Trên báo đó, Xuân Diệu đã có bài viết: “Người làm vườn tình ái”, Đào Xuân Quý viết bài “ Thơ Tagor - Nhà thơ trí tuệ muôn màu” Ngoài ra, Lưu Đức Trung cũng viết một số công trình khoa họ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các
thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
tới các thầy cô giáo, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Bích Dung - người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2010 Người thực hiện
Nguyễn Thị Thuỷ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS
Nguyễn Thị Bích Dung Tôi xin cam đoan rằng:
- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã được
công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Thuỷ
Trang 3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của khoá luận
7 Bố cục của khoá luận
8 9 9 PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: Bước đầu tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ 10
1.1 Chất trí tuệ trong nghệ thuật 10
1.2 Chất trí tuệ trong thơ 12
1.3 Một số nhà văn, nhà thơ tiêu biểu cho chất trí tuệ trong sáng tác 14 Chương 2: Chất trí tuệ trong thơ Tagor 17
2.1 Cơ sở hình thành chất trí tuệ trong thơ Tagor 17
2.2 Chất trí tuệ trong thơ Tagor 22
2.2.1 Nhận thức và lý giải về tôn giáo 24
2.2.1.1 Nhận thức lý giải về chúa trời và chúa đời 25
2.2.1.2 Nhận thức lý giải về thiên đường và địa ngục 30
2.2.1.3 Nhận thức và lý giải về sự sống và cái chết 35
2.2.2 Nhận thức và lý giải những vấn đề lớn về nghệ thuật 38
2.2.2.1 Tagor bàn về cái đẹp 38
2.2.2.2 Tagor với thơ ca 42
2.2.3 Nhận thức lý giải những vấn đề về con người 46
2.3 Các phương tiện thể hiện chất trí tuệ trong thơ Tagor 51
Trang 42.3.1 Ngôn ngữ thơ
2.3.2 Hình ảnh thơ
2.3.3 Các biện pháp nghệ thuật
2.3.4 Triết lí trong thơ
51 52 55 55 KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lý do khoa học
Rabindranat Tagor (1861-1941) là một trong những nghệ sỹ vĩ đại của
thế kỉ XX Thơ Tagor là một di sản văn học quý báu Bàn về thơ Tagor đã có
không ít các bài viết của các tác giả tên tuổi như: Cao Huy Đỉnh, Xuân Diệu,
Đào Xuân Qúy, Lưu Trung Đức Trong những bài viết của mình, các tác giả này
đã chỉ ra nét đặc sắc cơ bản, những nhận xét cụ thể về thơ Tagor Tuy nhiên
những bài viết đi sâu tìm hiểu chất trí tuệ Tagor không nhiều Vì thế, người viết
chọn đề tài: “Chất trí tuệ trong thơ Tagor” nhằm giúp cho người đọc hiểu được
thơ Tagor một cách toàn diện và sâu sắc hơn
1.2 Lí do sư phạm
Hiện nay, việc tìm hiểu văn học Ấn Độ nói chung và thơ Tagor nói riêng
là một việc làm gây được nhiều thu hút và hứng thú đối với sinh viên khoa
Ngữ văn Bởi vì tìm hiểu tác phẩm thơ của Tagor sẽ giúp cho người giáo viên
có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học
Ấn Độ Tìm hiểu thơ Tagor là điều kiện để học tập ở đó những giá trị tinh thần
mà ông để lại cho nhân loại và những bài học quý giá của một nhà thơ chân
chính Đó là tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, tinh thần yêu nước yêu cuộc sống
và con người
Từ đó có thể liên hệ, mở rộng cho học sinh hiểu biết về những sáng tác
thơ của Tagor ngoài những bài đã được học trong chương trình Đặc biệt, giúp
các em có cái nhìn đúng đắn trong cuộc sống và học tập, biết trân trọng những
giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc mình
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Năm 1913 với tập: Thơ Dâng, Tagor đã giành được tiếng vang lớn trên thế
giới với giải thưởng Nobel văn học Từ đó cho đến nay đã có biết bao nhiêu
người trên hành tinh này nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của Tagor Chúng
ta có thể kể đến công trình và luận văn về Tagor ở các nước trên thế giới
1 Radha Kritxhan (Radha Kowsnhan) có bài triết lý của Tagor, xuất bản ở
Luân Đôn 1918, tái bản ở Bombay ẤnĐộ 1949 và 1951
2 Etwuat Tomsson (Eowand Thomson) có bài cuộc đời và tác phẩm của
Tagor, xuất bản ở Luân Đôn năm 1921
3 J.Đavi(J.Davi) có bài: Thơ của R.Tagor, xuất bản ở Paris năm 1927
4 Cơcniliusx(Cornilus), R.Tagor của nhà xuất bản giáo dục Ấn Độ năm
1928
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như ở Nga có thư của
Chêliep, công trình nghiên cứu cụ thể về thơ Tagor của Yerts (1855-1939) Từ
điều đó chúng ta có thể thấy việc nghiên cứu về thơ Tagor ở trên thế giới không
phải là ít Dưới góc độ này hoặc góc độ khác các công trình nghiên cứu về thơ
Tagor trên thế giới đều khẳng định tài năng thiên tài của ông, người ta cảm thấy
đọc thơ Tagor là như quên hết bực dọc trên đời Bởi vì, có lẽ lần đầu tiên trong
văn học người ta nghe thấy tiếng nói của mình như có trong thơ ông Người ta
thú vị khi nhận ra rằng thơ Tagor gắn chặt với truyền thống Ấn Độ nhưng cũng
gần gũi với tất cả mọi người
Ở Việt Nam đề cập đến Tagor sớm nhất đó là vào năm 1942 trên báo Nam
Phong, số 81-84 Có thể nói năm 1961 khi chúng ta tham gia cùng thế giới kỉ
niệm 100 năm ngày sinh của Tagor thì Tagor mới thực sự được chú ý và giới
thiệu, nghiên cứu ở Việt Nam Mở đầu là tiểu luận của Cao Huy Đỉnh viết về
“Rơvinđơranat Tagor” được nhà xuất bản ấn hành năm 1961 Có thể nói đây là
một tiểu luận đáng giá, bởi vì đứng trên quan điểm Macxit Cao Huy Đỉnh đã chỉ
Trang 7ra được những giá trị lớn trong thơ Tagor Cùng với tiểu luận nghiên cứu này,
ông đã chọn dịch và giới thiệu một số thơ, kịch, truyện ngắn của Tagor với độc
giả Việt Nam
Sau bản dịch của Cao Huy Đỉnh thì Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Xuân
Diệu, Đào Xuân Quý cũng đã chọn dịch một số tác phẩm của Tagor Bản dịch
quen thuộc hiện nay là bản dịch của Đào Xuân Quý được Nhà xuất bản văn học
ấn hành năm 1973 Cùng với bản dịch này, Đào Xuân Quý đã có bài giới thiệu
về Tagor Ông nhấn mạnh về giá trị nhà thơ, cuộc đời của Tagor
Nhân dịp kỉ niệm 120 năm ngày sinh của Tagor, báo văn nghệ đã giành
một số đặc biệt về Tagor Trên báo đó, Xuân Diệu đã có bài viết: “Người làm
vườn tình ái”, Đào Xuân Quý viết bài “ Thơ Tagor - Nhà thơ trí tuệ muôn màu”
Ngoài ra, Lưu Đức Trung cũng viết một số công trình khoa học của mình về các
vấn đề: Tagor người kế thừa truyền thống nhân đạo chủ nghĩa trong nền văn học
Ấn Độ, vài nét về truyện ngắn của Tagor, Tagor với nước Nga mới
Trong những năm gần đây những bài viết về Tagor đã xuất hiện nhiều
trên các tạp chí nghiên cứu văn học
Tạp chí văn học số 8 (1995) “Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ
Tagor” của Cao Huy Đỉnh đã khẳng định tư tưởng và tình cảm nổi bật trong thơ
Tagor
Tạp chí văn học số 6 (2001) có bài “Rabindranat Tagor họa sĩ vẽ bụi đất
và ánh sáng mặt trời” của Lê Từ Hiển Ở bài viết này người nghiên cứu muốn
khẳng định tài năng mô tả theo bút pháp kết hợp hiện thực với huyền ảo của
Tagor
Nghiên cứu văn học số 10(2007) Nguyễn Văn Hạnh có bài “Truyện ngắn
R.Tagor trên hành trình hiện đại hóa văn xuôi Ấn Độ thế kỷ 20” Bài viết khẳng
định vai trò vị trí của Tagor đối với nền văn xuôi Ấn Độ
Trang 8Nghiên cứu văn học số 3(2008) có bài “Về trang phục của nhân vật trong
mây và mặt trời của Tagor”của Lê Thanh Huyên
Nghiên cứu văn học số 8(2008) Lưu Đức Trung có bài viết “Rabindranat
Tagor bàn về cái đẹp” đã đưa ra quan niệm của Tagor về cái đẹp
Như vậy cho đến nay việc tìm hiểu về thơ Tagor vẫn đang rất thu hút giới
nghiên cứu Với đề tài này người viết nhằm đi sâu tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ
Tagor Từ đó giúp cho người đọc hiểu được thơ Tagor một cách hoàn thiện và
sâu sắc hơn
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằn mục đích khám phá chất trí tuệ trong thơ Tagor Qua đó thấy
được tài năng của nhà thơ và những đóng góp lớn lao của ông cho nền văn học
Ấn Độ nói riêng và cho nhân loại nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất trí tuệ trong thơ Tagor
4.2 Phạm vi khảo sát
“Thơ Tagor” Đào Xuân Qúy dịch do nhà xuất bản văn hóa ấn hành
Ngoài ra còn một số tài liệu khác liên quan và phục vụ cho quá trình
nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này người viết đã sử dụng phối hợp một số phương
pháp sau:
5.1 Phương pháp khảo sát
5.2 Phương pháp phân tích ,so sánh, đối chiếu
5.3 Phương pháp tổng hợp nâng cao vấn đề
Trang 96 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp một phần nhỏ bé vào việc cung cấp những ngữ liệu
cần thiết cho việc giảng dạy những tác phẩm về văn học Ấn Độ sau này ở trường
Trung học phổ thông
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Bước đầu tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ
Chương 2: Chất trí tuệ trong thơ Tagor
Trang 10
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ
1.1 Chất trí tuệ trong nghệ thuật
Như chúng ta đã biết, nghệ thuật là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và
của các hoạt động con người một phương tiện quan trọng để con người chiếm
lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực nhằm mục đích tạo thành và phát triển
các năng lực chiếm lĩnh, cải tạo bản thân, cải tạo thế giới xung quanh theo quy
luật của cái đẹp
Đã từ lâu vấn đề giữa nghệ thuật và đời sống đã trở thành một cuộc đấu
tranh dai dẳng và quyết liệt giữa các trường phái và các khuynh hướng nghệ
thuật khác nhau Sở dĩ như vậy vì nghệ thuật có một vị trí quan trọng trong đời
sống Những khuynh hướng nghệ thuật tiến bộ luôn chủ trương gắn liền nghệ
thuật với đời sống nhằm phát huy tác dụng mạnh mẽ và tích cực của nó đối với
đời sống và tiến bộ xã hội
Ngược lại khuynh hướng nghệ thuật suy đồi, phản động luôn chủ trương
tách nghệ thuật khỏi đời sống cắt đứt mối quan hệ hữu cơ giữa nghệ thuật với
đời sống, nhằm mục đích hạn chế tác động tích cực của nó đối với sự phát
triển xã hội
Vấn đề này dưới ánh sáng thuyết phản ánh của Lênin đã được giải quyết
đúng đắn và thấu triệt Xuất phát từ tiền đề cơ bản : “Tồn tại quyết định ý
thức” Lênin đã nhấn mạnh ý thức con người là hình ảnh của thực tại khách
quan, tức là thực tại khách quan là nguồn gốc của mọi sự nhận thức, đời sống
vật chất xã hội là cơ sở cho mọi hình thái ý thức xã hội trong đó có văn học
nghệ thuật Thực tại khách quan thường xuyên được phản ánh vào ý thức của
con người Do đó sự sáng tạo nghệ thuật không nằm ngoài hoạt động nhận
Trang 11thức và thực tiễn của con người, không thể không là phương thức phản ánh và
cải tạo thực tại khách quan của con người được
Như vậy ta thấy rất rõ chức năng phản ánh, nhận thức của nghệ thuật
trong đó có văn học nằm ngay trong lý do tồn tại của chính nó Tước bỏ chức
năng nhận thức thì về thực chất nghệ thuật tự thủ tiêu mình
Dĩ nhiên xét về nguồn gốc và bản chất, nghệ thuật không phải là một hoạt
động nhận thức trừu tượng thuần túy mà nó bắt nguồn và gắn liền với hoạt
động thực tiễn của con người Nó là một phương thức đồng thời là phương
tiện mà con người dùng để chiếm lĩnh thực tại khách quan nói theo cách của
Mác là “tự khẳng định mình trong thế giới của đối tượng” Chỉ có khác là sự
chiếm lĩnh và khẳng định này mang tính đặc thù, tức là nó bắt thế giới đối
tượng tồn tại theo kiểu người, nó in bóng dáng của sự sống của con người lên
thế giới đó dưới hai hình thức: nhân hóa và nhân loại hóa
Như vậy, nghệ thuật phải mang chức năng nhận thức - thẩm mỹ Khi nói
nghệ thuật mang chức năng nhận thức là chúng ta khẳng định sự tham gia tích
cực của trí tuệ của chủ thể sáng tạo hay một tác phẩm nghệ thuật chính là sản
phẩm của trí tuệ
Nếu trí tuệ sáng tạo ra lịch sử thì trí tuệ cũng sáng tạo ra nghệ thuật chân
chính Nhưng do tính đặc thù của nó nên trong nghệ thuật trí tuệ không biểu
hiện một cách trừu tượng mà nó phải thông qua sự rung động sâu xa của cảm
xúc thẩm mỹ Ở nghệ thuật sự nhận thức bằng cảm xúc thẩm mỹ của chủ thể là
một điều không thể thiếu được và không kém phần quan trọng so với nhận
thức bằng tư duy Nói điều đó chúng tôi nhằm khẳng định tìm hiểu chất trí tuệ
trong nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng (trong đó có thơ) cần bám sát
tính đặc thù của nó Đối với thơ đặc thù này có ý nghĩa quan trọng
Trang 12Mặt khác tìm hiểu chất trí tuệ của nghệ thuật không thể không nghĩ đến
mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Một nội dung lớn luôn luôn được
chuyển tải từ một hình thức thích hợp
Trí tuệ là sự thông minh, linh hoạt của con người, nó thuộc phạm trù lí
tính nhưng không đồng nhất với lí trí Vì vậy không nên đối lập nó như là sự
đối lập trực tiếp với cảm tính Hơn nữa trong nghệ thuật đặc biệt là trong thơ
là không thể như vậy
Trí tuệ là sự biểu hiện cao của năng lực tư duy đến một mức độ nào đấy,
đến độ của nó mới thành trí tuệ
Đối với khoa học, nó là sự kết tinh cao nhất của một năng lực tư duy lớn
để có những công trình Với tác phẩm nghệ thuật nó là kết tinh của sự sáng tạo
mang tính thẩm mỹ rất lớn của một nghệ sỹ tài năng
1.2 Chất trí tuệ trong thơ
Có thể khẳng định rằng, chất trí tuệ kết tụ như một điểm sáng thẩm mỹ
mang phong cách của nghệ sỹ tài năng Vì vậy nó có sức chinh phục lớn tạo
cho người đọc sự rung động mãnh liệt
Trí tuệ không phải của thần linh, trí tuệ là cái cao quý rất tinh vi, kì diệu
của sự phản ánh thực tại vào trong tâm não con người và ở trong nghệ thuật trí
tuệ tự nó lấy lại những tài liệu những chất liệu của thực tại mà sáng tạo ra tác
phẩm - một tác phẩm nghệ thuật là sự quyện se nhào nặn giữa thực tại và tư
tưởng tình cảm, cảm xúc, cá tính của người nghệ sỹ (Xuân Diệu)
Ý kiến trên đây của Xuân Diệu một mặt khẳng định vai trò của chất trí tuệ
trong thơ Mặt khác cho ta thấy tính đặc thù của nó Từ lâu Hêghen cũng đã
chỉ rõ “cái duy lí không biểu hiện thành một thể khái quát trừu tượng hay
thành một thể tổng hợp triết học, hoặc thành một thể đa dạng với nhiều
phương diện khác Trí tuệ đáng lí đã thiết lập những quan hệ nhất định giữa
các mặt này, nhưng cái duy lí lại tràn đầy sự sống và sự vận động”
Trang 13Trong thơ ca có sự tồn tại hiển nhiên một loại thơ đó là thơ triết lí Với
loại thơ dường như chất triết lí thoạt nhìn có vẻ “lấn át” cảm xúc, và sự suy
tưởng chiếm vị trí chủ đạo của quá trình sáng tạo Thực chất vấn đề không hẳn
như vậy Đành rằng với loại thơ này chất suy tưởng nổi lên bề mặt như một
dấu ấn mạnh mẽ trong tác phẩm, nhưng đằng sau cái “bề nổi” ấy là cả một
cảm xúc cháy bỏng.Vì bên cái khái quát mang tính lôgic có lúc lại xuất phát từ
những khái niệm hoặc những suy tưởng có tính chất luân lí thuần túy mà triển
khai thành những ý nghĩ để phả vào một âm hưởng thơ, người thi sĩ sẽ phải có
trái tim dào dạt cảm xúc mới tạo được một hình tượng thơ nhất quán mang
tính thẩm mỹ cao
Hà Minh Đức trong một chuyên luận thơ đã trình bày cách hiểu của mình
về loại thơ này như sau: “thơ suy tưởng là loại thơ mà cảm hứng chủ đạo và
cái nền cấu tạo làm những suy nghĩ cũng như sự vận động của hình tượng
thành sự vận động của những ý nghĩ”
Có thể dẫn ra đây ý kiến của Huy Cận như là sự chú thích thêm cách hiểu
của Hà Minh Đức: “sự suy nghĩ mà chúng ta nói ở đây là sự suy nghĩ thực sự
bắt nguồn từ cuộc sống sinh động dào dạt, suy nghĩ bằng cảm xúc, bằng hình
tượng Suy nghĩ ở đây như hoa thắm lá tươi mở ra từ dòng nhựa sống” Như
vậy chất trí tuệ trong thơ không mang tính lí trí thuần túy Mặc dù sự suy nghĩ
được bộc lộ ra trong một bài thơ thường tập trung ở cách đặt vấn đề, ở những
lập luận và những suy tưởng
Có thể nói, thơ triết lý suy tưởng là một khuynh hướng cần được chú ý
Tuy nhiên, tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ lại không chỉ đóng khung trong sự
khảo sát loại thơ đó mà phạm vi của nó còn được mở rộng hơn nhiều
Chúng ta có thể khẳng định rằng, bất kể nhà thơ tài năng nào thì thi phẩm
của họ cũng đều có chất trí tuệ Nhưng không phải bất cứ nhà thơ tài năng nào
chất trí tuệ trong thơ họ cũng được nổi lên như dấu hiệu của một phong cách,
Trang 14mà chỉ khi nào chất trí tuệ được kết tinh trong toàn bộ hình tượng cùng với
những thủ pháp nghệ thuật điêu luyện làm cho người đọc nhanh chóng nhận ra
ngay “nhà thơ này” thì thi phẩm của họ mới tạo được sự rung động sâu xa
trong lòng độc giả Khi nào chất trí tuệ trong thơ họ được biểu hiện trong việc
đặt ra những vấn đề có ý nghĩa lớn, lý giải, nhìn nhận vấn đề minh bạch, sáng
tạo và thể hiện ở việc chuyển hóa ngôn ngữ cấu tứ một cách uyển chuyển, độc
đáo, giàu sức thuyết phục, nghĩa là chẳng những ở vấn đề được phản ánh có
dấu ấn cá tính sáng tạo mà còn ở cách phản ánh vấn đề điêu luyện thì tác phẩm
thơ của họ mới tạo được dấu ấn của phong cách thơ
Phong cách ở đây chính là giọng nói riêng của mỗi nhà thơ nhà văn bởi
cái còn lại của mỗi nhà văn là giọng nói của riêng mình Nếu không có nét
riêng thì sẽ không còn cá tính sáng tạo nữa Và cá tính ấy không gì khác là
xuất phát từ trí tuệ của nhà văn nhà thơ
1.3 Một số nhà văn nhà thơ tiêu biểu thể hiện chất trí tuệ trong sáng tác
Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ là tìm hiểu cái dấu ấn riêng của phong cách
trong thơ, của một tác giả cụ thể của một thi phẩm cụ thể
Tạo được dấu ấn phong cách thơ đó là một quá trình sáng tạo không
ngừng xuất phát từ trí tuệ lớn lao Chúng ta cũng có thể nhận thấy lịch sử văn
học nhân loại đã tích lũy không ít những danh nhân nghệ sỹ như vậy
Chúng ta có thể lấy một số dẫn chứng để minh họa:
Chẳng hạn ở thời kì phục hưng kì diệu “cuộc sống trở nên dồn dập hơn
bao giờ hết, những hiện tượng xảy ra cái nọ liên tiếp cái kia với một tốc độ
chưa từng thấy” Sêcxpia xuất hiện như một ngôi sao trí tuệ trên công luận
nghệ thuật
Tác phẩm của ông là những kiệt tác tuyệt vời Dù thời gian hay không
gian vẫn hằn lên mình những tác phẩm ấy những thăng trầm, hay đánh giá
khắc nghiệt thì với những độc giả có tâm hồn lành mạnh đều nhận thấy mọi
Trang 15tác phẩm mà ông viết ra là sự kì diệu từ cuộc sống, là những ngôi sao lấp lánh
trí tuệ Sêcxpia
Sêcxpia không những sống mãi trong lòng độc giả với những chiếc hôn
cháy bỏng yêu thương của Rômeo, Juiliet, không những tạo dấu ấn say mê
trong lòng người đọc ở cái ghen khủng khiếp của Ôtenlô chan chứa tình đời
mà ông còn tồn tại với những câu nói đầy tính triết lí từ Hamlet “Sống hay
không sống” (tồn tại hay không tồn tại) trong sự trăn trở đi tìm lẽ sống với
những khát vọng lớn lao của những người khổng lồ của thời đại phục hưng
qua những bi kịch bằng những lời văn có cánh của ông
Đến với văn học Nga, chắc chắn chúng ta sẽ nhớ đến Puskin - “Puskin
dân tộc hơn tất cả các nhà thơ Nga”
Ông chính là tâm hồn Nga đẹp đẽ, thuần khiết Người hiến dâng cả cuộc
đời sôi nổi khẩn trương, lúc nào cũng tràn đầy sức sống thanh xuân cho tổ
quốc và nhân dân Bêlinxki nói: viết về Puskin có nghĩa là viết về toàn bộ nền
văn học Nga Còn Gorki đã đặt Puskin bên cạnh Secxpia và Gớt Puskin thuộc
về những hiện tượng “vĩnh viễn sống, vĩnh viễn mới” Với một “Tôi yêu em”
chân thành, đằm thắm, rạo rực say mê , người đọc đã cảm nhận được bao cung
bậc của tình yêu đó là: nỗi đau khổ âm thầm, niềm tuyệt vọng, sự rụt rè, lòng
ghen tuông luôn dày vò nhưng trên hết vẫn là tình yêu của lòng vị tha đến
thánh thiện Có được điều đó, không chỉ xuất phát từ trái tim yêu thương ngập
tràn cảm xúc, có được điều đó vì nhà thơ còn là con người của lý trí thiêng
liêng Có thể khẳng định rằng: “đặc điểm thơ ca Puskin là khả năng phát hiện
trong con người mỹ cảm và lòng nhân ái, hiểu theo nghĩa là lòng kính trọng
vô hạn đối với phẩm giá con người với tư cách là CON NGƯỜI”
Như thế chất trí tuệ của Puskin được hiểu như một sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa lý trí và cảm xúc để tâm hồn Nga thực sự vươn xa trong niềm tôn
kính và sự ngợi ca
Trang 16Lênin đã đánh giá rất cao tác phẩm của Puskin, có lần người đã phân
tích truyện thơ “Epghenhi Ônheghin” và nhấn mạnh ưu điểm của truyện thơ
này ở phương diện đã đặt ra vấn đề lớn của thời đại- giá trị nhận thức của tác
phẩm
Hồ Sỹ Vịnh trong một bài báo lớn giới thiệu về Puskin đã khẳng định
Puskin là một bậc thầy văn hóa thế giới Sau này còn có nhiều ý kiến đánh giá
rất cao về Puskin: “Puskin là nhà thơ của trí tuệ nhà thơ tôn thờ trí tuệ”
Gần gũi hơn, chúng ta có thể kể đến Hồ Xuân Hương như một thi sĩ tiêu
biểu của khuynh hướng thơ mang chất trí tuệ của thơ ca Việt Nam Thơ Hồ
Xuân Hương tưởng như tục mà lại vượt lên trên cái tục Yếu tố tục ở đây được
sử dụng như là một thủ pháp nghệ thuật để truyền đạt một nội dung rất lớn:
Một quan điểm nhân sinh
Và chính vì vậy, chính vì vượt lên trên cái tục nên Hồ Xuân Hương rất
ghét cái tục bản chất Cái tục trần trụi thô rát từ cuộc sống thường ngày Chất
trí tuệ trong thơ của nữ thi sỹ này cũng được biểu hiện thống nhất ở hai mặt là
mặt nội dung và nghệ thuật Nội dung bao giờ cũng mang nhiều tầng nghĩa
sâu sắc dưới lớp phủ nghệ thuật tài hoa Thể thơ quen thuộc: thất ngôn tứ
tuyệt, hình ảnh thơ gần gũi, lời thơ nhẹ nhàng nhưng có sức tác động mạnh
mẽ
Những năm gần đây, chúng ta cũng có thể lấy Chế Lan Viên là một ví
dụ Có một nhà văn nào đó đã nói rất đúng: “Nghệ thuật là tôi, khoa học là
chúng ta” Nghệ thuật thơ ca là lĩnh vực của sự sáng tạo, của cá tính, của
phong cách Trong thi đàn Việt Nam, bên cạnh rất nhiều những tên tuổi khác
ta vẫn dễ dàng nhận ra một hồn thơ Chế Lan Viên lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ Chế
Lan Viên luôn chủ chương tìm một hướng đi để tăng cường sức mạnh nhận
thức và khám phá chất thơ: “Phát giác sự vật ở bề chưa thấy, ở cái bề sâu, bề
sau, ở cái bề xa chứ không phải nhìn nhận từ cảm xúc bên ngoài” Chế Lan
Trang 17Viên ưa lật xới vấn đề, thích dùng phản đề, suy luận để phát hiện ra những nội
dung chìm sâu bề mặt sự vật, hiện tượng Về nghệ thuật hình ảnh thơ Chế
Lan Viên bao giờ cũng đa nghĩa và đầy xúc động, kết cấu thơ độc đáo, nhân
vật trữ tình bao giờ cũng là nhân vật “đa nghĩ” và “đa cảm”, giọng điệu thơ
ông ưa triết lý triết luận
Vẻ đẹp trí tuệ làm cơ sở để tạo thành phong cách trữ tình triết luận
trong thơ Chế Lan Viên Nó tạo thành nét phong cách độc đáo không phai
nhòa trong thơ ông và đem lại cho những sự vật hiện tượng những hành động
cụ thể, ý nghĩa phổ quát, nâng nhận thức người đọc lên một tầm cao mới Đó
cũng chính là một mặt mạnh của thơ Chế Lan Viên
Từ việc khám phá ,tìm hiểu chất trí tuệ trong nghệ thuật và trong thơ ca,
chúng ta có thể rút ra những vấn đề sau:
- Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ không thể tách rời hoặc xem nhẹ đặc
trưng của nghệ thuật
- Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ không thể không nhìn nhận nó ở cả hai
bình diện: nội dung và hình thức trong mối quan hệ mật thiết
- Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ đối với một nhà thơ cụ thể là tìm hiểu
dấu ấn của một phong cách thơ
Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ Tagor cũng căn cứ vào những điểm xuất
phát ít nhiều mang tính lý luận đã được trình bày
Trang 18CHƯƠNG 2 CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ TAGOR 2.1 Cơ sở hình thành chất trí tuệ trong thơ Tagor
Hầu hết các nhà văn nhà thơ trên thế giới không có ai không kế thừa
truyền thống tốt đẹp của văn học dân tộc mình Chính đó là một nhân tố quan
trọng làm cho tên tuổi của họ trở nên bất tử
Thi hào Tagor là con người như vậy Xứ sở Ấn Độ với dãy Hymalaya
quanh năm tuyết phủ giàu chất suy tư và giàu lòng nhân đạo Trong lịch sử Ấn
Độ, người ta không thấy họ đi chinh chiến mà chỉ bị xâm lược Và kẻ nào vào
đất nước họ thì liền trở thành người Ấn Độ bản xứ Bộ lạc Arian và người
Arian là một dẫn chứng tiêu biểu Không những thế mà đất nước Ấn Độ còn là
nơi trú ngụ của các thần linh và các tôn giáo
Tagor đã thừa kế được cả hai truyền thống này của dân tộc mình Triết
học Ấn Độ từ Vêđa, Upanisát, là một triết lý trí tuệ Người Ấn Độ có ba con
đường đi đến với đấng tối cao: Lòng tin, tình thương và trí tuệ (nhận thức
được chân lí), như vậy yếu tố nhận thức ngay từ đầu là yếu tố quan trọng trong
truyền thống Ấn Độ (trong khi ở Châu Âu lại nhấn mạnh yếu tố lòng tin) Và
người Ấn Độ đã dùng yếu tố trí tuệ này giải thích mọi lẽ tồn tại của vũ trụ
Triết học Ấn Độ cho rằng con người đạt đến sự tuyệt đối bằng tri thức
Trong thơ Tagor người ta sẽ bất gặp sự “vô biên” mà ông hướng tới và
trong thơ mình, Tagor cũng học tập được truyền thống nhân đạo chủ nghĩa của
dân tộc Từ thuở xưa, con người Ấn Độ đã biết suy nghĩ về mình, biết đi tìm
cái lẽ thực tại cao nhất, và duy nhất của vũ trụ Họ đề cao con người, “con
người là và sẽ là tối cao”
Trang 19Trong bộ luật Manu, bộ luật đầu tiên của Ấn Độ đã nói rằng: “Ưu tú nhất
trong mọi sinh vật là loài động vật Ưu tú nhất trong động vật là loài động vật
có lý tính Ưu tú nhất trong loài động vật có lý tính là con người”
Và qua tất cả các chặng đường lịch sử người Ấn Độ đã không mệt mỏi đấu
tranh chống các chế độ đẳng cấp, các lễ giáo hủ bại của đạo Balamôn, các tập
tục dã man của phong kiến và tôn giáo, chống lại sự xâm lược của bọn đế quốc
Anh để bảo vệ quyền làm người của mình
Trong thơ Tagor lúc nào chúng ta cũng thấy vang lên bài hát về con người
Con người đẹp nhất trong truyền thống của dân tộc Ấn Ông đã hiểu theo tiếng
vang của con người đi trước để ca ngợi con người Ông ca ngợi những con
người chỉ tin ở vị thần nào có nhân cách Những bài hát đó ông đã học tập được
trong những trang thần thoại đầy lí thú, giàu ước mơ trong Vêđa, Bhabnarata,
trong kinh Uranisát đầy chất triết lý, cho đến những bài thơ lai láng chất trữ tình
Chadidatx, Biharilan, những vở kịch đầy sức hấp dẫn của Kaliđasa
Ông đã học tập được “sự hoà quyện giữa đời sống bình thường và những
bí mật trong đời sống tinh thần, sự hoà quyện giữa thơ và triết học, chất hài
hước và chất trữ tình, sự phân tích xã hội và sự phát hiện ra thế giới nội tâm
của con người trong nghệ thuật của Ấn Độ” để nâng tầm cho thơ mình Và
chính truyền thống của dân tộc Ấn Độ, nghệ thuật Ấn Độ đã nâng tầm cho chất
trí tuệ trong thơ Tagor
Truyền thống của dân tộc Ấn, nghệ thuật của văn học Ấn đã đến với Tagor
bằng nhiều con đường, nhưng con đường quan trọng nhất vẫn là con đường do
sự giáo dục của gia đình Tagor đối với ông
Tagor được sinh ra trong một gia đình mà 13 anh chị em ruột của ông đều
trở thành văn sỹ, nhạc sỹ và họa sỹ xuất sắc của xứ Bengan Điều đó càng khẳng
định truyền thống giáo dục của gia đình Tagor Cha mẹ của Tagor ông
Đêvenđơrarat là một nhà triết học nổi danh rất chú trọng đến việc giáo dục con
Trang 20cái Sống giản dị, cần cù, biết rèn luyện sức khoẻ, biết quý trọng thì giờ lao
động, biết yêu văn hoá nghệ thuật và ngôn ngữ của dân tộc và đặc biệt
Đêvenđơrarat rất chú trọng đến việc phát triển năng khiếu của con
Tagor từ nhỏ đã được cha cho đi du lịch khắp đó đây Đó là điều kiện thuận
lợi cho Tagor hiểu biết về đất nước mình, thấy được vẻ đẹp của tổ quốc mình,
đó cũng là điều kiện làm cho tâm hồn của Tagor vốn đã thơ mộng lại thêm phần
phong phú
Tagor còn được cha cho đi dự ngày hội văn hoá dân tộc hàng năm do
phong trào phục hưng văn hoá Ấn Độ tổ chức Phải nói rằng đó là một ngày
quần chúng và nghệ sỹ tập hợp đông đủ để biểu dương nghệ thuật Đó là ngày
giúp cho Tagor tiếp thu được lòng tự hào dân tộc, lòng yêu văn hoá dân tộc và
truyền thống lao động sáng tạo nghệ thuật không ngừng của người dân Ấn Độ
Lịch sử văn hoá đã phải chịu ơn nhiều ông Đêvenđơrarat một nhà giáo dục
kiệt xuất Lịch sử làm cha, làm mẹ cũng đã tập được ở Đêvenđơrarat rất nhiều ở
nghệ thuật giáo dục con cái
Chúng ta sẽ rất sai lầm nếu như khi xét đến những yếu tố góp phần tạo nên
thiên tài Tagor mà lại bỏ qua “vương quốc những người đầy tớ”của ông Tagor
đã từng nói “bước đầu của tôi đi vào văn học có nguồn gốc của nó ở trong
những cuốn sách được lớp người tôi tớ yêu thích và truyền tụng”
Tagor rất yêu quý cái “gia đình đầy tớ” đó của mình đó là Syam,chú
Badema có tài kể chuyện tuyệt vời.Cả một kho tàng văn học dân gian Ấn Độ đã
được các chú đưa ra ru cho tâm hồn giàu cảm xúc của Tagor.Tagor chịu ơn
nhiều cái “gia đình đầy tớ” của mình là phải
Tagor không những chỉ học tập ở nền văn học dân gian Ấn Độ đã tích luỹ
mấy ngàn năm mà do điều kiện lịch sử ông sống lúc bấy giờ nên Tagor còn học
tập được rất nhiều ở truyền thống văn học phương Tây mà đặc biệt ở nền văn
học cổ điển Anh để tạo ra thiên tài của mình Nền văn học Anh qua Sêxpia,
Trang 21Bairơn, đã truyền vào cho thơ Tagor nguồn thúc đẩy mãnh liệt của những tình
cảm mới sôi nổi Tagor thấy rằng cần phải có những luồng tình cảm mới chân
chính của Tây phương để đánh tan cái bình lặng trì trệ của đời sống xã hội và
tâm hồn Ấn Độ
Ông nói: “Chúng tôi sung sướng thưởng thức nghệ thuật văn học Anh
không phải vì thẩm mỹ mà vì trong sự đình trệ của chúng ta văn học ấy đem đến
một làn sóng mãnh liệt mặc dù làn sóng ấy có thể mang tất cả những gì dơ bẩn
từ dưới đáy phơi trần lên trên mặt”
Tagor đã học tập được ở Bairơn (1788 - 1834) người được sánh ngang với
Sêxpia cái tinh thần phóng khoáng, tôn trọng tự do, ghét bạo tàn ghét cái ác Và
cũng như Shelley ông ca ngợi cái đẹp của trí tuệ, cái đẹp của thiên nhiên Thơ
của Tagor cũng như thơ của Shelley thường mang tính triết lý của cuộc đời
Tagor cũng học tập ở Sêxpia và văn học phục hưng Anh chủ nghĩa nhân
văn đòi phải giải phóng con người, ca ngợi con người, nêu cao tinh thần dân
chủ Tagor học tập ở Shelley ở Sêxpia hình thức thơ Bơnnét …
Quả thật, Tagor đã chờ đón văn học phương Tây với niềm vui mới Có điều
ông không thiên về cái mới hoàn toàn đó để mà rập khuôn vào văn học Ấn mà
theo ông văn học Ấn trước hết phải sống cuộc sống của Ấn Độ
Vì thế, ông đã biết kết hợp một cách tuyệt vời, “cái trầm ngâm, sâu sắc,
trừu tượng và bình lặng” của Ấn Độ với cái sôi nổi phóng khoáng của văn học
tư sản tiến bộ phương Tây để tạo nên giá trị của thơ mình
Sự kết hợp tuyệt vời đó đã khẳng định tài năng của Tagor Đó là tài năng
không những của một nhà thơ cuộc đời giàu lòng nhân từ bác ái, giàu chất suy tư
mà còn là tài năng của một triết gia
Và điều đó làm cho Tagor lớn đối với nhân loại
Trang 222.2 Chất trí tuệ trong thơ Tagor
Trong nhiều nhà thơ nổi tiếng thế giới, Tagor hiện lên như một ánh sáng
lung linh của một nhà thơ trí tuệ ở thế kỷ XX
Tagor sáng tác rất nhiều Từ tám tuổi ông bắt đầu làm thơ
Năm 13 tuổi ông có bài đăng trên tạp chí Ông viết không ngừng cho đến
ngày ông qua đời (80 tuổi) và đã cống hiến cho nền văn học Ấn Độ một gia tài
khổng lồ: 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết và hàng trăm truyện ngắn,
diễn văn, tuỳ bút, chính luận…
Trên thế giới một khả năng sáng tạo dồi dào như vậy rất hiếm Thật đúng
khi nói rằng “Rabinđranath Tagor là một tổng hợp thiên tài kỳ diệu của văn học
Ấn Độ từ Upanisat qua tài liệu phật học đến Kaliđaxa, rồi tinh thần nhân đạo
thời trung cổ, cùng với tính lãng mạn tiến bộ trong văn học Anh khi giành độc
lập của nhân dân Ấn Độ”
Trong kho báu thơ ca quý báu của mình, tên tuổi Tagor lấp lánh hào quang
khi giải thưởng văn học cao quý nhất được trao cho tập thơ Dâng Tập thơ có
những vần thơ đẹp lộng lẫy, đó cũng là lúc Tagor tìm thấy “ngôi nhà của mình ở
mọi nơi trên thế giới”
Nhiều câu chuyện trong cuộc đời và thi phẩm của ông làm cho chúng ta
thấy được cái vĩ đại siêu đẳng của ông Một số trí thức phương Tây đã cho rằng
Tagor là đức chúa Giêsu toàn năng và đáng yêu Những người Ấn thì cho rằng
không ai có thể bằng được ông Và họ gọi thời đại này là thời đại Tagor
Cái gì đã tạo nên sự vĩ đại đến siêu đẳng của Tagor? Có lẽ chính là vì: “Tất
cả bao nhiêu ước vọng của loài người đều có trong thơ ông”
Nadim Hic met (1902 - 1963), nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ nhận xét: “Tôi rất yêu
thơ Tagor và yêu nhạc Bath Tôi cóc cần cái vẻ thần bí của họ Tôi biết họ có
điều thần bí, nhưng trong tác phẩm của họ xuyên qua vẻ thần bí, cái có nhiều
Trang 23nhất là lòng yêu cuộc sống, là lòng tin cuộc đời Vì thế mà Bath vẫn là rất lớn
trong các nhạc sỹ lớn nhất, Tagor vẫn là rất lớn trong các thi sỹ lớn nhất”
Sống trong giai đoạn lịch sử “bất an trong mọi địa hạt”, trong khi một số
lớn các văn nghệ sỹ chỉ nghĩ đến sự “tháo thân” thì Tagor lại không như vậy
Ông không tháo chạy như các học giả phương Tây, không lai căng như các học
giả phương Đông Ông kiên quyết đi vào giai đoạn hiện đại, nhưng ông “biết
dung hoà giữa cái muôn đời và cái khoảnh khắc, giữa cái phổ biến và cái riêng
lẻ” Điều này đã nâng tầm vĩ đại của Tagor Đứng trên sự dung hoà ấy Tagor đã
giải quyết những vấn đề lớn đặt ra trong thơ mình một cách rất Ấn Độ, và rất
nhân loại Có thể nói: “Tagor đã đến với cuộc đời này bằng chất trí tuệ từ chính
trái tim mình”
Chất trí tuệ được thể hiện rõ qua những vần thơ của ông, 52 tập thơ Tagor
đã nói đến ba nội dung lớn: Thơ triết luận, thơ tình yêu, thơ viết cho trẻ em Ở
nội dung nào, nhà thơ cũng để lại dấu ấn và phong cách riêng độc đáo
Với “Trăng non” gồm 40 bài thơ viết về trẻ thơ, Tagor được coi là V
Huygô của Ấn Độ Tình thương, tấm lòng trìu mến nâng niu của ông đối với trẻ
em thắm đẫm trong từng chữ, từng câu Bởi lẽ “Khi thi sỹ nói đến trẻ thơ, đặc
tính này như một phần của thi sỹ thì ta không rõ có phải thi sỹ nói đến thánh
nhân không” W.B Yeats - nhà thơ Ai len
Ở mảng thơ tình yêu, Tagor tập chung trong hai tập thơ “Người làm vườn”,
“Tặng vật” Hồn thơ Tagor trẻ trung, hồn nhiên Ông là người tình đắm say của
cuộc đời, bởi lẽ theo ông “con người đến với thế gian này không phải để làm
chủ nhân, cũng không phải để làm nô lệ mà để làm một người tình” Tagor đã tự
nguyện làm người chăm sóc vườn hoa tình yêu Ông thể hiện quan niệm tình
yêu dưới nhiều góc độ Ông triết lý bằng tình yêu Ông hướng tình yêu đến vô
hạn, vô biên và trường cửu
Trang 24Với thơ triết luận, Tagor đã đặc biệt vận dụng trí tuệ, chất suy tư, triết lý để
lý giải một cách minh bạch, sáng tạo các cặp phạm trù vũ trụ quan và nhân sinh
quan như: chúa trời, chúa đời, thiên đường - địa ngục, tồn tại và huỷ diệt Thông
qua sự rung động sâu xa của cảm xúc và thẩm mỹ Tagor đã thể hiện một năng
lực tư duy đặc biệt trong việc đặt ra và lí giải những vấn đề có ý nghĩa lớn lao
Chất trí tuệ được kết tinh trong toàn bộ hình tượng thơ cùng với đặc trưng thi
pháp của Tagor đã khẳng định tầm tư tưởng về sáng tạo nghệ thuật lớn lao của
ông Tư tưởng của Tagor mang tầm thời đại vì “không một tư tưởng nào trong
thời đại chúng ta lại xứng đáng được kính trọng, được tôn sùng cho bằng tư
tưởng Tagor Thơ triết luận tập chung nhiều ở Thơ Dâng, Người thoáng hiện,
Thiên nga Trong đó Thơ Dâng là một kiệt tác và được coi là một phát hiện lớn
của thời đại” Phương Tây và châu Âu đã dùng chữ: “Nhà thơ trí tuệ muôn
màu” để nói về Tagor
Rabinđranath Tagor là một nhà thơ trí tuệ vì trong thơ ông chất trí tuệ tham
gia tích cực với vai trò của chủ thể sáng tạo
Chất trí tuệ không phải là tặng vật của thần linh ban cho mà là sự tích luỹ
kinh nghiệm, sự hiểu biết thực tế cuộc sống đã hòa quện nhào nặn với tư tưởng,
tình cảm, cảm xúc, cá tính của ông mà thành
2.2.1 Nhận thức lý giải những vấn đề về tôn giáo
Những bài thơ tràn đầy hình ảnh của Chúa, Thượng Đế, Thầy, Người…
cùng đẳng cấp xuất thân của Tagor đã làm cho không ít người nghĩ rằng thơ
Tagor là thơ tôn giáo
Ông đã dùng thơ để truyền đạt những tư tưởng thần bí, cao siêu, và linh
thiêng Năm 1924 Ađre Karpeles Hoegman (nữ văn sỹ Đức) đã viết thư hỏi
Tagor “ông thuộc về tôn giáo nào? Balamôn hay Kitô giáo?” Tagor viết thư trả
lời: “Tôi không thuộc về tôn giáo nào cả mà cũng chẳng nghiêng về đức tin đặc
biệt nào Có điều khi thượng đế sinh ra tôi, thì chính người đã trở thành tôi rồi
Trang 25Ngày ngày người triển khai con người tôi trong cuộc sống, và nâng niu con
người tôi với nhiều sinh lực và vẻ đẹp trong thế giới này Chính sự kiện tôi hiện
hữu đã mang trong tôi lòng yêu thương vĩnh cửu rồi”
Như vậy, chất trí tuệ trong thơ Tagor biểu hiện trước hết ở sự nhận thức và
lí giải một cách minh bạch và đầy sáng tạo những phạm trù mang màu sắc tôn
giáo nhưng cốt lõi là cuộc sống và tình người
Chất trí tuệ trong thơ Tagor được thể hiện ở sự nhận thức và lí giải về tôn
giáo ở các phạm trù sau:
Thứ nhất là: Nhận thức lí giải về “Chúa trời” và “Chúa đời”
Thứ hai là: Nhận thức lí giải về “thiên đường” và “địa ngục”
Thứ ba là: Nhận thức lí giải về “sự sống” và “cái chết”
2.2.1.1 Nhận thức lí giải về “Chúa trời” và “Chúa đời”
Từ những thời kỳ xa xưa của lịch sử con người Ấn Độ đã cho sự tồn tại của
thần thánh, của Chúa trời là điều hiển nhiên và điều đó được khẳng định vững
chắc trong kinh Vêđa với một hệ thống thần linh, trong sử thi Mahabharata,
Ramayana là những di sản văn hoá quý báu của người Ấn Độ và nhân loại Và
Tagor đã sử dụng những hình ảnh quen thuộc này trong truyền thống văn hoá
Ấn vào thơ của mình Hình ảnh Chúa thường được nhắc trong thơ ông nhiều lần
Hình ảnh đó đã tạo thành một hình tượng, hơn thế đã tạo thành một biểu tượng
nghệ thuật
Cách sử dụng biểu tượng này có tác dụng thẩm mỹ rất cao nó tạo ra được
một sức thuyết phục lớn cho người đọc Tagor đã truyền đạt một ý tưởng mới
trên một hình tượng của truyền thống Ấn Độ và cả những người trên thế giới
theo Chúa trời đã tiếp nhận thơ Tagor mà không bị chạm vào lòng tin của mình
Đọc thơ Tagor độc giả thoạt tiên bị thu hút vào một niềm tin có một quyền
lực, một sức mạnh vạn năng tạo dựng cuộc đời, tạo dựng con người, nhưng
Tagor lại lí giải bằng hình tượng thơ rằng: “Quyền lực đó không phải ở nơi đấng
Trang 26thiêng liêng vô hình ẩn dấu mà Thượng đế đó chính là vị chúa đời” Chúa đời
chính là cuộc sống đang hiện hữu và biến đổi không ngừng, là ước mơ, là khát
vọng để con người vươn tới bằng: “Thuyền nhỏ mong manh”, “cây sáo nhỏ
bằng lau sậy”, “Ly rượu tràn đầy” Chúa đời đã đưa con người băng qua thời
gian và không gian để cất lên giai điệu tình yêu, cuộc sống mới mẻ đời đời
Hạnh phúc được sống trong cuộc đời là vô cùng, vô tận Chúa không ở đâu xa, ở
trước mắt ta, gần gũi và sẻ chia, thân quen và ấm áp nếu ta biết sống trong tình
yêu và bằng lao động, Tagor viết:
“Có Chúa nào trước mắt người đâu
Chúa ở nơi
Người nông dân đang cày mảnh đất khô cằn
Và nơi người phu đường đang đập đá
Chúa ở chung với họ
Trong nắng trong mưa
Và quần áo của Người
Cũng phủ đầy bụi bẩn”
Như vậy là Chúa hiện hữu, hiện hữu cụ thể đến mức cũng có “Quần áo của
người” và thật là lí thú, quần áo đó cũng “phủ đầy bụi bẩn” Thượng đế đã hiện
thân trong cái thế giới hữu hạn này Trong lúc không ít người vẫn tìm nơi ẩn náu
của mình vào một vị Chúa vô hình, thì Tagor lại kéo Chúa về cõi đời trần thế
Trong khi không ít nghệ sĩ vẫn không ngớt lời thơ ca ngợi để giải thoát ở thần
linh thì Tagor lại đưa Chúa xuống cùng với những người lao động Đó chẳng
phải là một sự nhận thức và lí giải đầy sáng tạo hay sao?
Chúa ở thơ Tagor thật giản dị, vì thơ ông không kiêu kì trước cuộc đời
Chúa ở thơ ông thật gần gũi, vì thơ ông, trí tuệ ông, trái tim ông không xa lạ với
tình đời
Trang 27Chúa ở trong thơ Tagor chính là vị “Chúa đời” kiêu hãnh trước sóng gió,
êm ái dịu dàng trong thanh bình, chính Chúa trời đã làm nên ánh sáng của sự
sống:
“Nhờ có sự tiếp cận tràn đầy sự sống
Của Chúa đời
Và đêm đen hằng giam giữ tôi
Đã tung cánh bay lên”
(Người làm vườn)
Có “Chúa đời” là có ánh sáng, có “Chúa đời’ là có “sức sống” “Chúa
đời” đã nâng cánh cho con người bay xa Có “chúa đời” đêm đen sẽ tiêu tan,
biến mất Sức mạnh của “Chúa đời” là vậy Hãy nghe “Chúa đời” thức tỉnh:
Ôi không biết ai đã giữ tôi lại quá lâu
Trong ảo mộng của đời này
Và chúa đời thầm nhủ:
“ Ta”.”
Níu giữ con người với cuộc đời này, chỉ cho con người hạnh phúc không
phải đi tìm kiếm tận nơi đâu Hạnh phúc và khổ hạnh chỉ cách nhau trong gang
tấc Vươn tới hạnh phúc ấy là con người phải biết sống cho cuộc đời
Cái tiếng “Ta” vang lên dõng dạc kia là lời của “Chúa đời” tự tin và kiêu
hãnh, đấy là sự thức tỉnh của “Chúa đời” hay cũng chính là sự thức tỉnh của “vị
thánh” Tagor Trong thơ Tagor chúng ta thấy một “Chúa đời” nhất định không
ở trên ngôi đền mà một ông vua đã vẽ ra trước mắt với hàng triệu đồng vàng xây
Trang 28dựng khi hàng nghìn người dân của nước đó không có cơm ăn, áo mặc, không
có cửa nương thân:
“Vâng ta biết lắm
Chính trong năm đó
Hàng nghìn dân của ngươi nhà cửa ra tro
Đã uổng công đến trước cửa nhà ngươi
Cầu cứu xin giúp
Và Chúa bảo:
“Cái thứ người khốn khổ
Không thể cho đồng loại một ngôi nhà
Lại muốn xây nhà cho ta hẳn?”
Và Chúa trời đã đến ở dưới gốc cây
Bên đường cái
Với kẻ không nhà.”
(Hái quả) Như vậy, nếu Chúa trời là của đẳng cấp Bàlamôn và võ sĩ quý tộc thì “Chúa
đời” của Tagor là của tất cả mọi người, trong đó có cả những người cùng đinh
của xã hội Chúa coi trọng cuộc đời nghèo khổ, chúa cảm thông, chia sẻ và đồng
hành cùng những con người bất hạnh Chúa dõi theo bước chân của từng cuộc
đời lầm than, cơ cực Thế nên Chúa có ngại gì đâu khi “đến ở dưới gốc cây” với
những kẻ không nhà
Sự thông minh, chất trí tuệ trong sự nhìn nhận và lý giải của Tagor là ở chỗ:
nhà thơ làm cho người đọc thấy không có “Chúa trời” hiện hữu nhưng trong tác
phẩm của ông “Chúa trời vẫn có mặt”
Chúa của Tagor không khuyên mọi người đến với tụng niệm mà khuyên mọi
người đến với lao động và tình yêu Tagor đã tìm cách đưa Chúa lên mặt đất này
như một con người và đồng thời như một hiện thân thần thánh chứ không phải
Trang 29đưa tâm trí con người ra ngoài cõi đời để đặt dưới chân Chúa Trong thơ Tagor
những rung động vô hình về tự nhiên, về Thượng đế không át nổi tiếng nói của
tình yêu và cuộc đời thực Vị “Chúa đời” của ông đã đưa ta trở về với trái đất
và cuộc sống, trở về với con người và lao động, không để cho con người phải
quỳ gối, sùng bái tự nhiên như tôn giáo Ấn Độ Và điều đó khiến chúng ta liên
tưởng rằng: Tagor là một Henríc Hainơ của Ấn Độ
Chính vì những lẽ trên mà thơ Tagor đã đi vào lòng người và thuyết phục
lòng người
Ông đã “chịu ơn của vị Chúa đời” nên ông đã “trả ơn” bằng việc thức tỉnh
con người không tin vào “Chúa trời” nữa Chúa trong thơ ông chẳng qua chỉ là
một ý niệm mà thôi Ông làm cho chính con người tin vào Chúa đời – vị Chúa
chấp nhận sống như cuộc sống con người
Có thể khẳng định rằng: Chúa của Tagor là sự kết hợp giữa tôn giáo truyền
thống Ấn Độ với cuộc đời trong quan hệ gắn bó mật thiết Con người hoà hợp
với Chúa trong hình tượng con người Thượng đế Tìm đến với Chúa chính là
con người đang tìm đến sự hòa hợp với đời
Bằng sự lý giải minh bạch, sáng tạo, Tagor đã tước bỏ uy quyền tuyệt đối
của Chúa Vì thế màu sắc tôn giáo chỉ còn ở phương diện biểu hiện Con người
tìm đến với Chúa là tìm đến niềm vui (Ananda), với tình yêu (Kama), với lao
động sáng tạo Thi pháp tượng trưng được coi là một trong những đặc trưng thi
pháp của Tagor
Vì vậy, đánh giá của Nira Chabiđhuri - nhà nghiên cứu của Ấn Độ đã xác
định rõ hơn, cụ thể hơn tính chất đặc biệt của loại tôn giáo này: “Tôn giáo của
Tagor là thơ sùng kính, không phải thơ thần bí, nó tìm cách đưa Chúa lên mặt
đất này như một hiện thân thần thánh chứ không phải đưa tâm trí của con người
ra ngoài để đặt dưới chân Chúa”
Trang 302.2.1.2 Nhận thức và lý giải về “thiên đường” và “địa ngục”
Cùng một góc độ với cách nhìn nhận và lý giải về “Chúa trời” và “Chúa
đời”, trong thơ Tagor là sự nhìn nhận và lý giải về thiên đường và địa ngục hết
sức uyển chuyển, linh hoạt, thông minh và rất sáng tạo Vì vậy nó tạo cho thơ
ông bản sắc trí tuệ riêng
Người Ấn Độ từ đời Vêđa cho đến thời kỳ của Tagor đều coi trọng thiên
đường ở cõi hư vô Họ tôn thờ thiên đường ảo và với cách suy nghĩ của người
Ấn, họ có nhiều con đường để đi tới thiên đường nhưng chung quy vẫn là con
đường tu luyện ở cõi trần Hầu hết các đạo giáo ở Ấn Độ (Balamôn giáo, Phật
giáo, Ấn Độ giáo) đều cho rằng cõi trần mọi người có chịu được khổ cực (kể cả
hình thức khủng khiếp nhất là tự hành xác) thì mới được lên “thiên đường”
Và thiên đường ở trong suy nghĩ của người Ấn là cõi cực lạc, là niết bàn và
là một thế giới vĩnh hằng mà ai cũng mong muốn
Với Tagor thì khác, thiên đường không phải là cõi hư vô hay thế giới vĩnh
hằng Khi tâm hồn con người đạt đến sự hoà hợp của Atman và Brahanan đó
chính là thiên đường Thiên đường không ở riêng Ấn Độ mà ở khắp nơi trên trái
đất, ở trong tâm hồn của mỗi con người
“Này đây
Tôi vẽ ra cả thế giới vĩnh hằng”
Và nhà thơ đã cho ta thấy, cõi vĩnh hằng “thiên đường” ấy là một bài ca
réo rắt:
“Trên cái bờ nghiêng xuống dòng sông
Một người nông dân đang cày cuốc
Những con thiên nga
Bay về phía bờ cát trụi trần ở phía bên kia”…
(Thiên nga)