làm quen với mathematica 9.0 pdf
Trang 1MỤC LỤC
Làm quen với Mathematica 3
Làm việc với ma trận 4
Làm việc với List 4
Hàm số 6
Vẽ đồ thị và điểm 7
Vẽ đồ thị tham số 8
Vẽ đồ thị trong không gian 3 chiều 9
Vẽ đồ thị hàm số dạng f(x,y) = 0 và f(x,y,z) = 0 11
Vẽ miền đúng của bất đẳng thức 13
Các vòng lặp dạng Do, For, While 15
Lệnh IF 16
Những kí hiệu “kì quái” 16
Phương pháp học tốt Mathematica 17
Tích Kronecker với lệnh KroneckerProduct 18
Phân tích số tự nhiên thành thừa số nguyên tố 19
Giải phương trình và hệ phương trình 19
Tích phân, đạo hàm, chuỗi và giới hạn Phương trình vi phân 22
Chuyển từ số thực sang số hữu tỉ và ngược lại Chuyển cơ số 24
Lệnh Roots và lệnh Solve 24
Lệnh khử biến và một số cách thế giá trị vào biểu thức 25
Lệnh Chop 25
Thread, Inner, Outer, Transpose, và Distribute 26
Lệnh Root và lệnh FindRoot 31
Các lệnh liên quan đến thông báo khi tính toán: Quiet, Off, On, Check 31
Giải phương trình vi phân thường - Lệnh NDSolve 34
Vài câu lệnh làm việc với String 34
Ghi chú trên đồ thị 35
Vẽ đồ thị động với lệnh Manipulate 36
Các đơn vị đo lường trong thống kê mô tả 37
Trang 2Tìm hiểu sự sai khác khi tính toán với số phức 38
Phép đổi biến trong tích phân 39
Thử lại tính đúng đắn nghiệm của phương trình 41
Ghi chú khi vẽ đồ thị điểm 41
Tam giác Pascal 42
Vẽ đồng hồ treo tường 45
Thao tác các biểu thức đại số 46
Mọi thứ là một biểu thức 48
Một phương trình với nghiệm chính xác không được tìm thấy 52
Nguyên tắc xuất ảnh động có đuôi gif 52
Ý nghĩa hình học của khai triển Taylor 55
Numerical method 57
Trang 3Làm quen với Mathematica
Để làm quen với Mathematica thì đầu tiên bạn phải có phần mềm này và cài đặt
nó, hiện tại tôi vẫn đang dùng phiên bản thứ 6 dù phiên bản 7 đã ra đời Tôi không muốn nói nhiều về hình thức của chương trình, cách cài đặt hay giao diện ban đầu như thế nào (bạn đọc tự biết nhé), tôi chỉ muốn chốt lại một số điểm cần chú ý trong Mathematica theo sự hiểu biết cá nhân:
1 Mathematica phân biệt chữ hoa chữ thường, các hàm của nó đều bắt đầu bằng chữ hoa
2 Các biến đi theo hàm đều được đặt trong ngoặc vuông, cú pháp hình thức như
sau: Hàm[expr] Có thể lấy ví dụ như Cos[x], Sin[x]
3 Để thực hiện một câu lệnh, ta dùng tổ hợp phím "Shift + Enter"
4 Để kết thúc một câu lệnh ta đặt dấu chấm phẩy (;), nếu không có dấu (;)
thì kết quả sẽ được hiển thị bên dưới
5 Cần phân biệt các dấu [], [[]], {}, ()
6 Lện N[expr] dùng để hiện thị kết quả thành số thập phân Ví dụ: nếu bạn
gõ Cos[1] thì kết quả hiển thị chỉ là Cos[1], nếu bạn gõ N[Cos[1],6] thì kết quả sẽ là 0.540302
7 Không được chạy nhiều chương trình cùng một lúc vì các biến vẫn còn lưu giá trị của nó, khi đó kết quả của bạn sẽ bị sai, để khắc phục, bạn chỉnh lại
như sau Evaluation/Quit Kernel/Local
8 Cách đặt biến bình thường như a, b, c, x, y, z, , không được đặtXY_a,
XY-a, không được dùng các chữ cái sau để đặt tên biến I, E, C
9 Tổ hợp Ctrl + K để tìm các hàm có tên giống nhau ở phần đầu
Trang 410 Lệnh ?Int* để tìm tất cả các hàm bắt đầu bằng "Int", tương tự với ?*Qhay ?*Int*
11 Cần phân biệt List và Matrix trong Mathematica Nếu viết {1,2,3,4} thì đây là một List gồm 4 phần tử, còn nếu viết {{1},{2},{3},{4}} thì đây là một
matrix 4 dòng 1 cột, đối với 1 List thì không thể dùng hàm chuyển
vịTranspose được, tuy nhiên bạn có thể sử dụng các phép toán ma trận giữa
Matrix và List, kết quả vẫn đúng như khi tính toán giữa các ma trận
Transpose[A]: ma trận chuyển vị của ma trận A
Inverse[A]: ma trận nghịch đảo của ma trận A
Eigenvalues[A]: giá trị riêng của ma trận A
Eigenvectors[A]: vec tơ riêng của ma trận A
MatrixPower[A,n]: lũy thừa n của ma trận A
MatrixExp[A]: ma trận mủ của ma trận A
Drop[A,{i},{}]: xóa dòng thứ i từ ma trận A
Drop[A,{},{j}]: xóa cột thứ j từ ma trận A
Union[A,B]: hợp 2 ma trận A và B
4 Tạo một ma trận với tính chất cho trước:
Tạo ma trận đơn vị cấp n: IdentityMatrix[n]
Tạo ma trận đường chéo: DiagonalMatrix[v], v là vec tơ đường chéo có dạng v =
Trang 5{a,1,b,2,c,3} đặt blist gồm 6 phần tử
Cách 2: Table[expr,{i,n}] cho 1 list các giá trị của expr từ 1 đến n
Cách 3: Array[f,n] cho 1 list có n phần tử lần lượt là f[1], f[2], , f[n] Cách 4: Range[n] cho 1 list {1, 2, , n}
Cách 5: NestList[f,x,n] cho 1 list n+1 phần tử có dạng {x, f[x], f[f[x]],
}
2 Cách gọi phần tử của list
First[list]: gọi phần tử đầu tiên cùa list
Last[list]: gọi phần tử cuối cùng của list
t[[i]] hoặc Part[t,i]: lấy phần tử thứ i của list t
t[[i;;j]] hoặc Part[t,i;;j]: lấy các phần tử của list t từ vị trí i đến vị
Take[list,-n]: lấy ra n phần tử cuối cùng của list
Take[list,{m,n}]: lấy ra các phần từ của list từ vị trí m đến vị trí n
Min[list]: lấy ra phần tử bé nhất của list
Max[list]: lấy ra phần tử lớn nhất của list
3 Các hàm xử lí đối với list
Kết quả nhận được sau khi sử dụng các hàm này đa phần là List
Table[expr,{i,list}]: cho các giá trị của expr với i lấy giá trị từ list Map[f,list]: thực hiện hàm f với từng giá trị của list
Select[list,text]: chọn ra các giá trị từ list với điều kiện text[elem] đúng TakeWhile[list,text]: giống với hàm Select[]
Length[list]: đếm số phần tử của list
Column[list]: in giá trị của list theo dạng cột
Position[list,form]: tìm vị trí các phần tử của list có cùng form
Count[list,form]: đếm số phần tử của list có cùng form
MemberQ[list,form]: kiểm tra xem form có trong list hay không (cho giá trị
logic)
Prepend[list,elem]: thêm elem vào vị trí đầu tiên của list
PrependTo[list,elem]: giống với Prepend[]
Append[list,elem]: thêm elem vào vị trí cuối cùng của list
AppendTo[list,elem]: giống với Append[]
Insert[list,elem,i]: thêm elem vào vị trí thứ i của list
Insert[list,elem,-i]: thêm elem vào vị trí thứ i (tính từ cuối đến đầu list)
Most[list]: trả lại giá trị cho list sau khi xóa phần tử cuối cùng
Drop[list,n]: trả lại giá trị cho list sau khi xóa n phần tử đầu tiên
Drop[list,-n]: trả lại giá trị cho list sau khi xóa n phần tử cuối cùng
Drop[list,{m,n}]: trả lại giá trị cho list sau khi xóa các phần tử từ vị trí
m đến n
4 Sắp xếp thứ tự một list
Sort[list]: sắp xếp list theo trật tự chuẩn
Union[list]: sắp xếp list và xóa các phần tử trùng nhau
Trang 6Ordering[list]: cho biết vị trí ban đầu của các phần tử list sau khi đã được
ta viết g[x_,y_] = x^2+y^2
Tương tự đối với hàm nhiều biến
Cách 2:
Function[x,body]: khai báo hàm một biến
Function[{x1,x2,…},body]: khai báo hàm nhiều biến
Lấy ví dụ ở trên, ta có thể khai báo như sau:
Trang 7Gamma, Beta, Zeta, BesselJ, BesselY
Ngoài ra còn vô số các hàm đặc biệt khác, vì trong chuyên ngành của tôi tạm
thời chưa cần đến nên tôi chưa tìm hiểu, bạn đọc có thể tìm qua thẻHelp với
từ khóa tutorial/SpecialFunctions (phiên bản 6)
Vẽ đồ thị và điểm
1 Lệnh Plot
Lệnh vẽ đồ thị của một hàm số là Plot[]
Cú pháp hình thức có thể viết như sau:
Plot[f, {x, xmin, xmax}]: vẽ đồ thị hàm f trên đoạn [xmin,xmax]
Plot[{f1, f2, }, {x, xmin, xmax}]: vẽ trên cùng một hệ trục tọa độ các hàm
f1, f2, … trên đoạn [xmin,xmax]
Ví dụ 1:
Plot[Sin[x]/x,{x,0,20}]
Để biết được danh sách các tham số được dùng kèm với hàm Plot, ta gõ câu
lệnh Options[Plot] Các tham số này được khai báo ở dạng: name→value
Các giá trị hay dùng nhất của tham số là:
- Automatic: sự chọn lựa sẽ được tự động
- None: tham số không được sử dụng
- All: được sử dụng trong trường hợp bất kì
- True: được sử dụng
- False: không được sử dụng
Trang 8Axes->None: không hiển thị hệ trục tọa độ
AxesLabel: ghi chú tên cùa trục tọa độ
PlotStyle: chỉnh các thông số về màu sắc, cách hiển thị đậm nhạt
2 Lệnh ListPlot
Cú pháp hình thức:
ListPlot[{yl, у2, }] – hiển thị các giá trị y1, y2, … lên hệ trục tọa độ,
giá trị của x tương ứng là 1, 2, …
ListPlot[{{x1, y1},{х2, у2 }, }] – hiển thị các điểm có tọa độ {xi,yi} lên
hệ trục tọa độ
Chú ý:
- Đối với lệnh ListPlot cũng có các tham số như lệnh Plot
- Nếu các điểm không được hiển thị đầy đủ, bạn bổ sung thêm tham
ParametricPlot[{fx,fy},{t,tmin,tmax}] – xây dựng đồ thị tham số với các tọa
độ {fx,fy} nhận được như một hàm theo t
ParametricPlot[{{fx,fy},{gx,gy},…},{t,tmin,tmax}] – xây dựng một vài đường
tham số trên cùng một hệ trục tọa độ
ParametricPlot[{Cos[5*t],Sin[3*t]},{t,0,20},AspectRatio->Automatic]
Trang 11Vẽ đồ thị hàm số dạng f(x,y) = 0 và f(x,y,z) = 0
1 Mục đích
Như chúng ta đã biết, để vẽ đồ thị của một hàm số trong hệ trục tọa Decac
vuông góc ta thường dùng lệnh Plot[], tuy nhiên đối với trường hợp này hàm số
phải có dạng chuẩn là y = f(x) Trong nhiều trường hợp khác, chúng ta lại cần
vẽ đồ thị của hàm số có dạng f(x,y) = 0, ví dụ như vẽ hình elip chẳng hạn,
giải pháp tối ưu nhất là dùng lệnh ContourPlot[]
Tương tự đối với hàm số dạng f(x,y,z) = 0 ta dùng lệnh ContourPlot3D[]
ContourPlot[f == 0,{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax}] – xây dựng đồ thị hàm
sốf(x,y) = 0 trong miền [xmin, xmax]×[ymin,ymax]
ContourPlot[{f == 0,g == 0,…},{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax}] – xây dựng nhiều
đồ thị trên cùng một hệ trục tọa độ
ContourPlot3D[f == 0,{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax},{z,zmin,zmax}] ContourPlot3D[{f == 0,g == 0,…},{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax},{z,zmin,zmax}]
Trang 13- Cú pháp dạng ContourPlot[f == g,{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax}] hoặcContourPlot[f == g,{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax},{z,zmin,zmax}] vẫn được thực hiện
- Nếu không thêm các tham số thì Mathematica sẽ mặc định đồ thị nằm trong khung tỉ lệ, nếu muốn hệ trục tọa độ hiện thị thì ta thêm các tham số như trong ví dụ trên Axes->True, Frame->False
- Cú pháp dạng ContourPlot[f ,{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax}] – vẽ đồ thị miền
là các giá trị của f tường ứng với x và y trong miền [xmin,
xmax]×[ymin,ymax] Tương tự đối với hàm ContourPlot3D (xem ví dụ 5 và 6)
Trang 14Trong nhiều trường hợp chúng ta cần phải xác định miền nào là miền thỏa mãn của bất đẳng thức cho trước, tức là bất đẳng thức đúng Một trong số các giải
pháp là dùng lệnh RegionPlot[], tương tự, trong không gian 3 chiều ta cũng có lệnh RegionPlot3D[]
2 Cú pháp hình thức
RegionPlot[pred,{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax}] – xây dựng miền đồ thị sao cho
pred nhận giá trị True
RegionPlot3D[pred,{x,xmin,xmax},{у,ymin,ymax},{z,zmin,zmax}] – đối với trường
Trang 15Do [expr, {imax}] – thực hiện expr imax lần
Do [expr, {i, imax}] – tính expr với biến i nhận giá trị lần lượt từ 1
đếnimax (bước nhảy bằng 1)
Do [expr, {i, imin, imax}] – tính expr với biến i nhận giá trị lần lượt
từimin đến imax (bước nhảy bằng 1)
Do [expr, {i, imin, imax, di}] – tính expr với biến i nhận giá trị lần lượt
từ imin đến imax (bước nhảy bằng di)
Do [expr, {i, imin, imax}, {j, jmin, j max}, ] – tính expr với các vòng lặp
lồng nhau theo các biến j, i, …
2 Vòng lặp dạng For
Trang 16For[start, test, incr, body] – bắt đầu với giá trị start, sau đó thực hiện
lần lượt incr và body cho đến khi test nhận giá trị logic False
If [condition, t, f] — t sẽ được thực hiện nếu condition có giá trị True,
ngược lại, f sẽ đc thực hiện
If [condition, t, f, u ] — tương tự như trên, nhưng nếu giá trị
củacondition không đúng không sai thì u sẽ được thực hiện
Ví dụ 1: Định nghĩa hàm giá trị tuyệt đối
ngôn ngữ Mathematica cũng vậy, cũng có những kí hiệu thật “kì quái” [đây chỉ
là cách gọi vui], tuy nhiên Mathematica không phải là một ngôn ngữ lập trình chính thống, nghĩa là nó chỉ được ứng dụng chủ yếu trong các ngành kĩ thuật, cho nên có rất ít các tài liệu viết về điều này cũng như đối với người mới
“nhập môn” thì cũng khó lòng tìm được trong thẻHelp [lí do đơn giản: chưa gặp nên chưa biết, còn nếu đã từng thấy rồi thì chắc chắn rằng bạn đã nhấn F1,
Trang 17:)]
Không có gì bất ngờ rằng các phép tính toán học +,-,*,/ được giữ nguyên không
có gì thay đổi Bạn hãy chú ý rằng phép nhân 2 ma trận với nhau đc kí hiệu
dấu chấm A.B (điều này khá quan trọng vì nếu bạn nhầm sang dấu * thì bạn sẽ
mất nhiều thời gian để gãi đầu gãi tai :)) Các kí hiệu logic cũng cần chú ý
đến, nó rất có ích cho chúng ta khi dùng vòng lặp While hayIf: And – &&, Or –
Câu lệnh “Nếu A bằng B thì …” được viết trong Mathematica như sau:If[A==B,…]
Ở đây bạn chú ý kí hiệu 2 dấu bằng “==”, nếu chỉ viết 1 dấu bằng thì câu lệnh
sẽ bị sai Câu lệnh “Nếu A khác B thì …” được viết trong Mathematica như sau: If[A!=B,…]
Một kí hiệu rất “tếu” trong Mathematica là “===” – 3 dấu bằng – tương ứng với
lệnh SameQ[] Nó được dùng để so sánh sự giống nhau của 2 đối tượng, ngược
lại với nó sẽ có lệnh UnsameQ[], kí hiệu tắt là “=!=” Một trong những kí hiệu mà tôi cho là hay dùng khi viết một chương trình đó
là @ Kí hiệu này sẽ giúp cho chương trình của bạn bớt rườm rà hơn, ví dụ:
Để kết thúc bài viết này, tôi xin đưa ra thêm một kí hiệu “ngộ nghĩnh” nữa,
hy vọng là các bạn mới học ngôn ngữ này sẽ cảm thấy thích thú vì đã khám phá được những điều mới [mặc dù là người ta đã khám phá hết trơn rồi :)], đó là
kí hiệu 2 con @@ Kí hiệu này tương ứng với lệnh Apply[] Ví dụ sau đây sẽ
giúp bạn hiểu tác dụng của nó dễ dàng:
FactorInteger[20!]
{{2,18},{3,8},{5,4},{7,2},{11,1},{13,1},{17,1},{19,1}}
CenterDot@@(Superscript@@@%)
21^8•3^8•5^4•7^2•11^1•13^1•17^1•19^1
Các câu lệnh ở trên nhằm mục đích phân tích số 20! thành tích các thừa số
nguyên tố Có thể giải thích quá trình tính toán như sau: đầu tiên
lệnhFactorInteger[] liệt kê một list các cặp số dạng {thừa số nguyên tố, số
mũ tương ứng}, sau đó lệnh Superscript@@@% được áp dụng thực để hiện phép lũy
thừa cho từng phần tử [cặp số] của list, kí hiệu % tương ứng với kết quả
trước đó, kí hiệu @@@ tương đương với Apply ở mức độ 1 [level 1] [sẽ hiểu sâu
hơn ở bài viết dành riêng cho lệnh Apply] Cuối cùng lệnh CenterDot[]thực
hiện phép nhân các phần tử của list kết quả
Đọc đến đoạn này, suy nghĩ một tí, bạn sẽ thấy kí hiệu @ và @@ đôi lúc có
Trang 18quán để tìm sách tham khảo Lẽ dĩ nhiên, đọc nhiều sách thì sẽ có lợi, thu lượm được nhiều điều hay, nhưng có một mặt ngược lại [hay còn gọi là nhược điểm] đó là tính rập khuôn Cái đó chính là rào cản của sự “mày mò”, sáng tạo
Đối với ngôn ngữ lập trình nói chung, và Mathematica nói riêng, thẻ Helpđược
xem như là một từ điển động và là cuốn “sách giáo khoa” hữu ích nhất dành cho
người sử dụng Các ví dụ tuy đơn giản, ngắn gọn nhưng lại mang phong cách viết chuyên nghiệp, dễ hiểu Đối với mỗi lệnh đều có kèm theo
các Option thường dùng tương ứng, gọi là “thường dùng” vì có những Optioncó
thể áp dụng cho lệnh này nhưng lại không được liệt kê, thay vào đó nó lại được nhắc đến ở một lệnh khác, chính điều đó đã gây khó khăn cho người mới
“nhập môn” Có thể lấy một ví dụ đơn giản đối với Option ImageSize, chúng ta thấy tính chất này trong lệnh Graphics[] và một số nơi khác, nhưng lại không được tìm thấy trong lệnh Plot[], Show[] Và một câu hỏi đặt ra rằng, muốn cố
định kích cỡ hình ảnh của đồ thị trong lệnh Plot thì làm thế nào? Lúc này
đây, các “phép thử” của bạn là những bài học quí báu giúp cho chính bạn hiểu
sâu được vấn đề, và mọi việc thật đơn giản:
Plot[Sin[x],{x,0,Pi},ImageSize->{300,200}]
Show[Plot[Sin[x],{x,0,Pi}], ImageSize->{300,200}]
Nhân tiện nói đến các “phép thử”, tôi có một ý kiến thế này và muốn chia sẽ với mọi người, học các lệnh trong Mathematica đôi khi thấy rời rạc nhàm chán,
và chỉ những lúc cần làm Lab thì chúng ta mới đem nó ra rồi tìm trong
thẻ Help các lệnh cần cho công việc của mình, cách học như thế sẽ không giúp
cho bạn tiến bộ, sự hiểu biết của bạn đối với ngôn ngữ này chỉ “giậm chân tại chỗ”, theo ý kiến của mình, tôi nghĩ rằng chúng ta cần có những bài toán riêng cho bản thân [các bài toán này có thể phát sinh từ những ví dụ trong Help], và áp dụng những lệnh đã biết để giải quyết nó, nếu làm được như thế thì có nghĩa là bạn đã làm được từ “lí thuyết” sang “thực hành” Một ví dụ dễ
hiểu như sau, sau khi đã biết các lệnh cơ bảnFor[], While[] … thì bạn có thể
viết ngay một chương trình nhỏ để sắp xếp các phần tử trong một mảng, các bạn cần phải thử và đừng nghĩ rằng việc sắp xếp ấy trong Mathematica đã có sẵn
lệnh Sort[] Hoặc sau khi biết lệnhModule[], bạn có thể thử vận dụng để viết
một chương trình con đối với phương pháp giải hệ tuyến tính Gauss chẳng hạn,… những cái tôi đưa ra ở đây chỉ mang tính minh họa cho những điều tôi muốn truyền đạt đến bạn đọc, không nhất thiết phải giống “y chang” như thế! :) Cuối cùng, một kinh nghiệm học của tôi khi học Mathematica, đó chính là sự
“ghi chép” ngay lập tức những câu lệnh mình chưa biết Chắc hẳn bạn đôi lúc
cũng “tham quan” trong thẻ Help, và đi đến nhiều “ngõ ngách” của những câu
lệnh lạ, lúc đó bạn đọc nó chỉ vì sự tò mò, hay đơn giản là vì không hiểu lệnh đó làm công việc gì, và bạn thấy nó không cần thiết, không ghi chép lại,
đó là sai lầm! Đến lúc làm việc, bạn cần một câu lệnh tương tự, cứ nhớ một cách không rõ ràng trong đầu đã đọc ở đâu đó, rồi vùi đầu tìm trong thẻ Help khó như tìm “kim trong bể nước” Bài viết tuy dài dòng nhưng cũng mong giúp được “chút ít” nào đó đối với người mới làm quen Mathematica, còn đối với những người quá rành với ngôn ngữ này thì chắc là không còn cần thiết nữa :P
Tích Kronecker với lệnh KroneckerProduct
Trang 19Phân tích số tự nhiên thành thừa số nguyên tố
Các số tự nhiên có thể được phân tích ra các thừa số nguyên tố một cách nhanh chóng nếu chúng không quá dài (không quá dài có nghĩa là không quá 30 kí tự)
FactorInteger[2434500]
{{2,2},{3,2},{5,3},{541,1}}
Lệnh FactorInteger[] viết các thừa số nguyên tố của một số tự nhiên theo dạng
một list của từng cặp Thành phần đầu tiên của mỗi cặp là thừa số nguyên tố,
và thành phần thứ hai là số lần nó được tìm thấy trong phép nhân tử hóa Chúng ta có thể kiểm tra thừa sô cuối cùng trong dãy phân tích trên có phải
là một số nguyên tố hay không bằng lệnh PrimeQ[]
PrimeQ[541]
True
Giải phương trình và hệ phương trình
Đầu tiên chúng ta làm quen với lệnh Solve: cú pháp và cách lấy giá trị
nghiệm Hãy chú ý đến trường hợp có nghiệm bội như trong ví dụ dưới đây:
Trang 20Theo trên thì ta nhận thấy rằng, cú pháp để giải một phương trình đơn một
Cú pháp tổng quát đối với các đối số của lệnh Solve bao gồm một list các
phương trình phụ thuộc vào một list các biến Có nghĩa là:
Ví dụ sau đây sẽ cho ta thấy được điều đó:
Trang 21Chú ý rằng, không phải tất các phương trình đa thức đều có nghiệm chính xác Theo lí thuyết phương trình thì các phương trình bậc 4 trở xuống đều có công thức nghiệm chính xác được xây dựng từ các hệ số Tuy nhiên, theo Galois, đối với các phương trình bậc 5 trở lên, chúng ta lại không có những công thức nghiệm như thế Và Mathematica sẽ không đánh giá các phương trình bậc 5 trở lên (các phương trình không thể phân tích thành nhân tử), tất nhiên có thể
tìm tất cả các nghiệm của một phương trình đa thức bằng phương pháp số thông
qua lệnh N[] Tham khảo ví dụ sau đây:
Trang 22Tích phân, đạo hàm, chuỗi và giới hạn Phương trình vi phân
Bài viết nhằm giới thiệu một số lệnh thông dụng đối với toán cao cấp, không
đi sâu chi tiết của từng lệnh, các Option bạn đọc có thể tham khảo trong thẻ Help
Lệnh tìm tích phân không xác định của hàm f(x) là Integrate[f[x], x] Chú ý
rằng trong kết quả tìm được không có các hằng số đi kèm
Để tìm tích phân xác định của hàm f(x) trên đoạn từ a đến b ta sử dụng cú
pháp Integrate[f[x], {x, a, b}] Tương tự, lệnh NIntegrate tìm giá trị số
tích phân xác định của hàm f(x)
Đạo hàm là phép toán ngược với tích phân Cú pháp D[f[x], x] có nghĩa là tìm
đạo hàm của hàm f(x) theo biến x Tất nhiên có thể tìm đạo hàm bậc ncủa hàm f(x) bằng lệnh D[f[x], {x, n}]
Lệnh Series[f(x), {x, a, n}] sẽ cho ra n thành phần đầu tiên trong khai triển
chuỗi Taylor của hàm f(x) tại điểm a Lệnh Limit[f(x), x -> a] sẽ tìm giới hạn của hàm f(x) khi x tiến tới a
Sau đây là các ví dụ:
Trang 23Tính toán nhiều biến
Với Mathematica, đạo hàm hỗn hợp được tính một cách dễ dàng
D[f[x, y], x, y] – đạo hàm theo cả biến x và y
D[f[x, y], {x, n}, {y, m}] – đạo hàm theo biến x n lần và theo biến y mlần
Đối với tích phân cũng vậy, ta có các cú pháp sau:
Integrate[f[x, y], {x, a, b}, {y, c, d}] – tính tích phân theo cả 2 biến x và
y
DSolve[equation, y, x] – giải phương trình vi phân với biến độc lập x
Trang 24DSolve[equation_list, y_list, x] – giải một list các phương trình vi phân DSolve[equation, y, {x1, x2, …}] – giải phương trình đạo hàm riêng
Chuyển từ số thực sang số hữu tỉ và ngược lại Chuyển
cơ số
Một số lệnh rất đơn giản nhưng sẽ gây khó khăn cho người mới học
Sau đây là một số ví dụ cơ bản:
Lệnh Roots và lệnh Solve
Trang 25Về cơ bản thì 2 lệnh này có chức năng như nhau, đó là giải phương trình Tuy nhiên sự khác nhau của chúng là cách thể hiện kết quả tìm được: đối
với Solve – kết quả được liệt kê theo kiểu list, đối với Roots – kết quả biểu
diễn theo kiểu logic (xem ví dụ)
Tuy nhiên, kết quả của chúng sẽ hiện thị giống nhau nếu ta dùng lệnhToRules
Lệnh khử biến và một số cách thế giá trị vào biểu thức
Eliminate[eqns, vars] – khử các biến vars nằm trong các phương trình cùng một
Trang 26Ví dụ sau sẽ kiểm tra lại nghiệm chính xác hơn:
Thread, Inner, Outer, Transpose, và Distribute
1 Thread
Listable là một thuộc tính có thể ấn định cho một kí hiệu f rằng hàm f sẽ tự
động thực hiện “xuyên qua” các list và xuất hiện với các đối số của nó
• Các hàm listable (được hiểu là hàm có thuộc tính này) sẽ được thực hiện một cách riêng rẽ đối với mỗi phần tử của list, hoặc với các phần tử tương ứng trên mỗi list nếu trong trường hợp có nhiều hơn một list
Trang 27• Hầu hết các hàm được xây dựng trong Mathematica là listable
• Tất các các đối số (các list) trong hàm listable cần phải có cùng chiều dài
• Các đối số mà không phải là list sẽ được copy nhiều lần vào các phần tử của các list khác
Hàm Thread thực hiện các công việc tương tự như trên đối với một dạng tùy ý,
mặc dù nó không phải là một listable Sau đây là một số cú pháp quan trọng:
Thread[f[args]] – “xâu” hàm f qua một vài list xuất hiện trong args
Thread[f[args], h] – xâu f qua một vài đối tượng xuất hiện trong args với
dạng h
Thread[f[args], h, n] – xâu f qua một vài đối tượng với dạng h xuất hiện
trong n args đầu tiên
Trang 28Thread sẽ chuyển phương trình của một list thành list của các phương trình Thread[{a,b,c}=={x,y,z}]
Trang 29vars={x,y};points={1,2};
exp/.Thread[vars->points]
5
2 Inner
Inner[f, list1, list2, g] – là sự tổng quát hóa của Dot, trong đó f đóng vai
trò của phép tính nhân và g đóng vai trò của phép tính cộng
a.b.c hoặc Dot[a, b, c] sẽ cho chúng ta tích của các vecto, matrix hay
Transpose[list] – chuyển vị 2 level đầu tiên của list
Transpose[list, {n1, n2, …}] – chuyển vị list để level thứ k trong list là
level thứ nk trong kết quả