đề cương môn luật so sánh bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm và những câu hỏi lý thuyết quan trọng của bộ môn luật so sánh .đề cương môn luật so sánh bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm và những câu hỏi lý thuyết quan trọng của bộ môn luật so sánh .
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP LUẬT SO SÁNH
1 Luật so sánh là gì? Phân tích các đối tượng của luật so sánh.
Khái niệm: Là môn khoa học pháp lý tổng quát sử dụng phương pháp so sánh là trọng yếu để nghiên cứu cácvấn đề pháp luật thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, nghiên cứu hệ thống pháp luật các nước một cáchriêng biệt và nghiên cứu việc sử dụng cũng như hiệu quả của phương pháp so sánh luật
Đối tượng:
- Pháp luật nước ngoài: Do mỗi nước, mỗi khu vực có nền tảng kinh tế - xã hội – lịch sử khác nhau dẫn đếnmột hệ thống pháp luật có sự khác biệt lớn Pháp luật nước ngoài là đối tượng nghiên cứu quan trọng củaLSS, nhằm rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật các nước
- Phương pháp so sánh: phương pháp chủ yếu dùng để nghiên cứu LSS, có nhiều mức độ so sánh để rút ragiải pháp cho luật thực định
+ so sánh hệ thống: hệ thống pháp luật không chỉ được tạo thành từ các quy phạm mà pháp luật phải luônđược hiểu là một hệ thống, luôn bao gồm 2 yếu tố tĩnh và động
+ so sánh tiếp cận theo chức năng: Mọi thứ phải so sánh khi nó cùng 1 chức năng, so sánh phải xuất phát từnhu cầu điều chỉnh
2 Phân biệt và chỉ ra mối liên hệ giữa so sánh vĩ mô và so sánh vi mô
- So sánh vĩ mô: so sánh các hệ thông pháp luật về tinh thần, phong cách, tư duy pháp lý, thủ tục … Cụ thể
là phương pháp xử lý các tư liệu pháp lý, thủ tục giải quyết các tranh chấp, kỹ thuật lập pháp, kiểu pháp điểnhóa, giải thích pháp luật, xem xét tiền lệ, việc đóng góp của nhà trường vào việc phát triển pháp luật, quanđiểm về tư pháp, cách thức giải quyết xung đột, vai trò của luật sư và thẩm phán trong việc chứng minh sựkiện và thiết lập pháp luật,…
- So sánh vi mô: So sánh các vấn đề pháp lý cụ thể và cách giải quyết chúng, ví dụ như chế định hợp đồng,nghĩa vụ…
Hai mức độ so sánh này không có ranh giới rõ ràng Tuy nhiên so sánh vĩ mô là so sánh cái chung của hệthống pháp luật, so sánh vi mô là đi vào cái riêng cụ thể Trên thực tế, khi so sánh người ta phải thực hiệnđồng thời cả hai mức độ nghiên cứu, so sánh vĩ mô sẽ tạo tiền đề để so sánh vi mô hiệu quả
3 Đối tượng của Luật so sánh
- Các hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, so sánh các chế định cụ thể dưới phương phápcủa luật so sánh nhằm tìm ra, lý giải sự tương đồng, khác biệt
- Nghiên cứu về só sánh như là 1 phương pháp trong luật học so sánh
- Quá trình hình thành và phát triển của sự so sánh luật
4 Phân biệt so sánh hình thức và so sánh chức năng.
Phương pháp so sánh chức năng:
- Tìm các chế định pháp luật có chức năng tương đương nhau trong các hệ thống pháp luật khác nhau
- So sánh các giải pháp được sử dụng trong các hệ thống pháp luật khác nhau để giải quyết cùng mộtvấn đề xã hội nảy sinh tại các xã hội khác nhau để tìm ra ưu điểm và hạn chế
Các điều kiện để thực hiện phương pháp so sánh theo chức năng
1) Người nghiên cứu phải xuất phát từ bản thân hệ thống pháp luật nước ngoài( mà đang là đối tượng
để nghiên cứu); không bị ảnh hưởng ở những khái niệm hay học thuyết giáo điều của hệ thống pháp luậtnước mình; và phải tập trung vào các chức năng mà các chế định của hệ thống pháp luật đang nghiên cứu,thực hiện; nói cách khác, phải phát hiện đc các chức năng của các chế định đó và phân tích đc các giải pháp
để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh ra các nhu cầu cần điều chỉnh, hơn là tìm đến cấu trúc học thuyếtcủa chúng
2) Người nghiên cứu phải chú ý đến tất cả các nguồn của pháp luật theo quan niệm của hệ thống phápluật đang nghiên cứu( có nghĩa là những gì tạo nên pháp luật sống), có thể bao gồm: VBQPPL, án lệ, tậpquán, hợp đồng tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh, thực tiễn thương mại,
3) Người nghiên cứu phải am hiểu nhiều ngành khoa học có liên quan như chính trị học, kinh tế học,xãhội học, nhân chủng học, địa lý học, lịch sử pháp truyền và các ngành khoa học pháp lý khác
5 Nêu và phân tích chức năng và mục đích của luật so sánh Luật so sánh có ý nghĩa như thế nào đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
* Chức năng của LSS:
- Hỗ trợ các cơ quan lập pháp xây dựng luật
- Giúp cho quá trình nhất thể hóa và hội nhập pháp luật:
Trang 2- Tìm những vấn đề cụ thể cần thống nhất
- Điểm giống và khác nhau
- Căn nguyên của sự khác biệt
- Giải pháp cho tiến trình nhất thể hóa và hội nhấp pháp luật
- Xây dựng nhiều điều ước quốc tế thống nhất một số lĩnh vực pháp luật từ xưa đến nay và hiểu mộtcách đầy đủ nội dung của các điều ước quốc tế
- Cải cách pháp luật quốc gia Nó cung cấp cho các nhà làm luật, các nhà lý luận, các thẩm phán vànhững người hoạt động thực tiễn pháp lý khác những giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội
- Hỗ trợ cho việc đánh giá và áp dụng pháp luật của thẩm phán
- Người học có nhận thức tổng quát, linh động, không bị đóng đinh vào một quan niệm nào đó
- Những người tham gia các giao dịch quốc tế tránh khỏi những sai lầm và biết được thực chất cáccông việc của mình
* Ý nghĩa LSS ở Việt Nam
LSS có ý nghĩa lớn đối với VN hiện nay Trình độ lập pháp của VN còn yếu kém, pháp điển hóa pháp luậtkhông tốt, nhiều điều luật chồng chéo nhau hoặc không cần thiết Cần nghiên cứu tư duy pháp lý, kĩ thuậtlập pháp các nước để bổ sung cho pháp luật hiện hành Hơn nữa, trong thời kì hội nhập, nếu không am hiểu
về pháp luật quốc tế thì rất dễ bị thua thiệt
6 Phân biệt và chỉ ra mối liên hệ giữa luật so sánh với lịch sử nhà nước và pháp luật
Luật so sánh nghiên cứu các hệ thống pháp cùng tồn tại về mặt không gian Song đây chỉ là nhận xét có tínhchất khái lược
Luật so sánh và LSNNVPL đc ví như 1 cặp bài trùng, luôn luôn cần có nhau và sử dụng lẫn nhau Trong cáccông trình lịch sử pháp luật, người ta thường dùng phương pháp so sánh để thấy rõ hơn 1 vấn đề lịch sử,chẳng hạn giáo sư Oliver Oldman cho rằng Bộ Quốc triều Hình luật có nhiều tiến bộ có thể sánh ngang vềmặt chức năng với quan điểm pháp luật Phương Tây cận đại của các vấn đề pháp lý Các điểm riêng biệtcủa của các hệ thống PL chỉ đc làm rõ thông qua việc phân tích lịch sử
ở phía kia, LSS cũng luôn luôn cần đến sự phân tích lịch sử để thấy rõ hoàn cảnh xã hôi, động lực thúc đẩy
sự ra đời và phát triển
tuy nhiên, LSS và LSNNVPL là 2 bộ môn riêng biệt mà khó có thể mô tả đầy đủ ranh giới giữa chúng Nếuxem việc so sánh các vấn đề pháp luật về mặt thời gian là đối tượng của LSS, thì có nghĩa là quan niệm đó
đã hợp nhất LSNNVPL và LSS
7 Phân biệt và chỉ ra mối liên hệ giữa luật so sánh và công pháp quốc tế.
- CPQT và LSS có rất ít điểm chung,tuy nhiên chúng có những mối quan hệ
- LSS là 1 yếu tố quan trọng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia nhằm hợp tác trong cáclĩnh vực
- Luật so sánh cóa giá trị đối với quá tình xây dựng điều ước quốc tế ( điều ước song phương hoặc đaphương)
- Luật so sánh có giá trị đối với nguồn của pháp luật quốc tế Đó là nguồn của điều của điều ước quốc
tế, tập quán quốc tếm, luật của các quốc gia trên thế giới
- Luật so sánh giúp xác định nguyên tắc nào là nguyên tắc pháp lý chung của luật quốc tế
- Ví dụ: Các quốc gia theo nguyên tắc chung của công pháp quốc tế, có nghĩa vụ đối xử đối với côngdân nước ngoàitheo chuẩn mực quốc tế tối thiểu phù hợp với các tiêu chuẩn về đạo đức của các gia vănminh => chỉ có sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh các hệ thống pháp luật hiện hành mới có thể xáđịnh các chuẩn mực quốc tế tối thiểu mang tính phổ biến
8 Phân biệt và chỉ ra mối liên hệ giữa luật so sánh và tư pháp quốc tế
- TPQT là 1 phần của luật thực định còn LSS là một môn khoa học thuần túy
- Là lãnh vực pháp luật đặc biệt điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
- Chủ thể của pháp luật dân sự: Cá nhân, pháp nhân Nếu như có yếu tố nước ngoài thì quan hệ dân sựkhông được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia mà bởi tư pháp quốc tế
- Giải quyết các mâu thuẫn
- Ví dụ: Pháp là nơi nhiều nước ngoài gửi tiền nhưng không may xảy ra tranh chấp mà việc giải quyếtnhững tranh chấp đó ở mỗi hệ thống pháp luật khác nhau (xung đột pháp lý) Thì người ta có sử dụng haibiện pháp: sử dụng xung đột pháp lý hoặc pháp luật thực chất để giải quyết
Trang 3+ Xung đột pháp lý: sử dụng các quy phạm xung đột quy phạm xung đột là quy phạm không quy địnhquyền và và nghĩa vụ của các bên mà chỉ ra hệ thống pháp luật nào được viện dẫn để giải quyết (quy phạmnày cung cấp kiến thức pháp luật của nhiều nước trên thế giới)
+ Pháp luật thực chất: Sử dụng quy phạm thực chất là quy phạm có quy định quyền và nghĩa vụ của các bên
cụ thể hoặc các điều ước quốc gia đã thống nhất
9 Trình bày khái quát về lịch sử phát triển của luật so sánh trên thế giới.
- Việc sử dụng phương pháp so sánh:
Aristotle(384-322 BC) đã nghiên cứu so sánh 153 bản qui của các thành phố Hy Lạp và các thànhbang
Bộ luật 12 bảng cũng đc làm ra với việc sử dụng phương pháp so sánh
Motesquieu cũng sử dụng phương pháp ss để thiết lạp nên những nguyên tắc chung cho việc tổ chứcchính quyền
Thời trung cổ, ng ta đã ss Luật LM và Luật giáo hội, còn ở Anh vào thế kỷ 16, so sánh ưu điểm củathông luật và luật giáo hội…
- Sự xuất hiện LSS
Giữa thế kỷ 19, trào lưu quốc gia hóa tư tưởng pháp luật xuất hiện phá vỡ khái niệm pháp luật chungcho toàn thế giới ( jus commune)
Mở rộng quan hệ quốc tế
Cuối thế kỷ 19, LSS trở thành 1 môn khoa học pháp lý bởi lúc này mục đích và phương pháp của nó
đc nghiên cứu có hệ thống và đc sử dụng nhiều trong thực tiễn
10 Sự hình thành và phát triển của luật học so sánh ở Việt Nam.
Thời kì trước năm 1986, luật so sánh ở Việt Nam chủ yếu là so sánh lập pháp Trong thời kì phong kiến, cácnhà làm luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đã tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài để xây dựng
hệ thống pháp luật của mình Mặc dù không có nền tảng lý thuyết về so sánh pháp luật như bây giờ nhưngcác nhà làm luật của Việt Nam đã chắt lọc những điểm hợp lý trong pháp luật nước ngoài mà chủ yếu làpháp luật Trung Quốc để xây dựng hệ thống pháp luật của mình phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh xã hộicủa Việt Nam
Ví dụ cho việc tiếp thu pháp luật Trung Quốc trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam là
“Quốc triều hình luật”- Bộ luật có giá trị đặc biệt trong cổ luật của Việt Nam Mặc dù về hình thức và nộidung thì Quốc triều hình luật có nhiều điều khoản giống những điều khoản của bộ luật nhà Đường nhưng nó
đã có sự sửa đổi cho phù hợp với nền kinh tế và truyền thống văn hóa của Việt Nam lúc này
Sau cách mạng tháng tám, với sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, hệ thống pháp luật ViệtNam đã từng bước được xây dựng Có thể nói hầu hết các đạo luật lớn đặc biệt là Hiến pháp và các luật tổchức nhà nước Việt Nam đã được xây dựng trên cơ sở tham khảo pháp luật của nước ngoài nhất là pháp luật
xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn này, ở miền bắc, luật so sánh học thuật ít được chú trọng Còn ở miềnnam, trong khoảng thời gian từ năm 1945-1975, các nhà làm luật cũng đã tham khảo pháp luật của các nướcnhư Pháp, Mỹ trong quá trình xây dựng pháp luật Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, hoạt động lậppháp của Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể và hệ thống pháp luật nước ta có nhiều điểm tương đồng vớipháp luật Liên vì khi xây dựng các văn bản pháp luật đều có sự tham khảo pháp luật Liên xô Thời kì từ năm
1986 đến nay, những yêu cầu của quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế đòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện hệthống pháp luật để có thể chủ động hào nhập với nền kinh tế thế giới Do đó luật so sánh đã phát triển mạnhhơn trên cả hai phương diện là so sánh lập pháp và so sánh học thuật
Bên cạnh đó, các tổ chức chuyên về luật so sánh đã được thành lập ở các trường đại học, các viện nghiêncứu ở Việt Nam Trong đó, ra đời sớm nhất vào đầu những năm 90 của thế kỉ trước là phòng nghiên cứu luật
so sánh thuộc viện nhà nước và pháp luật thuộc viện khoa học xã hội Việt Nam Bước sang thế kỉ XXI, nhucầu nghiên cứu, ứng dụng và phát triển luật so sánh ở Việt Nam ngày càng cần thiết, nhiều tổ chức chuyên
về luật so sánh đã được thành lập Cùng với các công trình nghiên cứu và việc thành lạp các tổ chức chuyên
về luật so sánh, ở các cơ sở đào tạo luật, môn học luật so sánh đã được đưa vào chương trình đào tạo vàonhững năm đầu thế kỉ XXI Đến năm 2004, luật so sánh trở thành môn học bắt buộc đối với sinh viên theohọc chương trình cử nhân luật
11 Vai trò của luật so sánh trong cải cách pháp luật quốc gia Liên hệ tới Việt Nam.
Giá trị của Luật so sánh đối với quá trình hoàn thành hệ thống pháp luật
- Trong nhiều trường hợp xây dựng và áp dụng pháp luật một cách bế tắc thì ta nghiên cứu so sánh luật đểhọc hỏi kinh nghiệm nhằm tìm ra các giải pháp pháp lý tối ưu để đem về ứng dụng
Trang 4- Nhà hoạt động so sánh luật mà thay vì phải dự đoán và có nguy cơ phải chịu những giải pháp kém thíchhợp, họ có thể khai thác, tham khảo các kinh nghiệm quý báo, phong phú trong hệ thống pháp luật nướcngoài do vấn đề mà nước khác đã giải quyết Nbhững kinh nghiệm nào đó có thể học được ở đó có thể tìmthấy những giải pháp đơn giản hơn, ít tốn kém hơn và đã được áp dụng có hiệu quả ở nước ngoài.
Ví dụ: Các quyết định "đùng một cái" chịu nhiều rủi ro chẳng hạn quyết định của Thủ đô Hà Nội cấm một sốphương tiện ngoại thành không được đi vào Thủ đô => phản ứng gay gắt của nhân dân (và nó được xóa bỏngay)
Giá trị của Luật so sánh đối với quá trình nhất điển hóa pháp luật
- Hài hòa hóa là quá trình làm cho các nguyên tắc của hai hay nhiều hệ thống pháp luật trở nên có nhiềuđiểm tương đồng khi giải quyết cùng nột vấn đề
- Nhất điển hóa pháp luật là quá trình thống nhất ban hành các nguyên tắc pháp lý tương tự nhau giữa haihay nhiều hệ thống pháp luật
Ví dụ: Công ước Warsaw 1929 về thống nhất các quy định về vận chuyển hàng không quốc tế hầu như đượctất cả các quốc gia thông qua đã tập hợp được số lượng rất lớn các quyết định tư pháp của nhiều nước có liênquan tới việc giải thích công ước
12 Các cách thức phân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới được các nhà luật học so sánh nổi tiếng trên thế giới tiếp cận như thế nào?
Việc phân loại các hệ thống pháp luật thực chất là hoạt động so sánh cấp vĩ mô, tức là căn cứ vào các đặcđiểm như tư duy pháp lý, kĩ thuật lập pháp … mà phân chia thành các họ pháp luật có các điểm tương đồng.Khi tiến hành phân loại các hệ thống pháp luật nhất thiết phải chọn một cách tiếp cận nhất định
- Phân loại của luật gia XHCN: căn cứ vào chế độ chính trị, phân loại các hệ thống pháp luật thành Hệthống Pháp luật XHCN và một hệ thống đối lập với nó là Hệ thống Pháp luật Tư sản
- Hệ thống Pháp luật châu Âu lại được phân loại thành bốn nhóm khác nhau dựa vào thời gian, cáchthức và mức độ mà giai cấp tư sản thành công trong việc thiết lập quan hệ sản xuất tư bản trong lòng chế độphong kiến Các nhóm đó bao gồm: (1) Anh và các nước Phương Bắc; (2) Pháp; (3) các nước nói tiếng Đức
ở Trung Âu, Hungary và một phần Đông Âu; (4) các nước ở Đông- Nam châu Âu
- Dựa vào những yếu tố căn bản ảnh hưởng tới pháp luật như: tôn giáo, luân lý và công lý, có quanniệm phân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới thành ba loại: Hệ thống Pháp luật Hồi giáo và Ấn Độ (bịảnh hưởng của tôn giáo); Hệ thống Pháp luật Trung Hoa (bị ảnh hưởng của luân lý); và Hệ thống Pháp luậtPháp-La tinh, Hệ thống Pháp luật Anh–Mỹ, cũng như Hệ thống Pháp luật Xã hội Chủ nghĩa (bị ảnh hưởngcủa công lý)
- Lévy-Ullmann phân biệt ba họ pháp luật khác nhau: Họ Pháp luật Lục địa, Họ Pháp luật của cácnước nói tiếng Anh và Họ Pháp luật Hồi giáo
- Căn cứ vào nội dung mà tại đây có sự chú ý thích đáng tới nguồn gốc, xuất xứ và các yếu tố chungcủa pháp luật Đại biểu cho quan niệm này là Arminjon, Nolde, Wolff chia các hệ thống pháp luật trên thếgiới thành bảy họ khác nhau như: Pháp, Đức, Bắc Âu, Anh, Nga, Đạo Hồi và Đạo Hindu
- René David và John E.C Brierley căn cứ vào tiêu chí kỹ thuật (như thuật ngữ, nguồn và phươngpháp của pháp luật) và tiêu chí chính trị, xã hội (bổ sung cho tiêu chí thứ nhất, là điều kiện đủ với sự xemxét tới các nguyên tắc triết học, chính trị, kinh tế và mục tiêu xây dựng kiểu loại xã hội), sắp xếp các hệthống pháp luật trên thế giới thành Họ Pháp luật La Mã - Đức, Pháp luật XHCN, Common Law, Pháp luậtĐạo Hồi, Pháp luật Ấn Độ, Pháp luật Viễn Đông, Pháp luật châu Phi và Madagascar
- Konrad Zweigert và Hein Koetz cho rằng phải dựa vào phong cách pháp lý để phân loại các hệ thốngpháp luật trên thế giới, bao gồm các yếu tố: (1) Lịch sử phát sinh và phát triển của hệ thống pháp luật; (2)Cách thức tư duy pháp lý đặc trưng và nổi bật; (3) Các chế định đặc biệt; (4) Các loại nguồn mà hệ thốngpháp luật chấp nhận và cách thức sử dụng chúng; và (5) Ý thức hệ của hệ thống pháp luật Vì thế các ông đãphân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới thành các họ như: Họ Pháp luật La Mã, Họ Pháp luật Đức; HọPháp luật Anh–Mỹ; Họ Pháp luật Bắc Âu; Họ Pháp luật XHCN; Họ Pháp luật Viễn Đông; Họ Pháp luật ĐạoHồi; Họ Pháp luật Hindu
13. Tại sao nói việc phân chia các hệ thống pháp luật trên thế giới thành các nhóm khác nhau chỉ mangtính chất tương đối?
14. Phân tích sự hình thành và các giai đoạn phát triển của hệ thống pháp luật La Mã – Đức
15 Nêu một số tên gọi khác của hệ thống pháp luật La Mã – Đức và giải thích.
Trang 5 Civil law: nhấn mạnh căn nguyên của hệ thồng pháp luật này có xuất phát từ các bộ luật tư nổi tiếngnhư bộ tổng luật Corpus Juris Civilis
Hệ thống pháp luật Châu âu lục địa: hình thành phát triển chủ yếu ở Châu Âu lục địa, khác hắn vớiluật của Anh
Hệ thống pháp luật La Mã- Đức: Hai dòng pháp luật trụ cột là La Mã – Đức, mang nhiều yếu tố hànlâm
Hệ thống pháp luật thành văn: Văn bản pháp luật thành văn là một loại nguồn căn bản của hệ thốngpháp luật này
16 Cơ cấu, vai trò của Bộ tổng tập luật dân sự (Corpus Juris civilis) của Hoàng đế Justinian 565)
(483- Cơ cấu:
- Code: tập hợp các luật được Hoàng đế La Mã ban hành và đã chỉnh sửa, bổ sung, hủy bỏ những quyđịnh cũ, lạc hậu
- Digest : những luận giải, giải thích pháp luật của các luật gia La Mã
- Institutes: Các sách về luật của các luật gia La Mã
- Novels: những luật mới do Hoàng đế Justinian mới ban hành
Vai trò của Bộ tổng luật này:
17 Phân biệt giai đoạn luật tập quán trước thế kỷ XIII và giai đoạn hình thành các trường phái pháp luật tiếp nhận truyền thống của Luật La Mã từ thế kỷ XIII đến cuối thế kỷ XVIII.
Giai đoạn luật tập quán trước thế kỷ XIII:
Những tư liệu như: Bộ luật Justinianus, Tổng luận luật học Justinianus ( Digest), sách sưu tập các chế địnhJustinianus, Luật mới Justinianus, Đại toàn quốc pháp Justianus, sách cầu nguyện ở Pháp và bán đảo Iberia
là những tác phẩm tiêu biểu cho LLM Tuy nhiên, việc tìm hiểu và làm sáng rõ những qui phạm pháp luậtkhông đc coi trọng do kết quả của vụ việc phụ thuộc vào những yếu tố như ý trời, lời thề của đương sự, thuttục tu thân, thử thách của tòa án hoặc đơn giản là phụ thuộc vào sự độc đoán của chính quyền, những quyếtđịnh của tòa án k đc đảm bảo thực thi bởi chính quyền
Trong bóng đêm của thời kỳ trung cổ, xã hội dường như quay lại với 1 chế độ nguyên thủy giữa các cá nhân
và các nhóm xã hội với nhau, những trang chấp được giải quyết theo luật của kẻ mạnh và quyền lực độcđoán của thủ lĩnh Trong thời đại đó, trọng tài có ý nghĩa quan trọng hơn là pháp luật
Giai đoạn hình thành các trường phái pháp luật tiếp nhận truyền thống của Luật La Mã từ thế kỷ XIIIđến cuối thế kỷ XVIII:
Xã hội nhận thức được sự cần thiết của pháp luật, xã hội đó bắt đầu hiểu ra rằng chỉ có pháp luật mới có thểđảm bảo đc trật tự và an toàn mà ý trời đòi hỏi và cần thiết cho sự phát triển Hình mẫu lý tưởng về xã hộiThiên chúa giáo dựa trên cơ sở bác ái, nhân từ cũng như ý tưởng xây dựng một thành phố của chúa trời bịgạt bỏ Bản thân nhà thờ cũng nhận rõ hơn sự khác bị giữa xã hội tôn giáo của những người theo đạo và xãhội phi tôn giáo Vào thế ký XIII người ta đã thôi k lẫn lộn giữa tôn giáo và đạo đức với trật tự dân sự vàpháp luật nữa, vai trò độc lập của pháp luật đc công nhận Các triết gia và luật gia đòi hỏi các mối quan hệ
xã hội phải đc dựa trên pháp luật, chấm dứt tình trạng vô chính phủ và chuyên quyền ngự trị bao thế kỷ qua,
xã hội công dân phải dựa trên cơ sở pháp luật: pháp luật cần phải đảm bảo đc trật tự và tiến bộ trong xã hộicông dân
18 Kể tên và nêu tư tưởng chủ yếu của các trường phái pháp luật thúc đẩy sự ra đời của Họ pháp luật La Mã- Đức Các trường phái này ảnh hưởng thế nào đối với Họ pháp luật này?
Định nghĩa: Họ pháp luật được xây dựng trên di sản của Luật La mã và coi trọng pháp điểm hóa mà tại họpháp luật này, luật vật chất và luật tư được chú trọng Vai trò của thẩm phán phần lớn bị giới hạn trong việc
áp dụng pháp luật vào những trường hợp cụ thể
*Corpus juris civilis: Do Hoàng đế Justinian ban hành vào thế kỉ thứ VI, nền tảng của Luật La mã
Các trường phái pháp luật có ảnh hưởng đến sự hình thành:
- Trường pháp luật học sư (glossators): ra đời vào thế kỉ 13 tại Italia Tập trung giải thích các chế địnhpháp luật theo nghĩa nguyên thủy trong Corpus juris civilis, bãi bỏ một số chế định không phù hợp (nô lệ)hoặc đã được điều chỉnh bởi luật giáo hội Có nhiều thành tựu trong nghiên cứu, chú giải luật La mã
Trang 6- Trường phái hậu luật học sư (post – glossators): Thế kỷ 14 Tìm cách giải thích Luật La Mã cho phùhợp với xã hội đương thời Tìm kiếm các giải pháp trong luật La Mã và kế tục, hoàn thiện nó Đóng gópnhiều vào lĩnh vực thương mại và xung đột pháp luật.
- Trường phái nhân văn (humanist): Thế kỷ 16 Tìm cách khôi phục nguyên bản luật La Mã Rất giốngGlossator
- Trường phái pháp điển hoá hiện đại (Pandectist): thế kỷ 16 ở Đức Quan tâm đến việc làm thế nào để
áp dụng các QPPL trong thực tiễn, làm cho nó không mâu thuẫn với tập quán pháp ở Đức Thế hiện trong
Bộ luật Dân sự Đức 1896
- Trường phái pháp luật tự nhiên (Natural Law School): thế kỷ 17,18 Tư tưởng chủ đạo là ngoài phápluật do nhà nước ban hành còn có pháp luật cao hơn là pháp luật tự nhiên cùng tồn tại với thế giới và conngười, quyền tự nhiên là thiêng liêng bất khả xâm phạm Đặt nền móng cho việc phân chia luật công và luật
tư cùng nhiều môn khoa học pháp lý Ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của luật La Mã, đặt ra các chế địnhhạn chế quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền tự do cá nhân, thúc đẩy pháp điển hoá
19 Trường phái pháp luật học sư/chú giải (Glossators).
Ra đời vào thế kỉ 13 tại Italia Tập trung giải thích các chế định pháp luật theo nghĩa nguyên thủy trongCorpus juris civilis, bãi bỏ một số chế định không phù hợp (nô lệ) hoặc đã được điều chỉnh bởi luật giáo hội
Có nhiều thành tựu trong nghiên cứu, chú giải luật La mã
Cố gắng lập lại ý nghĩa ban đầu của các đạo luật La Mã Nhiều chương của Bộ luật Justinianus bị lãng quên
vì chúng hoặc nói về những quan hệ không còn tồn tại( ví dụ chế độ nô lệ) hoặc về những quan hệ do Luậtgiáo hội điều chỉnh ( vợ chồng, di chúc) Kết quả do công việc của những người theo trường phái này là tạo
ra công trình của Accursin vào thế kỷ 13 tổng hợp gần 96000 câu chú giải
20 Trường phái pháp luật hậu học sư (Post – Glossators)
Thế kỷ 14 Tìm cách giải thích Luật La Mã cho phù hợp với xã hội đương thời Tìm kiếm các giải pháptrong luật La Mã và kế tục, hoàn thiện nó Đóng góp nhiều vào lĩnh vực thương mại và xung đột pháp luật.Luật La Mã được cải biên, chỉnh lý lại Như vậy, nó chuẩn bị cho sự phát triển hoàn toàn mới tiếp theo ( luậtthương mại, tư pháp quốc tế) đồng thời cũng được hệ thống hóa, trái ngược hẳn với sự lộn xộn của bộ sáchtổng luận luật học Justinianus và tinh thần thực nghiệm, tiểu tiết của các nhà luật học thành Rôm Từ đây cácluật gia cố gắng sử dụng Luật La Mã theo bối cảnh mới
21 Trường phái pháp luật nhân văn
22 Trường phái pháp điển hóa hiện đại (Pandectists).
Trả lời:
- Là trường phái của các nhà pháp điển hiện đại
- Xuất hiện ở Đức vào TK XVI
- Trường phái này kế tục sự tiến bộ của trường phái hậu luật học sư (post – glossators) – đó là việc
nghiên cứu và tiếp thu những giá trị ở các quy định của Luật La Mã và giải thích sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới, nhưng thay vào đó, trường phái này phát triển các quy định
của Luật La Mã theo hướng hiện đại hơn để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới
- Các nhà pháp điển của trường phái này đã thêm vào Luật La Mã một chút “tính Đức” bằng việc
cải cách với những khái niệm, thuật ngữ chính xác, khoa học mà chỉ những vị bác học, giáo sưmới có thể hiểu được, dẫn đến hệ quả pháp luật khó đi vào dân và thực tiễn cuộc sống
23 Trường phái luật tự nhiên (Natural law).
- Trường phái này bảo vệ và đề cao quyền con người, quyền công dân trong xã hội nên tất yếu nó
sẽ hạn chế và chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước mà xâm phạm đến quyền tự nhiên củacon người Tư tưởng này đặt nền móng cho sự phân chia luật công – luật tư cùng với các ngành
Trang 7luật thuộc nhánh luật công (hiến pháp, hành chính…) nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo
vệ quyền của cá nhân
24 Giai đoạn pháp điển hóa pháp luật và phát triển mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra ngoài Châu
Âu từ thế kỷ XVIII đến nay
Trình bày các đặc điểm cơ bản của hệ thống pháp luật La Mã – Đức.
1804, BLTTDS, BLHS, BLTM…
- Pháp điển hóa cho phép ý tưởng của trường phái luật tự nhiên biến thành hiện thực ( ra đời các ngành luật thuộc nhánh luật công), chấm dứt tình trạng manh mún của pháp luật, sự tràn lan của
luật tập quán, giảm pháp luật châu Âu thành một số hệ thống nhất định
Sự phát triển ra ngoài lục địa Châu Âu:
- BLDS của Pháp đặc biệt có ảnh hưởng tới Bỉ, Hà Lan, Ý, Luxembourg, Ba Lan, Rhenan
- Do Pháp có nhiều thuộc địa ở Bắc Phi, Trung Phi, Tây Phi, ĐNA, Nam Mỹ nên PL của Pháp đã
có ảnh hưởng rất lớn đến pháp luật ở các nước thuộc khu vực đó
- BLDS Đức làm mất hiệu lực của hàng loạt luật địa phương và được tiếp nhận ở Liên Xô, TiệpKhắc, Brazil, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Đặc điểm cơ bản của hệ thống pháp luật La Mã – Đức (Civil Law):
- Có sự phân chia luật công – luật tư: Do quan niệm mối quan hệ giữa công quyền với nhau hoặc
giữa công quyền với tư nhân không thể đặt lên cùng một bàn cân với mối quan hệ tư - tư, cầnphải có sự phân định rạch ròi Hơn nữa, ở cả 2 mảng pháp luật này đều có mục đích, đối tượng,nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh khác nhau
- Trình độ pháp điển hóa, kỹ thuật lập pháp cao: thể hiện ở giai đoạn pháp điển hóa – phát triển
pháp luật TK XVIII cho đến nay, đã xây dựng rất nhiều những bộ luật quan trọng ở các quốc giathuộc hệ thống Civil Law mà vẫn còn
- Chịu sự ảnh hưởng của truyền thống pháp luật La Mã (luật tư): Luật La Mã – pháp luật của 1
nền văn minh tuyệt vời lúc bấy giờ có tầm ảnh hưởng vô cùng sâu rộng với những giá trị còn lưugiữ và được tiếp thu đến tận ngày nay Hào quang của luật La Mã rất lớn cộng với lãnh thổ thuộcđịa của đế quốc La Mã trải dài qua nhiều quốc gia với thứ ngôn ngữ la- tinh rất được giáo hội ưachuộng Luật La Mã tác động rất lớn đến tư tưởng của các nhà lập pháp ở các nước thuộc hệthống Civil Law
25 Phân tích các nguồn pháp luật của hệ thống pháp luật La Mã – Đức So sánh với nguồn pháp
luật của hệ thống pháp luật Common Law (Anh-Mỹ).
Trả lời:
Nguồn luật của họ pháp luật:
Có nhiều quan niệm về nguồn pháp luật: 1- nguồn của các quan điểm, tư tưởng PL; 2- nguồn tạo nênquy phạm PL; 3- nguồn chứa đựng, thể hiện pháp luật
Theo quan niệm 3 thì nguồn pháp luật của hệ thống Civil Law bao gồm các loại nguồn cơ bản sau:
- Pháp luật thành văn: rất được coi trọng ở hệ thống PL này – nguồn đầu tiên và độc nhất của họ
pháp luật này Bao gồm các loại văn bản sau:
+ Hiến pháp – đạo luật cơ bản của nhà nước – văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất với
những quy phạm có tính tối thượng – trình tự ban hành, sửa đổi hiến pháp đặc biệt hơn so với
các đạo luật thông thường (hội đồng bảo hiến hay Tòa án hiến pháp) Sự giám sát tính hợp
hiến của những luật khác được xây dựng là một minh chứng cho tính tối thượng và uy quyềncủa hiến pháp
+ Công ước quốc tế: Vai trò của công ước quốc tế có thể sánh với ý nghĩa của hiến pháp Tuy
nhiên quan niệm về hiệu lực của công ước quốc tế so với nội luật của mỗi quốc gia lại có sựkhác nhau: ở một số nước như Pháp, Hà Lan – công ước quốc tế có hiệu lực cao hơn nội luật;
Trang 8các cấp Tòa ở Tây Đức lại coi công ước quốc tế có hiệu lực ngang hàng với các đạo luậttrong nước nhưng hiến pháp lại ưu tiên luật quốc tế hơn nội luật Nhưng nhìn chung thì cácnước châu Âu đều có quan điểm chung thống nhất là công ước quốc tế có hiệu lực dưới hiếnpháp nhưng trên đạo luật quốc gia.
+ Bộ luật: Ở thời điểm mới xuất hiện, “bộ luật” dùng để chỉ tuyển tập những luật khác nhau,
một bộ luật bao trùm toàn bộ pháp luật (bộ luật Justianus) Đến thời kỳ phong kiến, bộ luậtđược dùng để chỉ một văn bản luật tổng hợp chứa đựng hệ thống các QPPL điều chỉnh cácloại quan hệ XH khác nhau Và hiện nay thì bộ luật là một văn bản luật tổng hợp chứa đựng
hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực pháp luật nhất định Yếu tố phânbiệt bộ luật với các đạo luật thông thường đó là các quy phạm của các bộ luật thường dướidạng các nguyên tắc chung để áp dụng pháp luật
+ Đạo luật (luật): luật là những văn bản QPPL do nghị viện ban hành theo trình tự, thủ tục
nhất định Số lượng luật được ban hành lớn hơn rất nhiều so với bộ luật (luật tổ chức nghịviện, luật tài chính ) tuy nhiên các đạo luật không có hiệu lực thấp hơn các bộ luật, chúngbình đẳng với nhau từ góc độ giải thích luật
+ Quy chế, sắc lệnh: Những luật loại văn bản này có hiệu lực thấp hơn luật, tuy nhiên cũng
có những sắc lệnh được ban hành thuộc lĩnh vực luật theo sự ủy quyền của nghị viện thì cóhiệu lực như luật (sắc lệnh – luật).Theo Hiến pháp của Pháp – tồn tại quyền lập qui khôngthuộc quyền lực lập pháp – một quyền tự trị theo bản chất tự nhiên của mình
+ Thông tư: ở họ pháp luật Civil Law có sự phân biệt rõ ràng giữa luật và thông tư – một loại
văn bản giúp giải thích luật, thể hiện cách hiểu của luật
- Tập quán pháp luật: là những quy tắc xử sự hình thành một cách tự phát, tồn tại lâu đời, được
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành thói quen tự nhiên và mang tính bắt buộc chungnhư QPPL Trong dòng họ pháp luật Civil Law tồn tại nhiều quan niệm về vai trò của tập quánpháp luật: 1- Tập quán chính là nền tảng của pháp luật; 2- Tập quán chỉ là một bộ phận của hệthống pháp luật Theo Rene’ David – tập quán là một trong những yếu tố cho phép tìm ra giảipháp công minh
- Án lệ: Án lệ là bản án đã tuyên hoặc sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như tiền lệ làm cơ
sở để thẩm phán sau đó xét xử áp dụng cho các trường hợp tương tự Theo quan niệm của cácnước thuộc họ pháp luật Civil Law, quy phạm do thực tiễn xét xử tạo ra không có được uy tín và
sự ổn định như các quy phạm lập pháp Nó rất dễ bị thay đổi, hủy bỏ ở bất kỳ thời điểm nào phụthuộc vào vụ việc mới Án lệ chỉ được áp dụng khi thẩm phán thấy nó phù hợp với vụ án đangxét xử Án lệ không là nguồn cơ bản của pháp luật Tuy nhiên, theo sự phát triển của pháp luậtchâu Âu, án lệ ngày càng đồ sộ và giữ vai trò là một nguồn không thể thiếu của pháp luật Từ vaitrò quan trọng đó đã hình thành những tuyển tập thực tiễn xét xử của tòa án – phân biệt được
quyết định nào là hữu ích, quên đi những quyết định không còn phù hợp (tuyển tập được ban hành ở Pháp, CH Liên bang Đức, Tây Ban Nha, Ý…)
- Học thuyết: Trong một thời gian dài trong quá khứ, học thuyết từng là nguồn chính của pháp luật
– khi mà chưa xuất hiện những luật thành văn Khi mà các trường đại học tổng hợp ở châu Âunghiên cứu và tìm ra các nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật Châu Âu vào TK XIII – XVIIIcùng với sự xuất hiện của tư tưởng dân chủ và pháp điển hóa hệ thống pháp luật, thì vị trí thốngtrị của học thuyết đã được thay thế bằng luật Từ giai đoạn đó cho đến tận ngày nay, nhìn vàotổng thể hệ thống pháp luật thì có thể nhận thấy học thuyết vẫn luôn là một nguồn quan trọng củapháp luật, nó kết tinh những khái niệm, tư duy pháp luật, phương pháp giải thích pháp luật… màcác bộ luật, luật thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau vẫn tiếp thu và giữ gìn những giá trị đócho đến tận ngày nay
- Nguyên tắc chung của pháp luật: Những nguyên tắc chung của pháp luật được thừa nhận và áp
dụng trong thực tiễn cuộc sống chứng tỏ sự tuân theo và hướng đến công bằng, công lý của phápluật, nó không chỉ thể hiện tính chất của pháp luật thành văn chứa đựng nó mà còn thể hiện bảnchất của họ pháp luật Civil Law Nguyên tắc chung có thể thành văn được chứa đựng trong hiếnpháp, bộ luật, luật… hoặc không thành văn (nằm ngoài các quy định của pháp luật) chứa đựngtrong án lệ, tập quán hay luật La Mã cổ đại
So sánh với nguồn pháp luật của họ Common Law:
Trang 9Common Law và Civil Law đều có chung những loại nguồn như: văn bản lập pháp, tiền lệ pháp,tập quán pháp, học thuyết pháp lý Tuy nhiên vị trí của 1 số loại nguồn lại có sự khác nhau ở hai
hệ thống này phụ thuộc vào bản chất
- Văn bản lập pháp: đối với họ Civil Law là nguồn cơ bản và nguồn quan trọng nhất, nó đã trởthành đặc trưng pháp luật của dân luật Common Law thì lại không ưa chuộng luật thành văn, tuynhiên qua quá trình nghiên cứu và thực tiễn pháp luật, người ta thấy rằng pháp luật các nướcthuộc Common Law đang dần tiến tới luật thành văn
- Tiền lệ pháp: họ pháp luật Civil Law không coi trọng tiền lệ pháp, nó chỉ được coi là một loạinguồn bổ sung cho quá trình xét xử của thẩm phán khi mà pháp luật khiếm khuyết Còn vớiCommon Law thì đây là nét đặc trưng lớn nhất và độc nhất của họ pháp luật này Tiền lệ phápchính là nguồn cơ bản để giải quyết các tranh chấp trong thực tế
- Ở họ Civil Law còn có 1 loại nguồn nữa mà Common Law không có: nguyên tắc chung của phápluật Nó xuất phát từ tư duy pháp lý và cách tiếp cận pháp luật của họ pháp luật này Civil Lawtiếp cận pháp luật từ cái khái quát đến cụ thể, chung đến riêng, và nhà làm luật nghĩ rằng khôngthể bao quát được tất cả các trường hợp sẽ xảy ra trong cuộc sống cho nên cần phải có nhữngnguyên tắc chung của pháp luật quy định trong hoặc ngoài luật để hướng dẫn cho quá trình xét
xử, giải thích và tiếp cận pháp luật của thẩm phán
- Ở Common Law cũng có 1 loại nguồn của ở Civil Law không được coi là nguồn theo nghĩa lànơi thể hiện pháp luật: lẽ công bằng (lẽ phải)
Đối với Common Law lẽ công bằng là nguồn cuối cùng được áp dụng nếu như tiền lệ phápkhông có tương tự, tất cả nguồn khác đều không có quy định thì sẽ dùng đến lẽ công bằng để bùđắp khiếm khuyết của pháp luật Lẽ công bằng đặt áp lực rất lớn lên thẩm phán và lẽ công bằngchưa chắc đã công bằng bởi nó xuất phát từ ý chí chủ quan của thẩm phán lên vụ việc cần giảiquyết
Nguyên tắc chung của pháp luật La Mã – Đức có khi nào lại gần với lẽ công bằng? Bản thân tôinghĩ rằng, nguyên tắc chung của pháp luật được xây dựng dựa trên quy luật tự nhiên, lẽ phải đểkhái quát thành nguyên tắc, định hướng cho tư duy pháp luật của thẩm phán Cả 2 loại nguồn nàyđều cung cấp cho thẩm phán thẩm quyền rất lớn, đó là xét xử bằng ý chí của mình, bằng niềm tin
về lẽ phải của bản thân
26 Trường phái luật tự nhiên có vai trò như thế nào đối với họ pháp luật La Mã- Đức nói riêng và
đối pháp luật của các nước trên thế giới nói chung?
+ Một thành công thứ hai của trường phái luật tự nhiên đối với họ pháp luật La Mã – Đức đó là côngcuộc pháp điển hóa Pháp điển hóa là nút kết cho quan điểm cốt lõi của trường phái này Nhờ phápđiển hóa mà hệ thống pháp luật của các quốc gia thuộc họ pháp luật La Mã – Đức trở nên phù hợpvới lợi ích của xã hội, rõ ràng, dễ tiếp nhận, gọn gàng, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống pháp luậtnày ra ngoài lúc địa châu Âu
- Vai trò của trường phái luật tự nhiên đối với pháp luật của các nước trên thế giới:
+ Từ ý nghĩa tốt đẹp của trường phái luật tự nhiên đối với họ pháp luật La Mã – Đức và sự ảnhhưởng của họ pháp luật này đến pháp luật của nhiều nước trên thế giới, có thể dễ dàng thấy được sựảnh hưởng của trường phái luật tự nhiên không chỉ dừng lại ở phạm vi các quốc gia thuộc học phápluật La Mã – Đức
+ Các quốc gia đã từng là thuộc địa của các nước thuộc hệ thống pháp luật La Mã – Đức ở châu Mỹ
-đã tiếp nhận những chế định pháp luật thuộc dòng họ Civil Law và xây dựng các bộ luật theo hìnhmẫu châu Âu, châu Phi, châu Á – các bộ luật của châu Âu được coi là những mô hình để họ cải cách
hệ thống pháp luật
Trang 10+ Trường phái luật tự nhiên cổ vũ, thúc đẩy những tư tưởng bảo vệ quyền con người trên thế giớiphát triển, từ đó phong trào quyền con người, quyền công dân đã trở thành một làn sóng trên toàn thếgiới và được hầu hết tất cả mọi nơi trên thế giới công nhận.
27 Tại sao nói trường phái pháp luật tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc hình thành các tư
tưởng về quyền con người.
Trả lời:
Để giải thích được tại sao trường phái pháp luật tự nhiên lại có vai trò quan trọng trong việc hìnhthành các tư tưởng về quyền con người thì trước hết cần cắt nghĩa để hiểu được luật tự nhiên là gì
- Theo Edmund M.A.Kwaw thì luật tự nhiên là luật mà có sự tồn tại của nguyên tắc đạo đức
khách quan mà dựa trên bản chất cốt yếu của vũ trụ, của vạn vật, của nhân loại và tự nhiên vàluật thông thường của con người chỉ trở thành sự thực trong chừng mực mà nó tuân thủ theo cácnguyên tắc đó
- Tuy nhiên hiểu một cách đơn giản thì luật tự nhiên là những nguyên tắc đạo đức, chính trị được
con người đồng thuận và chấp nhận rộng rãi, nó mang tính phổ quát và thống nhất trong cáchhiểu
- Luật tự nhiên có nguồn chính là sự phán xét, sự nhận thức của lương tâm, lương tri con người,
nguyên tắc đạo lý tự nhiên nhắc nhở con người làm những điều tốt, tránh xa điều xấu
- Quyền con người được nhắc là quyền tự nhiên vì nó bắt nguồn từ bản chất của con người, nóicách khác do luật tự nhiên tạo ra quyền tự chủ cá nhân nên được coi là nguồn của pháp luật vềquyền con người Quyền tự chủ cá nhân tức là – con người theo bản năng của mình sẽ không thểlàm gì phá hủy cuộc sống của họ, chính vì thế luật tự nhiên là một công cụ hữu ích để bảo vệ conngười
- Chính vì nhận thức đó mà trường phái luật tự nhiên đã được chính thức xuất hiện và đóng vai trò
to lớn trong việc thúc đẩy bảo vệ quyền con người, cổ vũ và khơi dậy những tư tưởng về quyềncon người
28 Giải thích pháp luật ở La Mã - Đức.
Trả lời:
- Với đặc trưng nguồn pháp luật của họ pháp luật La Mã – Đức là pháp luật thành văn với hệ thốngcác loại văn bản luật đa dạng từ hiến pháp cho đến các bộ luật, đạo luật, nó thiết lập khuôn khổpháp luật cho các thẩm phán chứ không quy định chi tiết bởi nhà lập pháp không thể dự liệuđược tất cả các trường hợp trên thực tế
- Pháp luật của Civil Law khái quát, tổng quan và dễ tìm, chính vì thế trong một số trường hợp mànhà làm luật đã dự liệu sẽ có lúc các chi tiết cấu thành không đủ hoặc bị loại bỏ ngẫu nhiên, tạokhoảng trống, từ đó vai trò của các thẩm phán được nâng cao trong việc giải thích pháp luật Quyphạm pháp luật mang tính khái quát ít chính xác hơn quyền giải thích của thẩm phán càngrộng
- Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực là đề cao trách nhiệm, vai trò của thẩm phán sẽ là sự giảm đitính ổn định của pháp luật do tính chính xác không được chắc chắn
- Để tăng sự ổn định của pháp luật, trong họ pháp luật La Mã – Đức xuất hiện sự tồn tại của “ các quy phạm vòng ngoài” - chính là thực tiễn xét xử của tòa án – sự giải thích pháp luật của thẩm
phán với hạt nhân chính là các quy phạm luật thành văn
Các quy phạm vòng ngoài về hiệu lực có thể ngang bằng hoặc chi tiết, cụ thể và hiệu quả hơn hạtnhân, tuy nhiên vai trò của nó không thể thay thế cho hạt nhật – quy phạm luật thành văn được,bởi lẽ đặc trưng của họ La Mã – Đức là hệ thống pháp luật khái quát, tổng quan và gọn nhẹ, màđiều đó chỉ có thể có được khi nguồn cơ bản của pháp luật là luật thành văn Điều đó đặt ra yêucầu, các quy phạm vòng ngoài được xây dựng qua quá trình giải thích pháp luật của thẩm phánphải đặt trong khuôn khổ pháp luật nhất quán
29 Trình bày và phân tích cấu trúc của họ pháp luật La Mã – Đức.
Trả lời:
Một trong những đặc trưng của họ pháp luật La Mã – Đức, đó chính là cấu trúc phân chia luật công – luật tư.
- Tại sao lại có sự phân chia này?
+ Xuất phát từ quan niệm đã có từ rất lâu trong lịch sử pháp luật La Mã – Đức: mối quan hệ giữangười bị trị - cai trị không thể đặt lên cùng một bàn cân với mối quan hệ giữa tư nhân và tư nhân
Trang 11+ Theo quan niệm của trường phái luật tự nhiên: pháp luật là sản phẩm trí tuệ của con người,xuất phát từ trật tự tự nhiên nó phải đứng trên nhà nước Giai đoạn đầu, luật công chưa pháttriển mà chỉ có luật tư, bởi lẽ trong xã hội chưa xuất hiện các thiết chế dân chủ, vai trò và quyền
uy của nhà vua và nhà thờ là tối cao Vào TK XVII, XVIII, khi trường phái luật tự nhiên pháttriển thì luật công mới thực sự phát triển với các ngành luật như Hiến pháp, Hành chính, Hình sự
Từ đó pháp luật có sự phân chia sâu sắc luật công – luật tư
- Đặc điểm, nguyên tắc để phân biệt luật công, luật tư:
Nguyên
tắc
+ Quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân
+ Đảm bảo sự phân chia quyền lực, kiềm chế đối
trọng giữa 3 nhánh quyền lực
+ Đảm bảo tư pháp độc lập với hành pháp, lập
pháp
+ Đảm bảo quyền công dân, quyền con người
+ Xây dựng nhà nước pháp quyền
+ Tự do thỏa thuận ý chí
+ Bình đẳng trong thể hiện ý chí và thựchiện quyền và nghĩa vụ pháp lí
+ Thiện chí, trung thực
+ Tôn trọng đạo đức, truyền thống+ Không xâm phạm lợi ích của hợp phápcủa chủ thể khác
- Công thức hóa quy tắc pháp lý ở các nước thuộc họ pháp luật La Mã – Đức là quá trình đi từ các
nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật đến các quy phạm pháp luật để áp dụng vào thực tiễnthông qua quy tắc pháp lý giải quyết tình huống pháp lý, quá trình ấy cần phải lựa chọn giảipháp nào là đúng đắn, dần dần hình thành các quy tắc pháp lý mang tính bắt buộc – định hướng,dẫn dắt quá trình giải quyết, xét xử của thẩm phán Quy tắc pháp lý chính là bước trung gian
để đi từ nguyên tắc chung đến các quy phạm pháp luật Quy tắc pháp lý cần phải có sự khái quát
đủ để cung cấp các nguyên tắc cho các quy định cụ thể
- Bản chất của nó gần giống với pháp điển hóa ở chỗ: từ những nguyên tắc chung nhất, cơ bản
nhất của pháp luật, các thẩm phán thông qua những quy tắc pháp lý nhất định để có thể đi đếnquy phạm pháp luật phù hợp với vụ việc cần giải quyết
31 So sánh các đặc điểm của qui tắc pháp lý thuộc các họ pháp luật La Mã- Đức, Anh- Mỹ, Xã
hội chủ nghĩa và Đạo Hồi.
Trang 12phái pháp điển hóa hiện đại, trường phái luật tự nhiên Trong đó, trường phái luật tự nhiên cho đếncuối cùng đã thắng thế và tác động rất lớn đến cấu trúc và tính chất của toàn bộ nền khoa học pháp lýcủa các nước châu Âu lục địa
Việc nghiên cứu, giảng dạy trong nhiều năm đã mang lại tư duy pháp lý thống nhất cộng thêm sự đòihỏi phải có một thứ luật rõ ràng, chặt chẽ khác với tôn giáo, đạo đức, tập quán để phục vụ cho hoạtđộng giao thương buôn bán giữa các cá nhân trong cộng đồng, hệ thống pháp luật chung của toànchâu Âu – Jus Commune đã ra đời Một trong những lí do của việc luật thành văn ra đời đó là cácnước châu Âu lục địa rất coi trọng lý luận pháp luật (cấu trúc của một bộ luật phải thỏa mãn được sựlogic, đi từ lý luận đến thực tiễn…), chính vì thế, họ ưa chuộng luật thành văn bởi nó chứa đựngđược một cách tổng quan và đầy đủ trí tuệ pháp lý của họ pháp luật La Mã – Đức
Sau khi trường phái luật tự nhiên thắng thế và rất được đề cao, quá trình pháp điển hóa đã diễn ra vàđạt tới đỉnh cao là cho ra đời rất nhiều văn bản pháp luật có giá trị như Hiến pháp, luật Hành chính,BLDS, BLTM…
33 Chế định nghĩa vụ của họ pháp luật La Mã - Đức.
Trả lời:
Nghĩa vụ là trách nhiệm, bổn phận của một người phải trao trả cho người khác cái gì đó, thực hiện
hoặc không thực hiện một công việc vì lợi ích của người kia
Chế định nghĩa vụ là một chế định riêng có của họ pháp luật La Mã – Đức, xuất phát từ luật La Mã
và trở thành môn khoa học pháp lý chính ở các nước thuộc họ La Mã – Đức, thuật ngữ “nghĩa vụ”còn rất lạ lẫm với các họ pháp luật khác trên thế giới
Chế định có những nét sau đáng lưu ý:
- Nghĩa vụ nảy sinh từ:
+ Pháp luật (nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi không nuôi con)
+ HĐ đơn vụ - 1 hay nhiều bên chủ thể chỉ có quyền, 1 hay nhiều bên chủ thể kia chỉ có nghĩavụ; HĐ song vụ - các bên trong hợp đồng có quyền và nghĩa vụ qua lại
+ HĐ ngang giá- phần nghĩa vụ của 2 bên là tương đương; HĐ không ngang giá – không biếttrước được giá trị của đối tượng của hợp đồng có tương đương với phần nghĩa vụ của bên kia haykhông
+ HĐ không có đền bù – 1 bên thực hiện cho bên kia một lợi ích mà không nhận lại từ bên kia 1lợi ích nào cả; HĐ có đền bù – 1 bên thực hiện cho bên kia một lợi ích và nhận lại từ bên kia mộtlợi ích tương đương
+ HĐ có tên – có PL điều chỉnh & HĐ không có tên – không có sự điều chỉnh của PL
Bên cạnh đó còn rất nhiều các phân biệt các loại hợp đồng của hệ thống pháp luật nhiều nướcthuộc họ Civil Law
- Về hiệu lực của hợp đồng: các bên trong giao kết hợp đồng không chỉ phải thực hiện nghĩa vụtheo hợp đồng mà còn phải tuân theo những nguyên tắc chung, tập quán hay theo quy định củapháp luật
- Đã xuất hiện những biện pháp bảo đảm để thực hiện hợp đồng: cầm cố, đặc cọc tiền, tiền phạt…
Chế định luật nghĩa vụ là một chế định rất đặc thù và phát triển của hệ thống pháp luật lục địachâu Âu bởi tính khoa học và chặt chẽ của nó
34 Chế định pháp nhân của họ pháp luật La Mã - Đức.
Trang 13- Sự hình thành pháp nhân có ý nghĩa làm đơn giản hóa đời sống pháp luật và làm đời sống phápluật được ổn định lâu dài do tư cách pháp lý của pháp nhân dài hơn thể nhân và pháp nhân …
- Dòng họ pháp luật La Mã – Đức phân chia thành luật công – luật tư pháp nhân cũng chiathành pháp nhân tư pháp (công ti dân sự, thương mại, các hiệp hội, các tổ chức nghiệp đoàn, cácquỹ) và pháp nhân công pháp (nhà nước, chính quyền các cấp, các đơn vị hành chính sựnghiệp…)
35 Học thuyết, tư tưởng phân quyền và nhà nước pháp quyền ở họ pháp luật La Mã – Đức.
Trả lời:
36 Các tư tưởng, học thuyết về sự phân chia luật công-luật tư.
Trả lời:
Lịch sử phân chia luật công – luật tư:
Học thuyết phân chia lợi ích:
- Từ thời cổ đại, Ciceron đã đưa ra quan điểm pháp luật gồm có 2 bộ phận: quy định pháp luật điềuchỉnh các quan hệ cá nhân và quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ công
- Đến thời kỳ phát triển của Luật La Mã, các luật gia La Mã đã đưa ra học thuyết phân chia phápluật thành luật công và luật tư dựa trên cơ sở lợi ích Học thuyết này phân biệt: luật công – lợi íchnhà nước, lợi ích công cộng, luật tư – lợi ích cá nhân
Học thuyết quan hệ giữa các chủ thể:
- Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng về sự phân chia giữa luật công và luật tư của Luật La Mã được
kế thừa và phát triển thông qua học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể Học thuyết này
phân chia: Nếu là quan hệ có tính thứ bậc giữa nhà nước và công dân thì đó là quan hệ pháp luật
do luật công điều chỉnh, còn quan hệ mà các bên tham gia là quan hệ bình đẳng thì đó là quan hệpháp luật của luật tư điều chỉnh
Học thuyết hành vi của chủ thể
- Học thuyết đương đại hiện nay ở Đức về phân chia luật công và luật tư là học thuyết dựa trên cơ
sở phân loại hành vi của chủ thể
- Theo học thuyết này, luật công là tổng thể những qui phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của cácchủ thể được nhà nước trao quyền nhằm thực thi chức năng, nhiệm vụ công Luật tư là tổng thểnhững qui phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể dựa trên các qui phạm của luật dânsự
37 Các lĩnh vực pháp luật và các nguyên tắc pháp luật của công pháp và tư pháp.
Nguyên
tắc
+ Quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân
+ Đảm bảo sự phân chia quyền lực, kiềm chế đối
trọng giữa 3 nhánh quyền lực
+ Đảm bảo tư pháp độc lập với hành pháp, lập
pháp
+ Đảm bảo quyền công dân, quyền con người
+ Xây dựng nhà nước pháp quyền
+ Tự do thỏa thuận ý chí
+ Bình đẳng trong thể hiện ý chí và thựchiện quyền và nghĩa vụ pháp lí
+ Thiện chí, trung thực
+ Tôn trọng đạo đức, truyền thống+ Không xâm phạm lợi ích của hợp phápcủa chủ thể khác
Trang 1438 Sự phân chia luật công và luật tư có ảnh hưởng thế nào tới hệ thống tư pháp của các nước
thuộc họ pháp luật La Mã - Đức.
Trả lời:
Sự phân chia luật công – luật tư là một trong những nét đặc trưng tiêu biểu của họ pháp luật La Mã –Đức Sự phân chia luật công – luật tư ảnh hưởng đến không chỉ cấu trúc pháp luật mà còn tác độngrất lớn đến hệ thống tư pháp của họ pháp luật này Cụ thể:
- Phân chia luật công – luật tư với các ngành luật đặc trưng như: luật công – hiến pháp, hànhchính, luật tư – dân sự, thương mại Hệ thống tòa án của La Mã chia làm 3 hệ thống tòa: Tòahiến pháp, Tòa hành chính, Tòa tư pháp Tổ chức hệ thống tòa án cũng dựa trên sự phân biệtluật công và luật tư
Tòa tư pháp – tranh chấp dân sự, thương mại…, tòa hành chính – tranh chấp hành chính, tòa hiếnpháp – kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp
- Tổ chức hệ thống tòa án tương ứng với sự phân chia luật công – luật tư nhằm đảm bảo sự độc lậpcủa hệ thống tòa án, hơn nữa luật công- tư có phương pháp điều chỉnh, đối tượng… khác nhau,
mà xã hội ngày càng phức tạp, các tranh chấp ngày càng nhiều phân chia như vậy sẽ giúp cáctòa chuyên môn hóa hơn và tránh quá tải quá trình giải quyết các tranh chấp
- Tuy nhiên, Tòa án công pháp lại tách ra thành tòa hiến pháp và tòa hành chính, bởi lẽ tòa án hiếnpháp là một tòa đặc biệt, cơ cấu tổ chức cũng riêng biệt với chức năng quan trọng là kiểm hiếnchính vì thế các chức danh tư pháp trong tòa hiến pháp đều là những người giữ chức vụ quantrọng trong hệ thống cơ quan nhà nước bổ nhiệm thời gian ngắn Ngoài ra thủ tục xem xét cácvấn đề về hợp hiến thì cần phải có một thủ tục đặc biệt, không như thủ tục giải quyết tranh chấpthông thường
39 So sánh phong cách tư duy pháp lý của các họ pháp luật La Mã- Đức, Anh - Mỹ.
Trả lời:
Cách thức diễn dịch – tìm quy phạm pháp luật
giải thích, phân tích, áp dụng vào trường hợp cụ
thể
Cách thức quy nạp – phân tích vụ việc, tìm ra án
lệ để giải quyết
Tư duy trừu tượng trong từng chế định Tư duy theo từng vụ việc và mối quan hệ giữa
các bên
Hệ thống pháp luật là 1 thực thể trọn vẹn, toàn
diện
Tìm ra con đường từ từ qua từng vụ việc
Coi trọng lý luận, ngữ nghĩa Hoài nghi sự khái quát hóa (quá rộng, không
chính xác, cụ thể)
40 Nêu đặc trưng trong tổ chức cơ quan tư pháp ở Cộng hòa Pháp Tại sao hệ thống tòa án hành
chính của Pháp lại độc lập, nằm ngoài hệ thống tòa án tư pháp (thông thường)?
Trả lời:
Tổ chức tư pháp của Cộng hòa Pháp mang những nét chung của tổ chức tư pháp của họ phápluật La Mã – Đức như:
- Có 1 hệ thống tòa án đơn nhất
- Có 3 hệ thống tòa án: Tòa án hiến pháp, tòa hành chính, tòa tư pháp
- Tòa tối cao theo mô hình phá án
- 3 cấp xét xử:
+ Cấp sơ thẩm: Tòa sơ thẩm thẩm quyền hạn chế; Tòa ST thẩm quyền rộng; Tòa chuyên môn+ Cấp phúc thẩm
+ Tòa phá án: thẩm quyền xem xét quyết định của các tòa án cấp dưới
Điểm đặc trưng của hệ thống tư pháp của Cộng hòa Pháp chính là Tham chính viện – Tòa cócấu trúc tự trị - bởi lẽ Tham chính viện có cấu trúc tổ chức riêng, thẩm quyền giải quyết tranh
Trang 15chấp hành chính riêng biệt – các tranh chấp hành chính mà chỉ có Tham chính viện mới cóthẩm quyền giải quyết.
- Thẩm quyền xét xử các tranh chấp hành chính được đưa về cho Tham chính viện tòa án hànhchính tối cao của Pháp Tham chính viện là cơ quan tham mưu cho Chính phủ Pháp
- Cơ cấu tổ chức:
+ Có khoảng 300 thành viên nhưng có 2/3 trong số đó hoạt động thường xuyên tại Tham chínhviện, còn lại 1/3 giữ các chức vụ quan trọng trong các cơ quan hành chính ở TW
+ Gồm 6 ban, 5 ban – chức năng hành chính (nội vụ, tài chính, công chính, xã hội, nghiên cứu)
và 1 ban – chức năng tài phán (10 tiểu ban)
- Các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tham chính viện:
+ Khiếu kiện đối với nghị định, pháp lệnh của Chính phủ
+ Khiếu kiện đối với các quyết định là văn bản QPPL của các bộ trưởng cũng như quyết định làvăn bản áp dụng PL
+ Khiếu kiện về tính hợp hiến, hợp pháp của VB hành chính
…
- Thẩm quyền đặc biệt: quyền giải quyết kháng nghị giám đốc thẩm đối với các quyết định xét xửchung thẩm của mọi tòa án hành chính Sau khi hủy án, có thể trực tiếp xét xử lại về mặt nội
dung vụ việc nếu thấy có lợi cho “công tác quản lý xét xử”.
41 Sự phân biệt giữa Luật dân sự và Luật thương mại trong các quốc gia thuộc họ pháp luật La
hệ giữa 2 ngành luật đó mà đã hình thành xu hướng đó hợp nhất hóa luật thương mại và luật dân sựnhư ở Thụy Sỹ, Hà Lan, Ý Với xu hướng hợp nhất thì các nước này hoặc là hợp nhất chung thành 1
bộ luật trái vụ, hoặc hợp luật thương mại vào BLDS
Theo quan điểm của Rene’ David thì quá trình hợp nhất 2 luật này tạo ra một sự giới hạn cho sự pháttriển ở nhiều lĩnh vực của luật thương mại trong đó quan trọng nhất là thương mại quốc tế - đặc trưngphân biệt sâu sắc với luật dân sự
42 Đào tạo luật và nghề luật trong các quốc gia thuộc họ luật La mã – Đức.
Trả lời:
- Hầu hết những người theo nghề luật như thẩm phán, luật sư, công tố viên, công chứng viên đềuphải trải qua khóa học cử nhân luật khóa học chứng chỉ hành nghề hay tập sự chức danh
tư pháp
Quá trình để đạt được các chức danh tư pháp khá là gắt gao
- Thẩm phán: được đào tạo, bổ nhiệm suốt đời (TH cá biệt: thẩm phán thương mại ở Pháp và thẩm phán ở nông thôn Thụy Sỹ không được đào tạo)
+ Tổ chức tòa tối cao theo mô hình phá án và xét xử chung thẩm
- Có sự xuất hiện của Tòa án Hiến pháp với chức năng kiểm soát việc tuân theo hiến pháp
- Số lượng tòa chuyên trách nhiều: tòa hành chính, tòa hình sự, tòa tài chính…
- Thường có 3 hệ thống tòa án: Tòa hiến pháp, Tòa tư pháp và tòa hành chính
44 Tòa án hiến pháp Đức và Hội đồng bảo hiến ở Pháp.
Trả lời:
Trang 16+ Thành phần: 16 thẩm phán – mỗi viện của Nghị viện Liên bang bổ nhiệm ½ số thành viên.+ Thẩm phán có kiến thức uyên sâu về pháp luật, nhiệm kỳ 12 năm, không được tái bổ nhiệm.
- Thẩm quyền:
+ Giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động của các cơ quan nhà nước
+ Tranh chấp có tính liên bang: giữa liên bang với bang hoặc 2 bang với nhau
+ Tranh chấp giữa các tổ chức: tranh chấp giữa các cơ quan hiến định với nhau
+ Yêu cầu kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật
+ Khiếu kiện cá nhân trong trường hợp quyền cơ bản bị xâm phạm
Hội đồng bảo hiến của Pháp:
- Hội đồng bảo hiến ở Pháp được thành lập năm 1958
- Chức năng: kiếm soát tính hợp hiến của luật Chỉ xem xét vụ việc khi có đề nghị của Tổng thống,Thủ tướng, Chủ tịch Thượng, Hạ viện, 60 thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ
45 Nêu các giai đoạn phát triển của pháp luật Anh.
Giai đoạn phát triển của pháp luật Anh gồm 4 giai đoạn:
- Trước 1066: giai đoạn Anglo-Saxon
o Từ TK I đến TK V dưới sự chiếm đóng của người La Mã: không có dấu tích đáng kể củapháp luật
o TK 5 những bộ lạc Germanic tới sinh sống (Saxon, Jutes, Dances và Angles) mở đầu cho lịch
sử pháp luật của Anh
Common có nguồn gốc từ các tập quán và thực tiễn của các bộ lạc này
Khi có tranh chấp người già thường đứng ra tuyên bố các tập quán chính xác được áp dụng
o Có một vài văn bản tiếng Anglo-saxon được chế tài bởi nhà vua và các quần thần
- 1066-1485: giai đoạn hình thành common law
o Năm 1066 người Norman chiến thắng người Anglo-saxon thống trị nước Anh
o Guilliaume lên ngôi lấy tên là William khởi đầu cho thời kỳ hình thành Common Law, tựxưng là người thừa kế hợp pháp của các vua Anglo-saxon và không hủy bỏ pháp luật truyềnthống hoặc thay đổi đột ngột
o Thiết lập chế độ phong kiến tập quyền, chia ruộng đất cho các quan lại => các tước hiệuphong kiến được chấp nhận rất sớm ở Anh
o Luật đất đai hiện đại trong nhiều trường hợp dựa trên giả định rằng tất cả đất đai thuộc sở hữucủa nhà vua và công dân chỉ có quyền sử dụng hạn chế
o Ở giai đoạn đầu có lẽ có hình thành 1 vài hệ thống common law ở các địa phương
o Dưới thời vua Henri II (1154) là giai đoạn phát triển Common Law có tính chất quốc gia
Ông gửi các thẩm phán tới các nơi mà họ phải cạnh tranh với tòa án địa phương Do chất lượng xét
xử tốt hơn nên đã thắng, nắm được độc quyền tư pháp và tạo ra một bộ quy tắc chung trong toàn lãnhthổ
Giai đoạn 1154-1307 là giai đoạn quan trọng nhất trong việc hình thành common law
- 1485-1832: giai đoạn phát triển equity
Trang 17o Lý do: nhiều trường hợp common law đưa ra chế tài không đáp ứng được cho bên bị thiệt hại
=> trình lên nhà vua => việc xem xét vụ việc được các chancellor- mục sư được đào tạo đầy
đủ => equity xuất hiện nhằm giải quyết các vấn đề có tính cách tự nhiên không phụ thuộc vàochế tài pháp lý mà để lại cho công luận hoặc lương tâm cá nhân
o Các phán quyết của chancellor (pháp quan) dần hình thành 1 hệ thống pháp luật thứ 2 đượcgọi là equity hay chancery justice Hệ thống này được chính thức hóa với 1 vài dạng tố quyềnnhằm đưa ra các chế tài mà common law không đề cập tới Học thuyết của equity mang nhiềuyếu tố của luật La Mã do các chancellors bị ảnh hưởng bới canon law – 1 thứ pháp luật có cơ
sở gần với LLMã
o Khoảng TK 18 2 hệ thống này hợp nhất nhưng dấu tích của quity vẫn còn hiển hiện ở cácnước common law
- Từ 1832 tới nay: giai đoạn hiện đại
o Judicature Acts từ 1873-1875 ra đời xóa bỏ sự phân biệt giữa các tòa án của common law vàequity => tất cả các tòa án của Anh từ đó có quyền áp dụng cả quy tắc của common law vàequity
o Cải cách pháp luật sâu rộng và nhận thức được rằng phải có các đạo luật => 1 số tổ chức rađời: The Law Commission, The Law Reform Committee, The Criminal Law Committee vớithành phần bao gồm các thẩm phán, luật sư, những nhà giảng dạy nghiên cứu có tên tuổi
o Sự ra đời của trust: một sự sáng tạo của equity
46 Phân tích các loại nguồn và giá trị của từng loại nguồn của pháp luật Anh.
Tiêu chí phân loại nguồn: dựa vào hình thức tạo ra nguồn: luật thành văn (written and enacted law) và luậtbất thành văn (unwritten and unenacted law)
Luật bất thành văn có vai trò rất lớn ở Anh
Các loại nguồn cơ bản: văn bản lập pháp (thành văn) và tiền lệ pháp (bất thành
- Chủ quyền thuộc về nghị viện
- Đạo luật liên quan tới lợi ích công cộng và thi
hành công lý: đạo luật liên quan tới các địa
phương và con người
- Nghị viên ủy quyền lập pháp cho nhà vua,
các bộ trưởng, chính quyền địa phương và
các pháp nhân công
- Các nguyên tắc, thủ tục tòa án có thể được ủy
ban quy tắc do các thẩm phán và các luật sư
thiết lập
- Văn bản ủy quyền lập pháp phải trong giới
hạn của các đạo luật, nếu vượt quá có thể bị
tòa án xem xét về mặt giá trị
- Khác với tòa án ở châu Âu lục địa, tòa án
Anh giả định rằng nhà lập pháp đã biểu lộ ý
chỉ hoàn hảo của mình nên giải thích văn bản
- Tiền lệ pháp phân thành 2 nhóm: án lệ và báo cáopháp luật
- ở mức độ hẹp, án lệ chỉ là những bản án cụ thểcủa Tòa án, được áp dụng cho những vụ việc cótình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này, cũng nhưxem xét với tư cách là một nguồn của pháp luật
- báo cáo pháp luật là tập hợp các quyết định quantrọng của tòa thượng thẩm để xuất bản
Các loại nguồn bổ sung: tập quán, học thuyết pháp và lẽ phải
- Nguồn gốc của pháp luật Anh
- Ngày nay vẫn được áp dụng, ưu
tiên áp dụng tại 1 số địa phương
nhưng không bị cưỡng bức tuân
thủ và phải có điều kiện nhất
định:
- Không được bất hợp lý
- Ở Anh trong quá khử các họcthuyết pháp lý chỉ được coi làbằng chứng của những gìđược coi là luật hơn là mộtloại nguồn độc lập
- Hiện nay các tác giả có thểđược trích dẫn ở tòa án Anh
- Bù đắp cho khoảng trốngcủa pháp luật nơi mà luậtchưa điều chỉnh tới
- Làm cho hệ thống pháp luậtAnh trở thành một hệ thốngmở
Trang 18- Phải chắc chắn, tức là nhân danh
và được xác định bởi 1 nhóm
người nhất định
- Phải tồn tại từ thời thượng cổ
và có những tác giả còn đangsống
47 Phân tích câu nói “Writ (trát) là trái tim của Common Law”.
Ý nghĩa writ (trát) rất quan trọng, là đặc điểm đặc trưng của Common Law Trát có ý nghĩa ngụ ý tòaphải phán xét vụ việc công minh; vai trò của Nhà vua bảo vệ lợi ích của thần dân thông qua các chứctrách hoàng gia; ‘no writ, no remedy’
Trát được sử dụng như một loại giấy thông hành do vua cấp để bên nguyên có thể bước qua cửa Tòa
án Hoàng gia, tiếp cận với công lí nhằm giải quyết những oan khuất của mình Mỗi loại khiếu kiện sẽ
có một loại trát tương ứng , vì vậy, tùy thuộc vào bản chất của việc khiếu kiện mà bên nguyên cầngiành được loại trát phù hợp mới hi vọng đơn khiếu kiện của mình được Tòa án Hoàng gia thụ lí vàgiải quyết Bước sang thế kỉ XV, thủ tục tố tụng ngày càng bị chi phối mạnh bởi hệ thống trát, do đó,thủ tục tố tụng thường được coi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ kiện Nếu đơnkhiếu kiện không rơi vào một trong những vụ việc đã có trát lưu hành, bên nguyên sẽ mất quyền khởikiện; hoặc nếu bên nguyên giành được trát nhưng trát đó không phù hợp với bản chất của vụ kiện,bên nguyên cũng bị tòa bác đơn Như vậy, một vụ kiện chỉ có thể tiến hành nếu bên nguyên giànhđược writ thích hợp, nếu không sẽ mất quyền khởi kiện Loại writ được phát hành sẽ quyết định hìnhthức khởi kiện và thủ tục áp dụng để giải quyết vụ việc Ban đầu chỉ có 3 loại writ (khế ước, thu hồi
nợ, đòi động sản bị chiếm hữu bất hợp pháp), sau tăng lên nhiều lần do nhu cầu xã hội
Có bao nhiêu trát thì có bấy nhiêu tố quyền
Việc cấp trát còn được xem là hoạt động sáng tạo các quy tắc pháp lý mới
48 Tại sao người ta lại cho rằng câu châm ngôn nổi tiếng của Holmes “đời sống của pháp luật không phải là logic mà là kinh nghiệm” rất phù hợp với Common Law.
Câu châm ngôn trên phù hợp với common law vì tư duy pháp lý đặc thù của common law Common law chorằng luật pháp là cái đang xảy ra trong thực tiễn, nên các quy tắc pháp luật sẽ được rút ra từ giải quyết cáctranh chấp pháp lý thực tế, chứ không rút ra từ các lý luận khoa học Vì vậy, ở common law vai trò của thẩmphán rất quan trọng trong việc đặt ra và phát triển pháp luật Các nguyên tắc cơ bản của common law sẽkhông được tìm thấy trong các bộ luật thành văn do các nhà làm luật xây dựng mà trong tập hợp các phánquyết của thẩm phán (án lệ) Qua đó, ta thấy được rằng đời sống pháp luật của common law là "kinhnghiệm" chứ không phải logic
49 Sự hình thành của common law ở Anh.
1066-1485: giai đoạn quan trọng nhất của sự hình thành common law
Năm 1066 người Norman chiến thắng người Anglo-saxon thống trị nước Anh
Guilliaume lên ngôi lấy tên là William khởi đầu cho thời kỳ hình thành Common Law, tự xưng là người thừa
kế hợp pháp của các vua Anglo-saxon và không hủy bỏ pháp luật truyền thống hoặc thay đổi đột ngột
Ở giai đoạn đầu có lẽ có hình thành 1 vài hệ thống common law ở các địa phương
Dưới thời vua Henri II (1154) là giai đoạn phát triển Common Law có tính chất quốc gia
Ông gửi các thẩm phán tới các nơi mà họ phải cạnh tranh với tòa án địa phương Do chất lượng xét
xử tốt hơn nên đã thắng, nắm được độc quyền tư pháp và tạo ra một bộ quy tắc chung trong toàn lãnhthổ
- Thế kỷ 12, 13 common law được phân biệt với các hình thái pháp lý khác: common law thuộc quyềntài phán của hoàng gia
- Sự thiết lập của trát: người bị thiệt hại tới chancery để khiếu nại Trát được cấp tóm tắt ngắn gọn vụviệc và chỉ rõ cho sherrif vụ việc gì xảy ra ở đâu, bị đơn là ai và bị kiện về việc gì
Trát trở thành trái tim của common law
50 Sự hình thành của Equity Law ở Anh.
1485-1832: giai đoạn phát triển equity
Lý do: trong nhiều trường hợp nhiều trường hợp common law đưa ra chế tài không đáp ứng được cho bên bịthiệt hại => trình lên nhà vua => việc xem xét vụ việc được các chancellor- mục sư được đào tạo đầy đủ =>
Trang 19equity xuất hiện nhằm giải quyết các vấn đề có tính cách tự nhiên không phụ thuộc vào chế tài pháp lý mà
để lại cho công luận hoặc lương tâm cá nhân
- Các phán quyết của chancellor (pháp quan) dần hình thành 1 hệ thống pháp luật thứ 2 được gọi làequity hay chancery justice Hệ thống này được chính thức hóa với 1 vài dạng tố quyền nhằm đưa racác chế tài mà common law không đề cập tới Học thuyết của equity mang nhiều yếu tố của luật La
Mã do các chancellors bị ảnh hưởng bới canon law – 1 thứ pháp luật có cơ sở gần với LLMã
Ý nghĩa: trong 1 vụ án có tuyên bố: equity không phải là 1 phần của pháp luật nhưng là 1 đạo đức xác địnhphẩm chất, làm vơi đi và cải cách tính khắt khe, khắc nghiệt và góc cạnh của pháp luật và là 1 sự thật phổbiến… Equity vì vậy không hủy hoại pháp luật, không tạo nên pháp luật nhưng giúp đỡ pháp luật
51 Mối quan hệ giữa common law và equity law? Nguyên tắc “equitas sequitur legem”
Nguyên tắc: equity (lẽ công bằng) tuân theo luật, tôn trọng pháp luật Sự can thiệp của Chancery Courtkhông tạo ra quy phạm pháp luật mới, không thay đổi nội dung pháp luật Toà án equity law can thiệp vì
“sự công bằng”, mà không làm thay đổi quy phạm pháp luật được toà án common law không hoàn hảo Nếumột người xử sự không tốt bằng cách lợi dụng sự không hoàn hảo của pháp luật, thì đó là một xử sự trái vớilương tâm Trong trường hợp có sự xung đột giữa common law và equity law, equity law sẽ được ưu
tiên áp dụng Tuy nhiên vị trí của equity vẫn chỉ ở vị trí bổ sung cho luật Trước mỗi vụ việc thẩm phán vàluật sư Anh vẫn phải xem xét các quy định của common law, sau đó mới xem xét đến equity có tác động thếnào đến các quy định này
Mối quan hệ giữa equity và common law: equity là:
+ Nguồn bổ sung quan trọng của common law
+ Đặt ra chế định uỷ thác (trust)
+ Sự hình thành và phát triển của Equity nhằm sửa đổi và bổ sung cho Common Law, phát triển song song
và hoàn tất Common Law chứ không nhằm mục đích thay thế Common Law
52 Tại sao không có sự phân chia rõ rệt giữa luật công và luật tư trong hệ thống Common law.
- Theo nghiên cứu của René David: do sự phát triển của hệ thống trát cho phép không chỉ nguyên đơnhành động mà còn là mệnh lệnh của nhà vua đối với quan chức phải hành động thật đúng và đáp ứngyêu cầu của nguyên đơn => sự trộn lẫn này là một lý do khiến luật công và tư không được phân rõ
- Theo nghiên cứu của một số luật gia Mỹ:
o Không có sự phân biệt quyền tài sản như ở hệ thống civil law, đặc trưng để phân biệt quyềnlợi công và tư
o Có hệ thống tòa án xem lại các hoạt động lập pháp, hành pháp và các tranh chấp tư, nênkhông có sự phân biệt quyền lực theo kiểu Civil Law
o Các học giả lờ đi sự phân biệt này vì cho là không cần thiết cho việc tập hợp các quyết địnhxét xử
53 Tổ chức tòa án ở Anh.
Tổ chức tòa án ở Anh hiện nay:
Ở Anh chỉ có một hệ thống Toà án tồn tại, thụ lý các vụ việc pháp lý phát sinh trên lãnh thổ thuộc phạm vithẩm quyền của mình Hệ thống toà án Anh theo cấu trúc gồm có Thượng nghị viện, Toà phúc thẩm, Toà áncấp cao, Toà địa phương Thực tế hiện nay cho thấy, Thượng nghị viện tự giới hạn mình ở chỗ, nó chỉ raquyết định giứ nguyên hoặc huỷ bỏ bản án đã có hiệu lực trước đó của toà án cấp dưới, mà ít khi tự mìnhđưa ra một bản quyết định độc lập
Ở Anh, cấp thấp nhất trong hệ thống toà án là Toà địa phương, với thẩm quyền xét xử giới hạn trong lĩnhvực dân sự, và thẩm quyền của toà án bao trùm một khu vực hành chính nhất định
Toà phúc thẩm là một bộ phận của Toà án tối cao với hai toà chuyên trách (Toà Dân sự và Toà Hình sự), cónhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết những kháng cáo, kháng nghị từ những vụ án đã được xét xử ở Toà cấpcao, Toà địa phương
Toà tối cao ở Anh là sự hợp nhất của Toà phúc thẩm, Toà cấp cao và Toà hình sự trung ương Trước đây,khác với ở Mỹ, toà án tối cao ở Anh không phải là cấp cao nhất trong hệ thống tư pháp Tuy nhiên khi nhữngđiều khoản trong Luật cải tổ Hiến Pháp có hiệu lực vào tháng 10 năm 2009 thì Toà án tối cao sẽ được cơ cấulại, và phạm vi thẩm quyền của nó sẽ mang đúng nghĩa là cấp xét xử cao nhất, các phán quyết sẽ mang tínhchất quyết định cuối cùng trong hệ thống pháp luật Anh
Trang 2054 Đào tạo luật và hành nghề luật ở Anh.
Nghề luật ở Anh rất được coi trọng, dẫn đầu trong việc phát triển chính quyền
Chia thành 2 nhóm: luật sư tư vấn (solicitor) và luật sư tranh tụng (barrister)
Làm việc trực tiếp với khách hàng và chuẩn bị
các vụ việc để tranh luận, giới thiệu luật sư
- Nghề luật sư ở Anh được xây dựng trên mô hình tổ chức tư pháp và tố tụng của Anh được hình thành
từ thế kỷ 12-13 Luật sư Anh gồm hai loại: luật sư bào chữa (barristors) và luật sư tư vấn (solicitors)– đây là điểm khác biệt xuất phát từ đặc thù của hệ thống án lệ
- Các luật sư Anh chịu sự quản lý của các tổ chức luật sư – Inns of Court và Law Society Inns ofCourt hình thành từ đầu thế kỷ 14, có thư viện luật và là nơi mở các khoá đào tạo cho những ngườimuốn trở thành luật sư biện hộ Thời Trung cổ, các sinh viên luật đến London để học và thực tập bêncạnh các thẩm phán tại Toà án cấp cao đã ăn, ngủ tại Inns of Court – thực ra là khu ăn ở của các luậtgia trong Toà án Mỗi Inn of Court có một nhà thờ, một thư viện và một đại sảnh – nơi mọi người ănuống khi đến bữa, đồng thời cũng là nơi hội họp và giảng dạy về thực tiễn
- Người muốn trở thành luật sư biện hộ phải là một khoá sinh của Inn of Court để được đào tạo và phảithi đỗ trong kỳ thi công nhận luật sư biện hộ Thời gian đào tạo ở các Inn of Court được đo bằng các
“kỳ ăn trưa” thường kéo dài khoảng 3 tuần tuỳ Inn of Court quy định Thông thường mỗi năm cókhoảng 4 “kỳ ăn trưa” để đào tạo các khoá sinh Trong mỗi “kỳ ăn trưa”, khoá sinh phải ăn trưa ítnhất ba lần trong đại sảnh của Inn of Court Để trở thành luật sư biện hộ, khoá sinh phải trả qua ítnhất tám “kỳ ăn trưa” Thời xưa, các bữa ăn trưa được coi là để giảm bớt khoảng cách giữa các luật
sư biện hộ chính thức và các khóa sinh, ngày nay ở Anh việc ăn trưa cùng để đào tạo phần nhiềumang tính chất nghi lễ
- Việc công nhận luật sư biện hộ do Hội đồng của Inn of Court (Bencher of Inn) thực hiện sau khikhoá sinh đã thi đỗ kỳ thi lý thuyết và thực hành và trải qua thời gian thực tập một năm Hội Luật sư(Law Society) được thành lập từ thế kỷ 18 là tổ chức tập hợp các luật sư tư vấn Hội đã ban hành Bộluật ứng xử (Code of Conduct) bao gồm các quy tắc điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp của các luật
sư tư vấn Để trở thành luật sư tư vấn chỉ cần học 9 tháng tại Trường luật của Hội Luật sư (với cácmôn học gắn với thực tế như lập hợp đồng bất động sản, luật thuế, luật thừa kế, luật thương mại, luậtcông ty…), thi đỗ kỳ thi chuyên môn do Hội Luật sư tổ chức và trải qua hai năm tập sự ở một trongnhững văn phòng luật sư tư vấn với tư cách nhân viên (article clek)
- Thẩm phán được lựa chọn từ các luật sư tranh tụng và không theo nhiệm kỳ
Thẩm phán xuất phát từ các nhà thực hành luật chứ không phải các giáo sư luật, được giữ chức vụsuốt đời Thẩm phán chỉ bị bãi nhiệm khi cả Thượng viện và Hạ nghị viện yêu cầu lên Nữ Hoàng(quy chế năm 1700)
55 Đặc trưng của hệ thống thông luật: nguồn, cách tư duy pháp lý, cấu trúc nội tại của pháp luật.
- Nguồn: Tiêu chí phân loại nguồn: dựa vào hình thức tạo ra nguồn: luật thành văn (written andenacted law) và luật bất thành văn (unwritten and unenacted law)
Các loại nguồn cơ bàn: tiền lệ pháp và văn bản lập pháp
Các loại nguồn bổ sung: tập quán, học thuyết pháp lý và lẽ phải
- Tư duy pháp lý:
- Coi pháp luật là cái Sein (cái đang xảy ra trong thực tiễn)
- Chủ nghĩa kinh nghiệm hay lối suy luận quy nạp đi từ trường hợp cá biệt đến cái tổng quát, nguyên tắc
- Hệ mở, gần gũi với đời sống thực tế, chủ động sáng tạo, mềm dẻo và linh hoạt
- Không coi trọng pháp điển hoá
- Cấu trúc nội tại:
Trang 21- Không phân chia rõ ràng luật công và luật tư như civil law, có 1 hệ thống tóa án xem xét lại các hoạt độnglập pháp, hành pháp và cả tranh chấp tư.
- Luật bất thành văn, đặc biệt là án lệ được coi trọng áp dụng
- Tòa án và thẩm phán đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra luật
56 Sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của pháp luật Anh trên thế giới.
Common law được mở rộng ra thế giới thông qua hai con đường Thứ nhất là chinh phục thuộc địa (chủ yếu)
áp dụng cho các nước là thuộc địa của Anh Đây là con đường chính dẫn đến sự ảnh hưởng của common lawtrên thế giới Thứ hai là các nước chủ động tiếp thu, chấp nhận một cách tự nguyện với việc thiết lập và thúcđẩy quan hệ chính trị,thương mại với Anh
Đối với Mỹ, người Anh bắt đầu chiếm các thuộc địa tại Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ XVI Các thuộc địa đã dầnđược hình thành, phát triển và có hai xu hướng pháp luật: một số người chú ý xây dựng xã hội thần quyềnvới vai trò to lớn của nhà thờ Cơ đốc giáo tòa án là nhà thờ, người phán xử là các cha cố, dựa vào kinhthánh và một xu hướng thứ hai là coi trọng pháp luật thành văn thể hiện ở hoạt động pháp điển hóa và banhành bộ luật ở Massachusetts năm 1634 và Pensylvania năm 1682 Như vậy thời kì này đã nảy sinh nhu cầucần sự điều chỉnh của pháp luật nhưng các thuộc địa không sử dụng luật Anh
Một số nước tiêu biểu áp dụng common law: Canada, Australia, Hong Kong (đây là thuộc địa cũ của Anh)
57 Sự hình thành hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.
Người Anh xuất hiện ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 đến năm 1722:
Ở Mỹ lúc này đã có 13 thuộc địa của Anh, nhưng trong quá trình phát triển có nhiều trở ngại như: bất mãnchế độ thuộc địa của đa số dân, thiếu những luật gia thành thạo dẫn đến kìm hãm sự phát triển, khác biệt vềđiều kiện sống khiến án lệ của Anh không phù hợp áp dụng => khiến pháp luật Anh không được chấp nhận
dễ dàng
Tuy nhiên vào TK 18 đã có sự xuất hiện của luật gia chuyên nghiệp, đồng thời có xuất bản sách của WilliamBlackstone ở Mỹ (1765-1769) bán rất chạy, có nhu cầu tìm hiểu luật Anh để đối phó với thương gia Anh vàphán quyết dựa trên nền tảng luật Anh
Sau khi Mỹ tuyên bố độc lập năm 1776 – sau cách mạng:
Tạo nên sự thụt lùi trong việc tiếp nhận luật Anh, một số tiểu bang còn cấm sử dụng luật Anh trong tòa án
Có một số khuynh hướng chọn lựa luật Pháp và La Mã
Nửa đầu TK 19 mở rộng giao lưu quốc tế nên các thẳm phán đã gọt giũa luật Anh, nửa sau TK 19 tòa án cónhiệm vụ trật tự hóa hệ thống và hợp lý hóa chi tiết
Pháp luật Anh và pháp luật Mỹ đã trở thành hai hệ thống pháp luật độc lập Pháp luật Mỹ vừa có tính
ổn định tương đối (dựa trên Hiến pháp) và vừa có tính điều chỉnh linh hoạt (dựa trên cơ sở án lệ).Tuy có sự khác biệt nhưng hệ thống pháp luật liên bang Mỹ vẫn sử dụng các nguồn, lý thuyết, tư duypháp luật của hệ thống pháp luật Anh
58 Các nguồn pháp luật Hoa Kỳ? So sánh với nguồn pháp luật Anh.
Các nguồn pháp luật Hoa Kỳ:
- Hiến pháp: luật cao nhất của đất nước, luật pháp của các tiểu bang phải tuân theo nó, bất kỳ điều
khoản nào của hiến pháp hoặc luật pháp của tiểu bang đều không được trái với Hiến pháp Hoa Kỳ; làtrật tự tối cao đối với mọi sinh hoạt chính trị pháp lý
- Các đạo luật của các cơ quan lập pháp: phần lớn các đạo luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp
liên bang và cơ quan lập pháp tiểu bang Có rất nhiều các cơ quan có thẩm quyền ban hành các vănbản pháp luật: các ủy viên hội đồng hành động như cơ quan lập pháp ở các địa hạt khác nhau trongtiểu bang; hội đồng thành phố lập pháp trong phạm vi thành phố, những quận đặc biệt cũng có nănglực lập pháp
- Quyết định của các cơ quan chuẩn lập pháp và chuẩn tư pháp: các quyết định hay quy tắc được đưa
ra bởi những cơ quan, ủy ban, ủy hội VD: cục bưu điện Hoa Kỳ, Ủy ban chứng khoán và thị trườngchứng khoán Những quyết định này có thể bị xem lại bởi tòa án nhưng vẫn có giá trị pháp lý cho tớikhi nó vô hiệu Các quy tắc hay quyết định này được xem là nguồn của pháp luật khi việc vi phạmchúng sẽ bị tòa án hay pháp luật buộc phải chịu 1 chế tài
- Quyết định và mệnh lệnh của hành pháp chính trị: những văn bản chi tiết hóa các văn bản lập pháp
và các mệnh lệnh trong việc thực thi chức năng hành pháp ban hành bởi tổng thống, thống đốc bang,thị trưởng hoặc các quan chức hành pháp khác Là quyết định điều chỉnh thuế của Tổng thống với