Ph [100]; Nguyễn Thanh Nhàn (2017) lập phổ dạng sống thực vật ở VQG Pù Mát với nhóm

Ph là 79,15% [62]; Vũ Thị Thanh Hương (2017) khi nghiên cứu đặc điểm thảm thực vật thoái hóa ở Quảng Ninh đã thống kê dạng sống Ph chiếm tỷ lệ 56,58% [41] Các phổ dạng sống với tỷ lệ (%) cao của nhóm dạng sống chồi trên đất (Ph) cho thấy tính chất nhiệt đới khá điển hình của thảm thực vật ở nước ta

1.2.2.3 Đa dạng về giá trị sử dụng thực vật

* Trên thế giới

Những nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật đã có từ lâu đời, chủ yếu các công trình tập trung vào giá trị làm thuốc của cây cỏ Về sau, các giá trị sử dụng khác cũng được quan tâm nhiều hơn Hầu hết mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia

Trang 33

trên thế giới đều có những công trình nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật Ví

dụ, ở quy mô thế giới có tập “The book of useful plants” xuất bản tại New York năm 2013 mô tả về giá trị sử dụng và phổ biến của thực vật nhiều nơi trên thế giới

Ở khu vực Đông Nam Á, có tập “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á” - PROSEA (Plants Resources of South East Asia), gồm 20 tập (tính đến năm 2005) mô tả đầy

đủ nhất về giá trị sử dụng của thực vật theo các nhóm: làm thuốc, lấy gỗ, ăn được, làm cảnh, thực vật có chất kích thích, có chất chiết, có tinh dầu, cung cấp sợi, tre nứa, mây, có chất nhuộm, tanin, chăn nuôi gia súc [95]

* Ở Việt Nam

Nghiên cứu các giá trị của thực vật ở Việt Nam đã được tiến hành từ khá sớm bởi các nhà khoa học Pháp từ cuối thế kỷ XIX Trong đó phải kể đến các công trình tiêu biểu như: Thực vật Nam Bộ của Loureiro (1793), Thực vật rừng Nam Bộ của Pierre (1880), Thực vật chí đại cương Đông Dương do Lecomter chủ biên (1907-1952), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam (6 tập) của Lê Khả Kế và cs (1969-1976), Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003), Cây gỗ rừng Việt Nam (của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng, 1971-1988), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1995), 1.900 loài cây có ích ở Việt Nam (Trần Đình Lý và

cs, 1993), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999-2002), Trần Hợp (2002) đã giới thiệu 433 loài cây gỗ có giá trị sử dụng, Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2011) đã mô tả 3.107 loài, Viện Dược liệu đã thống kê được 3.948 loài thực vật bậc thấp, bậc cao và nấm lớn có giá trị làm thuốc (dẫn theo Vũ Anh Tài, 2015 [79]) Đặng Quốc Vũ (2016) khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (Thanh Hóa) đã thống kê được 956 loài có giá trị sử dụng (chiếm 61,28% tổng số loài của cả hệ), trong đó nhóm cây dược liệu chiếm tỷ lệ cao nhất (42,82%) [100]

Đây thực sự là những công trình lớn nghiên cứu tính đa dạng về giá trị sử dụng của thực vật ở nước ta Ngoài ra còn rất nhiều các bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học cũng đề cập đến vấn đề này

1.2.2.4 Đa dạng về giá trị bảo tồn của thực vật

* Trên thế giới

Trang 34

Cùng với giá trị sử dụng, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến giá trị bảo tồn của thực vật Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã (CITES) ra đời năm 1973 đã có tác dụng hạn chế việc khai thác và buôn bán các loài quý hiếm ra nước ngoài, đảm bảo cho các loài được tồn tại trong môi trường sống bản địa của chúng Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) được coi là cơ quan công

bố chuẩn và chung nhất trên toàn thế giới về tình trạng bảo tồn của các loài [108]

* Ở Việt Nam

Sách Đỏ Việt Nam lần đầu tiên được soạn thảo và chính thức công bố, trong thời gian từ 1992 đến 1996 đã thực sự có hiệu quả trong các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên động, thực vật, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, môi trường thiên nhiên nước ta trong giai đoạn vừa qua Mặt khác, trong thời gian từ khi công

bố Sách Đỏ Việt Nam bao gồm Phần Động vật (1992, 2000) và Phần Thực vật (1996) tới nay, trong tình hình phát triển kinh tế xã hội thời kỳ đổi mới với những biến đổi trong thiên nhiên cũng như trong xã hội nước ta đã tác động mạnh mẽ tới

đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật cũng như điều kiện sinh thái môi trường, đã dẫn tới những biến động về số lượng và phân bố nhiều loài sinh vật hoang dã, đặc biệt là đối với các loài quý hiếm, có giá trị thương mại cao

Năm 2007, Sách Đỏ Việt Nam (phần Thực vật) được tái bản đã bổ sung, hệ thống hóa các thứ hạng phân loại đồng nhất với thế giới (IUCN) Hiện nay, Việt Nam có 448 loài thực vật được ghi nhận theo Sách Đỏ này [6]

Năm 2008, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Đa dạng sinh học, trong đó quy định các nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học [66]

Chính phủ nước ta đã ban hành Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019

về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Cụ thể như sau: Nhóm I: Các loài thực vật rừng, động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam Nhóm này được chia ra: Nhóm IA gồm các loài thực vật rừng;

Trang 35

Nhóm IB gồm các loài động vật rừng Nhóm II: Các loài thực vật rừng, động vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục II CITES có phân bố tự nhiên tại Việt Nam Nhóm này được chia ra: Nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng; Nhóm IIB gồm các loài động vật rừng [22]

Các văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan Nhà nước bảo

vệ đa dạng sinh học một cách có hiệu quả

1.2.2.5 Đa dạng về yếu tố địa lý thực vật

* Trên thế giới

Mỗi hệ thực vật bao gồm các loài giống nhau và khác nhau về nguồn gốc phân bố địa lý do sự phụ thuộc vào điều kiện môi trường và lịch sử phát sinh Ý nghĩa chủ yếu của việc phân tích nguồn gốc phát sinh là để phân biệt hai nhóm thực vật: bản địa và di cư Yếu tố bản địa của hệ thực vật được hiểu là các loài tham gia vào thành phần hệ thực vật xuất hiện trong ranh giới không gian của hệ thực vật được nghiên cứu Yếu tố di cư là tất cả những loài lúc đầu xuất hiện ngoài ranh giới của hệ thực vật được nghiên cứu Tỷ lệ giữa các loài bản địa và di cư có thể rất khác nhau ở mỗi hệ thực vật

Một vấn đề cũng rất quan trọng khi phân tích đặc trưng phân bố địa lý của hệ thực vật là xác định các loài đặc hữu Theo các tác giả Pócs T, Tolmachov, Schmithusen: “Đặc hữu là những loài chỉ phân bố ở một vùng (miền, địa phương ) duy nhất trên Trái đất, không thể phát hiện được ở bất kỳ nơi nào khác” Trong các yếu tố địa lý thì yếu tố đặc hữu được đánh giá là quan trọng nhất vì nó thể hiện tính độc đáo, riêng biệt, bản chất của mỗi hệ thực vật Khi phân vùng địa lý thực vật, tiêu chuẩn hàng đầu để phân định ranh giới giữa các vùng, miền, khu , chính là các taxon đặc hữu (theo Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002 [67])

Theo Takhtajan (1977) hiện nay trên Trái đất có 6 vùng hệ thực vật (vùng Toàn Bắc, vùng Nhiệt đới cổ, vùng Nhiệt đới mới, vùng Cáp, vùng Châu Úc, vùng Nam Cực), trong đó vùng Nhiệt đới mới đa dạng nhất với 32 họ đặc hữu, 40% số loài là đặc hữu (dẫn theo Nguyễn Anh Hung, 2014 [40])

Khi phân tích và đánh giá hệ thực vật Đông Dương, Gagnepain (1944) đã khẳng định thực vật Đông Dương nghèo yếu tố đặc hữu (11,9%), mà chủ yếu là các

Trang 36

yếu tố di cư [87]

* Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, người được đánh giá là đặt nền móng cho hướng nghiên cứu địa

lý thực vật là Gagnepain với hai công trình: “Góp phần nghiên cứu địa thực vật ở Đông Dương” (1926) và “Giới thiệu hệ thực vật Đông Dương” (1944), đã chia hệ thực vật Đông Dương thành 5 yếu tố địa lý: (1) Yếu tố đặc hữu chiếm 11,9% tổng

số loài của hệ thực vật; (2) Yếu tố Trung Quốc chiếm 33,8%; (3) Yếu tố Xích kim - Hymalaya chiếm 18,5%; (4) Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm 15%; (5) Yếu

tố phân bố rộng và nhập nội chiếm 20,8% (theo Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002 [67])

Năm 1965, trên cơ sở các loài thực vật được ghi trong bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương, Pócs T đã phân tích và sắp xếp các loài của hệ thực vật miền Bắc nước ta thành 22 yếu tố địa lý, chỉ căn cứ vào khu phân bố hiện tại của chúng chứ hoàn toàn không chú ý đến nguồn gốc địa lý Phổ các yếu tố địa lý do Pócs T nêu ra cho thấy hệ thực vật miền Bắc Việt Nam có yếu tố đặc hữu đến 23,6%, yếu

tố Đông Dương 16,4%, sau đó là nhóm các yếu tố Indo - Malaysia 25,7%, nhóm các yếu tố Ấn Độ 9,3% và yếu tố Nam Trung Quốc 5,1% Từ các dẫn liệu nêu trên có thể thấy hệ thực vật Việt Nam không chỉ thể hiện tính độc đáo do có yếu tố đặc hữu chiếm tới gần ¼ số lượng loài mà còn có mối quan hệ chặt chẽ với các hệ thực vật lân cận (theo Phạm Bình Quyền, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2002 [67])

Lê Trần Chấn và cs (1994) đã khái quát vùng phân bố cho các yếu tố địa lý của hệ thực vật Việt Nam vào 20 yếu tố, trong đó yếu tố đặc hữu được phân thành 4 khu phân bố: đặc hữu Bắc Bộ, đặc hữu Trung Bộ, đặc hữu Nam Bộ và đặc hữu Việt Nam Các tác giả đã phân tách các loài phân bố ở Việt Nam, Hải Nam, Đài Loan, Philippin vào cùng một yếu tố (yếu tố Hải Nam, Đài Loan, Philippin), trong khi toàn Châu Á cũng là một yếu tố [11]

Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các sơ đồ phân loại các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật Việt Nam của Gagnepain (1926), Pócs T (1965), Nguyễn Nghĩa Thìn (1972, 1994, 1997, 1999), Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn (1990), Wu Zheng-yi (1991), Zhu Hua (1993-1996) ; Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [86], đã đưa ra sơ đồ phân loại các yếu tố địa lý như sau:

Trang 37

1 Yếu tố thế giới: gồm các taxôn phân bố khắp nơi trên thế giới

2 Liên nhiệt đới: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc,

châu Phi và châu Mỹ Một số có thể mở rộng tới vùng ôn đới

- Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ

- Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ

- Nhiệt đới châu Á và châu Mỹ: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, đến vùng nhiệt đới châu Mỹ Một số có thể mở rộng tới Đông Bắc châu Úc

và các đảo Tây - Nam Thái Bình Dương

3 Cổ nhiệt đới: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc,

châu Phi và các đảo lân cận

- Nhiệt đới châu Á và châu Úc: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu

Á tới châu Úc và các đảo lân cận Nó nằm ở cánh đông của Cổ nhiệt đới và mở rộng đến các đảo Ấn Độ nhưng không bao giờ tới lục địa châu Phi

- Nhiệt đới châu Á và châu Phi: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu

Á, châu Phi và các đảo lân cận Đây là cánh tây của vùng Cổ nhiệt đới và có thể mở rộng tới Figi, các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc

4 Nhiệt đới châu Á (Inđô - Malêzia): gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt

đới châu Á từ Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Thái Lan, Đông Dương, Tây Nam và Nam Trung Quốc (Lục địa châu Á), Indonesia, Malaysia, Philippin đến New Ghine, mở rộng tới Figi và các đảo Nam Thái Bình Dương (vùng Malêzia) nhưng không bao giờ tới châu Úc Kiểu này được tách thành các kiểu phụ sau:

- Đông Dương - Malêzia: gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, từ lục địa Đông Nam Á (Mianma Thái Lan, Đông Dương, Tây Nam và Nam Trung Quốc) đến Malaysia, Indonesia, Philippin, New Ghine và mở rộng tới Figi và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc ở phía nam và Ấn Độ

ở phía tây

- Đông Dương - Ấn Độ hay lục địa châu Á nhiệt đới: gồm các taxôn phân bố

ở vùng nhiệt đới châu Á từ Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Thái Lan, Đông Dương, Tây Nam và Nam Trung Quốc nhưng không tới vùng Malêzia

- Đông Dương - Himalaya = Lục địa Đông Nam Á (trừ Malêzia và Ấn Độ):

gồm các taxôn phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, từ chân Himalaya, Mianma, Thái

Trang 38

Lan, Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc Một số chúng có thể mở rộng đến bán đảo Malaysia ở phía Nam Đây là nhóm thực vật phân bố chủ yếu trên núi cao

- Đông Dương - Nam Trung Quốc: gồm các taxôn phân bố ở Đông Dương và

Nam Trung Quốc, đặc biệt xung quanh biên giới Trung Quốc (chỉ có ở Nam Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam) và Đông Dương

- Đông Dương: Các taxôn phân bố giới hạn trong phạm vi 3 nước Đông Dương và đôi khi có thể gặp ở Thái Lan

5 Ôn đới Bắc: gồm các taxôn phân bố trong vùng ôn đới châu Á, châu Âu,

châu Mỹ và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới, thậm chí tới vùng ôn đới Nam bán cầu

- Đông Á - Bắc Mỹ: gồm các taxôn phân bố trong vùng ôn đới châu Á, Bắc

Mỹ, có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới

- Ôn đới cổ thế giới: gồm các taxôn phân bố ở ôn đới châu Âu, châu Á và có

thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới châu Phi và châu Úc

- Vùng ôn đới Địa Trung Hải - châu Âu - châu Á: gồm các taxôn phân bố

trong vùng ôn đới quanh Địa Trung Hải, châu Âu và châu Á

- Đông Á: gồm các taxôn phân bố trong vùng ôn đới từ Himalaya đến Đông

Trung Quốc tới Triều Tiên hay Nhật Bản và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới

6 Đặc hữu Việt Nam: gồm các taxôn phân bố trong giới hạn của Việt Nam

- Gần đặc hữu: gồm các taxôn phân bố chủ yếu trong giới hạn của Việt Nam

và có thể tìm thấy ở một vài điểm của các nước lân cận dọc theo biên giới

Như vậy, giữa các tác giả có sự không thống nhất về sự phân chia các yếu tố

cụ thể, quan điểm phân chia các yếu tố cũng như cách đặt tên các yếu tố cũng không thống nhất Từ phân tích trên có thể thấy giới hạn và hệ thống hóa các yếu tố địa lý thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) là hợp lý Theo đó châu Á nằm trên hai miền địa lý sinh vật thì không thể là một yếu tố như quan điểm của Lê Trần Chấn và

cs (1999) Việc tồn tại ở hai miền địa lý như vậy chắc chắn phải thuộc nhóm liên nhiệt đới hoặc cổ nhiệt đới hoặc phân bố rộng

Dựa vào các tư liệu về thành phần hệ thực vật gần đây của các tác giả: Aubreville và cs (1960-1998); Phạm Hoàng Hộ (1991-1993); Averyanov, Nguyễn Tiến Bân (1996); Nguyễn Tiến Bân (1997); Phan Kế Lộc, Lê Trọng Cúc (1997);

Trang 39

Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) , tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã đánh giá tính đa dạng cấu thành các yếu tố địa lý thực vật của các chi cây Hạt kín ở Việt Nam và kết quả là: ngoài yếu tố đặc hữu 0,9%, phần lớn thuộc yếu tố nhiệt đới châu Á (26,38%), tiếp đó là yếu tố Cổ nhiệt đới 25,68%, yếu tố Liên nhiệt đới 25,22%, còn yếu tố Ôn đới chỉ chiếm 18% Như vậy yếu tố thực vật nhiệt đới chiếm

ưu thế với 78,18% [86]

Từ phân tích trên có thể thấy sự phân chia các yếu tố địa lý thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) là hợp lý và có tính khoa học thuyết phục

1.3 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ến tính a dạng thực vật

1.3.1 Các yếu tố làm suy giảm tính đa dạng thực vật

* Trên thế giới

Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống

tự nhiên và phát triển kinh tế, xã hội Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng, đang bị suy giảm nghiêm trọng chủ yếu là do các hoạt động của con người Các nhà khoa học đều thống nhất nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật bao gồm:

- Do khai thác quá mức:

Từ những năm 40 của thế kỷ XX, khai thác gỗ trụ mỏ, gỗ xẻ, đã tăng lên nhanh chóng phục vụ nhu cầu của con người Nguyên nhân này một phần có sự liên quan đến gia tăng dân số trên toàn thế giới: năm 1850 có 1 tỷ người, tăng lên 2 tỷ người vào năm 1930 và hiện nay đã có trên 6 tỷ người Tốc độ tăng dân số tuy thấp

ở các nước công nghiệp phát triển nhưng lại tăng cao ở các nước kém phát triển ở châu Mỹ, châu Á, châu Phi, mà đây lại là nơi có thảm thực vật rừng rất phong phú

và đa dạng Theo số liệu của FAO (1991), 87 nước nhiệt đới ở ba châu lục (châu

Mỹ, châu Á, châu Phi), diện tích rừng hàng năm bị phá khoảng 170.000 ha, chiếm

tỷ lệ 0,9% so với diện tích tự nhiên Ở Băng La Đét, nhu cầu gỗ, củi và tre nứa tăng lên rất nhanh từ giữa năm 1977 đến 1984, tăng 69% đối với gỗ, 152% đối với củi và 115% đối với tre nứa (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [87])

- Chặt trắng trên diện tích lớn để kinh doanh:

Rừng biến thành đồng cỏ là nguyên nhân trước đây gây ra mất rừng đối với các nước Nam Mỹ Ở Brazin, 75% diện tích rừng bị chặt trắng làm đồng cỏ vào năm 1980 Rừng tiếp tục bị chặt trắng để xây dựng đồn điền Cao su, Cọ dầu, Mía,

Trang 40

Chè, Cà phê Ở bán đảo Malaya phần lớn rừng bị chặt trắng để làm nông nghiệp, đặc biệt để trồng Cao su, Cọ dầu

- Du canh, du cư và di dân:

Đây là nguyên nhân cơ bản gây mất rừng trong vùng nhiệt đới gồm: 70% rừng châu Phi, 50% châu Á, 35% châu Mỹ Việc du canh, du cư làm tăng diện tích trồng trọt rất nhanh liên quan đến gia tăng dân số Ở Madagasca dân số tăng từ 5-

12 triệu người và việc chặt phá rừng đã làm mất phần lớn diện tích rừng của đất nước Trong thời đại ngày nay việc di dân theo yêu cầu mới cũng là những nhân tố

xã hội và chính trị gây mất rừng Ví dụ ở Brazin, Chính phủ động viên các chủ đất vào rừng để sinh sống và chăn nuôi Sau một thời gian, vào cuối những năm 1970 người ta thấy mỗi năm có 20.000km2 rừng bị mất đi, đặc biệt lưu vực sông Amazon năm 1987 có khoảng 50.000km2 rừng đã bị đốt cháy (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [87])

- Hiện đại hóa đất nước:

Nhu cầu xã hội ngày càng tăng cao, việc hiện đại hóa nền kinh tế là hết sức cần thiết Nhiều diện tích rừng đã bị mất do xây dựng các nhà máy, hầm mỏ, đường giao thông và đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây mất diện tích rừng nhiệt đới Bên cạnh đó, việc hiện đại hóa đất nước còn kéo theo sự ô nhiễm môi trường do khí độc hại, chất phế thải Ở Mỹ, hiện nay việc sử dụng thuốc trừ sâu tăng gấp 2 lần nên đã làm hại đến các loài côn trùng có ích, hiện tượng mưa axit đã gây thiệt hại hàng trăm ha rừng mỗi năm (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [87])

* Ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng thực vật chủ yếu được thực hiện tại các Vườn Quốc gia (VQG), các Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), nơi mà thảm thực vật và hệ thực vật còn khá phong phú và đa dạng

Hầu hết các tác giả đều cho rằng các nguyên nhân làm suy giảm đa dạng thực vật thuộc 2 nhóm: nguyên nhân trực tiếp (khai thác gỗ, dược liệu, củi đun, xây dựng công trình, cháy rừng, phá rừng làm rẫy…) và nguyên nhân gián tiếp (biến đổi khí hậu và nước biển dâng, dân số tăng, đói nghèo, phong tục tập quán…) [62], [79], [101]

- Nguyên nhân trực tiếp:

Ngày đăng: 29/06/2020, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w