1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Chất trí tuệ trong thơ Tagor

60 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 501,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên báo đó, Xuân Diệu đã có bài viết: “Người làm vườn tình ái”, Đào Xuân Quý viết bài “ Thơ Tagor - Nhà thơ trí tuệ muôn màu” Ngoài ra, Lưu Đức Trung cũng viết một số công trình khoa họ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các

thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn

tới các thầy cô giáo, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Bích Dung - người đã trực tiếp

hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2010 Người thực hiện

Nguyễn Thị Thuỷ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS

Nguyễn Thị Bích Dung Tôi xin cam đoan rằng:

- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã được

công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Thuỷ

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của khoá luận

7 Bố cục của khoá luận

8 9 9 PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1: Bước đầu tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ 10

1.1 Chất trí tuệ trong nghệ thuật 10

1.2 Chất trí tuệ trong thơ 12

1.3 Một số nhà văn, nhà thơ tiêu biểu cho chất trí tuệ trong sáng tác 14 Chương 2: Chất trí tuệ trong thơ Tagor 17

2.1 Cơ sở hình thành chất trí tuệ trong thơ Tagor 17

2.2 Chất trí tuệ trong thơ Tagor 22

2.2.1 Nhận thức và lý giải về tôn giáo 24

2.2.1.1 Nhận thức lý giải về chúa trời và chúa đời 25

2.2.1.2 Nhận thức lý giải về thiên đường và địa ngục 30

2.2.1.3 Nhận thức và lý giải về sự sống và cái chết 35

2.2.2 Nhận thức và lý giải những vấn đề lớn về nghệ thuật 38

2.2.2.1 Tagor bàn về cái đẹp 38

2.2.2.2 Tagor với thơ ca 42

2.2.3 Nhận thức lý giải những vấn đề về con người 46

2.3 Các phương tiện thể hiện chất trí tuệ trong thơ Tagor 51

Trang 4

2.3.1 Ngôn ngữ thơ

2.3.2 Hình ảnh thơ

2.3.3 Các biện pháp nghệ thuật

2.3.4 Triết lí trong thơ

51 52 55 55 KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lý do khoa học

Rabindranat Tagor (1861-1941) là một trong những nghệ sỹ vĩ đại của

thế kỉ XX Thơ Tagor là một di sản văn học quý báu Bàn về thơ Tagor đã có

không ít các bài viết của các tác giả tên tuổi như: Cao Huy Đỉnh, Xuân Diệu,

Đào Xuân Qúy, Lưu Trung Đức Trong những bài viết của mình, các tác giả này

đã chỉ ra nét đặc sắc cơ bản, những nhận xét cụ thể về thơ Tagor Tuy nhiên

những bài viết đi sâu tìm hiểu chất trí tuệ Tagor không nhiều Vì thế, người viết

chọn đề tài: “Chất trí tuệ trong thơ Tagor” nhằm giúp cho người đọc hiểu được

thơ Tagor một cách toàn diện và sâu sắc hơn

1.2 Lí do sư phạm

Hiện nay, việc tìm hiểu văn học Ấn Độ nói chung và thơ Tagor nói riêng

là một việc làm gây được nhiều thu hút và hứng thú đối với sinh viên khoa

Ngữ văn Bởi vì tìm hiểu tác phẩm thơ của Tagor sẽ giúp cho người giáo viên

có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học

Ấn Độ Tìm hiểu thơ Tagor là điều kiện để học tập ở đó những giá trị tinh thần

mà ông để lại cho nhân loại và những bài học quý giá của một nhà thơ chân

chính Đó là tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, tinh thần yêu nước yêu cuộc sống

và con người

Từ đó có thể liên hệ, mở rộng cho học sinh hiểu biết về những sáng tác

thơ của Tagor ngoài những bài đã được học trong chương trình Đặc biệt, giúp

các em có cái nhìn đúng đắn trong cuộc sống và học tập, biết trân trọng những

giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc mình

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề

Năm 1913 với tập: Thơ Dâng, Tagor đã giành được tiếng vang lớn trên thế

giới với giải thưởng Nobel văn học Từ đó cho đến nay đã có biết bao nhiêu

người trên hành tinh này nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của Tagor Chúng

ta có thể kể đến công trình và luận văn về Tagor ở các nước trên thế giới

1 Radha Kritxhan (Radha Kowsnhan) có bài triết lý của Tagor, xuất bản ở

Luân Đôn 1918, tái bản ở Bombay ẤnĐộ 1949 và 1951

2 Etwuat Tomsson (Eowand Thomson) có bài cuộc đời và tác phẩm của

Tagor, xuất bản ở Luân Đôn năm 1921

3 J.Đavi(J.Davi) có bài: Thơ của R.Tagor, xuất bản ở Paris năm 1927

4 Cơcniliusx(Cornilus), R.Tagor của nhà xuất bản giáo dục Ấn Độ năm

1928

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như ở Nga có thư của

Chêliep, công trình nghiên cứu cụ thể về thơ Tagor của Yerts (1855-1939) Từ

điều đó chúng ta có thể thấy việc nghiên cứu về thơ Tagor ở trên thế giới không

phải là ít Dưới góc độ này hoặc góc độ khác các công trình nghiên cứu về thơ

Tagor trên thế giới đều khẳng định tài năng thiên tài của ông, người ta cảm thấy

đọc thơ Tagor là như quên hết bực dọc trên đời Bởi vì, có lẽ lần đầu tiên trong

văn học người ta nghe thấy tiếng nói của mình như có trong thơ ông Người ta

thú vị khi nhận ra rằng thơ Tagor gắn chặt với truyền thống Ấn Độ nhưng cũng

gần gũi với tất cả mọi người

Ở Việt Nam đề cập đến Tagor sớm nhất đó là vào năm 1942 trên báo Nam

Phong, số 81-84 Có thể nói năm 1961 khi chúng ta tham gia cùng thế giới kỉ

niệm 100 năm ngày sinh của Tagor thì Tagor mới thực sự được chú ý và giới

thiệu, nghiên cứu ở Việt Nam Mở đầu là tiểu luận của Cao Huy Đỉnh viết về

“Rơvinđơranat Tagor” được nhà xuất bản ấn hành năm 1961 Có thể nói đây là

một tiểu luận đáng giá, bởi vì đứng trên quan điểm Macxit Cao Huy Đỉnh đã chỉ

Trang 7

ra được những giá trị lớn trong thơ Tagor Cùng với tiểu luận nghiên cứu này,

ông đã chọn dịch và giới thiệu một số thơ, kịch, truyện ngắn của Tagor với độc

giả Việt Nam

Sau bản dịch của Cao Huy Đỉnh thì Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Xuân

Diệu, Đào Xuân Quý cũng đã chọn dịch một số tác phẩm của Tagor Bản dịch

quen thuộc hiện nay là bản dịch của Đào Xuân Quý được Nhà xuất bản văn học

ấn hành năm 1973 Cùng với bản dịch này, Đào Xuân Quý đã có bài giới thiệu

về Tagor Ông nhấn mạnh về giá trị nhà thơ, cuộc đời của Tagor

Nhân dịp kỉ niệm 120 năm ngày sinh của Tagor, báo văn nghệ đã giành

một số đặc biệt về Tagor Trên báo đó, Xuân Diệu đã có bài viết: “Người làm

vườn tình ái”, Đào Xuân Quý viết bài “ Thơ Tagor - Nhà thơ trí tuệ muôn màu”

Ngoài ra, Lưu Đức Trung cũng viết một số công trình khoa học của mình về các

vấn đề: Tagor người kế thừa truyền thống nhân đạo chủ nghĩa trong nền văn học

Ấn Độ, vài nét về truyện ngắn của Tagor, Tagor với nước Nga mới

Trong những năm gần đây những bài viết về Tagor đã xuất hiện nhiều

trên các tạp chí nghiên cứu văn học

Tạp chí văn học số 8 (1995) “Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ

Tagor” của Cao Huy Đỉnh đã khẳng định tư tưởng và tình cảm nổi bật trong thơ

Tagor

Tạp chí văn học số 6 (2001) có bài “Rabindranat Tagor họa sĩ vẽ bụi đất

và ánh sáng mặt trời” của Lê Từ Hiển Ở bài viết này người nghiên cứu muốn

khẳng định tài năng mô tả theo bút pháp kết hợp hiện thực với huyền ảo của

Tagor

Nghiên cứu văn học số 10(2007) Nguyễn Văn Hạnh có bài “Truyện ngắn

R.Tagor trên hành trình hiện đại hóa văn xuôi Ấn Độ thế kỷ 20” Bài viết khẳng

định vai trò vị trí của Tagor đối với nền văn xuôi Ấn Độ

Trang 8

Nghiên cứu văn học số 3(2008) có bài “Về trang phục của nhân vật trong

mây và mặt trời của Tagor”của Lê Thanh Huyên

Nghiên cứu văn học số 8(2008) Lưu Đức Trung có bài viết “Rabindranat

Tagor bàn về cái đẹp” đã đưa ra quan niệm của Tagor về cái đẹp

Như vậy cho đến nay việc tìm hiểu về thơ Tagor vẫn đang rất thu hút giới

nghiên cứu Với đề tài này người viết nhằm đi sâu tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ

Tagor Từ đó giúp cho người đọc hiểu được thơ Tagor một cách hoàn thiện và

sâu sắc hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằn mục đích khám phá chất trí tuệ trong thơ Tagor Qua đó thấy

được tài năng của nhà thơ và những đóng góp lớn lao của ông cho nền văn học

Ấn Độ nói riêng và cho nhân loại nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất trí tuệ trong thơ Tagor

4.2 Phạm vi khảo sát

“Thơ Tagor” Đào Xuân Qúy dịch do nhà xuất bản văn hóa ấn hành

Ngoài ra còn một số tài liệu khác liên quan và phục vụ cho quá trình

nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này người viết đã sử dụng phối hợp một số phương

pháp sau:

5.1 Phương pháp khảo sát

5.2 Phương pháp phân tích ,so sánh, đối chiếu

5.3 Phương pháp tổng hợp nâng cao vấn đề

Trang 9

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đóng góp một phần nhỏ bé vào việc cung cấp những ngữ liệu

cần thiết cho việc giảng dạy những tác phẩm về văn học Ấn Độ sau này ở trường

Trung học phổ thông

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Bước đầu tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ

Chương 2: Chất trí tuệ trong thơ Tagor

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ

1.1 Chất trí tuệ trong nghệ thuật

Như chúng ta đã biết, nghệ thuật là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và

của các hoạt động con người một phương tiện quan trọng để con người chiếm

lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực nhằm mục đích tạo thành và phát triển

các năng lực chiếm lĩnh, cải tạo bản thân, cải tạo thế giới xung quanh theo quy

luật của cái đẹp

Đã từ lâu vấn đề giữa nghệ thuật và đời sống đã trở thành một cuộc đấu

tranh dai dẳng và quyết liệt giữa các trường phái và các khuynh hướng nghệ

thuật khác nhau Sở dĩ như vậy vì nghệ thuật có một vị trí quan trọng trong đời

sống Những khuynh hướng nghệ thuật tiến bộ luôn chủ trương gắn liền nghệ

thuật với đời sống nhằm phát huy tác dụng mạnh mẽ và tích cực của nó đối với

đời sống và tiến bộ xã hội

Ngược lại khuynh hướng nghệ thuật suy đồi, phản động luôn chủ trương

tách nghệ thuật khỏi đời sống cắt đứt mối quan hệ hữu cơ giữa nghệ thuật với

đời sống, nhằm mục đích hạn chế tác động tích cực của nó đối với sự phát

triển xã hội

Vấn đề này dưới ánh sáng thuyết phản ánh của Lênin đã được giải quyết

đúng đắn và thấu triệt Xuất phát từ tiền đề cơ bản : “Tồn tại quyết định ý

thức” Lênin đã nhấn mạnh ý thức con người là hình ảnh của thực tại khách

quan, tức là thực tại khách quan là nguồn gốc của mọi sự nhận thức, đời sống

vật chất xã hội là cơ sở cho mọi hình thái ý thức xã hội trong đó có văn học

nghệ thuật Thực tại khách quan thường xuyên được phản ánh vào ý thức của

con người Do đó sự sáng tạo nghệ thuật không nằm ngoài hoạt động nhận

Trang 11

thức và thực tiễn của con người, không thể không là phương thức phản ánh và

cải tạo thực tại khách quan của con người được

Như vậy ta thấy rất rõ chức năng phản ánh, nhận thức của nghệ thuật

trong đó có văn học nằm ngay trong lý do tồn tại của chính nó Tước bỏ chức

năng nhận thức thì về thực chất nghệ thuật tự thủ tiêu mình

Dĩ nhiên xét về nguồn gốc và bản chất, nghệ thuật không phải là một hoạt

động nhận thức trừu tượng thuần túy mà nó bắt nguồn và gắn liền với hoạt

động thực tiễn của con người Nó là một phương thức đồng thời là phương

tiện mà con người dùng để chiếm lĩnh thực tại khách quan nói theo cách của

Mác là “tự khẳng định mình trong thế giới của đối tượng” Chỉ có khác là sự

chiếm lĩnh và khẳng định này mang tính đặc thù, tức là nó bắt thế giới đối

tượng tồn tại theo kiểu người, nó in bóng dáng của sự sống của con người lên

thế giới đó dưới hai hình thức: nhân hóa và nhân loại hóa

Như vậy, nghệ thuật phải mang chức năng nhận thức - thẩm mỹ Khi nói

nghệ thuật mang chức năng nhận thức là chúng ta khẳng định sự tham gia tích

cực của trí tuệ của chủ thể sáng tạo hay một tác phẩm nghệ thuật chính là sản

phẩm của trí tuệ

Nếu trí tuệ sáng tạo ra lịch sử thì trí tuệ cũng sáng tạo ra nghệ thuật chân

chính Nhưng do tính đặc thù của nó nên trong nghệ thuật trí tuệ không biểu

hiện một cách trừu tượng mà nó phải thông qua sự rung động sâu xa của cảm

xúc thẩm mỹ Ở nghệ thuật sự nhận thức bằng cảm xúc thẩm mỹ của chủ thể là

một điều không thể thiếu được và không kém phần quan trọng so với nhận

thức bằng tư duy Nói điều đó chúng tôi nhằm khẳng định tìm hiểu chất trí tuệ

trong nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng (trong đó có thơ) cần bám sát

tính đặc thù của nó Đối với thơ đặc thù này có ý nghĩa quan trọng

Trang 12

Mặt khác tìm hiểu chất trí tuệ của nghệ thuật không thể không nghĩ đến

mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Một nội dung lớn luôn luôn được

chuyển tải từ một hình thức thích hợp

Trí tuệ là sự thông minh, linh hoạt của con người, nó thuộc phạm trù lí

tính nhưng không đồng nhất với lí trí Vì vậy không nên đối lập nó như là sự

đối lập trực tiếp với cảm tính Hơn nữa trong nghệ thuật đặc biệt là trong thơ

là không thể như vậy

Trí tuệ là sự biểu hiện cao của năng lực tư duy đến một mức độ nào đấy,

đến độ của nó mới thành trí tuệ

Đối với khoa học, nó là sự kết tinh cao nhất của một năng lực tư duy lớn

để có những công trình Với tác phẩm nghệ thuật nó là kết tinh của sự sáng tạo

mang tính thẩm mỹ rất lớn của một nghệ sỹ tài năng

1.2 Chất trí tuệ trong thơ

Có thể khẳng định rằng, chất trí tuệ kết tụ như một điểm sáng thẩm mỹ

mang phong cách của nghệ sỹ tài năng Vì vậy nó có sức chinh phục lớn tạo

cho người đọc sự rung động mãnh liệt

Trí tuệ không phải của thần linh, trí tuệ là cái cao quý rất tinh vi, kì diệu

của sự phản ánh thực tại vào trong tâm não con người và ở trong nghệ thuật trí

tuệ tự nó lấy lại những tài liệu những chất liệu của thực tại mà sáng tạo ra tác

phẩm - một tác phẩm nghệ thuật là sự quyện se nhào nặn giữa thực tại và tư

tưởng tình cảm, cảm xúc, cá tính của người nghệ sỹ (Xuân Diệu)

Ý kiến trên đây của Xuân Diệu một mặt khẳng định vai trò của chất trí tuệ

trong thơ Mặt khác cho ta thấy tính đặc thù của nó Từ lâu Hêghen cũng đã

chỉ rõ “cái duy lí không biểu hiện thành một thể khái quát trừu tượng hay

thành một thể tổng hợp triết học, hoặc thành một thể đa dạng với nhiều

phương diện khác Trí tuệ đáng lí đã thiết lập những quan hệ nhất định giữa

các mặt này, nhưng cái duy lí lại tràn đầy sự sống và sự vận động”

Trang 13

Trong thơ ca có sự tồn tại hiển nhiên một loại thơ đó là thơ triết lí Với

loại thơ dường như chất triết lí thoạt nhìn có vẻ “lấn át” cảm xúc, và sự suy

tưởng chiếm vị trí chủ đạo của quá trình sáng tạo Thực chất vấn đề không hẳn

như vậy Đành rằng với loại thơ này chất suy tưởng nổi lên bề mặt như một

dấu ấn mạnh mẽ trong tác phẩm, nhưng đằng sau cái “bề nổi” ấy là cả một

cảm xúc cháy bỏng.Vì bên cái khái quát mang tính lôgic có lúc lại xuất phát từ

những khái niệm hoặc những suy tưởng có tính chất luân lí thuần túy mà triển

khai thành những ý nghĩ để phả vào một âm hưởng thơ, người thi sĩ sẽ phải có

trái tim dào dạt cảm xúc mới tạo được một hình tượng thơ nhất quán mang

tính thẩm mỹ cao

Hà Minh Đức trong một chuyên luận thơ đã trình bày cách hiểu của mình

về loại thơ này như sau: “thơ suy tưởng là loại thơ mà cảm hứng chủ đạo và

cái nền cấu tạo làm những suy nghĩ cũng như sự vận động của hình tượng

thành sự vận động của những ý nghĩ”

Có thể dẫn ra đây ý kiến của Huy Cận như là sự chú thích thêm cách hiểu

của Hà Minh Đức: “sự suy nghĩ mà chúng ta nói ở đây là sự suy nghĩ thực sự

bắt nguồn từ cuộc sống sinh động dào dạt, suy nghĩ bằng cảm xúc, bằng hình

tượng Suy nghĩ ở đây như hoa thắm lá tươi mở ra từ dòng nhựa sống” Như

vậy chất trí tuệ trong thơ không mang tính lí trí thuần túy Mặc dù sự suy nghĩ

được bộc lộ ra trong một bài thơ thường tập trung ở cách đặt vấn đề, ở những

lập luận và những suy tưởng

Có thể nói, thơ triết lý suy tưởng là một khuynh hướng cần được chú ý

Tuy nhiên, tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ lại không chỉ đóng khung trong sự

khảo sát loại thơ đó mà phạm vi của nó còn được mở rộng hơn nhiều

Chúng ta có thể khẳng định rằng, bất kể nhà thơ tài năng nào thì thi phẩm

của họ cũng đều có chất trí tuệ Nhưng không phải bất cứ nhà thơ tài năng nào

chất trí tuệ trong thơ họ cũng được nổi lên như dấu hiệu của một phong cách,

Trang 14

mà chỉ khi nào chất trí tuệ được kết tinh trong toàn bộ hình tượng cùng với

những thủ pháp nghệ thuật điêu luyện làm cho người đọc nhanh chóng nhận ra

ngay “nhà thơ này” thì thi phẩm của họ mới tạo được sự rung động sâu xa

trong lòng độc giả Khi nào chất trí tuệ trong thơ họ được biểu hiện trong việc

đặt ra những vấn đề có ý nghĩa lớn, lý giải, nhìn nhận vấn đề minh bạch, sáng

tạo và thể hiện ở việc chuyển hóa ngôn ngữ cấu tứ một cách uyển chuyển, độc

đáo, giàu sức thuyết phục, nghĩa là chẳng những ở vấn đề được phản ánh có

dấu ấn cá tính sáng tạo mà còn ở cách phản ánh vấn đề điêu luyện thì tác phẩm

thơ của họ mới tạo được dấu ấn của phong cách thơ

Phong cách ở đây chính là giọng nói riêng của mỗi nhà thơ nhà văn bởi

cái còn lại của mỗi nhà văn là giọng nói của riêng mình Nếu không có nét

riêng thì sẽ không còn cá tính sáng tạo nữa Và cá tính ấy không gì khác là

xuất phát từ trí tuệ của nhà văn nhà thơ

1.3 Một số nhà văn nhà thơ tiêu biểu thể hiện chất trí tuệ trong sáng tác

Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ là tìm hiểu cái dấu ấn riêng của phong cách

trong thơ, của một tác giả cụ thể của một thi phẩm cụ thể

Tạo được dấu ấn phong cách thơ đó là một quá trình sáng tạo không

ngừng xuất phát từ trí tuệ lớn lao Chúng ta cũng có thể nhận thấy lịch sử văn

học nhân loại đã tích lũy không ít những danh nhân nghệ sỹ như vậy

Chúng ta có thể lấy một số dẫn chứng để minh họa:

Chẳng hạn ở thời kì phục hưng kì diệu “cuộc sống trở nên dồn dập hơn

bao giờ hết, những hiện tượng xảy ra cái nọ liên tiếp cái kia với một tốc độ

chưa từng thấy” Sêcxpia xuất hiện như một ngôi sao trí tuệ trên công luận

nghệ thuật

Tác phẩm của ông là những kiệt tác tuyệt vời Dù thời gian hay không

gian vẫn hằn lên mình những tác phẩm ấy những thăng trầm, hay đánh giá

khắc nghiệt thì với những độc giả có tâm hồn lành mạnh đều nhận thấy mọi

Trang 15

tác phẩm mà ông viết ra là sự kì diệu từ cuộc sống, là những ngôi sao lấp lánh

trí tuệ Sêcxpia

Sêcxpia không những sống mãi trong lòng độc giả với những chiếc hôn

cháy bỏng yêu thương của Rômeo, Juiliet, không những tạo dấu ấn say mê

trong lòng người đọc ở cái ghen khủng khiếp của Ôtenlô chan chứa tình đời

mà ông còn tồn tại với những câu nói đầy tính triết lí từ Hamlet “Sống hay

không sống” (tồn tại hay không tồn tại) trong sự trăn trở đi tìm lẽ sống với

những khát vọng lớn lao của những người khổng lồ của thời đại phục hưng

qua những bi kịch bằng những lời văn có cánh của ông

Đến với văn học Nga, chắc chắn chúng ta sẽ nhớ đến Puskin - “Puskin

dân tộc hơn tất cả các nhà thơ Nga”

Ông chính là tâm hồn Nga đẹp đẽ, thuần khiết Người hiến dâng cả cuộc

đời sôi nổi khẩn trương, lúc nào cũng tràn đầy sức sống thanh xuân cho tổ

quốc và nhân dân Bêlinxki nói: viết về Puskin có nghĩa là viết về toàn bộ nền

văn học Nga Còn Gorki đã đặt Puskin bên cạnh Secxpia và Gớt Puskin thuộc

về những hiện tượng “vĩnh viễn sống, vĩnh viễn mới” Với một “Tôi yêu em”

chân thành, đằm thắm, rạo rực say mê , người đọc đã cảm nhận được bao cung

bậc của tình yêu đó là: nỗi đau khổ âm thầm, niềm tuyệt vọng, sự rụt rè, lòng

ghen tuông luôn dày vò nhưng trên hết vẫn là tình yêu của lòng vị tha đến

thánh thiện Có được điều đó, không chỉ xuất phát từ trái tim yêu thương ngập

tràn cảm xúc, có được điều đó vì nhà thơ còn là con người của lý trí thiêng

liêng Có thể khẳng định rằng: “đặc điểm thơ ca Puskin là khả năng phát hiện

trong con người mỹ cảm và lòng nhân ái, hiểu theo nghĩa là lòng kính trọng

vô hạn đối với phẩm giá con người với tư cách là CON NGƯỜI”

Như thế chất trí tuệ của Puskin được hiểu như một sự kết hợp nhuần

nhuyễn giữa lý trí và cảm xúc để tâm hồn Nga thực sự vươn xa trong niềm tôn

kính và sự ngợi ca

Trang 16

Lênin đã đánh giá rất cao tác phẩm của Puskin, có lần người đã phân

tích truyện thơ “Epghenhi Ônheghin” và nhấn mạnh ưu điểm của truyện thơ

này ở phương diện đã đặt ra vấn đề lớn của thời đại- giá trị nhận thức của tác

phẩm

Hồ Sỹ Vịnh trong một bài báo lớn giới thiệu về Puskin đã khẳng định

Puskin là một bậc thầy văn hóa thế giới Sau này còn có nhiều ý kiến đánh giá

rất cao về Puskin: “Puskin là nhà thơ của trí tuệ nhà thơ tôn thờ trí tuệ”

Gần gũi hơn, chúng ta có thể kể đến Hồ Xuân Hương như một thi sĩ tiêu

biểu của khuynh hướng thơ mang chất trí tuệ của thơ ca Việt Nam Thơ Hồ

Xuân Hương tưởng như tục mà lại vượt lên trên cái tục Yếu tố tục ở đây được

sử dụng như là một thủ pháp nghệ thuật để truyền đạt một nội dung rất lớn:

Một quan điểm nhân sinh

Và chính vì vậy, chính vì vượt lên trên cái tục nên Hồ Xuân Hương rất

ghét cái tục bản chất Cái tục trần trụi thô rát từ cuộc sống thường ngày Chất

trí tuệ trong thơ của nữ thi sỹ này cũng được biểu hiện thống nhất ở hai mặt là

mặt nội dung và nghệ thuật Nội dung bao giờ cũng mang nhiều tầng nghĩa

sâu sắc dưới lớp phủ nghệ thuật tài hoa Thể thơ quen thuộc: thất ngôn tứ

tuyệt, hình ảnh thơ gần gũi, lời thơ nhẹ nhàng nhưng có sức tác động mạnh

mẽ

Những năm gần đây, chúng ta cũng có thể lấy Chế Lan Viên là một ví

dụ Có một nhà văn nào đó đã nói rất đúng: “Nghệ thuật là tôi, khoa học là

chúng ta” Nghệ thuật thơ ca là lĩnh vực của sự sáng tạo, của cá tính, của

phong cách Trong thi đàn Việt Nam, bên cạnh rất nhiều những tên tuổi khác

ta vẫn dễ dàng nhận ra một hồn thơ Chế Lan Viên lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ Chế

Lan Viên luôn chủ chương tìm một hướng đi để tăng cường sức mạnh nhận

thức và khám phá chất thơ: “Phát giác sự vật ở bề chưa thấy, ở cái bề sâu, bề

sau, ở cái bề xa chứ không phải nhìn nhận từ cảm xúc bên ngoài” Chế Lan

Trang 17

Viên ưa lật xới vấn đề, thích dùng phản đề, suy luận để phát hiện ra những nội

dung chìm sâu bề mặt sự vật, hiện tượng Về nghệ thuật hình ảnh thơ Chế

Lan Viên bao giờ cũng đa nghĩa và đầy xúc động, kết cấu thơ độc đáo, nhân

vật trữ tình bao giờ cũng là nhân vật “đa nghĩ” và “đa cảm”, giọng điệu thơ

ông ưa triết lý triết luận

Vẻ đẹp trí tuệ làm cơ sở để tạo thành phong cách trữ tình triết luận

trong thơ Chế Lan Viên Nó tạo thành nét phong cách độc đáo không phai

nhòa trong thơ ông và đem lại cho những sự vật hiện tượng những hành động

cụ thể, ý nghĩa phổ quát, nâng nhận thức người đọc lên một tầm cao mới Đó

cũng chính là một mặt mạnh của thơ Chế Lan Viên

Từ việc khám phá ,tìm hiểu chất trí tuệ trong nghệ thuật và trong thơ ca,

chúng ta có thể rút ra những vấn đề sau:

- Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ không thể tách rời hoặc xem nhẹ đặc

trưng của nghệ thuật

- Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ không thể không nhìn nhận nó ở cả hai

bình diện: nội dung và hình thức trong mối quan hệ mật thiết

- Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ đối với một nhà thơ cụ thể là tìm hiểu

dấu ấn của một phong cách thơ

Tìm hiểu chất trí tuệ trong thơ Tagor cũng căn cứ vào những điểm xuất

phát ít nhiều mang tính lý luận đã được trình bày

Trang 18

CHƯƠNG 2 CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ TAGOR 2.1 Cơ sở hình thành chất trí tuệ trong thơ Tagor

Hầu hết các nhà văn nhà thơ trên thế giới không có ai không kế thừa

truyền thống tốt đẹp của văn học dân tộc mình Chính đó là một nhân tố quan

trọng làm cho tên tuổi của họ trở nên bất tử

Thi hào Tagor là con người như vậy Xứ sở Ấn Độ với dãy Hymalaya

quanh năm tuyết phủ giàu chất suy tư và giàu lòng nhân đạo Trong lịch sử Ấn

Độ, người ta không thấy họ đi chinh chiến mà chỉ bị xâm lược Và kẻ nào vào

đất nước họ thì liền trở thành người Ấn Độ bản xứ Bộ lạc Arian và người

Arian là một dẫn chứng tiêu biểu Không những thế mà đất nước Ấn Độ còn là

nơi trú ngụ của các thần linh và các tôn giáo

Tagor đã thừa kế được cả hai truyền thống này của dân tộc mình Triết

học Ấn Độ từ Vêđa, Upanisát, là một triết lý trí tuệ Người Ấn Độ có ba con

đường đi đến với đấng tối cao: Lòng tin, tình thương và trí tuệ (nhận thức

được chân lí), như vậy yếu tố nhận thức ngay từ đầu là yếu tố quan trọng trong

truyền thống Ấn Độ (trong khi ở Châu Âu lại nhấn mạnh yếu tố lòng tin) Và

người Ấn Độ đã dùng yếu tố trí tuệ này giải thích mọi lẽ tồn tại của vũ trụ

Triết học Ấn Độ cho rằng con người đạt đến sự tuyệt đối bằng tri thức

Trong thơ Tagor người ta sẽ bất gặp sự “vô biên” mà ông hướng tới và

trong thơ mình, Tagor cũng học tập được truyền thống nhân đạo chủ nghĩa của

dân tộc Từ thuở xưa, con người Ấn Độ đã biết suy nghĩ về mình, biết đi tìm

cái lẽ thực tại cao nhất, và duy nhất của vũ trụ Họ đề cao con người, “con

người là và sẽ là tối cao”

Trang 19

Trong bộ luật Manu, bộ luật đầu tiên của Ấn Độ đã nói rằng: “Ưu tú nhất

trong mọi sinh vật là loài động vật Ưu tú nhất trong động vật là loài động vật

có lý tính Ưu tú nhất trong loài động vật có lý tính là con người”

Và qua tất cả các chặng đường lịch sử người Ấn Độ đã không mệt mỏi đấu

tranh chống các chế độ đẳng cấp, các lễ giáo hủ bại của đạo Balamôn, các tập

tục dã man của phong kiến và tôn giáo, chống lại sự xâm lược của bọn đế quốc

Anh để bảo vệ quyền làm người của mình

Trong thơ Tagor lúc nào chúng ta cũng thấy vang lên bài hát về con người

Con người đẹp nhất trong truyền thống của dân tộc Ấn Ông đã hiểu theo tiếng

vang của con người đi trước để ca ngợi con người Ông ca ngợi những con

người chỉ tin ở vị thần nào có nhân cách Những bài hát đó ông đã học tập được

trong những trang thần thoại đầy lí thú, giàu ước mơ trong Vêđa, Bhabnarata,

trong kinh Uranisát đầy chất triết lý, cho đến những bài thơ lai láng chất trữ tình

Chadidatx, Biharilan, những vở kịch đầy sức hấp dẫn của Kaliđasa

Ông đã học tập được “sự hoà quyện giữa đời sống bình thường và những

bí mật trong đời sống tinh thần, sự hoà quyện giữa thơ và triết học, chất hài

hước và chất trữ tình, sự phân tích xã hội và sự phát hiện ra thế giới nội tâm

của con người trong nghệ thuật của Ấn Độ” để nâng tầm cho thơ mình Và

chính truyền thống của dân tộc Ấn Độ, nghệ thuật Ấn Độ đã nâng tầm cho chất

trí tuệ trong thơ Tagor

Truyền thống của dân tộc Ấn, nghệ thuật của văn học Ấn đã đến với Tagor

bằng nhiều con đường, nhưng con đường quan trọng nhất vẫn là con đường do

sự giáo dục của gia đình Tagor đối với ông

Tagor được sinh ra trong một gia đình mà 13 anh chị em ruột của ông đều

trở thành văn sỹ, nhạc sỹ và họa sỹ xuất sắc của xứ Bengan Điều đó càng khẳng

định truyền thống giáo dục của gia đình Tagor Cha mẹ của Tagor ông

Đêvenđơrarat là một nhà triết học nổi danh rất chú trọng đến việc giáo dục con

Trang 20

cái Sống giản dị, cần cù, biết rèn luyện sức khoẻ, biết quý trọng thì giờ lao

động, biết yêu văn hoá nghệ thuật và ngôn ngữ của dân tộc và đặc biệt

Đêvenđơrarat rất chú trọng đến việc phát triển năng khiếu của con

Tagor từ nhỏ đã được cha cho đi du lịch khắp đó đây Đó là điều kiện thuận

lợi cho Tagor hiểu biết về đất nước mình, thấy được vẻ đẹp của tổ quốc mình,

đó cũng là điều kiện làm cho tâm hồn của Tagor vốn đã thơ mộng lại thêm phần

phong phú

Tagor còn được cha cho đi dự ngày hội văn hoá dân tộc hàng năm do

phong trào phục hưng văn hoá Ấn Độ tổ chức Phải nói rằng đó là một ngày

quần chúng và nghệ sỹ tập hợp đông đủ để biểu dương nghệ thuật Đó là ngày

giúp cho Tagor tiếp thu được lòng tự hào dân tộc, lòng yêu văn hoá dân tộc và

truyền thống lao động sáng tạo nghệ thuật không ngừng của người dân Ấn Độ

Lịch sử văn hoá đã phải chịu ơn nhiều ông Đêvenđơrarat một nhà giáo dục

kiệt xuất Lịch sử làm cha, làm mẹ cũng đã tập được ở Đêvenđơrarat rất nhiều ở

nghệ thuật giáo dục con cái

Chúng ta sẽ rất sai lầm nếu như khi xét đến những yếu tố góp phần tạo nên

thiên tài Tagor mà lại bỏ qua “vương quốc những người đầy tớ”của ông Tagor

đã từng nói “bước đầu của tôi đi vào văn học có nguồn gốc của nó ở trong

những cuốn sách được lớp người tôi tớ yêu thích và truyền tụng”

Tagor rất yêu quý cái “gia đình đầy tớ” đó của mình đó là Syam,chú

Badema có tài kể chuyện tuyệt vời.Cả một kho tàng văn học dân gian Ấn Độ đã

được các chú đưa ra ru cho tâm hồn giàu cảm xúc của Tagor.Tagor chịu ơn

nhiều cái “gia đình đầy tớ” của mình là phải

Tagor không những chỉ học tập ở nền văn học dân gian Ấn Độ đã tích luỹ

mấy ngàn năm mà do điều kiện lịch sử ông sống lúc bấy giờ nên Tagor còn học

tập được rất nhiều ở truyền thống văn học phương Tây mà đặc biệt ở nền văn

học cổ điển Anh để tạo ra thiên tài của mình Nền văn học Anh qua Sêxpia,

Trang 21

Bairơn, đã truyền vào cho thơ Tagor nguồn thúc đẩy mãnh liệt của những tình

cảm mới sôi nổi Tagor thấy rằng cần phải có những luồng tình cảm mới chân

chính của Tây phương để đánh tan cái bình lặng trì trệ của đời sống xã hội và

tâm hồn Ấn Độ

Ông nói: “Chúng tôi sung sướng thưởng thức nghệ thuật văn học Anh

không phải vì thẩm mỹ mà vì trong sự đình trệ của chúng ta văn học ấy đem đến

một làn sóng mãnh liệt mặc dù làn sóng ấy có thể mang tất cả những gì dơ bẩn

từ dưới đáy phơi trần lên trên mặt”

Tagor đã học tập được ở Bairơn (1788 - 1834) người được sánh ngang với

Sêxpia cái tinh thần phóng khoáng, tôn trọng tự do, ghét bạo tàn ghét cái ác Và

cũng như Shelley ông ca ngợi cái đẹp của trí tuệ, cái đẹp của thiên nhiên Thơ

của Tagor cũng như thơ của Shelley thường mang tính triết lý của cuộc đời

Tagor cũng học tập ở Sêxpia và văn học phục hưng Anh chủ nghĩa nhân

văn đòi phải giải phóng con người, ca ngợi con người, nêu cao tinh thần dân

chủ Tagor học tập ở Shelley ở Sêxpia hình thức thơ Bơnnét …

Quả thật, Tagor đã chờ đón văn học phương Tây với niềm vui mới Có điều

ông không thiên về cái mới hoàn toàn đó để mà rập khuôn vào văn học Ấn mà

theo ông văn học Ấn trước hết phải sống cuộc sống của Ấn Độ

Vì thế, ông đã biết kết hợp một cách tuyệt vời, “cái trầm ngâm, sâu sắc,

trừu tượng và bình lặng” của Ấn Độ với cái sôi nổi phóng khoáng của văn học

tư sản tiến bộ phương Tây để tạo nên giá trị của thơ mình

Sự kết hợp tuyệt vời đó đã khẳng định tài năng của Tagor Đó là tài năng

không những của một nhà thơ cuộc đời giàu lòng nhân từ bác ái, giàu chất suy tư

mà còn là tài năng của một triết gia

Và điều đó làm cho Tagor lớn đối với nhân loại

Trang 22

2.2 Chất trí tuệ trong thơ Tagor

Trong nhiều nhà thơ nổi tiếng thế giới, Tagor hiện lên như một ánh sáng

lung linh của một nhà thơ trí tuệ ở thế kỷ XX

Tagor sáng tác rất nhiều Từ tám tuổi ông bắt đầu làm thơ

Năm 13 tuổi ông có bài đăng trên tạp chí Ông viết không ngừng cho đến

ngày ông qua đời (80 tuổi) và đã cống hiến cho nền văn học Ấn Độ một gia tài

khổng lồ: 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết và hàng trăm truyện ngắn,

diễn văn, tuỳ bút, chính luận…

Trên thế giới một khả năng sáng tạo dồi dào như vậy rất hiếm Thật đúng

khi nói rằng “Rabinđranath Tagor là một tổng hợp thiên tài kỳ diệu của văn học

Ấn Độ từ Upanisat qua tài liệu phật học đến Kaliđaxa, rồi tinh thần nhân đạo

thời trung cổ, cùng với tính lãng mạn tiến bộ trong văn học Anh khi giành độc

lập của nhân dân Ấn Độ”

Trong kho báu thơ ca quý báu của mình, tên tuổi Tagor lấp lánh hào quang

khi giải thưởng văn học cao quý nhất được trao cho tập thơ Dâng Tập thơ có

những vần thơ đẹp lộng lẫy, đó cũng là lúc Tagor tìm thấy “ngôi nhà của mình ở

mọi nơi trên thế giới”

Nhiều câu chuyện trong cuộc đời và thi phẩm của ông làm cho chúng ta

thấy được cái vĩ đại siêu đẳng của ông Một số trí thức phương Tây đã cho rằng

Tagor là đức chúa Giêsu toàn năng và đáng yêu Những người Ấn thì cho rằng

không ai có thể bằng được ông Và họ gọi thời đại này là thời đại Tagor

Cái gì đã tạo nên sự vĩ đại đến siêu đẳng của Tagor? Có lẽ chính là vì: “Tất

cả bao nhiêu ước vọng của loài người đều có trong thơ ông”

Nadim Hic met (1902 - 1963), nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ nhận xét: “Tôi rất yêu

thơ Tagor và yêu nhạc Bath Tôi cóc cần cái vẻ thần bí của họ Tôi biết họ có

điều thần bí, nhưng trong tác phẩm của họ xuyên qua vẻ thần bí, cái có nhiều

Trang 23

nhất là lòng yêu cuộc sống, là lòng tin cuộc đời Vì thế mà Bath vẫn là rất lớn

trong các nhạc sỹ lớn nhất, Tagor vẫn là rất lớn trong các thi sỹ lớn nhất”

Sống trong giai đoạn lịch sử “bất an trong mọi địa hạt”, trong khi một số

lớn các văn nghệ sỹ chỉ nghĩ đến sự “tháo thân” thì Tagor lại không như vậy

Ông không tháo chạy như các học giả phương Tây, không lai căng như các học

giả phương Đông Ông kiên quyết đi vào giai đoạn hiện đại, nhưng ông “biết

dung hoà giữa cái muôn đời và cái khoảnh khắc, giữa cái phổ biến và cái riêng

lẻ” Điều này đã nâng tầm vĩ đại của Tagor Đứng trên sự dung hoà ấy Tagor đã

giải quyết những vấn đề lớn đặt ra trong thơ mình một cách rất Ấn Độ, và rất

nhân loại Có thể nói: “Tagor đã đến với cuộc đời này bằng chất trí tuệ từ chính

trái tim mình”

Chất trí tuệ được thể hiện rõ qua những vần thơ của ông, 52 tập thơ Tagor

đã nói đến ba nội dung lớn: Thơ triết luận, thơ tình yêu, thơ viết cho trẻ em Ở

nội dung nào, nhà thơ cũng để lại dấu ấn và phong cách riêng độc đáo

Với “Trăng non” gồm 40 bài thơ viết về trẻ thơ, Tagor được coi là V

Huygô của Ấn Độ Tình thương, tấm lòng trìu mến nâng niu của ông đối với trẻ

em thắm đẫm trong từng chữ, từng câu Bởi lẽ “Khi thi sỹ nói đến trẻ thơ, đặc

tính này như một phần của thi sỹ thì ta không rõ có phải thi sỹ nói đến thánh

nhân không” W.B Yeats - nhà thơ Ai len

Ở mảng thơ tình yêu, Tagor tập chung trong hai tập thơ “Người làm vườn”,

“Tặng vật” Hồn thơ Tagor trẻ trung, hồn nhiên Ông là người tình đắm say của

cuộc đời, bởi lẽ theo ông “con người đến với thế gian này không phải để làm

chủ nhân, cũng không phải để làm nô lệ mà để làm một người tình” Tagor đã tự

nguyện làm người chăm sóc vườn hoa tình yêu Ông thể hiện quan niệm tình

yêu dưới nhiều góc độ Ông triết lý bằng tình yêu Ông hướng tình yêu đến vô

hạn, vô biên và trường cửu

Trang 24

Với thơ triết luận, Tagor đã đặc biệt vận dụng trí tuệ, chất suy tư, triết lý để

lý giải một cách minh bạch, sáng tạo các cặp phạm trù vũ trụ quan và nhân sinh

quan như: chúa trời, chúa đời, thiên đường - địa ngục, tồn tại và huỷ diệt Thông

qua sự rung động sâu xa của cảm xúc và thẩm mỹ Tagor đã thể hiện một năng

lực tư duy đặc biệt trong việc đặt ra và lí giải những vấn đề có ý nghĩa lớn lao

Chất trí tuệ được kết tinh trong toàn bộ hình tượng thơ cùng với đặc trưng thi

pháp của Tagor đã khẳng định tầm tư tưởng về sáng tạo nghệ thuật lớn lao của

ông Tư tưởng của Tagor mang tầm thời đại vì “không một tư tưởng nào trong

thời đại chúng ta lại xứng đáng được kính trọng, được tôn sùng cho bằng tư

tưởng Tagor Thơ triết luận tập chung nhiều ở Thơ Dâng, Người thoáng hiện,

Thiên nga Trong đó Thơ Dâng là một kiệt tác và được coi là một phát hiện lớn

của thời đại” Phương Tây và châu Âu đã dùng chữ: “Nhà thơ trí tuệ muôn

màu” để nói về Tagor

Rabinđranath Tagor là một nhà thơ trí tuệ vì trong thơ ông chất trí tuệ tham

gia tích cực với vai trò của chủ thể sáng tạo

Chất trí tuệ không phải là tặng vật của thần linh ban cho mà là sự tích luỹ

kinh nghiệm, sự hiểu biết thực tế cuộc sống đã hòa quện nhào nặn với tư tưởng,

tình cảm, cảm xúc, cá tính của ông mà thành

2.2.1 Nhận thức lý giải những vấn đề về tôn giáo

Những bài thơ tràn đầy hình ảnh của Chúa, Thượng Đế, Thầy, Người…

cùng đẳng cấp xuất thân của Tagor đã làm cho không ít người nghĩ rằng thơ

Tagor là thơ tôn giáo

Ông đã dùng thơ để truyền đạt những tư tưởng thần bí, cao siêu, và linh

thiêng Năm 1924 Ađre Karpeles Hoegman (nữ văn sỹ Đức) đã viết thư hỏi

Tagor “ông thuộc về tôn giáo nào? Balamôn hay Kitô giáo?” Tagor viết thư trả

lời: “Tôi không thuộc về tôn giáo nào cả mà cũng chẳng nghiêng về đức tin đặc

biệt nào Có điều khi thượng đế sinh ra tôi, thì chính người đã trở thành tôi rồi

Trang 25

Ngày ngày người triển khai con người tôi trong cuộc sống, và nâng niu con

người tôi với nhiều sinh lực và vẻ đẹp trong thế giới này Chính sự kiện tôi hiện

hữu đã mang trong tôi lòng yêu thương vĩnh cửu rồi”

Như vậy, chất trí tuệ trong thơ Tagor biểu hiện trước hết ở sự nhận thức và

lí giải một cách minh bạch và đầy sáng tạo những phạm trù mang màu sắc tôn

giáo nhưng cốt lõi là cuộc sống và tình người

Chất trí tuệ trong thơ Tagor được thể hiện ở sự nhận thức và lí giải về tôn

giáo ở các phạm trù sau:

Thứ nhất là: Nhận thức lí giải về “Chúa trời” và “Chúa đời”

Thứ hai là: Nhận thức lí giải về “thiên đường” và “địa ngục”

Thứ ba là: Nhận thức lí giải về “sự sống” và “cái chết”

2.2.1.1 Nhận thức lí giải về “Chúa trời” và “Chúa đời”

Từ những thời kỳ xa xưa của lịch sử con người Ấn Độ đã cho sự tồn tại của

thần thánh, của Chúa trời là điều hiển nhiên và điều đó được khẳng định vững

chắc trong kinh Vêđa với một hệ thống thần linh, trong sử thi Mahabharata,

Ramayana là những di sản văn hoá quý báu của người Ấn Độ và nhân loại Và

Tagor đã sử dụng những hình ảnh quen thuộc này trong truyền thống văn hoá

Ấn vào thơ của mình Hình ảnh Chúa thường được nhắc trong thơ ông nhiều lần

Hình ảnh đó đã tạo thành một hình tượng, hơn thế đã tạo thành một biểu tượng

nghệ thuật

Cách sử dụng biểu tượng này có tác dụng thẩm mỹ rất cao nó tạo ra được

một sức thuyết phục lớn cho người đọc Tagor đã truyền đạt một ý tưởng mới

trên một hình tượng của truyền thống Ấn Độ và cả những người trên thế giới

theo Chúa trời đã tiếp nhận thơ Tagor mà không bị chạm vào lòng tin của mình

Đọc thơ Tagor độc giả thoạt tiên bị thu hút vào một niềm tin có một quyền

lực, một sức mạnh vạn năng tạo dựng cuộc đời, tạo dựng con người, nhưng

Tagor lại lí giải bằng hình tượng thơ rằng: “Quyền lực đó không phải ở nơi đấng

Trang 26

thiêng liêng vô hình ẩn dấu mà Thượng đế đó chính là vị chúa đời” Chúa đời

chính là cuộc sống đang hiện hữu và biến đổi không ngừng, là ước mơ, là khát

vọng để con người vươn tới bằng: “Thuyền nhỏ mong manh”, “cây sáo nhỏ

bằng lau sậy”, “Ly rượu tràn đầy” Chúa đời đã đưa con người băng qua thời

gian và không gian để cất lên giai điệu tình yêu, cuộc sống mới mẻ đời đời

Hạnh phúc được sống trong cuộc đời là vô cùng, vô tận Chúa không ở đâu xa, ở

trước mắt ta, gần gũi và sẻ chia, thân quen và ấm áp nếu ta biết sống trong tình

yêu và bằng lao động, Tagor viết:

“Có Chúa nào trước mắt người đâu

Chúa ở nơi

Người nông dân đang cày mảnh đất khô cằn

Và nơi người phu đường đang đập đá

Chúa ở chung với họ

Trong nắng trong mưa

Và quần áo của Người

Cũng phủ đầy bụi bẩn”

Như vậy là Chúa hiện hữu, hiện hữu cụ thể đến mức cũng có “Quần áo của

người” và thật là lí thú, quần áo đó cũng “phủ đầy bụi bẩn” Thượng đế đã hiện

thân trong cái thế giới hữu hạn này Trong lúc không ít người vẫn tìm nơi ẩn náu

của mình vào một vị Chúa vô hình, thì Tagor lại kéo Chúa về cõi đời trần thế

Trong khi không ít nghệ sĩ vẫn không ngớt lời thơ ca ngợi để giải thoát ở thần

linh thì Tagor lại đưa Chúa xuống cùng với những người lao động Đó chẳng

phải là một sự nhận thức và lí giải đầy sáng tạo hay sao?

Chúa ở thơ Tagor thật giản dị, vì thơ ông không kiêu kì trước cuộc đời

Chúa ở thơ ông thật gần gũi, vì thơ ông, trí tuệ ông, trái tim ông không xa lạ với

tình đời

Trang 27

Chúa ở trong thơ Tagor chính là vị “Chúa đời” kiêu hãnh trước sóng gió,

êm ái dịu dàng trong thanh bình, chính Chúa trời đã làm nên ánh sáng của sự

sống:

“Nhờ có sự tiếp cận tràn đầy sự sống

Của Chúa đời

Và đêm đen hằng giam giữ tôi

Đã tung cánh bay lên”

(Người làm vườn)

Có “Chúa đời” là có ánh sáng, có “Chúa đời’ là có “sức sống” “Chúa

đời” đã nâng cánh cho con người bay xa Có “chúa đời” đêm đen sẽ tiêu tan,

biến mất Sức mạnh của “Chúa đời” là vậy Hãy nghe “Chúa đời” thức tỉnh:

Ôi không biết ai đã giữ tôi lại quá lâu

Trong ảo mộng của đời này

Và chúa đời thầm nhủ:

“ Ta”.”

Níu giữ con người với cuộc đời này, chỉ cho con người hạnh phúc không

phải đi tìm kiếm tận nơi đâu Hạnh phúc và khổ hạnh chỉ cách nhau trong gang

tấc Vươn tới hạnh phúc ấy là con người phải biết sống cho cuộc đời

Cái tiếng “Ta” vang lên dõng dạc kia là lời của “Chúa đời” tự tin và kiêu

hãnh, đấy là sự thức tỉnh của “Chúa đời” hay cũng chính là sự thức tỉnh của “vị

thánh” Tagor Trong thơ Tagor chúng ta thấy một “Chúa đời” nhất định không

ở trên ngôi đền mà một ông vua đã vẽ ra trước mắt với hàng triệu đồng vàng xây

Trang 28

dựng khi hàng nghìn người dân của nước đó không có cơm ăn, áo mặc, không

có cửa nương thân:

“Vâng ta biết lắm

Chính trong năm đó

Hàng nghìn dân của ngươi nhà cửa ra tro

Đã uổng công đến trước cửa nhà ngươi

Cầu cứu xin giúp

Và Chúa bảo:

“Cái thứ người khốn khổ

Không thể cho đồng loại một ngôi nhà

Lại muốn xây nhà cho ta hẳn?”

Và Chúa trời đã đến ở dưới gốc cây

Bên đường cái

Với kẻ không nhà.”

(Hái quả) Như vậy, nếu Chúa trời là của đẳng cấp Bàlamôn và võ sĩ quý tộc thì “Chúa

đời” của Tagor là của tất cả mọi người, trong đó có cả những người cùng đinh

của xã hội Chúa coi trọng cuộc đời nghèo khổ, chúa cảm thông, chia sẻ và đồng

hành cùng những con người bất hạnh Chúa dõi theo bước chân của từng cuộc

đời lầm than, cơ cực Thế nên Chúa có ngại gì đâu khi “đến ở dưới gốc cây” với

những kẻ không nhà

Sự thông minh, chất trí tuệ trong sự nhìn nhận và lý giải của Tagor là ở chỗ:

nhà thơ làm cho người đọc thấy không có “Chúa trời” hiện hữu nhưng trong tác

phẩm của ông “Chúa trời vẫn có mặt”

Chúa của Tagor không khuyên mọi người đến với tụng niệm mà khuyên mọi

người đến với lao động và tình yêu Tagor đã tìm cách đưa Chúa lên mặt đất này

như một con người và đồng thời như một hiện thân thần thánh chứ không phải

Trang 29

đưa tâm trí con người ra ngoài cõi đời để đặt dưới chân Chúa Trong thơ Tagor

những rung động vô hình về tự nhiên, về Thượng đế không át nổi tiếng nói của

tình yêu và cuộc đời thực Vị “Chúa đời” của ông đã đưa ta trở về với trái đất

và cuộc sống, trở về với con người và lao động, không để cho con người phải

quỳ gối, sùng bái tự nhiên như tôn giáo Ấn Độ Và điều đó khiến chúng ta liên

tưởng rằng: Tagor là một Henríc Hainơ của Ấn Độ

Chính vì những lẽ trên mà thơ Tagor đã đi vào lòng người và thuyết phục

lòng người

Ông đã “chịu ơn của vị Chúa đời” nên ông đã “trả ơn” bằng việc thức tỉnh

con người không tin vào “Chúa trời” nữa Chúa trong thơ ông chẳng qua chỉ là

một ý niệm mà thôi Ông làm cho chính con người tin vào Chúa đời – vị Chúa

chấp nhận sống như cuộc sống con người

Có thể khẳng định rằng: Chúa của Tagor là sự kết hợp giữa tôn giáo truyền

thống Ấn Độ với cuộc đời trong quan hệ gắn bó mật thiết Con người hoà hợp

với Chúa trong hình tượng con người Thượng đế Tìm đến với Chúa chính là

con người đang tìm đến sự hòa hợp với đời

Bằng sự lý giải minh bạch, sáng tạo, Tagor đã tước bỏ uy quyền tuyệt đối

của Chúa Vì thế màu sắc tôn giáo chỉ còn ở phương diện biểu hiện Con người

tìm đến với Chúa là tìm đến niềm vui (Ananda), với tình yêu (Kama), với lao

động sáng tạo Thi pháp tượng trưng được coi là một trong những đặc trưng thi

pháp của Tagor

Vì vậy, đánh giá của Nira Chabiđhuri - nhà nghiên cứu của Ấn Độ đã xác

định rõ hơn, cụ thể hơn tính chất đặc biệt của loại tôn giáo này: “Tôn giáo của

Tagor là thơ sùng kính, không phải thơ thần bí, nó tìm cách đưa Chúa lên mặt

đất này như một hiện thân thần thánh chứ không phải đưa tâm trí của con người

ra ngoài để đặt dưới chân Chúa”

Trang 30

2.2.1.2 Nhận thức và lý giải về “thiên đường” và “địa ngục”

Cùng một góc độ với cách nhìn nhận và lý giải về “Chúa trời” và “Chúa

đời”, trong thơ Tagor là sự nhìn nhận và lý giải về thiên đường và địa ngục hết

sức uyển chuyển, linh hoạt, thông minh và rất sáng tạo Vì vậy nó tạo cho thơ

ông bản sắc trí tuệ riêng

Người Ấn Độ từ đời Vêđa cho đến thời kỳ của Tagor đều coi trọng thiên

đường ở cõi hư vô Họ tôn thờ thiên đường ảo và với cách suy nghĩ của người

Ấn, họ có nhiều con đường để đi tới thiên đường nhưng chung quy vẫn là con

đường tu luyện ở cõi trần Hầu hết các đạo giáo ở Ấn Độ (Balamôn giáo, Phật

giáo, Ấn Độ giáo) đều cho rằng cõi trần mọi người có chịu được khổ cực (kể cả

hình thức khủng khiếp nhất là tự hành xác) thì mới được lên “thiên đường”

Và thiên đường ở trong suy nghĩ của người Ấn là cõi cực lạc, là niết bàn và

là một thế giới vĩnh hằng mà ai cũng mong muốn

Với Tagor thì khác, thiên đường không phải là cõi hư vô hay thế giới vĩnh

hằng Khi tâm hồn con người đạt đến sự hoà hợp của Atman và Brahanan đó

chính là thiên đường Thiên đường không ở riêng Ấn Độ mà ở khắp nơi trên trái

đất, ở trong tâm hồn của mỗi con người

“Này đây

Tôi vẽ ra cả thế giới vĩnh hằng”

Và nhà thơ đã cho ta thấy, cõi vĩnh hằng “thiên đường” ấy là một bài ca

réo rắt:

“Trên cái bờ nghiêng xuống dòng sông

Một người nông dân đang cày cuốc

Những con thiên nga

Bay về phía bờ cát trụi trần ở phía bên kia”…

(Thiên nga)

Ngày đăng: 29/06/2020, 13:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Xuân Diệu, Yến Lan, Chế Lan Viên (dịch) (1961), Tagor (thơ), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tagor (thơ)
Tác giả: Xuân Diệu, Yến Lan, Chế Lan Viên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1961
2. Xuân Diệu, Dao có mài mới sắc, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dao có mài mới sắc
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
4. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề thơ hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề thơ hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1974
5. Gorki (1965), Bàn về văn học (tập 1, 2) , Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học
Tác giả: Gorki
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1965
6. Nguyễn Văn Hạnh (2007), Truyện ngắn Tagor trên hành trình hiện đại hóa văn xuôi Ấ n Độ, Nghiên cứu văn học số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Tagor trên hành trình hiện đại hóa văn xuôi Ấ n Độ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 2007
9. Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học
Tác giả: Khrapchenco
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1978
10. Mác, Ănghen, Lênin, Bàn về văn học nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học nghệ thuật
Tác giả: Mác, Ănghen, Lênin
11. Đào Xuân Qúy(1975), Rabindranath Tagor, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rabindranath Tagor
Tác giả: Đào Xuân Qúy
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1975
13. Lưu Đức Trung (2001), Chân dung các nhà văn thế giới, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung các nhà văn thế giới
Tác giả: Lưu Đức Trung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
14. Lưu Đức Trung (2008), Rabindranath Tagor bàn về cái đẹp, Nghiên cứu văn học số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rabindranath Tagor bàn về cái đẹp
Tác giả: Lưu Đức Trung
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 2008
3. Cao Huy Đỉnh (1995), Tinh thần nhân đạo trong thơ Tagor, Tạp chí Văn học số 8 Khác
7. Lê Thanh Huyên (2008), Về trang phục trong mây và mặt trời, Nghiên cứu văn học số 10 Khác
8. Lê Từ Hiển (2001), Rabindranath Tagor họa sĩ vẽ bụi đất và ánh sáng mặt trời, Tạp chí văn học số 6 Khác
12. Lưu Đức Trung (2008), Văn học Ấn Độ, Nxb Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN