ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020 ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có hơn 3200km bờ biển, nước ta là một quốc gia ven biển, chịu tác động mạnh mẽ, trực tiếp từ
Trang 1ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
Trang 2ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
Trang 3ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có hơn 3200km bờ biển, nước ta là một quốc gia ven biển, chịu tác động mạnh mẽ, trực tiếp từ các chiến lược khai thác biển của các nước trên thế giới và nhất là của các nước trong khu vực Trong thế kỷ 21 - thế kỷ của Biển Các dân tộc đua nhau ra biển, giành giật lợi ích từ biển Các quốc gia có biển đều xây dựng chiến lược khai thác biển cho mình.
Biển Đông liên hệ đến sự sống còn của dân ta Các nguồn tài nguyên và môi trường biển và vùng bờ của đất nước có tầm quan trọng trực tiếp đối với hàng chục triệu người dân nông thôn, đặc biệt đối với hơn 17 triệu dân sống ở các huyện ven biển và các đảo ven bờ Cho nên, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực bảo vệ và quản lý vùng bờ theo hướng hiệu quả và bền vững, với quan điểm là
"nguồn lợi biển và tài nguyên bờ phải được sử dụng dài lâu " vừa thoả mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt trong sức chống chịu của các hệ sinh thái, vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau.
Vịnh Bắc Bộ là một trong số các vịnh lớn ,có vai trò - vị trí quan trọng trong biển Đông Nó gắn liền với quá trình phát triển kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đặc biệt là vai trò quan trọng trong mối quan hệ với Trung Quốc và các nước ASEAN Do đó việc nghiên cứu, tìm hiểu, đề xuất
“Định hướng phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ” là cần thiết
Trang 4ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
+ Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức
sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội (Raanan Weitz, 1995)
+ Quy hoạch phát triển là sự sắp xếp cân nhắc tính toán tìm ra giải
pháp tối ưu để nhằm đạt được kết quả cao (mục đích đã đặt ra) hay chính là một hệ thống các biện pháp về tổ chức, biện pháp về kinh tế
- kỹ thuật, các chính sách pháp luật, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần
=>Hai vấn đề trên có liên quan chặt chế với nhau và tác động lẫn
nhau, muốn phát triển thì phải có quy hoạch phát triển Trong cộng đồng xã hội sự phát triển của mỗi cá nhân mỗi tổ chức đều ảnh hưởng tới các cá thể khác trong cộng đồng và sẽ ảnh hưởng chung toàn xã hội hoặc toàn quốc gia Ngược lại những chủ trương đường lối chính sách của chính phủ về sự phát triển của một quốc gia đều
có ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân, tổ chức trong xã hội
Trang 5ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
2 PHẠM VI CỦA VĐKTVBVBB Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ là khu
vực hợp tác kinh tế giữa các địa phương của Việt Nam và Trung Quốc nằm xung quanh vịnh Bắc Bộ Đây là một bộ phận của chương trình hợp tác kinh tế "
hai hành lang, một vành đai "
=>Phạm vi của vành đai này bao trùm:
- Ba thành phố cấp địa khu của tỉnh
Quảng Tây Trung Quốc gồm: Bắc Hải ,
Khâm Châu , Phòng Thành Cảng
- Một thành phố cấp địa khu của tỉnh
Quảng Đông là Trạm Giang
- Tỉnh đảo Hải Nam
Trang 6ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ phần thuộc lãnh thổ Việt Nam gồm hai tỉnh, thành phố
có tuyến vành đai kinh tế
đi qua là Quảng Ninh và Hải Phòng, có diện tích
tự nhiên 7.418,8 km2, dân số gần 2,9 triệu người, chiếm 2,24% diện tích tự nhiên và 3,44% dân số cả nước
Trang 7ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
3 KHÁI QUÁT TIỀM NĂNG CỦA VĐKTVBVTB
- Hải Phòng là trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam nằm trên vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ Từ lâu, Hải Phòng đã là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc Việt Nam, cửa ngõ thông ra biển của toàn bộ khu vực phía Bắc đất nước Cụm cảng Hải Phòng có tổng chiều dài cầu cảng trên 5.000m, có khả năng tiếp nhận tàu trên vạn tấn, có 10 cảng chuyên dụng hàng lỏng (xăng, dầu, khí hoá lỏng ), 5 cầu cảng container Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt rất thuận lợi, nối thông với Hà Nội, Lào Cai, Lạng Sơn Hải Phòng là điểm nút nằm trên cả “hai hành lang, một vành đai” kinh tế Ngoài ra, Hải Phòng còn có đường hàng không nối với các thành phố khác của Việt Nam.
- Hạ Long (Quảng Ninh) là một trong những trung tâm kinh lớn trên Vành đai kinh tế Vịnh Bắc bộ của Việt Nam, có hệ thống cảng biển lớn như Cái Lân, Cửa Ông… có cầu tàu nước sâu trên vạn tấn Đây cũng là khu vực có công nghiệp khai thác than lớn nhất đất nước, với tổng trữ lượng 3,5 tỷ tấn, cho phép khai thác 30 - 40 triệu tấn/năm (ít nhất cũng khoảng 25 triệu tấn/năm) Đặc biệt, Hạ Long là một trung tâm du lịch rất nổi tiếng, với Vịnh
Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, hàng năm đón hàng triệu lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan, nghỉ mát.
Trang 8ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
Môt ̣ góc Thành
ph ố Hai ̉ Phòng
Trang 9ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
Trang 10ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
4.2 Mục tiêu chủ yếu
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông trong vành đai kinh tế, đặc biệt là tuyến trục chính ven biển từ Móng Cái đến Đồ Sơn và các cảng biển, sân bay để nối kết với hai hành lang kinh tế Việt - Trung và khu vực ven biển Nam Trung Quốc thuộc vành đai kinh tế, tạo điều kiện mở rộng giao thương và hợp tác phát triển với Trung Quốc và ASEAN một cách chủ động, hiệu quả
- Tập trung phát triển vùng động lực và các đô thị trung tâm dọc vành đai kinh tế, tạo sự bứt phá thúc đẩy toàn vành đai kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tương xứng với vùng ven biển Nam Trung Quốc
- Hình thành và phát triển một số ngành kinh tế chủ lực gồm du lịch biển – đảo cao cấp, đóng tàu, nhiệt điện, khai khoáng, hóa dầu, nuôi trồng và chế biến thủy sản… đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế gấp 1.4-1.5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP cả nước
Trang 11ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
và hợp tác phát triển giữa Việt Nam với Trung Quốc và ASEAN một cách chủ động, hiệu quả Theo Quyết định 34, phấn đấu đến năm 2020 vành đai kinh tế này đóng góp khoảng 6,5-7% GDP cả nước Sớm nắm bắt chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngay từ năm 2005, Quảng Ninh - Hải Phòng đã chủ động xây dựng chương trình hợp tác phát triển toàn diện
Để phát huy vai trò là 2 cực tăng trưởng quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, từ năm 2005 đến nay Quảng Ninh - Hải Phòng đã duy trì tốt việc hợp tác phát triển toàn diện trên các lĩnh vực
Trang 12ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
Lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng ký kết chương trình hợp tác giai đoạn 2009 – 2015
Trang 13ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
* Trong công tác lãnh đạo
chỉ đạo của 2 địa phương thường xuyên có sự trao đổi thông tin, có sự chú trọng đến chính sách quy hoạch, kế hoạch, định hướng đầu tư để mỗi bên phát huy lợi thế Đón nhận tinh thần chỉ đạo này các doanh nghiệp Quảng Ninh - Hải Phòng tiến hành thành lập các chi nhánh, mở văn phòng đại diện, thực hiện liên doanh liên kết đầu tư
Tại Quảng Ninh đã có nhiều doanh nghiệp của Hải Phòng tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh như: Nhà máy Cơ khí chế tạo Hà Lân, Công ty Sao Vàng, Công ty TNHH Thuỷ sản Nam Hải, Công ty TNHH Vạn Tường…
Trang 14ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
* Trên lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch
có sự hợp tác khá toàn diện trong đó việc khai thác tiềm năng du lịch của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rất được chú trọng
Một trong những điểm nhấn của ngành du lịch Quảng Ninh và Hải Phòng được nhắc đến nhiều nhất vẫn là du lịch biển Với những giá trị đặc sắc đã được UNESCO công nhận, Vịnh Hạ Long của Quảng Ninh
và đảo Cát Bà của Hải Phòng đã thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn Sức hấp dẫn của du lịch Quảng Ninh và Hải Phòng được thể hiện
qua kết quả hoạt động kinh doanh với tốc độ tăng trưởng đi lên ở mỗi năm Theo số liệu thống kê được công bố tại hội nghị đánh giá kết quả hợp tác giữa 2 địa phương vừa tổ chức dịp tháng 8/2009 ở Hạ Long, tổng lượng khách du lịch của hai địa phương đạt 8,2 triệu lượt trong năm 2008 Trong đó, khách du lịch quốc tế 3,1 triệu lượt; khách lưu trú 2,4 triệu lượt Tổng doanh thu đạt 3.560 tỷ đồng
Trang 15ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
Vi ̣nh hạ Long
Khu du lịch Đồ Sơn- Hải Phòng
khu du lịch nước suối khoáng nóng Tiên Lãng – Hải Phòng
Trang 16ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
* Trên lĩnh vực công nghiệp
Sở Công Thương (Quảng Ninh) đã tạo điều kiện cho Công
ty Xi măng Hải Phòng triển khai dự án khai thác sét núi Na (Yên Hưng) làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng
Hiện Công ty đang làm thủ tục để tiến hành khai thác đá tại
mỏ đá Phương Nam (Uông Bí) Các đơn vị của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đảm bảo cung cấp khoảng 303.000 tấn than/tháng cho hoạt động của Nhà máy Phân bón DAP và Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng
Tổng Công ty Tàu thuỷ Phà Rừng - Nam Triệu đã đẩy mạnh đầu tư vào địa bàn huyện Yên Hưng và đã có dự án đầu tư cụ thể như đầu tư mở rộng sản xuất của Công ty CP Công nghiệp tàu thuỷ Sông Chanh, đầu tư sản xuất nhà máy thuỷ và đóng tàu Đồng Bái…
Trang 17ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
* Trong lĩnh vực giao thông vận tải
Việc kết nối tuyến đường 18 với đường 5, tuyến phà Gia Luận - Tuần Châu nối TP Hạ Long với huyện Cát Hải là một minh chứng cụ thể cho sự hợp tác giao thông vận tải giữa Quảng Ninh và Hải Phòng Hai bên đã phối hợp quy hoạch hệ thống bến xe, bến tàu vận tải hàng hoá, hành khách, tạo điều kiện để các doanh nghiệp Hải Phòng xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới Việt - Trung Hai bên thống nhất bố trí sắp xếp và điều hành hoạt động của các bến
xe, tuyến xe khách đi lại giữa 2 địa bàn
Mỗi ngày có trên 200 chuyến xe chuyên chở khoảng 2.300 lượt khách, 2 chuyến tàu thủy chờ khoảng 100 lượt khách đi lại giữa 2 tỉnh, thành phố Để tăng thêm sự gắn bó bền chặt, hữu cơ giữa 2 địa phương tại hội nghị hợp tác 5 tỉnh, thành phố Việt - Trung đã thống nhất thông qua Biên bản ghi nhớ hội nghị việc thúc đẩy, nâng cao năng lực tuyến đường bộ, đường sắt Lào Cai -
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đặc biệt là quá cảnh từ cảng Hải Phòng, Quảng Ninh sang Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) và ngược lại qua cửa khẩu Lào Cai và cửa khẩu Móng Cái
Trong tương lai khi Khu công nghiệp Đầm Nhà Mạc trên địa bàn huyện Yên Hưng giáp ranh với cảng Lạch Huyện của TP Hải Phòng hoàn thành sẽ hợp lực tạo thành một khu vực phát triển động lực trong vùng
Trang 18ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
=> Hợp tác phát triển giữa Quảng Ninh - Hải Phòng không chỉ khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương mà còn thể hiện rõ vai trò là hai cực tăng trưởng quan trọng trong Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ
phương tiếp tục nghiên cứu việc đầu tư đa ngành, liên ngành trên các lĩnh vực cả 2 cùng có lợi thế như cảng biển, hạ tầng du lịch, giao thông, công nghiệp… Đáng chú ý là hợp tác quốc tế nhằm khai thác hiệu quả tuyến đường vận chuyển hàng hoá Côn Minh (Trung Quốc) - Quảng Ninh - Hải Phòng thông qua hệ thống cảng biển từ Trung Quốc vào các nước ASEAN
và ngược lại được đặc biệt chú trọng
đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các trục giao thông ven biển như: Móng Cái
Hạ Long - Hải Phòng - Ninh Bình; các tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài - Hạ Long để đưa vào sử dụng trước năm 2015; nghiên cứu xem xét việc xây dựng tuyến cao tốc Quảng Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình để kết nối với vành đai kinh tế các tỉnh phía Nam, mạng cao tốc trong cả nước cũng như hệ thống đường cao tốc ven biển Nam Trung Quốc…
Trang 19ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
trên lĩnh vực du lịch, 2 địa phương sẽ xây dựng đồng bộ
và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng
du lịch Trong bối cảnh hiện nay, khi triển khai thực hiện chiến lược biển Việt Nam và Quy hoạch phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, hợp tác giữa Quảng Ninh và Hải Phòng không còn mang ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội giữa 2 địa phương
mà còn là đầu tàu kéo theo sự phát triển năng động của cả vùng kinh tế khu vực phía Bắc, hướng đến hiệu quả lâu dài và toàn diện của trục kinh
tế ven biển, của đất nước hướng mặt ra biển Đông
Trang 20ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
VỊNH BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020
2 Hạn chế
- Có vị trí trọng yếu, nhưng việc khai thác nguồn lợi gần bờ Hải Phòng
- Quảng Ninh chưa tương thích, đảm bảo theo hướng bền vững Môi trường vùng bờ Hải Phòng - Quảng Ninh có chiều hướng biến đổi theo hướng xấu, tài nguyên cạn kiệt, tác động bất lợi mục đích phát triển lâu dài, an sinh xã hội trong vùng Trong đó, nguy cơ xói lở bờ biển, lũ lụt, suy thoái hệ sinh thái, ô nhiễm, giảm sút đa dạng sinh học và giá trị bảo tồn thiên nhiên đáng lo ngại
với các loài và đa dạng sinh học, nơi cung cấp thủy sản, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, dịch vụ cảng biển, hàng hải, khai khoáng, đồng thời
là chỗ dựa sinh kế của các cộng đồng dân cư ven biển…
môi trường, tài nguyên riêng rẽ, nảy sinh mâu thuẫn lợi ích trong phát triển Việc phát triển nuôi trồng thủy sản lồng bè trên biển Cát Bà mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết nhiều việc làm, tạo sản phẩm cho xã hội Nhưng do phát triển tràn lan, thiếu quy hoạch, quản lý chưa theo kịp thực
tế, dẫn tới ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng hoạt động
du lịch, gây khó khăn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học biển
Trang 21ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
- Kinh tế biển nói chung và vùng bờ nói riêng ở Hải Phòng - Quảng Ninh phát triển với quy mô chưa tương xứng tiềm năng, lợi thế và còn nhiều hạn chế, thách thức Sức cạnh tranh dịch vụ cảng biển thấp, hệ thống cảng biển, kho bãi phát triển thiếu quy hoạch, manh mún, kết nối giao thông đường sắt, bộ, thủy nội địa, hàng không thiếu đồng bộ, nguy
cơ quá tải
Trang 22ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀNH ĐAI KINH TẾ VEN BIỂN
Ngành đóng tàu phát triển nóng, chủ yếu là gia công, tỷ lệ nội địa hóa thấp, hiệu quả sử dụng đất chưa cao, nguy cơ ô nhiễm môi trường
- Ngành thủy sản hạn chế ở cả ba lĩnh vực, chưa phát huy lợi thế, khai thác xa bờ yếu, nuôi biển và nuôi công nghiệp chưa mạnh, chế biến chưa gắn với phát triển nguồn nguyên liệu
- Du lịch phát triển chậm, hạ tầng thiếu, yếu, sản phẩm chưa phong phú, hoạt động du lịch chưa có hình thức phù hợp với thời tiết, khí hậu phía Bắc