1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU ĐẤT ĐAI ĐẾN HOẠT ĐỘNG SINH KẾ TẠO THU NHẬP NÔNG HỘ TẠI XÃ MỸ TÚ, HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

73 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU ĐẤT ĐAI ĐẾN HOẠT ĐỘNG SINH KẾ TẠO THU NHẬP NÔNG HỘ TẠI XÃ MỸ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU ĐẤT ĐAI ĐẾN HOẠT ĐỘNG

SINH KẾ TẠO THU NHẬP NÔNG HỘ TẠI XÃ MỸ TÚ,

HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

TSV2013 - 22

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh tế -Xã hội

Cần Thơ, Tháng 10 Năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh tế - Xã hội

Sinh viên thực hiện: Hứa Tấn Tài Nam, Nữ: Nam

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

DANH MỤC BẢNG 5

DANH SÁCH HÌNH 6

TÓM TẮT 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 8

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI……… 9

THÔNG TIN SINH VIÊN 11

Chương 1 MỞ ĐẦU 13

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 13

1.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 17

1.3 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 19

1.3.1 Mục tiêu tổng quát 19

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 19

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

1.4.1 Phương pháp luận 19

1.4.1.1 Kinh tế hộ gia đình 19

1.4.1.2 Tài nguyên của nông hộ 19

1.4.1.3 Định nghĩa đất đai 20

1.4.1.4 Thu nhập ròng nông hộ 20

1.4.1.5 Doanh thu 20

1.4.1.6 Lợi nhuận 20

1.4.1.7 Nông hộ 20

1.4.1.8 Nông thôn 21

1.4.1.9 Các nguồn vốn và tài sản sinh kế 21

1.4.2 Phương pháp chọn vùng và chọn mẫu nghiên cứu 22

1.4.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 22

1.4.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 22

1.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 22

1.4.3.1 Số liệu thứ cấp 22

1.4.3.2 Số liệu sơ cấp 23

1.4.4 Phương pháp tích phân tích số liệu 23

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 24

Trang 4

Chương 2

ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU 25

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG 25

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

2.1.2 Kinh tế xã hội 26

2.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIỆN VÀ KINH TẾ XÃ HỘ HUYỆN MỸ TÚ 28

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 28

2.2.2 Kinh tế xã hội 30

2.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI XÃ MỸ TÚ 31

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 31

2.3.2 Kinh tế xã hội 32

Chương 3 HIỆN TRẠNG SỞ HỮU ĐẤT ĐAI NÔNG HỘ 34

3.1 Tổng quan về chủ hộ 34

3.2 Sự thay đổi diện tích đất ở, đất vườn, đất ruộng năm 2000 - 2012 36

3.3 Sự thay đổi diện tích nông hộ trong vòng 20 năm 39

3.4 Qui mô diện tích đất nông hộ 42

Chương 4 SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VÀ SINH KẾ TẠO THU NHẬP NÔNG HỘ 45

4.1 CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ TẠO THU NHẬP 45

4 2 ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU ĐẤT ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ 48

4.2.1 Thu nhập phi nông nghiệp của nông hộ theo qui mô đất đai 48

4.2.2 Thu nhập nông nghiệp của nông hộ theo qui mô đất đai 49

4.2.3 Thu nhập nông hộ theo qui mô đất đai 49

4.2.4 Ảnh hưởng sở hữu đất đến tiền vay của nông hộ 51

4.2.5 Qui mô sở hữu đất đai ảnh hưởng đến tiền để dành của nông hộ 52

4.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng thu nhập của nông hộ 53

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

5.1 KẾT LUẬN 56

5.2 KIẾN NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

3.1 Sự phân bố tuổi chủ hộ của 3 nhóm sở hữu đất khác nhau 34

3.3 Năm định cư của nông hộ tại địa phương 353.4 Sự thay đổi diện tích đất ở, đất vườn, đất ruộng năm 2000 và năm 2012 373.5 Qui mô đất và sự thay đổi diện tích 20 năm (1993 – 2012) 403.6 Nguyên nhân sâu xa làm giảm diện tích đất của nông hộ 41

4.2 Nhân khẩu, lao động , thu nhập bình quân/người 474.3 Thu nhập phi nông nghiệp của nông hộ theo qui mô đất đai 484.4 Thu nhập nông nghiệp của nông hộ theo qui mô đất đai 494.5 Thu nhập của nông hộ theo qui mô đất đai 49

4.9 Tổng chi phí đầu tư cho sản xuất của nông hộ theo qui mô đất đai 534.10 Các yếu tố ảnh hưởng thu nhập của nông hộ 54

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

4.1 Diện tích, thu nhập nông hộ và hoạt động sinh kế 46

Trang 7

TÓM TẮT

Nghiên cứu này nhằm phân tích ảnh hưởng của sở hữu đất đai đến thu nhập của nông

hộ, trường hợp nghiên cứu tại xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Nghiên cứuđược thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng phiếu câu hỏi cấu trúc Sốlượng hộ được phỏng vấn là 90 hộ (30 hộ có sở hữu đất dưới 0,5 ha, 30 hộ sở hữu đất

từ 0,5 đến 1 ha, 30 hộ sở hữu đất trên 1 ha) Kết quả phân tích cho thấy rằng hộ sở hữuđất ít có thu nhập bình quân/lao động thấp hơn nhóm sở hữu đất nhiều Khi đất sảnxuất đáp ứng được nhu cầu sản xuất thì nguồn thu nhập nông nghiệp vẫn là nguồn thunhập ổn định và quan trọng của nông hộ Qui mô sở hữu đất ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động sản xuất tạo thu nhập của nông hộ và khả năng tạo thu nhập của nông hộ.Khi nông hộ sở hữu đất trên 1 ha thì tỷ lệ hộ có thu nhập trên 60 triệu đạt 100%

Từ khóa: sở hữu đất đai, thu nhập nông hộ.

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Trang 9

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Ảnh hưởng của sở hữu đất đai đến hoạt động sinh kế tạo thu nhập nông

hộ tại xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng

- Sinh viên thực hiện: Hứa Tấn Tài

- Lớp: CA1087A1 Viện: Viện Nghiên cứu Phát Triển Đồng bằng sông Cửu Long

Năm thứ: 4 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: Thạc sĩ Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt

2 Mục tiêu đề tài:

Đánh giá hiện trạng sở hữu đất đai của nông hộ và phân tích sự ảnh hưởng của sở hữuđất đai đến hoạt động sinh kế tạo thu nhập nông hộ, đồng thời thấy được khả năng sửdụng đất sản xuất với những mục đích khác trước tác động của cơ chế thị trường

3 Tính mới và sáng tạo:

Đề tài sử dụng công cụ phân tích bảng chéo (cross – tabulation) giữa qui mô sở hữuđất đai và các yếu tố khác như thu nhập nông hộ, chi phí đầu tư sản xuất nông hộ vàlợi nhuận nông hộ đạt được để thấy được sự khác biệt giữa các nhóm sở hữu qui môđất đai khác nhau sẽ có hoạt động sinh kế tạo thu nhập khác nhau

Đề tài sử dụng mô hình sản xuất của nhà kinh tế Cobb – Douglas để thấy mức độ cácnhân tố tác động vào thu nhập của nông hộ

4 Kết quả nghiên cứu:

Hoạt động sản xuất tạo thu nhập của nông hộ phụ thuộc qui mô sở hữu đất Khi qui mô

sở hữu đất của nông hộ đáp ứng được nhu cầu sản xuất thì hoạt động sản xuất nôngnghiệp tại nông thôn vẫn là nguồn thu nhập ổn định và quan trọng nhất đối với nôngdân Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng với qui mô sở hữu đất trung bình 1,8ha thìnông hộ sản xuất thuần nông có nguồn thu nhập cao nhất (46 triệu đồng/lao động/năm)

so với hoạt động sản xuất kết hợp khác

Qui mô sở hữu đất của nông hộ tỷ lệ nghịch nguồn thu nhập phi nông nghiệp và tỷ lệthuận với nguồn thu nhập nông nghiệp

Khi qui mô sở hữu đất càng tăng thì tỷ lệ hộ đạt thu nhập trên 60 triệu đồng/năm càngtăng và tỷ lệ hộ đạt thu nhập thấp (dưới 30 triệu đồng/năm) giảm đáng kể Đặc biệt khinông hộ sở hữu đất trên 1ha không có hộ nào có thu nhập dưới 60 triệu đồng/năm.Thu nhập từ phi nông nghiệp là nguồn thu nhập quan trọng đối với những nông hộ códiện tích đất ít và nhóm nông hộ có diện tích dưới 0,5ha có thu nhập phi nông nghiệptrên 60 triệu đồng chiếm 60% của nhóm diện tích đất dưới 0,5ha

Trang 10

Đất đai là nguồn lực quan trọng tác động ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ.

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các cơ quan như: UBND huyện Mỹ Tú và UBND xã Mỹ Tú trong qui hoạch và hoạch định chích sách trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Ngày tháng năm 2013

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực

hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Tôi đánh giá cao nổ lực của sinh viên Hứa Tấn Tài trong suốt thời gian thực hiện đềtài, đặc biệt trong việc sử dụng xử lý số liệu và phân tích thông kê Sinh viên Hứa TấnTài đã có nhiều cố gắng để hoàn thành tốt bài nghiên cứu khoa học này Kết quảnghiên cứu của sinh viên Hứa Tấn Tài đã cho thấy được tác động của sở hữu đất đaiđến hoạt động sinh kế tạo thu nhập của nông hộ Nghiên cứu đã góp phần khẳng địnhđất đai là một trong những nguồn lực quan trọng của nông hộ, đóng góp vào thu nhập

và ổn định đời sống của người dân nông thôn Bên cạnh đó, kết quả này sẽ trở thànhnguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các sinh viên, nhà nghiên cứu khác khi nghiêncứu các vấn đề có liên quan

Xác nhận của Trường Đại học Cần Thơ

(ký tên và đóng dấu)

Ngày tháng năm

Người hướng dẫn

(ký, họ và tên)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Trang 11

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Hứa Tấn Tài

Sinh ngày: 27 tháng 05 năm 1991

Nơi sinh: Sóc Trăng

Lớp: CA1087A1 Khóa: 2010 - 2014

Khoa: Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long

Địa chỉ liên hệ: 144 ấp Mỹ Lợi B, xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng

Điện thoại: 0939470774 Email: huatantai1991@gmail.com

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi

Sơ lược thành tích: học kỳ I đạt 3,43 xếp loại giỏi, điểm rèn luyện đạt 94, học kỳ IIđạt 3,26 xếp loại giỏi điểm rèn luyện đạt 100 Lớp phó phong trào của lớp Đạt giảinhất đồng đội cuộc thi sinh viên với Biến đổi khí hậu do Đoàn TN trường Đại học CầnThơ tổ chức

Trang 12

Sơ lược thành tích: học kỳ I đạt 2,67 xếp loại khá, đạt điểm rèn luyện 96, học kỳ IIđạt 3,00 xếp loại khá, đạt điểm rèn luyện 100 Thành viên trong ban cán sự của lớp(Lớp phó phong trào) Tham gia đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường.

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên cho mọi quá trình sản xuất Đất đai thamgia hầu hết vào các quá trình sản xuất của xã hội, nhưng tuỳ thuộc vàotừng ngành cụthể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau Nếu trong công nghiệp, thương mại, giaothông đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lướiđường giao thông, thì ngược lại trong nông nghiệp ruộng đất tham gia với tư cách yếu

tố tích cực của sản xuất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được

Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, nó xuất hiện và tồn tại ngoài ýmuốn của con người, vì thế ruộng đất là tài sản của quốc gia Nhưng từ khi con ngườikhai phá ruộng đất, đưa ruộng đất vào sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của con người,trong quá trình lịch sử lâu dài lao động của nhiều thế hệ được kết tinh trong đó, thìngày nay ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động

Trong nông nghiệp, các yếu tố nguồn lực có thể tồn tại dưới hình thái vật chất, baogồm: Đất đai, máy móc, thiết bị, kho tàng, nguyên nhiên vật liệu, giống cây trồng,vậtnuôi, phân bón, thức ăn gia súc, sức lao động với kỹ năng và kinh nghiệm sản xuấtnhất định,… Nguồn lực sản xuất của nông nghiệp cũng có thể tồn tại dưới hình thứcgiá trị Người ta sử dụng đồng tiền để làm thước đo định lượng và quy đổi mọi nguồnlực khác về hình thái vật chất được sử dụng vào nông nghiệp thành một đơn vị tínhtoán thống nhất Điều cần nhấn mạnh là các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp lànhững tài nguyên quý hiếm và có hạn Những đặc điểm của các yếu tố sử dụng vàonguồn lực nông nghiệp gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và biểuhiện trên các mặt sau:

Dưới tác động của các yếu tố đất đai và thời tiết, khí hậu đa dạng phức tạp dẫn đếnviệc sử dụng các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực vàthời vụ rõ rệt Nguồn lực đất đai rất có hạn, trong điều kiện nước ta, mức diện tích tựnhiên theo đầu người thấp hơn thế giới tới 6 lần (0,55ha/3,36ha) xếp vào hàng thứ 135,thuộc nhóm các nước có mức bình quân đất đai thấp nhất thế giới Trong đó, bình quân

Trang 14

đất nông nghiệp nước ta đạt 0,1 ha/người, bằng 1/3 mức bình quân thế giới (LâmQuang Huyên, 2002)

Đối với sản xuất nông nghiệp, ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu laođộng Ruộng đất là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ lao động tácđộng vào đất làm cho đất thay đổi hình dạng, như cày, bừa, đập đất, lên luống,… Quátrình đó làm tăng chất lượng của ruộng đất, tạo điều kiện thuận lợi để tăng năng suấtcây trồng Ruộng đất là tư liệu lao động, khi con người sử dụng công cụ lao động tácđộng lên đất, thông qua các thuộc tính lý học, hoá học, sinh vật học và các thuộc tínhkhác nhau của đất để tác động lên cây trồng Sự kết hợp của đối tượng lao động và tưliệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành tư liệu sản xuất trong nông nghiệp.Không những thế, ruộng đất còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được (NguyễnThế Nhã và Vũ Đình Thắng, 2004)

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên đồng thời là yếu tố cần thiết trong quá trình sản xuất

Sự vận động của đất đai chịu sự tác động của qui luật tự nhiên vừa chịu sự tác độngcủa qui luật kinh tế Theo nhận định của Nguyễn Thế Nhã và Vũ Đình Thắng (2004)các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và đất đai đều trở thành hàng hóa trong điềukiện kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường mọi yếu tố đầu vào và đầu ra củaquá trình sản xuất đều trở thành hàng hóa, trao đổi trên thị trường, trong đó có ruộngđất Việc tập trung ruộng đất có xu hướng tăng lên theo yêu cầu phát triển của sản xuấthàng hóa Đinh Phi Hỗ (2008) cho rằng, ở nông thôn, đất là tư liệu sản xuất chủ yếucủa nông nghiệp, nguồn tạo thu nhập Do đó, không có đất hoặc qui mô ít thường điđôi với nghèo đói Một nghiên cứu phân tích thu nhập của hộ nông dân của Lê Thị Lệ

và ctv (2006) cho thấy thu nhập nông nghiệp nhìn chung vẫn phụ thuộc vào cả 3 yếu tốsản xuất là đất, lao động và vốn Vẫn có thể tiếp tục tăng được thu nhập nông nghiệpcho các hộ nông dân từ việc đầu tư thêm vốn, đất và lao động Những biến động củacác yếu tố lao động, đất và vốn đầu tư sẽ ảnh hưởng mạnh đến thu nhập nông nghiệp.Tuy nhiên, thu nhập nông nghiệp của hộ nông dân phụ thuộc nhiều vào 2 yếu tố chính

đó là vốn đầu tư và đất đai canh tác, trong đó yếu tố đất vẫn ảnh hưởng nhiều nhất (R

= 0,584)

Trong nghiên cứu của Đỗ Hữu Hòa (2009) sử dụng mô hình kinh tế lượng phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của trang trại đã đưa ra nhận định đốivới trang trại kinh doanh tổng hợp thu nhập của trang trại kinh doanh tổng hợp chủ yếu

Trang 15

phụ thuộc vào quy mô đầu tư vốn/lao động, quy mô diện tích/lao động và số lượngnhân khẩu trong gia đình của chủ đầu tư, trong đó quan trọng nhất là quy mô vốn đầutư/lao động (Hệ số tương quan chuẩn hoá beta=0,524), tiếp đến là quy mô diện tích/laođộng (beta = 0,353) Theo Sally P.Marsh và ctv (2006) khi ước lượng các yếu tố ảnhhưởng đến nghèo đói đã chỉ ra rằng với ý nghĩa 1% thì tỷ lệ đất nông nghiệp tươngquan thuận với nghèo đói Cũng theo chia sẻ của Sally P.Marsh và ctv (2006) tổng thunhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố trong

đó có bao gồm các biến liên quan đến đất đai của các hộ như là quy mô đất đai, chấtlượng đất và loại đất, tình trạng manh mún của đất

Ở các nước thuộc vùng Châu Á Thái Bình Dương, thường xếp các hộ tiểu nông theoquy mô diện tích canh tác Ấn Độ xếp các hộ có diện tích canh tác dưới 2ha là tiểunông Số này chiếm 74% số hộ nông dân, với 20% diện tích Ở Philippin số hộ dưới3ha được coi là tiểu nông Số này chiếm 61% tổng số hộ và 24% diện tích Ở Thái Lanphân loại tiểu nông theo mức thu nhập của hộ theo các vùng lãnh thổ đặc trưng Theocách này, tiểu nông ở Thái Lan chiếm 80% tổng số hộ và 22% tổng diện tích Tínhchung ở các nước thuộc vùng Châu Á Thái Bình Dương tiểu nông chiếm từ 60-70% số

hộ nông dân, canh tác trên diện tích khoảng 25-30% tổng diện tích và đóng góp 35% tổng sản lượng nông sản (Chu Văn Vũ và Nguyễn Văn Huân,1995)

30-Các nông hộ ở nước ta hiện nay có quy mô canh tác rất nhỏ, biểu hiện rõ nét tính chấttiểu nông Quy mô canh tác đất đai bình quân của một nông hộ ở miền Bắc là 0,487ha,Duyên hải miền Trung 0,4-0,6ha, Đồng bằng sông Cửu Long 0,6 -1ha (1991) Quy môcanh tác của một nông hộ như vậy là tương đối ít, đặc biệt là nếu so sánh với một sốnước trong khu vực, chẳng hạn như Thái Lan (1993) bình quân một nông hộ có từ 1,5-1,8 ha, Băngladet (1985) 1,3-1,5 ha/hộ, Philippin 2,1 ha/hộ

Như vậy đại bộ phận nông hộ tại Việt Nam sở hữu diện tích canh tác ít Điều đó biểuhiện rõ tính chất tiểu nông Cho nên sản phẩm của nền nông nghiệp nước ta được cungcấp chủ yếu dựa vào nền sản xuất tiểu nông với quy mô canh tác nhỏ, sản xuất ở phạm

vi gia đình trong điều kiện sản xuất thủ công Đây là một đặc điểm khá nổi bật Vấn đềđặt ra ở đây là nên giữ tỷ lệ tiểu nông ở một mức độ nào để đảm bảo cho nông hộ cómột tỷ suất hàng hoá cao đồng thời nền nông nghiệp cũng có thể phát triển được Vấn

đề này liên quan trước hết đến chính sách ruộng đất và chính sách công nghiệp hoá(Chu Văn Vũ và Nguyễn Văn Huân, 1995)

Trang 16

Tổng diện tích đất của ĐBSCL năm 2001 là 3970,6 nghìn ha, trong đó: Đất nôngnghiệp chiếm 2977,2 nghìn ha và đất ở 101,1 nghìn ha và đất khác Dân số Đồng bằngsông Cửu Long năm 2001 là 16519,4 nghìn người Bình quân mỗi đầu người dânĐBSCL là 0,24 ha/người (Niên giám thống kê, 2002) Đến năm 2011 tổng diện tíchđất ĐBSCL đã tăng lên là 4054,8 nghìn ha trong đó: Diện tích đất nông nghiệp 2616,5nghìn ha và đất ở 122,2 nghìn ha Tuy nhiên trong khoảng 10 năm qua thì dân số Đồngbằng sông Cửu Long đã tăng lên đến 17330,9 nghìn người Diện tích bình quân trênngười của ĐBSCL năm 2011 là khoảng 0,23 ha/người (Niên giám thống kê, 2011).Như vậy, trong vòng 10 năm diện tích đất ĐBSCL chỉ tăng 84,4 nghìn ha nhưng dân

số tăng 811,5 nghìn người cho nên diện tích trên đầu người ngày càng giảm xuống Đãlàm cho qui mô sở hữu đất của nông hộ càng có ý nghĩa hơn trong sản xuất chủ yếudựa vào thuần nông, đặc biệt là càng quý báu đối với những hộ có sở hữu diện tích đấtđai ít

Hiện trạng sở hữu đất đai của nông hộ tại nông thôn trong thời gian qua theo hướngtích tụ đất đai đang diễn ra mạnh mẽ, nhất là ở vùng thuần nông có tiến trình tích tụ đấtđai diễn ra mạnh mẽ hơn so với sản xuất đa canh Theo Nguyễn Văn Sánh và Lê CảnhDũng (2008) thấy rằng, số hộ không có đất năm 2008 đã có diện tích đất bình quânvào 5 năm trước đây là 0,46 ha Tương tự như thế đối với nhóm hộ có ít đất năm 2008

là 0,68 ha/hộ trong khi 5 năm trước diện tích của nhóm hộ này là 0,91 ha/hộ Mặc dùkhông khác biệt về thống kê về số đất bán đi của 2 nhóm hộ này nhưng rõ ràng nhóm

hộ nghèo và ít đất có nguy cơ dần dần mất đất đai canh tác Trong khi đó nhóm hộ códiện tích trung bình và lớn đã không ngừng tích luỷ đất đai Theo số liệu khảo sát chothấy rằng, diện tích của 2 nhóm hộ này đã gia tăng từ 2,28 ha/hộ đến 2,34 ha/hộ đốivới nhóm hộ trung bình và từ 5,12 ha/hộ đến 5,63 ha/hộ đối với hộ có diện tích đấtlớn

Đầu tư sản xuất và tiến tới tích luỷ tiền từ các hoạt động kinh tế là một mục tiêu quantrọng bậc nhất của nông hộ Câu hỏi đặt ra là trong nông thôn hiện nay với các hoạtđộng kinh tế, sản xuất thuần nông hoặc kết hợp nông nghiệp và một vài công việc phinông nghiệp, thì với qui mô đất đai nào người nông dân có thể có tiền để dành chocuộc sống và tái đầu tư sản xuất? Qua khảo sát chi tiêu cho cuộc sống gia đình cũngbiến động theo nhóm diện tích đất đai sở hữu, diện tích càng lớn thì có xu hướng chitiêu càng nhiều Nhóm ít đất hơn 3ha có chi tiêu bình quân đầu người là 6,04

Trang 17

triệu/người/năm, trong khi đó nhóm nông hộ diện tích từ 3 – 6 ha là 11,43 triệu/người/năm và nhóm nông hộ có diện tích lớn hơn 6 ha (13 hộ) có chi tiêu là 13,34triệu/người/năm Nghiên cứu này đã thực hiện phân tích tiền để dành tiền của cá nhâncác thành viên trong nông hộ đối với 2 nhóm hộ thuần nông và nhóm hộ nông nghiệp

có làm thêm các họạt đông phi nông nghiệp Tiền để dành được xem là số tiền còn lạisau khi lấy thu nhập thu được trừ từ các hoạt động kinh tế trừ đi chi phí sản xuất và chiphí cuộc sống Tiền để dành của cá nhân thành viên nông hộ đã biến động rất lớn theoqui mô đất đai với cả 2 nhóm hộ Đối với nhóm hộ thuần nông, diện tích tối thiểu để

có tiền để dành là 2 ha/hộ Trong khi đối với nhóm hộ nông nghiệp có kết hợp các hoạtđộng phi nông nghiệp thì diện tích tối thiểu để có tiền để dành là khoảng 1,5 ha, ít hơn0,5 ha so với nhóm hộ thuần nông Như vậy, kết hợp các hoạt động phi nông nghiệp đãlàm giảm bớt áp lực chi tiêu cho cuộc sống gia đình và làm giảm áp lực bán đất củacác nông hộ có diện tích nhỏ Tuy nhiên, từ số liệu này cũng nhận thấy rằng với lợinhuận thấp từ sản xuất lúa trong khi chi phí cuộc sống cao trong giai đoạn nền kinh tếlạm phát cao (2007 – 2008) đã làm cho ngưỡng qui mô đất đai có thể tạo ra tiền tíchluỷ trong nông hộ khá cao, 1,5 ha đến 2 ha cho một nông hộ (Nguyễn Văn Sánh và LêCảnh Dũng, 2008)

1.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đối với Việt Nam, đất đai là một trong những nguồn lực đóng vai trò quyết định khảnăng phát triển của nông nghiệp, nông thôn và nâng cao mức sống nông dân Trongquá trình lao động con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiếtphục vụ cho con người, vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa làsản phẩm lao động của con người Nhờ vào sự sáng tạo và lao động cần mẫn nông dân

đã không ngừng tác động lên đất đai để tạo ra sản phẩm phục vụ cuộc sống Chính sựlao động miệt mài sau những năm đổi mới, tình hình nông nghiệp và kinh tế nông thôn

cả nước nói chung và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng đã đạt được nhiềuthành tựu đáng kể, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong

cơ cấu kinh tế của vùng ĐBSCL

ĐBSCL có dân số hơn 18 triệu người, dân số ĐBSCL ngày càng tăng, năm 1999 dân

số là 16.130.675 người đến năm 2010 dân số ĐBSCL là 17.272.200 người (Tổng cụcthống kê, 2011) Như vậy trong vòng hơn 10 năm qua dân số ĐBSCL tăng hơn 1 triệu

Trang 18

người nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp lại bị thu hẹp nên vấn đề sở hữu đấtsản xuất trên đầu người càng giảm đi Có khoảng 80% dân số ở nông thôn làm nôngnghiệp (chủ yếu làm lúa, bên cạnh còn có thủy sản và cây ăn trái), đặc biệt đa số nôngdân trồng lúa vẫn là người nghèo và gặp nhiều khó khăn nhất, khâu tiêu thụ còn nhiềurủi ro, thường xuyên xảy ra trúng mùa mất giá Bên cạnh đó, diện tích đất nông nghiệp(chủ yếu đất lúa) ngày càng giảm đi do nhu cầu công nghiệp hóa, đô thị hóa (HuỳnhHải, 2010).

Huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có diện tích đất nông nghiệp 33.366,95 ha (chiếm90,66% diện tích tự nhiên) Trong đó, diện tích đất trồng lúa lên đến 20.442,99 ha(chiếm 55,54% tổng diện tích đất của huyện) Hiện tại, huyện có đến 61,0% (37.344người) người dân sống chủ yếu bằng nghề nông (Niên giám thông kê tỉnh sóc Trăng,2011) Vì vậy, sinh kế tạo thu nhập nông hộ của huyện phụ thuộc chủ yếu vào hoạtđộng sản xuất nông nghiệp Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp thường diễn ra dướiđiều kiện khí hậu thay đổi, điều này sẽ làm gia tăng rủi ro trong sản xuất Chính nhữngthách thức đó đòi hỏi người nông dân phải sản xuất sao cho hiệu quả trên mảnh đấtđang sở hữu càng trở nên quan trọng hơn vì nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuấtcủa đất đai không ngừng được nâng lên Do đó, khi người nông dân biết sử dụng hợp

lý đất đai sẽ cho phép họ giảm bớt được những rủi ro liên quan đến quá trình sản xuất,tiết kiệm được chi phí, giảm thiểu nguy cơ thua lỗ và tăng thu nhập

Trong cuộc sống ngày nay áp lực của thị trường không chỉ xuất hiện trong lĩnh vựccông nghiệp mà cũng đang diễn ra trong nông nghiệp, điều đó dẫn đến sự thay đổi cấutrúc và sở hữu nguồn lực đất đai của nông hộ trước các cơ hội sinh kế trong và ngoàinông nghiệp Các nông hộ có xu hướng tái phân bố nguồn lực đất đai và sử dụng linhhoạt nguồn lực đất đai để đa dạng hoá sinh kế Sử dụng đất nông nghiệp một cách linhhoạt trong nền kinh tế thị trường là rất quan trọng, cho phép người nông dân phản ứnglại các thông tin thị trường như giá cả của các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra.Trong cơ chế thị trường thì giá cả luôn biến động bất thường nên việc sử dụng đất mộtcách linh hoạt là phản ứng cần thiết để tận dụng ưu thế của thị trường và giảm thiểunhững bất lợi khi giá cả thay đổi Tuy nhiên, sử dụng linh hoạt nguồn lực đất đai phụthuộc rất lớn vào qui mô đất đai mà nông hộ đang sở hữu Chính vì thế, nghiên cứu về

“Ảnh hưởng của sở đất đai đến hoạt động sinh kế tạo thu nhập của nông hộ tại xã

Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng” là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Trang 19

1.3 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

1.3.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiện trạng sở hữu đất đai của nông hộ và phân tích sự ảnh hưởng của sở hữuđất đai đến hoạt động sinh kế tạo thu nhập nông hộ đồng thời thấy được khả năng sửdụng đất sản xuất với những mục đích khác trước tác động của cơ chế thị trường

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

‾ Phân tích hiện trạng sở hữu đất đai nông hộ trong 12 năm qua (2000 – 2012)

‾ Phân tích hiện trạng sinh kế tạo thu nhập của nông hộ

‾ Phân tích tác động của sở hữu đất đai đến hiện trạng sinh kế tạo thu nhập của nông hộ

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.1 Các khái niệm

1.4.1.1 Kinh tế hộ gia đình

Kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam, có vị trí quan trọng đặc biệt trong thành phần kinh tế

hộ, nhưng đây là một loại hình hình sản xuất kinh doanh rất đa dạng ở Việt Nam Cácthành viên của hộ kinh tế gia đình là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống.Người chủ quản lý kinh tế hộ gia đình gọi là chủ hộ Trong khuôn khổ của nền kinh tếgia đình, có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộđiều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về giađình của mình (Học viện chính trị TPHCM, 2005)

1.4.1.2 Tài nguyên của nông hộ

Là những tài sản và nhân lực mà nông hộ có thể sử dụng vào việc sản xuất nôngnghiệp và phi nông nghiệp của mình như: đất đai, lao động, tài chính Các nguồn lựcnày có mối liên hệ với nhau Nông hộ khi sử dụng các nguồn lực này một cách triệt để

sẽ tạo ra một chu kỳ khép kín trong sản xuất và sẽ nâng cao được hiệu quả nguồn lựcbên trong của mình, làm tăng thu nhập (Học viện chính trị TPHCM, 2005)

1.4.1.3 Định nghĩa đất đai

Trang 20

Đất đai là một vùng chuyên biệt trên bề mặt trái đất có những đặc tính mang tính ổnđịnh, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng từtrên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thựcvật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đấtđai ở quá khứ, hiện tại và tương lai (Lê Quang Trí, 2010).

1.4.1.4 Thu nhập ròng nông hộ

Là thu nhập được tính từ thu nhập sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp của nông hộtrừ đi các chi phí đầu vào liên quan đến sản xuất hoặc tiền công, tiền lương (trừ đi chiphí đi lại) Số tiền còn lại của nông hộ chính là thu nhập ròng

Như vậy, đặc trưng bao trùm của nền kinh tế nông hộ là các thành viên trong nông hộlàm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình.Mặt khác, kinh tế nông hộ nhìn chung là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cấp, tự túchoặc có sản xuất hàng hoá với năng suất lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọng

Trang 21

trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và ở nước

ta nói riêng (Lâm Quang Huyên, 2004)

1.4.1.8 Nông thôn

Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, đượcquản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã Chủ yếu sống nghề thuầnnông, sản xuất hàng hoá bấp bênh do tập quán mang tính thời vụ, có ngành nghềtruyền thống, lễ hội, mật độ dân số thấp, nhà ở đa số không kiên cố, phương tiện vuichơi giải trí ít Ngoài ra cũng là nơi đóng vai trò quan trọng cung cấp lương thực, thựcphẩm nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu, cung cấp lao động cho công nghiệp

và thị thành Là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp vàdịch vụ

1.4.1.9 Các nguồn vốn và tài sản sinh kế

Khái niệm: Nguồn vốn và tài sản sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất

mà con người có thể duy trì hay phát triển Nguồn vốn và tài sản sinh kế được chia làm

5 nhóm chính là: vốn nhân lực (hay còn gọi con người), vốn tài chính, vốn vật chất,vốn xã hội, vốn tự nhiên (Nguyễn Thị Lan Hương và ctv, 2007)

Vốn con người: vốn con người được thể hiện qua các kỹ năng, kiến thức, khả

năng lao động và sức khoẻ tốt, giúp con người đeo đuổi các chiến lược sinh kếkhác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế Ở mức độ nông hộ vốn con người làmột nhân tố cả về số lượng và chất lượng mà người lao động sẵn có

Vốn xã hội: khái niệm đề cập đến mạng lưới của xã hội, các tổ chức và các

nhóm chính thức cũng như không chính thức mà con người tham gia để từ đó cóđược những cơ hội và lợi ích

Vốn tự nhiên: bao gồm các yếu tố liên quan (thuộc về) tự nhiên môi trường

như: khí hậu, đia hình, đất đai, sông ngòi, rừng, biển, mùa màng,… mà con người

bị phụ thuộc

Vốn vật lý: vốn vật lý bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hoá cần thiết mà

người sản xuất tạo ra để hỗ trợ cho sinh kế như: phương tiện đi lại, công cụ sảnxuất, nhà ở, hệ thống thuỷ lợi hay giao thông

Vốn tài chính: vốn tài chính bao gồm nguồn tài chính mà con người sử dụng

để đạt được mục tiêu sinh kế của họ như những phương tiện và dịch vụ tài chính

Trang 22

hiện có; phương thức tiết kiệm của người dân và các dạng thu nhập mà gia đình cóđược (Trần Thị Thiên Thư, 2010).

1.4.2 Phương pháp chọn vùng và chọn mẫu nghiên cứu

1.4.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Dựatrên nhóm (30 nông hộ sở hữu đất trên 1 ha, 30 hộ sở hữu đất từ 0,5-1 ha và 30 hộ sởhữu đất dưới 0,5 ha) sở hữu đất đai mà nông hộ đang có Đề tài nghiên cứu được thựchiện 3/8 ấp của xã được chọn làm mẫu đại diện cho tổng thể để nghiên cứu

1.4.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu là các nông hộ đại diện cho 3 nhóm sở hữu đất dưới 0,5ha, từ 0,5 –1ha và trên 1ha làm mẫu đại diện cho địa bàn nghiên cứu tại 03 ấp Mỹ Lợi B, Mỹ lợi

và thông tin thứ cấp đã được phân tích để tìm chiều hướng ảnh hưởng của sở hữu đấtđai đến sinh kế thu nhập nông hộ Số liệu thứ cấp cũng giúp định hướng cho việc thuthập số liệu sơ cấp từ nông hộ ở bước tiếp theo

1.3.3.2 Số liệu sơ cấp

Nghiên cứu được tiến hành theo hình thức phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng phiếu câu

hỏi soạn sẳn Đề tài điều tra 90 quan sát mẫu (30 quan sát mẫu có sở hữu đất đai dưới0,5 ha, 30 quan sát mẫu có sở hữu đất đai từ 0,5 đến 1 ha, 30 quan sát mẫu có sở hữuđất đai trên 1 ha) tại xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng

Trang 23

1.4.4 Phương pháp tích phân tích số liệu

Mục tiêu 1: Đề tài phân tích hiện trạng sở hữu đất đai nông hộ trong khoảng 12 năm

qua (2000 – 2012) sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả như: trung bình, tỷ

lệ, tần suất, phân nhóm,… để mô tả hiện trạng sở hữu đất đai và thu nhập nông hộ tạiđịa bàn nghiên cứu

Mục tiêu 2: Đề tài phân tích hiện trạng sinh kế tạo thu nhập của nông hộ sử dụng

phương pháp Cross Tabulation để thấy được sự khác biệt giữa các nhóm hộ sở hữu đấtkhác nhau sẽ có sinh kế thu nhập khác nhau Cross Tabulation là một kỹ thuật thống kê

mô tả hai hoặc ba biến cùng lúc và bảng kết quả phản ánh sự kết hợp hai hay nhiềubiến số lượng hạn chế trong phân loại hoặc trong giá trị phân biệt Đề tài sử dụngphương pháp phân tích cross tabulation hai biến Thí dụ như phân tích chéo giữa haibiến tuổi chủ hộ và giới hoặc diện tích đất và thu nhập,…

Tiến trình phân tích bảng chéo hai biến

Bảng phân tích bảng chéo hai biến còn được gọi là bảng chéo tiếp liên, mỗi ô trongbảng chứa đựng sự kết hợp phân loại của hai biến

Việc phân tích các biến theo cột hay theo hàng tuỳ thuộc vào biến đó được xem là biếnđộc lập hay biến phụ thuộc Thông thường khi xử lý, biến xếp theo cột là biến độc lậpbiến xếp theo hàng là biến phụ thuộc

Trong phân tích bảng chéo, ta cũng cần quan tâm đến gía trị kiểm định Ở đây phânphối Chi bình phương cho phép ta kiểm định mối liên hệ giữa các biến

Giải thuyết trong kiểm định có nội dung như sau:

H0 không có mối quan hệ giữa các biến (độc lập)

H1 có mối quan hệ giữa các biến (phụ thuộc)

Giá trị kiểm định trong kết quả phân tích sẽ cung cấp mức ý nghĩa của kiểm định Value) Nếu mức ý nghĩa nhỏ hơn hoặc bằng (mức ý nghĩa phân tích ban đầu) thì kiểmđịnh hoàn toàn có ý nghĩa hay nói các khác bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là biến có mốiquan hệ với nhau Ngược lại thì các biến này không có mối liên hệ với nhau

(P-Mục tiêu 3:

Trang 24

Để thấy tác động của sở hữu đất đai đến hiện trạng sinh kế tạo thu nhập của nông hộmức độ tác động của sở hữu đất đai vào thu nhập nông nghiệp của hộ nông dân sửdụng mô hình kinh tế Cobb – Douglas dạng hàm hồi quy tuyến tính dùng để phân tíchmối quan hệ giữa nhiều biến độc lập (biến giải thích hay biến nguyên nhân) ảnh hưởngđến một số biến phụ thuộc (biến được giải thích hay biến kết quả) Mối quan hệ nàyđược thể hiện qua phương trình hồi quy tuyến tính bội như sau:

Y = b0 + b1X1 + b2X2 +… + bkXk

Y: là biến thu nhập từ nông nghiệp hoặc biến thu nhập ròng của nông hộ

Xk: là các biến độc lập, lần lượt là các diện tích đất của nông hộ hoặc các biến ảnhhưởng tới thu nhập NN của nông hộ

Toàn bộ dữ liệu điều tra sẽ được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm Excel và SPSS16.0

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Các nông hộ đại diện cho nhóm sở hữu đất dưới 0,5 ha, nhóm sở hữu đất từ 0,5 – 1 ha

và nhóm nông hộ có diện tích sở hữu đất trên 1 ha tại 03 ấp Mỹ Lợi B, Mỹ Lợi C và

Mỹ An thuộc xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 25

Sóc Trăng là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cuối lưu vựcsông Mêkong với diện tích tự nhiên là 3.311,8 km2 Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậunhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm có mùa khô và mùa mưa rõ rệt, mùa mưa

từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trungbình hàng năm là 26,8oC, ít khi bị bão lũ Lượng mưa trung bình trong năm là 1.864

mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10, độ ẩm trung bình là 83%, thuận lợi cho cây lúa vàcác loại hoa màu phát triển

Sóc Trăng có tổng diện tích đất tự nhiên là 331.176,29 ha Đất đai của Sóc Trăng có

độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắnngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn tráinhư bưởi, xoài, sầu riêng Hiện đất nông nghiệp là 276.677 ha, chiếm 82,89%; trong

đó, đất sản xuất nông nghiệp là 205.748 ha (chiếm 62,13%), đất lâm nghiệp có rừng11.356 ha (chiếm 3,43%), đất nuôi trồng thuỷ sản 54.373 ha (chiếm 16,42%), đất làmmuối và đất nông nghiệp khác chiếm 0,97% Trong tổng số 278.154 ha đất nôngnghiệp có 144.156 ha sử dụng cho canh tác lúa, 21.401 ha cây hàng năm khác và40.191 ha dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái Riêng đất phi nông nghiệp là 53.963

ha và 2.536 ha đất chưa sử dụng (Niên giám thống kê Sóc Trăng, 2010)

Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng Độ cao đất tuyệt đối từ 0,4 - 1,5

m, độ dốc thay đổi khoảng 45 cm/km chiều dài Nhìn chung địa hình tỉnh Sóc Trăng

có dạng lòng chảo, cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấpnhất là phía Tây và Tây Bắc Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ lànhững giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn

Đó là những dấu vết trầm tích của thời kỳ vận động biển tiến và lùi tạo nên các giồngcát và các bưng trũng ở các huyện Mỹ Tú, thị xã Sóc Trăng, Mỹ Xuyên, Long Phú,Vĩnh Châu Vùng đất phèn có địa hình lòng chảo ở phía Tây và ven kinh Cái Côn cócao trình rất thấp, từ 0 - 0,5 m, mùa mưa thường bị ngập úng làm ảnh hưởng tới hoạtđộng sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng Vùng cù lao trên sông Hậu cũng cócao trình thấp, thường bị ngập khi triều cường, vì vậy để đảm bảo sản xuất phải có hệthống đê bao chống lũ

Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diện tích 11.356 ha với các loại câychính: Tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 04 huyện Vĩnh Châu, Long Phú,

Trang 26

Mỹ Tú và Cù Lao Dung Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển vàrừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn.

Sóc Trăng có 72 km bờ biển với 02 cửa sông lớn là sông Hậu (đổ theo 02 con sông lớnTrần Đề, Định An) và sông Mỹ Thanh, có nguồn hải sản đáng kể bao gồm cá đáy, cánổi và tôm Sóc Trăng có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế biển tổng hợp, thuỷhải sản, nông - lâm nghiệp biển, công nghiệp hướng biển, thương cảng, cảng cá, dịch

vụ cảng biển, xuất nhập khẩu, du lịch và vận tải biển (Cổng thông tin điện tử tỉnh SócTrăng, 2012)

2.1.2 Kinh tế xã hội

Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng trong năm 2011 là9,04% (theo Nghị quyết là 12 – 12,5%); trong đó khu vực I giảm 2,5%, khu vực IItăng 10,58% và khu vực III tăng 26,29% GDP bình quân đầu người đạt 2,67 triệuđồng Cơ cấu khu vực I, II, III trong GDP tương ứng là 54,32%, 14,54%, 31,14% (Chỉtiêu Nghị quyết là 46,35%, 20,43%, 33,22%)

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 ước 7.800 tỷ đồng, đạt 97,5% chỉ tiêu, tăng4,34% so với năm 2010 (do sản lượng chế biến tôm đông lạnh giảm 1.000 tấn); giá trịxuất khẩu hàng hóa 460,2 triệu USD, đạt 102,27% Nghị quyết, tăng 6,44% so với năm

2010 (trong đó, xuất khẩu thủy sản 429,2 triệu USD, đạt 107,29% chỉ tiêu Nghị quyết,tăng 9,08% so với năm 2010) Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước thực hiện 25.749 tỷđồng, đạt 111,95% chỉ tiêu Nghị quyết, tăng 18,37% so với năm 2010 Chỉ số giá tiêudùng bình quân 11 tháng tăng 17,68%, do ảnh hưởng của việc điều chỉnh giá xăng dầu,gas, điện và việc tăng giá lương thực, thực phẩm; trong đó, tăng nhiều nhất là nhómhàng điện, nước, vật liệu xây dựng tăng 23,16%; nhóm hàng ăn và dịch vụ tăng20,82%

Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, tỉnh đã điều chuyển vốn 19 dự ánđầu tư với tổng số vốn 67,6 tỷ đồng; trong đó, dừng khởi công mới 08 dự án và cắtgiảm, đình hoãn, giãn tiến độ 11 dự án Tổng số dự án hoàn thành trong năm là 74 dự

án Tính đến ngày 31/10/2011, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã giao thực hiện kếhoạch năm 2011 là 1.245,445 tỷ đồng (chưa bao gồm vốn đầu tư theo Quyết định167/2008/QĐ-TTg, Quyết định 74/2008/QĐ-TTg); gồm nguồn vốn ngân sách 879,813

tỷ đồng, vốn trái phiếu chính phủ 319,460 tỷ đồng, vốn chương trình mục tiêu 46,172

Trang 27

tỷ đồng; đã giải ngân 997,8 tỷ đồng, đạt 80,12% kế hoạch; trong đó, nguồn vốn ngânsách đạt 75,11%, vốn trái phiếu Chính phủ đạt 98,4%, vốn chương trình mục tiêu đạt48,6% Nhìn chung tình hình đầu tư xây dựng cơ bản năm 2011 có chuyển biến tíchcực, tiến độ thi công được đẩy nhanh, giải ngân vốn kịp thời và nhanh hơn so cùng kỳ,đặc biệt là nguồn vốn trái phiếu Chính phủ Tuy nhiên, vẫn còn một số công trình triểnkhai chậm, dẫn đến tỷ lệ giải ngân một số dự án thuộc vốn chương trình mục tiêu chưađạt theo yêu cầu và thấp hơn so với cùng kỳ năm 2010, tập trung ở Chương trình nướcsạch và Chương trình y tế.

Ước tổng thu ngân sách nhà nước 1.323 tỷ đồng, đạt 110,25% dự toán, tăng 36,73% sovới 2010; trong đó, thu trong cân đối 783 tỷ đồng, đạt 115,66% dự toán, tăng 5,8%.Hầu hết các nguồn thu chủ yếu đều đạt và vượt chỉ tiêu Tỉnh đã chỉ đạo ưu tiên vốntín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu,doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời giảm tốc độ và tỷ trọng cho vay vốn tín dụng đốivới khu vực phi sản xuất Tính đến tháng 10/2011, tổng vốn huy động 9.630 tỷ đồng,tăng 20% so năm 2010; tổng dư nợ tín dụng 16.622,4 tỷ đồng, tăng 25,91% so với đầunăm

Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh và cấphuyện đã thành lập hệ thống quản lý và thực hiện Chương trình; tăng cường công tácthông tin, tuyên truyền về Chương trình xây dựng nông thôn mới Tỉnh chọn 22 xãđiểm và 01 huyện (Mỹ Xuyên) để tập trung chỉ đạo Đến nay, toàn tỉnh có 12 xã hoànthành quy hoạch (10 xã điểm); 04 xã đang trình phê duyệt; 14 xã đang thẩm định; 07

xã đã thông qua Ủy ban nhân dân huyện và 13 xã đang tổng hợp hồ sơ; dự kiến đếncuối năm 2011 có 83 xã xây dựng nông thôn mới hoàn thành quy hoạch Tổng vốn đầu

tư xây dựng nông thôn mới năm 2011 là 167,2 tỷ đồng; trong đó, vốn Trung ương 14,3

tỷ đồng, vốn ngân sách tỉnh, huyện và lồng ghép 127,5 tỷ đồng, vốn tín dụng 5,4 tỷđồng, vốn huy động doanh nghiệp 616 triệu đồng, vốn đóng góp của dân 19,3 tỷ đồng(Thế Mỹ, 2011)

2.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIỆN VÀ KINH TẾ XÃ HỘ HUYỆN MỸ TÚ

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 28

Sau Nghị định 02/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ Việt Nam vềviệc thành lập huyện Châu Thành từ một phần huyện Mỹ Tú Huyện Mỹ

Tú là huyện nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phíaTây là huyện Ngã Năm, phía Nam giáp huyện Thạnh Trị, huyện Mỹ Xuyên và thànhphố Sóc Trăng, phía đông giáp huyện Châu Thành Huyện còn lại 36.815,56 ha diệntích tự nhiên và 111.647 nhân khẩu, có 09 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: thịtrấn Huỳnh Hữu Nghĩa và các xã Mỹ Tú, Mỹ Hương, Mỹ Phước, Mỹ Thuận, HưngPhú, Long Hưng, Phú Mỹ, Thuận Hưng Huyện lỵ là thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa nằmcách thành phố Sóc Trăng 20 km về hướng tây Địa hình huyện tương đối bằng phẳng,

độ cao trung bình từ 0,7-2 m Mỹ Tú chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều củabiển Đông (UBND huyện, 2012)

Về tài nguyên đất huyện Mỹ Tú có tổng diện tích tự nhiên là 33.366,95 ha Đến năm

2010 toàn bộ diện tích đất của huyện đã được khai thác sử dụng phù hợp với điều kiện

tự nhiên Phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã được đầu tư thâm canh và chuyển dịch

cơ cấu cây trồng, tăng diện tích và sản lượng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao,phù hợp vói nhu cầu thị trường, hiện trạng sử dụng đất năm 2010 như sau:

Bảng2.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện năm 2012

Tú (ha)

Tỉnh SócTrăng (ha)

Tỉ lệ so vớitỉnh (%)

Trang 29

II chiếm 21,47% (giảm 3,40 %) khu vực III chiếm 28,79% (tăng 0,94%) so năm 2010.Diện tích gieo trồng 3 vụ lúa Thu Đông, Đông Xuân, Hè Thu là 52.489 ha, năng suấtbình quân đạt 60,96 tạ/ha, tổng sản lượng 319.963 tấn, cây màu xuống giống được

Trang 30

3.707 ha; cây mía lưu gốc và trồng mới 3.580 ha, năng suất ước đạt 90-95 tấn/ha, giábán từ 800-1.000 đồng/kg lợi nhuận giảm so với các năm đã qua; Thí điểm vùng cây

ăn trái tập trung với diện tích 170/2.000 ha toàn diện tích vườn cây ăn trái của huyện,qua khảo sát mỗi ha thu nhập từ 150-200 triệu đồng/năm, diện tích tràm hiện có 1.955

ha, trồng mới 1.038.000 cây phân tán; chăn nuôi có đàn trâu 551 con, đàn bò 4.284con, đàn heo 44.031 con, đàn gia cầm có 1,047 triệu con, nuôi thuỷ sản thả nuôi 3.375

ha, trong đó diện tích nuôi tôm càng 198ha, tôm sú 344ha, cá các loại là 2.833ha.Toàn huyện hiện có 2 câu lạc bộ, 25 tổ hợp tác, 6 hợp tác xã, 8 mô hình kinh tế trangtrại và 110 mô hình hoạt động theo hình thức trang trại, nhìn chung các loại hình kinh

tế hợp tác từng bước đi vào hoạt động hiệu quả

Thuỷ lợi – giao thông nông thôn thực hiện 157 công trình (gồm 43 công trình thuỷ lợi,

114 công trình giao thông nông thôn), tổng chiều dài 309.976m, khối lượng546.846m3

Vòng quay sử dụng đất trồng lúa đạt 2,6 lần, giá trị thu nhập bình quân 01 ha đất sảnxuất đạt từ 60-70 triệu đồng/năm

Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ước đạt 102 tỷ đồng (tăng 7,6% sovới cùng kỳ), tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt1.730 tỷ đồng, trong đó bán lẻ 1.450 tỷ đồng (UBND huyện Mỹ Tú, 2012)

2.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI XÃ MỸ TÚ

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý, diện tích chung, địa hình, đơn vị hành chính và nhân lực của xã

Xã Mỹ Tú nằm ở phía Tây Nam của huyện Mỹ Tú Diện tích tự nhiên của xã là4212,35 ha, được chia làm 8 ấp: Mỹ Bình, Mỹ Ninh, Mỹ Thạnh, Mỹ An, Mỹ Hoà, MỹHưng, Mỹ Lợi B và Mỹ Lợi C Ranh giới hành chính: phía Đông tiếp giáp với thị trấnHuỳnh Hữu Nghĩa và xã Thuận Hưng; phía Tây giáp với xã Mỹ Thuận; phía Bắc giápvới xã Hưng Phú và thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa

Trang 31

Xã có địa hình tính đặc thù là: nằm trong vùng đồng bằng và vùng trũng, nên địa hìnhchung của xã Mỹ Tú tương đối thấp, chênh lệch cao độ giữa vùng cao nhất và vùngthấp nhất khoảng từ 0,40 m đến 1,2 m Địa hình các vùng cao dọc theo đường tỉnh lộ

939, dọc theo đường giao thông đến trung tâm xã và đường tỉnh lộ 940, còn lại là vùng

có địa hình tương đối thấp, nhất là khu vực Ba Rẹt Điạ hình này phù hợp cho sản xuấtnông nghiệp

Dân số lao động toàn xã hiện có 2.486 hộ với 10.417 nhân khẩu Số lao động trôngtuổi làm việc chiếm 75% (tương đương 7.813 người) tập trung chủ yếu là lực lượnglao động nông nghiệp (UBND xã Mỹ Tú, 2012)

Trang 32

Đất nông nghiệp khác 204,49 4,85

Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã, 2012

2.3.2 Kinh tế xã hội

Sản xuất nông nghiệp

Cây lúa có tổng diện tích gieo trồng 6.340 ha năng suất ước đạt từ 5,3 – 5,8 tấn/ha, vớitổng sản lượng 36.772 tấn; Cây màu, lương thực xuống giống được 261/260 ha, chủyếu là các loại rau cải, các loại củ như: Gừng, các loại khoai, dưa leo, đậu đũa và đậubắp; Cây mía xuống giống được 680/680ha tập trung ở các ấp Mỹ Hoà, Mỹ Bình, MỹNinh, Mỹ Hưng, năng xuất bình quân đạt 96 tấn/ha, giá bán từ 800 – 8500 đồng/kg,với giá bán này trừ chi phí năm nay bà con thu lãi rất thấp; Diện tích cây ăn trái có 251

ha, diện tích cải tạo, nâng chất lượng 27/30 ha chủ yếu là các loại: xoài, bưởi, nhãn,quýt, dừa xiêm; cây phân tán 125.000/120.000; diện tích tràm 39/40 ha; Tổng đàn giasúc, gia cầm là 134.980/134.368 con, trong đó: đàn heo 4.312/4.300 con, đàn trâu36/43 con, đàn bò 15/25 con, đàn gia súc gia cầm so năm 2010 tăng 55.806 con, trênđịa bàn không xảy ra dịch; Nuôi thuỷ sản diện tích thả nuôi là 551/543 ha Trong đó,diện tích thả nuôi cá các loại là 456/443 ha, diện tích nuôi tôm 95/110 ha thuộc các ấp

Mỹ Ninh, Mỹ Bình và Mỹ Hoà

Kinh tế tập thể toán xã đã xây dựng được 03 tốt hợp tác theo Nghị định 151/NĐ-CPcủa Chính phủ gồm: 01 tổ hợp tác cây mía có 27 thành viên, 01 tổ hợp tác nuôi baba

có 11 thành viên, 01 tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp có 29 thành viên

Tiểu thủ công nghiệp trong năm phát triển mới 6/5 cơ sở mới nâng tổng số toán xã có

43 cơ sở tiểu thủ công nghiệp

Giao thông nông thôn thực hiện được 08 công trình với tổng chiều dài 27.430 m vớitổng khối lượng 62.007m3, với 31.004 ngày công

Trang 33

Công tác giải quyết việc làm và dạy nghề trong năm có 198/240 lao động tham gia họcnghề Trong đó: dạy nghề tư nhân là 128 lao động; trong đó phối hợp trung tâm dạynghề huyện mở 02 lớp và kỹ thuật chăn nuôi rắn ri voi và kỹ thuật nhân giống lúa có

70 học viên tham gia

Công tác xoá đối giảm nghèo toàn xã hiện có 612 hộ nghèo bằng 2.378 nhân khẩu,chiếm tỉ lệ 22,59% của dân số xã; hộ cận nghèo 286 hộ, hộ đăng ký thoát nghèo là90/90 hộ Triển khai xây dựng nhà ở 167 khảo sát 2 đợt là 33 căn Đến nay hoàn thành33/33 căn và thanh quyết toán xong Ngoài ra UBMTTQ Việt Nam huyện hỗ trợ 12căn nhà đại đoàn kết (UBND xã Mỹ Tú, 2012)

Chương 3

HIỆN TRẠNG SỞ HỮU ĐẤT ĐAI NÔNG HỘ

Nghiên cứu này thực hiện điều tra 90 hộ, trong đó 30 hộ có sở hữu diện tích đất dưới0,5 ha, 30 hộ sở hữu diện tích đất từ 0,5 ha đến 1 ha và 30 hộ có sở hữu diện tích đấttrên 1 ha Thuộc 3 ấp Mỹ Lợi B, Mỹ Lợi C và Mỹ An thuộc xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú,tỉnh Sóc Trăng

3.1 Tổng quan về chủ hộ

Trang 34

Chủ hộ đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh kế của gia đình nên rất thuậnlợi cho việc phỏng vấn lấy thông tin Chủ hộ là người làm chủ của nông hộ, có quyềnquyết định các hoạt động sản xuất của gia đình và kinh tế hộ.

Tuổi chủ hộ

Kết quả điều tra 90 hộ ở 3 ấp có diện tích sở hữu đất khác nhau cho thấy tuổi chủ hộdao động ở khoảng từ 28 đến 78 tuổi, tuổi trung bình của chủ hộ khoảng 50 tuổi Đa sốchủ hộ là những người ở độ tuổi từ 40 - 60 chiếm 60%, những người trên 60 tuổichiếm 16,7% và những người dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ 23,3% (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Sự phân bố tuổi chủ hộ của 3 nhóm sở hữu đất khác nhau

90

23,360,016,7

28 - 78

Nguồn: Số liệu điều tra 90 hộ xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, 2013

Nhìn chung độ tuổi của chủ hộ trong độ tuổi lao động chiếm trên 80% Do đó ngườichủ hộ có vai trò đóng góp rất lớn trong thu nhập của nông hộ Người chủ hộ ngoàituổi lao động chiếm 16,7% nhưng cũng có vai trò rất lớn trong đóng góp ý kiến vàquyết định sản xuất của mình vào kinh tế hộ

Giới tính chủ hộ

Trong các hoạt động sản xuất của kinh tế nông hộ, lao động chính trong gia đìnhthường là nam giới góp phần lớn trong sản xuất của nông hộ Do đó, nam giới làmchủ hộ chiếm tỷ lệ rất cao 85,6% với 77 hộ, còn nữ làm chủ hộ chỉ có 13 hộ chiếm tỷ

lệ 14,4% (Bảng 3.2)

Bảng 3.2 Giới tính chủ hộ

Trang 35

hộ định cư trên 20 năm chiếm tỷ lệ khá cao 76,6% với 69 hộ (Bảng 3.3)

Bảng 3.3 Năm định cư của nông hộ tại địa phương

Nguồn: Số liệu điều tra 90 hộ xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, 2013

Từ kết quả thống kê của Bảng 1.3 đã phản ánh tập quán sinh sống bao đời của ngườinông dân muốn gắn bó dài lâu với mảnh đất sản xuất nông nghiệp Nếu không cónhững biến cố lớn thì mảnh đất sinh sống, sản xuất là một tài sản vừa thực tế vừathiêng liêng của gia đình Nên người nông dân luôn có quan niệm phải an cư ổn địnhthì mới có thể tăng gia sản xuất và phát triển kinh tế hộ tốt hơn

3.2 Sự thay đổi diện tích đất ở, đất vườn, đất ruộng năm 2000 và năm 2012

Đất đai là tài sản chủ yếu nông hộ cũng như tài sản giá trị nhất của gia đình ở nôngthôn, đất đai còn là cơ sở của nông hộ trong hoạt động kinh tế gia đình Đối với nhiềunước đang phát triển, đất đai là phương tiện quan trọng nhất trong tạo sinh kế của nông

hộ và đồng thời là phương tiện chính cho đầu tư, tích luỹ của cải và chuyển giao ruộngđất từ thế hệ này sang các thế hệ khác Đất đai cũng là tài sản chính của hộ gia đình

Trang 36

Nhìn chung diện tích đất nông hộ trong khoảng 12 năm qua trong vùng nghiên cứu có

sự biến động theo thời gian Diện tích đất thổ cư đã biến động cụ thể như sau: diện tíchđất thổ cư bình quân năm 2000 của nông hộ là 0,11 ha, diện tích đất thổ cư nhỏ nhất là0,01 ha và diện tích đất thổ cư lớn nhất nông hộ là 0,5ha Nhưng đến năm 2012 thìdiện tích đất thổ cư bình quân của nông hộ là 0,1 ha Diện tích đất thổ cư nhỏ nhất của

hộ là 0,01 ha và diện tích thổ cư lớn nhất của hộ là 0,4 ha Từ kết quả điều tra cho thấydiện tích thổ cư của nông hộ năm 2012 có khuynh hướng giảm so với diện tích đất thổ

cư của nông hộ năm 2000 có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1% (Bảng 1.4) Sự thay đổidiện tích đất thổ cư khoảng 12 năm qua là do quy hoạch của nhà nước làm đường giaothông, trao đổi và sang bán của các nông hộ với nhau và phần lớn của sự giảm đi củadiện tích đất thổ cư của nông hộ là chia đất cho con ra riêng

Bảng 3.4 Sự thay đổi diện tích đất ở, đất vườn, đất ruộng năm 2000 và năm 2012

Đất thổ

cư năm 2000

Đất thổ cư năm 2012

Đất vườn năm 2000

Đất vườn năm 2012

Đất ruộng năm 2000

Đất ruộng năm 2012

Ngày đăng: 08/06/2020, 17:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w