• Chức năng thúc đẩy lưu thông hàng hoá và phát triển sản xuất Trong phần phân tích sự cần thiết của tín dụng đối với nền kinh tế đã chỉ rõ rằng nhờ tín dụng mà quá trình chu chuyển tuần
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG
1 Khái niệm, bản chất và chức năng của tín dụng
1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm Tiếng Anh gọi là Credit.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn Tín dụng
là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị, dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.
Qui trình vận động đó được biểu diễn :
Người
sử dụng Người
sở hữu
cho vay
đi vay
Người cho vay Người
đi vay
Ví dụ: Ngày 1/11/2003 A cho B vay 100 000 USD, thời hạn cho vay 3 tháng, lãi suất 12% năm
Trang 2Ngày 1/2/2004 B trả cho A :
100 000 + (100 000*1%)*3 = 103 000 USD
Trong đó:
100 000 là nợ gốc và 3000 là tiền lãi
Theo quan điểm của Mac, phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu, tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả
1.2 Bản chất và chức năng của tín dụng
1.2.1 Bản chất
Tín dụng thể hiện ra bên ngoài là sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản giữa người cho vay và người đi vay; nhưng thực chất của nó bên trong chứa đựng mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay Chính mối quan hệ này quyết định bản chất của tín dụng.
1.2.2 Các chức năng tín dụng
• Chức năng phân phối lại tài nguyên
Trong phần khái niệm đã nói, tín dụng là sự chuyển nhượng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác Thông qua sự chuyển nhượng này, tín dụng góp phần phân phối lại tài nguyên thể hiện ở chỗ:
_ Người đi vay có một số tài nguyên tạm thời chưa dùng đến thông qua tín dụng,
số tài nguyên đó được phân phối lại cho người đi vay.
_ Ngược lại người đi vay cũng thông qua hệ thống tín dụng nhận được phần tài nguyên được phân phối lại.
• Chức năng thúc đẩy lưu thông hàng hoá và phát triển sản xuất
Trong phần phân tích sự cần thiết của tín dụng đối với nền kinh tế đã chỉ rõ rằng nhờ tín dụng mà quá trình chu chuyển tuần hoàn vốn trong từng đơn vị nói riêng và trong toàn nền kinh tế nói chung được thực hiện một cách bình thường và liên tục Do đó tín dụng góp phần thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá, điều này thể hiện ở chỗ:
Trang 3_ Tín dụng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh được thực hiện bình thường, liên tục và phát triển.
_ Tín dụng tạo nguồn vốn để đầu tư mở rộng phạm vi và qui mô sản xuất.
_ Tín dụng tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ thanh toán góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá bằng việc tạo ra tín tệ và bút tệ.
2.Các hình thức tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú Người ta thường dựa vào các tiêu thức dưới đây để phân loại các hình thức tín dụng.
2.1.Căn cứ vào thời hạn tín dụng.
Tín dụng phân loại theo tiêu thức thời hạn có ba loại
a)Tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm thường được dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân.
b)Tín dụng trung hạn.
Là tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm dùng để cho vay vốn mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
c)Tín dụng dài hạn.
Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
2.2.Căn cứ và đối tượng tín dụng.
Theo tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại.
a)Tín dụng vốn lưu động.
Trang 4Là loại tín dụng được cung cấp để hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp Loại tín dụng này được thực hiện chủ yếu bằng hai hình thức: cho vay bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu hụt, và chiết khấu chứng từ có giá.
b)Tín dụng vốn cố định.
Là loại tín dụng được cung cấp để hình thành vốn cố định của doanh nghiệp Loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn.
2.3.Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng.
Theo tiêu thức này tín dụng được chia làm hai loại:
a)Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Là loại tín dụng cung cấp cho các nhà doanh nghiệp để tiến hành sản xuất và kinh doanh Bao gồm các loại: cho vay bất động sản, cho vay nông nghiệp, cho vay công nghiệp và thương mại, cho vay các định chế tài chính (financial institution loans), cho thuê tài chính
b)Tín dụng tiêu dùng.
Là hình thức tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
2.4.Căn cứ vào chủ thể tín dụng.
Dựa vào chủ thể tham gia tín dụng người ta chia ra các loại sau đây:
2.4.1.Tín dụng thương mại.
Là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá hoặc ứng tiền trước khi nhận hàng hoá.
Tín dụng thương mại phát sinh là sự cách biệt giữa sản xuất và tiêu thụ, tính thời vụ của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khiến các nhà doanh nghiệp phải mua bán chịu hàng hoá.
Mua bán chịu hàng hoá cũng là một hình thức tín dụng vì nó chứa đầy đủ 3 nội dung cơ bản trong khái niệm tín dụng.
Trang 5Cơ sở pháp lý xác định quan hệ tín dụng, trong tín dụng thương mại là giấy nợ được nhập dưới 2 hình thức : lệnh phiếu và hối phiếu (Promisory note and Bill of Exchange).
-Vai trò tích cực của tín dụng thương mại thể hiện ở chỗ:
+Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các nhà doanh nghiệp.
+Giúp tiêu thụ hàng hoá nhanh chóng và kịp thời.
Mặc dù vậy, tín dụng thương mại vẫn không thể thay thế được các hình thức tín dụng khác vì các mặt hạn chế sau đây:
+Hạn chế về quy mô.
+Hạn chế về thời hạn.
+Hạn chế về phương hướng.
2.4.2.Tín dụng ngân hàng.
Là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các TCTD với các doanh nghiệp và
cá nhân.
Trong mối quan hệ này, tín dụng đóng vai trò trung gian cho nên ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ, gồm tiền mặt và bút tệ, trong đó bút tệ là chủ yếu.
Tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có quan hệ chặt chẽ, bổ sung và
hỗ trợ cho nhau.
2.4.3.Tín dụng nhà nước.
Là hình thức tín dụng thể hiên mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân và các
tổ chức khác, theo đó nhà nước chủ động vay tiền để tăng nguồn thu ngân sách -Tín dụng nhà nước thực hiện bằng cách phát hành công trái.
-Tín dụng nhà nước nhàm bù đắp thiếu hụt ngân sách.
2.4.4.Tín dụng quốc tế.
Trang 6Là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa nước ta với các quốc gia hay các
tổ chức tiền tệ tín dụng quốc tế.
3 Lợi tức tín dụng.
3.1.Khái niệm.
-Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay cho việc sử dụng tiền vay của người này.
-Thực chất lợi tức tín dụng chính là giá cả hàng hoá cho vay.
-Khối lượng lợi tức nhiều hay ít phụ thuộc vào doanh số cho vay và lãi suất -Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức và doanh số cho vay.
-Trong nền kinh tế thị trường, thông thường ngân hàng trung ương ấn định khung lãi suất chung Trong phạm vi khung lãi suất ấn định, các TCTD tự xác định lãi suất riêng theo quan hệ cung cầu trên thị trường.
-Lãi suất là đòn bẩy và công cụ quản lý kinh tế vĩ mô được ngân hàng trung ương sử dụng để thực hiện các chính sách tiền tệ tín dụng và các chính sách kinh
tế tài chính khác.
-Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất đóng vai trò rất quan trọng đối với thi trường tài chính cũng như vai trò của giá cả đối với thị trường hàng hoá Chính vì vậy người ta giành không ít thời gian và công sức để nghiên cứu về lãi suất.
3.2.Khía cạnh cơ bản của lãi suất.
3.2.1.Khung lãi suất.
Là giới hạn tối đa của lãi suất cho vay và tối thiểu của lãi suất tiền gửi mà ngân hàng nhà nước quy định để khống chế và quản lý chung về mặt lãi suất đối với các tổ chức tín dụng.
Trang 7Khung lãi suất được ngân hàng nhà nước công bố và thay đổi tuỳ thuộc vào giá cả đông tiền và sức mua của đồng tiền, cung cầu tài chính tín dụng và chính sách của nhà nước.
3.2.2.Tác dụng của lãi suất.
Lãi suất là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có tác dụng rất lớn đến sản xuất kinh doanh Chế độ lãi suất thích hợp sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, ngược lại nó sẽ làm ngưng trệ và đình đốn hoạt động sản xuất kinh doanh Lãi suất luôn luôn có tác dụng hai mặt :
- Lãi suất thấp có tác dụng :
+Khuyến khích vay vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó tận dụng các nguồn tài nguyên, nhất là lao động.
+Không khuyến khích tiết kiệm, người ta thích dùng tiền để đầu tư hay tiêu dùng hơn là để tiết kiệm, từ đó hạn chế nguồn gửi tín dụng Tỷ lệ tiết kiệm bình quân của Việt Nam là 5% trong khi ở Singapore là 40%.
-Lãi suất cao có tác dụng:
+Khuyến khích tiết kiệm, người ta có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng hơn là đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
+Hạn chế dùng vốn tín dụng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn do áp lực lãi suất cao vì tình trạng tài nguyên bị chiếm dụng.
- Lãi suất thích hợp có tác dụng vừa mở rộng đầu tư vồn vào sản xuất kinh doanh vừa thu hút được tiết kiệm.
Nói chung, lãi suất cao hay thấp đều có các mặt tác dụng tích cực và tiêu cực của nó Do đó, không nên duy trì tình trạng ấy lâu dài Trong điều kiện bình thường, lãi suất nên giữ ở mức thích hợp Muốn có chế độ lãi suất thích hợp cần nghiên cứu toàn diện hơn các yếu tố kinh tế xã hội tài chính có tác dụng đến lãi
Trang 8suất, trong đó đặc biệt chú ý đến tình hình lạm phát và lợi nhuận bình quân của các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Nếu gọi:
R- là lãi suất danh nghĩa do ngân hàng nhà nước công bố
I- là tỷ lệ lạm phát
r là lãi suất thực, tức là lãi suất trong điều kiện không có lạm phát.
P- là tỷ lệ lợi nhuận bình quân, nếu loại trừ yếu tố tăng giá do sút giảm sức mua của đồng tiền.
Ta có R = I + r
Và P = I + p
Theo Mác, lợi tức ngân hàng là bộ phận của giá trị thặng dư sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh:
Do đó r < p ;
I + r < I + p ;
R < P (1)
Công thức (1) cho phép xác định giới hạn trên của lãi suất Nếu vượt quá giới hạn này có thể nói lãi suất quá cao.
Mặt khác, để ngân hàng có thể tồn tại và hoạt động được thì
r > 0 => I + r > I ;
Hay r > I (2)
Công thức (2) cho phép xác định giới hạn dưới của lãi suất Vượt quá giới hạn này, nghĩa là R > I thì lãi suất được đánh giálà quá thấp.
Tổng hợp hai yếu tố (1) và (2) ta có:
I < R < P (3)
Công thức (3) xác định khung lãi suất hợp lý của tín dụng.
Trang 94 Qui trình cấp tín dụng
4.1 Khái niệm
Quá trình cho vay là trình tự các bước mà ngân hàng thực hiện cho vay đối với khách hàng.
Quá trình cho vay phản ánh nguyên tắc cho vay, phương pháp cho vay, trình tự giải quyết các công việc, thủ tục hành chính và thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng
Trang 104.2 Nội dung qui trình cấp tín dụng
Hồ sơ đề nghị cấp tín dụng -Giấy đề nghị
-Hồ sơ pháp lý
-Phản ánh trên dự án
-Giấy tờ về đảm bảo Khách h ng à Cung cấp các tài liệu và thông tin nhân viên giao dịch
tiếp xúc, phổ biến, phỏng vấn, hướng dẫn
Thu nhập thông tin
Phân tích, phỏng vấn, viếng thăm, trao đổi/mua.
Thủ tục giấy tờ -Biên bản thẩm định kiểm tra
-Báo cáo công việc
-Tờ trình về nhu cầu vay
-Giây tờ về đảm bảo
Cập nhật thông tin
-Thị trường
-Chính sách
-Khung pháp lý
Quyền phán quyết tín dụng
Nhân viên cho vay; Các cấp quản trị; Hội đồng tín dụng; Hội đồng quản trị
Hợp đồng -Đ m phán à
-Ký kết
+Hợp đồng tín dụng
+Các hợp đồng phu
-Giải ngân Cấp tiền cho khách h ng ho à ặc thẩm định các chứng từ để quyết định cấptiền hoặc từ chối
Ra hạn đảo nợ
Tổ chức thẩm định, nhân viên thẩm định độc lập, tổ thẩm định theo chức năng +Pháp lý
Giấy báo lý
Từ
Chấp
Trang 11Biện pháp -Cảnh cáo
-Tăng kiểm soát
-Ngừng giải ngân
-Tái xét/phân loại
To án, c à ơ quan có thẩm quyền
Thiết lập và thực hiện quy trình tín dụng là một bộ phần căn bản của quy trình ngân hàng Làm tốt công việc này sẽ góp phần đáng kể trong việc hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Mỗi ngân hàng, mỗi loại cho vay có quy trình tín dụng riêng Tuy nhiên, một quy trình tín dụng hợp lý phải bao gồm các giai đoạn cơ bản sau:
- Hồ sơ đề nghị cấp tín dụng là cơ sở đầu tiên để thiết lập quan hệ tín dụng Tuỳ theo loại khách hàng, loại và kỹ thuật cho vay, qui mô tín dụng mà yêu cầu người đi vay phải cung cấp thông tin về giấy tờ thích hợp Một bộ hồ sơ tín dụng chuẩn phải có đầy đủ: tài liệu chứng minh năng lực pháp lý, khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả, tài liệu liên quan đến bảo đảm hoặc các điều kiện vay vốn và giấy tờ đề nghị vay vốn.
- Phân tích tín dụng là khả năng sử dụng vốn và hoàn trả của khách hàng Mục tiêu của phân tích là tìm kiếm các tình huống có thể dẫn tới rủi ro, từ đó sẽ
có biện pháp kiểm soát các rủi ro đó Nội dung phân tích: phân tích phi tài chính
và phân tích tài chính.
Vi phạm
Giám sát tín Nhân viên kế toán;
nhân viên cho vay;
thanh tra, kiểm soát viên; các cấp quản trị
Tổ chức giám sát
Không đầy đủ Không đúng
Thu nợ +Gốc
Thanh toán đầy
Thanh lý tín dụng mặc Thanh lý tín
dụng bắt buộc
Trang 12- Quyết định tín dụng là việc chấp thuận hay từ chối cho vay của ngân hàng,
có hai phương pháp tổ chức ra quyết định tín dụng: phương pháp tập quyền và phương pháp phân quyền Phương pháp tập quyền tức là ra quyết định tín dụng tập trung một số người; phương pháp phân quyền tức là quyền phán quyết được giao cho nhiều người thực hiện, mỗi một nhân viên tín dụng có một mức phán quyết cho vay, nếu vượt quá mức phán quyết của nhân viên, hồ sơ vay tín dụng
sẽ được hội đồng tín dụng xem xét lại.
-Giải ngân là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã được cam kết theo hợp đồng Giải ngân có thể là việc cấp tiền thuần tuý hoặc là gắn với việc cấp tiền bằng một quyết định cho vay phụ Phương pháp giải ngân hẳn là thanh toán trực tiếp cho đơn vị bán( đối với thi công, cung cấp), trong một số trường hợp và hiện có thể chuyển vào tài khoản tiền gửi hoặc phát tiền mặt cho người đi vay.
_ Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng
• Giám sát tín dụng là việc kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay Phương pháp giám sát: giám sát hoạt động tài khoản, phân tích báo cáo tài chính theo định kỳ, viếng thăm và kiểm soát địa điểm kinh doanh, kiểm tra các đảm bảo
• Thu nợ: khách hàng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đúng hạn và đầy đủ như trong cam kết hợp đồng Tuỳ theo tính chất mà
có nhiều phương pháp thu nợ khác nhau: thu nợ gốc và lãi một lần ở kỳ hạn trả nợ cuối cùng (ngày đáo hạn); thu nợ gốc một lần khi đáo hạn và thu lãi định kỳ; thu nợ gốc và lãi theo nhiều kỳ hạn.
• Xử lý nợ quá hạn, nợ có vấn đề: nếu không thu được vốn đúng hạn hoặc đầy đủ như cam kết ban đầu, vấn đề này có những nguyên nhân vượt quá phạm vi tác động của ngân hàng và tiềm ẩn những yếu tố bất an cho ngân hàng, vì vậy để đảm bảo hoạt động bình thường với một mức độ rủi ro cho phép, ngân hàng sẽ quy định chặt chẽ qui trình xử lý nợ quá hạn
Trang 13Các hình thức kỷ luật tín dụng:
+ Chuyển nợ quá hạn đối với các trường hợp: đến hạn trả nợ khách hàng không chủ động trả, trên tài khoản tiền gửi không có tiền hoặc không đủ tiền để thu nợ; khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích; kiểm tra đảm bảo nợ, bộ phận nợ vay không có vật tư làm đảm bảo thì ngân hàng sẽ yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo hoặc thu hồi nợ phần thiếu đảm bảo.
+ Thu hồi nợ trước hạn đối với trường hợp: sử dụng vốn sai mục đích hay sử dụng vốn lãng phí gây thất thoát nghiêm trọng; phát hiện người vay vi phạm nguyên tắc đảm bảo tiền vay.
+ Hạn chế và đình chỉ cho vay đối với các trường hợp: sử dụng vốn sai mục đích, cung cấp thông tin sai sự thật nhưng khách hàng đã khắc phục sửa chữa; khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng đã cam kết nhưng không khắc phục sửa chữa, hoặc khách hàng ngừng sản xuất có thể dẫn đến phá sản, quá trình tổ chức lại sản xuất không xác định được người chịu trách nhiệm trước pháp luật về quan hệ vay vốn và trả nợ ngân hàng.
+ Khởi kiện trước pháp luật đối với các trường hợp: sử dụng các hình thức kỷ luật nhưng khách hàng vẫn không trả được nợ
5 Hợp đồng tín dụng
5.1 Khái niệm
Sau khi phân tích tín dụng nếu thấy khả năng kinh tế và khả năng thanh toán của khách hàng tốt, đồng thời có đảm bảo tín dụng một cách chắc chắn thì ngân hàng và khách hàng sẽ ký kết một hợp đồng tín dụng.
Mục tiêu của hợp đồng tín dụng phải đạt được những thoả thuận giữa hai bên để qua đó tránh được những tranh chấp và hiểu lầm, tạo cho ngân hàng một mức kiểm soát nhất định đối với hoạt động kinh doanh của khách hàng, xác định chính xác yêu cầu của ngân hàng đối với khách hàng và ngân hàng đảm bảo với khách hàng rằng: nếu khách hàng thoả mãn và tuân thủ các điều kiện và