1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN Bàn tay nặn bột cấp huyện

16 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 37,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN tieu hoc; SKKN Bàn tay nặn bột cấp huyệnSKKN Bàn tay nặn bột cấp huyệnSKKN Bàn tay nặn bột cấp huyệnSKKN Bàn tay nặn bột cấp huyệnSKKN Bàn tay nặn bột cấp huyệnSKKN Bàn tay nặn bột cấp huyệnSKKN Bàn tay nặn bột cấp huyệnSKKN Bàn tay nặn bột cấp huyện san

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài:

Môn tự nhiên xã hội cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản và ban đầu về các sự vật, sự kiện, hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên, con người và xã hội, về cách vận dụng kiến thức đó trong đơì sống và sản xuất

Trong giai đoạn này, việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc học tập môn tự nhiên, xã hội nói chung và phân môn khoa học ở lớp 4 – 5 nói riêng là một phần trong việc đổi mới phương pháp dạy học của

bộ môn này Góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học

Việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở tiểu học được thể hiện ở một số điểm sau:

- Tập trung vào cách học, đặc biệt là giúp học sinh có nhu cầu và biết cách tự học, tự khám phá

- Coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

1 Lý luận

* Sự ra đời và phát triển của phương pháp “Bàn tay nặn bột” ở Pháp:

Năm 1995, giáo sư Georges Charpak dẫn một đoàn gồm các nhà khoa học

và các đại diện của Bộ Giáo dục quốc gia Pháp đến một khu phố nghèo ở Chicago, Mỹ nơi có một phương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thực hành, thí nghiệm đang được thử nghiệm

Sau đó một nhóm nghiên cứu thuộc Ban trường học-Bộ Giáo dục quốc gia Pháp được thành lập Viện nghiên cứu sư phạm quốc gia Pháp được đề nghị làm báo cáo về các hoạt động khoa học vùng Bắc Mỹ và sự tương thích của các hoạt động này với điều kiện ở Pháp (Báo cáo thực hiện vào tháng 12 năm 1995)

Phương pháp ”Bàn tay nặn bột” chú trọng tòi việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các kiến thức tìm tòi nghiên cứu thông qua tiền hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra,… để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề đặt ra trong cuộc sống

Với một vấn đề cần giải quyết, các em có thể đặt ra các câu hỏi, giả thuyết

từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các quan sát, thí nghiệm, nghiên cứu,…

để kiểm chứng và đưa ra các kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức

Phương pháp bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên

Trang 2

2 Thực tiễn

Ở tuổi tiểu học chú ý có chủ định của học sinh phát triển chưa cao, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, hoặc trò chơi,… Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập Nhưng cũng trong giai đoạn này, học sinh thích sự tìm tòi, khám phá bằng những vật liệu xung quanh mình để đưa vào thí nghiệm để rút ra được kết luận

Với học sinh tiểu học, khả năng tác động của giáo viên rất cao, các em

dễ dàng tuân theo những chỉ bảo, yêu cầu của giáo viên Sự tin tưởng ở học sinh là một thuận lợi khi giáo viên các em xây dựng kiến thức Giáo viên sử dụng đúng đắn uy tín của mình thì sẽ có hiệu quả tốt trong việc giúp học sinh xây dựng kiến thức Đối với học sinh vùng bản các em ít tiếp xúc với môi trường khoa học nhiều cho nên chỉ hiểu kiến thức theo một chiều là thầy giảng – trò nghe, sự suy đoán của các em còn hạn chế, chưa mạnh dạn, tự tin trong việc tìm ra kết luận thông qua các thí nghiệm của bài học

Khi quan sát, làm thí nghiệm, học sinh tiểu học có “xu hướng” mô tả hơn là giải thích kết quả tìm thấy được của mình Các em thỏa mãn khi giải quyết vấn đề một cách riêng biệt (tức là việc tìm cách giải quyết chỉ dừng ở vấn đề cụ thể đã cho) mà không rút ra quy luật để có thể vận dụng cho tình huống khác, hoặc biết giải thích với sự khái quát hóa Trong dạy học cần lưu ý mức độ cho phù hợp, đồng thời cũng yêu cầu nâng dần, giúp các em pháp triển, chẳng hạn cần hướng các em quan tâm tới những mối liên hệ trừu tượng cũng như cụ thể, tìm cách lí giải các kết quả, giải thích kết quả theo cách mà

có thể vận dụng rộng rãi hơn cho cả tình huống khác; liên hệ giữa điều quan sát được với những hiểu biết khoa học, đề xuất cách giải thích dựa vào việc suy diễn từ kiến thức khoa học đã biết

3 Tính cấp thiết

Hiện nay một số bộ phận giáo viên còn xem nhẹ kiến thức môn khoa học: điều này còn thể hiện trong việc giảng dạy như: dạy qua loa, thầy giảng – trò nghe hoặc yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi hay chép lại nội dung SGK

mà không cho các em động não suy nghĩ tìm tòi hoặc quan sát, thực hiện thí nghiệm để rút ra kết luận nhằm khắc sâu vốn kiến thức,…

Mặt khác, thiếu sự quan tâm và phối hợp của gia đình học sinh tạo điều kiện cho con em mình chuẩn bị những đồ dùng, vật liệu,… để học tập

Chất lượng tiết học chưa cao, do học sinh học còn bị thụ động Trong tiết dạy, giáo viên nên tìm hiểu phương pháp, kĩ thuật dạy học và đồ dùng

Trang 3

dạy học chưa tạo hứng thú cho học sinh tham gia các hoạt động; chưa vì sự tiến bộ của học sinh

Với sự cần thiết đó, tôi chọn sáng kiến này để góp phần làm thay đổi nhận thức trong giáo viên và tự kiểm tra lại mình để học hỏi, tìm tòi những phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm giúp học sinh hứng thú, tự giác trong tiết học để lĩnh hội kiến thức vững vàng

II Mục đích nghiên cứu:

1 Trên cơ sở xác định một số nguyên nhân chủ yếu làm cho tiết khoa học các em dễ bị nhàm chán và học tập thụ động chưa đem lại hiệu quả, tôi mạnh dạn đưa ra phương pháp dạy học tích cực góp phần giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức mới nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh

2 Biết thiết kế bài soạn môn khoa học theo hướng tích cực

3 Giúp giáo viên hiểu rõ hơn về phương pháp “Bàn tay nặn bột” để áp dụng vào tiết dạy môn khoa học lớp 4, 5

III Đối tượng nghiên cứu

1 Phương pháp giảng dạy môn Khoa học diễn ra nhẹ nhàng, hợp lí, có hiệu quả, học sinh học tập tíc cực, có tính sáng tạo

2 Biện pháp quản lý học sinh chủ động học tập trong tiết Khoa học

IV Đối tượng khảo sát và thực nghiệm

Lớp 5 - Điểm trường Chính, Trường Tiểu học xxx, huyện xxx, tỉnh xxx

Tổng số HS : 24 em Nữ : 13 em

HS dân tộc : 24 em Nữ dân tộc: 24 em

V Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm, tôi đã sử dụng một

số phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra: (Giúp GV nắm được có bao nhiêu em thích học môn Khoa học và đồ dùng học tập có đầy đủ không ?)

- Phương pháp nêu gương: (Tạo cảm hứng cho các em trong học tập và dộng viên các em khác noi gương.)

- Phương pháp đàm thoại: (HS chia sẻ những thành công và những khó khăn vướng mắc của mình với thầy cô và các bạn để cùng học tập và tháo gỡ.)

- Phương pháp luyện tập thực hành: (HS tích cực chủ động thực hành các hoạt động.)

- Phương pháp hoạt động theo nhóm: (HS thảo luận, hỗ trợ cho nhau để tìm ra những kết luận đúng.)

- Phương pháp kỷ luật tích cực: (HS chủ động làm việc tránh em làm,

em chơi.)

Trang 4

- Phương pháp phân tích kết quả điều tra trước và sau khi nghiên cứu để so sánh

VI Phạm vi nghiên cứu:

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy môn Khoa học lớp 4, 5 ở trường tiểu học

VII Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG

I Thực trạng của vấn đề

1 Thuận lợi :

Trong dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột Học sinh là người chủ động trong các hoạt động học tập, tự xây dựng kiến thức thông qua khám phá, thử nghiệm, thảo luận, hợp tác với bạ, dưới sự định hướng giúp đỡ của giáo viên Qua đó, học sinh nắm vững kiến thức và tư duy sáng tạo; phát triển năng lực quan sát, thực hành; kĩ năng làm việc hợp tác theo nhóm; Góp phần phát triển năng lực tự học của học sinh

Ngoài việc chú trọng tới kiến thức khoa học, dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều tới rèn kĩ năng diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết Giúp học sinh phát triển khả năng diễn đạt, ngôn ngữ khoa học

Qua việc tích cực tham gia các hoạt động, qua các bược của phương pháp bàn tay nặn bột, học sinh hình thành tác phong và thói quen làm việc khoa học, thói quen độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong hành động, có lợi cho việc học tấp và nghiên cứu sau nay Học sinh cũng dần được hình thành, bồi dưỡng óc tò mò, ham muốn khấm phá, lòng yêu thích và say mê khoa học

2 Khó khăn:

Bên cạnh những ưu điểm như trên thì dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột cũng có những khó khăn, hạn chế nhất định

Do học sinh chiếm lính kiến thức thông qua ,việc tìm tòi, khám phá của bản thân, trong đó học sinh cần suy nghĩ đưa ra ý kiến bản thân, phải quan sát, thực hành, phải trao đổi đổi, thảo luận,… có thể có những hoạt động cần phải thực hiện vài lần nên khi áp dụng phương pháp này trong dạy học thường mất nhiều thời gian

Trong quá trình tìm tòi kiến thức, có những vấn đề, tình huống nảy sinh, học sinh cũng có thể có các câu hỏi mà giáo viên chưa thể trả lời ngay Đối với dạy học khoa học, có những tình huống rất gần gũi nhưng để giải thích được không phải là đơn giản Đây cumngx là vấn đề dẫn tới trở ngại tâm lí đối với giáo viên (đặc biệt là quan niệm truyền thống phương Đông – thường đặt giáo viên ở địa vị là người “truyền bá” kiến thức, là người biết mọi thứ,…)

3 Ý nghĩa:

Khoa học là những hiện tượng xãy ra trong tự nhiên mà con người cần phải giải thích và chứng minh để rút ra được kết quả mang tính logic, có mục đích nhận thức, mô tả, giải thích và tiên đoán về các hiện tượng và quy luật tự nhiên, dựa trên những dấu hiệu được kiểm chứng chắc chắn Trong khoa học

Trang 6

tự nhiên, giả thuyết được sử dụng rộng rãi để xây dựng những lý thuyết khoa học

Mục tiêu của bàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh

II Những lưu ý khi dạy học bằng phương pháp “bàn tay nặn bột”

Để phương pháp bàn tay nặn bột triển khai có hiệu quả giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Liệt kê các bài học có thể áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột theo khối lớp mình đang giảng dạy

- GV cần chuẩn bị trước các thí nghiệm dự kiến để có kết quả như mong muốn

- Vận dụng tối đa những nguyên vật liệu sẵn có, dễ kiếm trong tự nhiên;

- Với một số thí nghiệm đơn giản, GV có thể giao việc cho HS bằng những phiếu giao việc, tự HS chuẩn bị các vật liệu cho nhóm của mình

* Xây dựng tiết học theo các gợi ý:

- Mục tiêu bài học

- Hoạt động có thể áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột

- PP thí nghiệm sử dụng

- Thiết bị cần có

- Những thí nghiệm có thể thực hiện

* Tổ chức lớp học:

- Sắp xếp bàn ghế cho phù hợp với số HS

- Chia nhóm từ 4-6 em/nhóm

- Có chỗ dành riêng để vật liệu lớp học

* Trong quá trình giảng dạy

+ Lưu ý khi lựa chọn quan niệm ban đầu để đưa ra thảo luận:

- Không chọn hoàn toàn các quan niệm đúng

- Tuyệt đối không bình luận hay nhận xét gì về tính đúng sai của các ý kiến ban đầu của HS

- Lựa chọn các quan niệm vừa đúng vừa sai

+ Không sử dụng SGK khi dạy - học bằng phương pháp bàn tay nặn bột

+ Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp

+ Lưu ý về kĩ thuật thảo luận nhóm

* Lựa chọn phương pháp thí nghiệm phù hợp:

- Phương pháp quan sát tranh ảnh, quan sát vật thật

- Phương pháp mô hình

Trang 7

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

- Phương pháp thí nghiệm trực tiếp

III Cơ sở thực tiễn về phương pháp “bàn tay nặn bột”

1 Khái quát thực tiễn :

a Đặc điểm chung của trường

Trường Tiểu học là một trường vùng 4 Trường gồm 01 điểm trường chính và 04 điểm trường lẻ; Đường sá đi lại còn khó khăn Học sinh chủ yếu

là người DTTS Jrai nên việc học tiếng Việt đối với các em HSDTTS còn nhiều khó khăn, vướng mắc

Đội ngũ giáo viên luôn đoàn kết, cùng sẵn sàng giúp nhau tiến bộ; Quan tâm đến HS

Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và động viên giáo viên và học sinh an tâm dạy và học

CSVC nhà trường khá đầy đủ, phòng học thoáng mát, thiết bị có nhiều dụng cụ để tổ chức ghí nghiệm

b Đặc điểm của lớp 5:

- Tổng số học sinh lớp 5: 24 em, nữ: 13 em

- Có 3/24 em thuộc gia đình hộ nghèo; Một bộ phận phụ huynh học sinh thiếu quan tâm đến việc học hành của con em mình

- Đa số các em học tập theo cách truyền thống “Thầy giảng – trò nghe” Các em chưa biết cách động não, suy luận

2 Thực trạng:

Môn khoa học được giáo viên lựa chọn và sử dụng nhiều phương pháp dạy học, một số giáo viên còn thiên nhiều về nhóm phương pháp “dùng lời” như : thuyết trình, giải thích, mà ít áp dụng các nhóm phương pháp trực quan, thực hành mà trong đó có phương pháp bàn tay nặn bột, vì còn ngại làm

đồ dùng dạy học, tìm tòi hoặc mượn thiết bị dạy học để học sinh quan sát làm thí nghiệm hay chưa hiểu hết bản chất của thí nghiệm hoặc không hiểu hết quy trình hay còn sợ thí nghiệm không thành công, dẫn đến tiết dạy không thành công mà chỉ quy nạp cho các em về kiến thức mà SGK đưa ra làm cho các em học tập thụ động

Bên cạnh đó, giáo viên còn hiểu chưa sâu về tiến trình hoạt động, các bước của phương pháp bàn tay nặn bột

Mặt khác, thiết bị dạy học của nhà tường còn hạn chế, một số gia đình học sinh không đáp ứng được đồ dùng học tập của con em mình, các em thiếu

ý thức trong việc sưu tầm vật liệu để học tập,

Đầu năm học 2019-2020, qua khảo sát, tôi thấy nhìn chung các em còn xem nhẹ kiến thức môn khoa học, không hứng thú và hợp tác trong tiết học Hầu hết các em không chuẩn bị dụng cụ để làm thí nghiệm hay các vật mẫu để

Trang 8

mô tả mà thói quen của các em chỉ dựa vào nội dung, kiến thức trong SGK để học Vì vậy các hoạt động diễn ra trầm và nhàm chán

IV Biện pháp:

Để tiết dạy môn khoa học thành công, học sinh tích cực chủ động, hứng thú trong học tập và khắc sâu kiến thức do các em tự hình thành trên cơ sở tự khám phá

Để hoàn thành tốt tiết khoa học áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột cần thực chú trọng đến các điều kiện sau :

1 Tập huấn phương pháp

Đầu năm học, chuyên môn trường cần tập huấn cho giáo viên về phương pháp bàn tay nặn bột, phân tích kỉ các bước của tiến trình khi dạy học, đưa ra được những thuận lợi, khó khăn trong khi thực hiện, tìm hiểu, nghiên cứu xem những bài nào, hoạt động nào áp dụng được phương pháp này

Giáo viên chia sẻ kinh nghiệm dạy học với nhau

2 Tổ chức dạy chuyên đề

Xây dựng kế hoạch tổ, chuyên môn trường tổ chức dạy học với chuyên

đề phương pháp bàn tay nặn bột môn khoa học để từ thực tế tiết dạy nhằm giúp giáo viên hiểu rõ hơn tiến trình sư phạm các hoạt động của các bước thực hiện Chia sẻ ngay trong tiết dạy để tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến thành công và vướng mắc sau đó tìm hướng giải quyết tốt hơn

3 Thiết bị trường học, đồ dùng tự làm

Với những bài áp dụng về phương pháp này thì đòi hỏi phải có thiết bị,

đồ dùng trực quan để học sinh mô tả, thực hành thí nghiệm Vì vậy giáo viên cần chủ động tìm thiết bị, đồ dùng trực quan để hướng dẫn học sinh thực hiện

4 Sự hợp tác của học sinh

Để tiết học thành công thì sự hợp tác của học sinh trong tiết học là quan trọng, vì giáo viên có chuẩn bị chu đáo như thế nào, truyền đạt có hay bao nhiêu nhưng học sinh không hợp tác để tìm hiểu bài như chuẩn bị vật liệu để quan sát, mô tả hay thực hmanhf làm thí nghiệm hoặc không chia sẻ với các bạn, thầy cô thì không kết luận được kiến thức

V Các bước của phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Các bước của tiến trình dạy học môn khoa học ở trường tiểu học theo phươ,ng pháp “Bàn tạy nặn bột” gồm 5 bước sau :

Sử dụn

g vở

Vai trò của GV

1.Đưa ra

tình

huống

xuất phát

Quan sát, thực hiện thí nghiệm (làm xuất phát tình huống)

Chuẩn bị một tình huống

mở cò liên quan đến vấn

đề khoa học đặt ra

Trang 9

và nêu vấn

đề

2.Làm bộc

lộ biểu

tượng ban

đầu của

HS

Đặt ra các câu hỏi

Kiểm soát lời nói, cấu trúc, câu hỏi, chính xác hóa từ vựng của HS Trình bày ý tưởng của

mình, đối chiếu với các bạn khác

X

Chính xác hóa các ý tưởng của HS, tổ chức đối chiếu các biểu tượng ban đầu của HS

3.Đề xuất

câu hỏi

(dự

đoán/giả

thuyết) và

phương án

tìm tòi

Bắt đầu từ những vấn đề khoa học được xác định, nêu câu hỏi (xây dựng dự đoán/giả thuyết)

X

Giúp HS hình thành các vấn đề khoa học và tiếp theo là đưa ra các dự đoán/giả thuyết khoa học (chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giửa các ý kiến)

Hình dung có thể tìm câu trả lời (kiểm chứng các dự đoán/giả thuyết bằng cách:

Thí nghiệm

X

Tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian đủ để HS có thể suy nghĩ

Khẳng định lại các ý kiến

về phương pháp tìm tòi

mà HS đề xuất

Quan sát Điều tra Nghiên cứu tài liệu

4.Thực

hiện

phương án

tìm tòi

Tìm tòi câu trả lời, kiểm chững các dự đoán/giả thuyết bằng một hoặc một

số phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu)

Tập hợp các điều kiện về thí nghiệm, tài liệu,… nhằm kiểm chứng các ý tưởng được đề xuất

Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày

X Giúp HS phương pháp trình bày kết quả

5.Kết luận

kiến thức

Kiểm tra lại tính hợp lí của các giả thuyết

Nếu giả thuyết sai, quay lại bước 2

Động viên HS và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu

Nếu giả thuyết đúng: kết luận và ghi nhận chúng

Giúp HS hình thành kết luận

Trang 10

VI Tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Bài: Dung dịch Khoa học lớp 5

1 Nội dung bài học áp dụng phương pháp “Bàn tạy nặn bột”

Tìm hiểu thế nào là dung dịch, cách tạo ra một số dung dịch và cách tách các chất trong một dung dịch

2 Mục tiêu hoạt động

Kiến thức: Hiểu được thế nào là dung dịch cách tạo ra một số dung dịch

và cách tách các chất trong một dung dịch

- Kĩ năng: Nêu được cách tạo ra dung dịch, cách tách các chnaats trong một dung dịch

3 Phương án tìm tòi

Phương pháp thí nghiệm

4 Đồ dùng dạy học

Mỗi nhóm: đường hoặc muối ăn, cố, chén, thìa, nước ngội, nước nóng, thìa nhựa

5 Tiến trình dạy học đề xuất

a Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề

- GV nêu tình huống: Mỗi khi bị trầy xước ở tay, chân, ngoài việc dùng oxi già để rửa vết thương, ta có thể rửa vết thương bằng cách nào ? (HS: Dùng

xà phòng, nước muối,…)

- GV: Dùng nước muối rửa vết thương cũng là một cách làm tốt nước muối đó còn được gọi là dung dịch Vậy, em biết gì về dung dịch?

b Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của HS

- HS làm việc cá nhân: ghi lại những hiểu biết ban đầu của mình vào vở, sau đó thảo luận nhóm để ghi lại vào phiếu nhóm

Ví dụ về biểu tượng ban đầu của HS về dung dịch như:

+ Dung dịch là một chất ở thể rắn trộn với một chất ở thể lỏng

+ Dung dịch là chất lỏng, có màu, mùi, vị

+ Dung dịch không phải là hỗn hợp

+ trong dung dịch có nhiều chất

- GV đính bảng nhóm lên để các lớp quan sát các biểu tượng ban đầu của các nhóm

c Đề xuất câu hỏi (dự đoán/giả thuyết) và phương án tìm tòi

- Yêu cầu HS tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau trong hiểu biết

về dung dịch của các nhóm

Ngày đăng: 14/06/2020, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w