1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG

22 424 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Nguồn Vốn Trong Hoạt Động
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế Tài chính Ngân hàng
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 33,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế nhiều năm qua đã chứng tỏ cho thấy rằng : Ngân hàng làmột ngành nghề không thể thiếu được trong nền kinh tế, nó đóng vai trò làm môigiới, làm trung gian cho sự gặp gỡ của cung và

Trang 1

VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

I - KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:

Ngân hàng là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất Trải qua quátrình phát triển của xã hội loài người Ngân hàng và nghề Ngân hàng không ngừngđược hoàn thiện và phát triển Nếu như trong thời kỳ sơ khai hoạt động của Ngânhàng chỉ giới hạn trong việc giữ hộ của cải hoặc thanh toán hộ thì cho đến nay hoạtđộng của Ngân hàng đã được mở ra trên rất nhiều các lĩnh vực với công nghệ ngàycàng hoàn thiện Thực tế nhiều năm qua đã chứng tỏ cho thấy rằng : Ngân hàng làmột ngành nghề không thể thiếu được trong nền kinh tế, nó đóng vai trò làm môigiới, làm trung gian cho sự gặp gỡ của cung và cầu tiền tệ, thông qua việc huyđộng vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức trong xãa hội rồi cho vay lạiđối với cá nhân, các tổ chức đang có nhu cầu về vốn Điều này góp phần đẩy mạnhtốc độ quay vòng của vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, biền tiền nhàn rỗi vàođầu tư sản xuất kinh doanh, tránh lãnh phí của cải vật chất cho xã hội Qua đó đẩymạnh tốc độ phát triển kinh tế mà tình hình hoạt động của Ngân hàng phản ánh rấtchính xác tình hình nền kinh tế, sự vững mạnh, phồn vinh hay yếu kém của nềnkinh tế được phản ánh rất rõ qua hoạt động của Ngân hàng

Ngân hàng thương mại ra đời như một đứa con ưu tú nhất của nền kinh tếhàng hoá và chính Ngân hàng thương mại đến lượt mình đã ghóp phần quan trọngvào sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá

Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lập vào năm 1782 và đã có rấtnhiều Ngân hàng được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt độngchứng rỏ sức sống bền bỉ và sự tồn tại khách quan của các NHTM Trong các địnhchế tài chính thì NHTM là định chế quan trọng nhất vì nó giữ phần lớn của xã hội

Trang 2

Hệ thống NHTM : Bao gồm các NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, Ngânhàng tư nhân với chức năng chính là kinh doanh thông qua hoạt động trung gian tàichính và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng Hệ thống Ngân hàng thương mại hoạtđộng dưới sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước thông qua các quy chế, quy định vềhoạt động và thông qua việc thực hiện các văn bản, chế độ của Ngân hàng Nhànước để thực hiện các định hướng trong chính sách tiền tệ tài chính của Nhà nước.

Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống NHTM có nhữn đòn bẩy tác độngquan trọng đến sản xuất và lưu thông đó là : tiền mặt, tín dụng, lãi suất NHTM

có một loên hệ vừa bao quát, vừa thâm nhập vào từng đơn vị cơ sở của nền kinh tế

NHTM đã có mạng lưới rộng khắp địa bàn sản xuất phân phối lưu thông,tiêu dùng trong cả nước Hơn thế nữa, nó còn có quan hệ rộng rãi và có vai tròquan trọng về tiền tệ, tín dụng, thanh toán giữa nước ta với nước ngoài

Với mô hình tổ chức trên, hoạt động của NHTM bao gồm những nội dungchủ yếu sau :

+ Tạo nguồn vốn thông qua các hoạt động như : huy động vốn nhàn rỗitrong dân cư, trong các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước dưới các hình thức:

- Tiền quỹ tiết kiệm có kỳ hạn

- Tiền quỹ tiết kiệm không kỳ hạn

Trang 3

+ Sử dụng vốn tự có và vốn vay thông qua hoạt động tín dụng thực hiện các

dự án đầu tư dưới hình thức ghóp vốn hay mua trái phiếu kho bạc, tài trợ xuất nhậpkhẩu, đầu tư kinh doanh bất động sản, kinh doanh vàng bạc đá quý

+ Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng : thanh toán hộ, thu hộ, bảo hành thựchiện các dịch vụ tư vấn khách hàng

Ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc tự chủ trong kinh doanh,thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tuân thủ các chế độ, chính sách của Ngân hàngNhà nước và chính phủ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Bộ Tài Chính, bảotoàn vốn và có lãi

Thực tế đã chứng tỏ rằng, với mô hình tổ chức trên, thì đây là mô hình tổchức thích hợp nhất trong nền kinh tế thị trường, vì nó đáp ứng được đầy đủ nhucầu của nền kinh tế, đồng thời phát huy được hết sức mạnh sẵn có trong mỗiNHTM và phát huy được hết vai trò của cả hệ thống NHTM nói riêng và cả hệthống Ngân hàng nói chung

II - VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG NHTM ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:

Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua một thời gian dài trong cơchế tập trung quan liêu bao cấp, nên bước vào cơ chế thị trường gặp rất nhiều khókhăn Vấn đề lo đủ vốn để phát triển kinh tế được đưa lên hàng đầu Đối với mộtnền kinh tế như nước ta thì vốn cần cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là hết sứclớn và không ngừng tăng lên

Công cuộc đổi mới mở ra toàn diện và bắt đầu đi vào chiều sâu, yêu cầu phải

có vốn để tăng tốc đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế thưo chiều hướngcông nghiệp hoá và hiện đại hóa, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và lâubền, tạo sự phát triển kinh tế quan trọng cho các năm tới

Trang 4

Đối với Ngân hàng thương mại, nó thể hiện được sự đáp ứng này đối vớinền kinh tế, thông qua vai trò của mình là :

1) Ngân hàng thương mại là nơi huy động tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho nhu cầu của nền kinh tế :

Như chúng ta đã biết trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn về sự thừa và

sự thiếu vốn một cách tạm thời, tức là có tình trạng một thời kỳ nào đó người thìthừa tiền, trong khi lại có những người cần tiền Đối với những người, những tổchức có tiền tạm thời nhãn rỗi, thì vấn để đối với họ là làm sao bảo quản được sốtiền đó được an toàn và nếu có thể sinh lợi được thì càng tốt Nhưng để thực hiệnđược điều này, nó còn phụ thuộc vào khả năng, vào mối quan hệ của từng người,

và thông thường những người có tiền tạm thời nhàn rỗi luôn tìm cách cho nhữngngười hay những tổ chức đang có nhu cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất địnhchứ không trực tiếp đầu tư vào sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi tiềnmặt Tuy nhiên điều này hầu như rất khó thực hiện được Do vậy, trong xã hội luônluôn tồn tại mâu thuẫn này Xét về mặt kinh tế thì lượng tiền này nếu được tậptrung lại để cho vay với những người đang có nu cầu sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho

cả người có tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn nói riêng và đem lại hiệu quảkinh tế cho cả nền kinh tế nói chung, Ngân hàng thương mại chính là người thựchiện chức năng cầu nối này

2) Ngân hàng thương mại với hoạt động của mình ghóp phần tăng cường hiệu quả hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh

tế nói chung.

Đặc trưng cơ bản của Ngân hàng là cho vay có hoàn trả với một mức lãi suấtnhất định và với một thời hạn nhất định, chính điều này đã bắt buộc mọi cá nhân vàdoanh nghiệp khi vay vốn của Ngân hàng phải cân nhắc và phải sử dụng vốn đómột cách có hiệu quả nhất, để có thể bảo toàn vào sinh lợi được vốn đó, sau đó

Trang 5

phải trả vốn vay và lãi đúng thời hạn Đây chính là động lực thúc đẩy các doanhnghiệp tăng cường công tác hạch toán, giảm chi phí sản xuất nhưng phải tăng chấtlượng sản phẩm và tăng vòng quay của vốn Qua đó, tăng hiệu quả sản xuất kinhdoanh Mặt khác, trước khi quyết định một món vay Ngân hàng thường tiến hànhthẩm định tín dụng, chỉ thực hiện cho vay đối với những cá nhân, doanh nghiệpphải có sự sắp xếp, bố trí tổ chức sản xuất phù hợp, để có cơ hội vay vốn của Ngânhàng, đây chính là động lực, là cơ sở giúp cho việc tăng hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, qua đó tăng hiệu quả nềnkinh tế.

3) Ngân hàng thương mại là tổ chức thực hiện phân bổ vốn giữa các vùng qua

đó tạo điều kiện cho việc phát triển đồng đều giữa các vùng khác nhau trong cùng một quốc gia.

Trong quá trình phát triển kinh tế của một nước và đặc biệt là các nước đangphát triển, thì hiện tượng thừa và thiếu vốn giữa các vùng diễn ra thường xuyên.Cho nên một vấn đề cần giải quyết được đặt ra là làm sao thực hiện được việc tậptrung vốn từ vùng có nhu cầu nhưng không có nguồn vốn sẽ có đủ nguồn vốn đểphát triển kinh tế Chính Ngân hàng thực hiện hoạt động này thông qua hoạt độngđiều chuyển vốn của Ngân hàng thương mại trung ương

4) Ngân hàng thương mại thông qua hoạt động của mình ghóp phần quan trọng vào việc chống lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền, ổn định tình hình kinh tế.

Trong hoạt động của mình, Ngân hàng có thể giảm bớt lượng tiền mặt tronglưu thông bằng cách tăng lãi suất huy động để thu hút tiền mặt vào đồng thời tănglãi suất ở đầu ra để hạn chế lượng tiền mặt ra trong thời kỳ kinh tế có lạm phát cao,hoặc các Ngân hàng có thể hành động ngược lại khi nền kinh tế có hiện tượnggiảm sút Qua việc thay đổi trong chính sách huy động và cho vay như trên, Ngân

Trang 6

hàng góp phần làm ổn định sức mua của đồng tiền, ngăn chặn được sự tăng giá độtngột, kiềm chế làm phát làm ổn định nền kinh tế.

5) Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa kinh tế trong nước và ngoài nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước hòa nhập với nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế trên thế giới.

Một Ngân hàng thương mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi vớirất nhiều tổ chức kinh tế Nó có khả năng huy động được vốn từ các cá nhân, tổchức ngoài nước hay tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó đảm bảo được vốncho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế trong nước có thể

mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách có hiệu quả hơn, thông qua hoạtđộng thanh toán quốc tế, tư vấn tài trợ xuất nhập khẩu Ngân hàng có thể làm đại lýcho các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài qua đó giúp các tổ chức kinh tếtrong nước có thể vau vốn các tổ chức này để nhập công nghệ cao, nang cao chấtlượng sản phẩm đủ sức cạnh trạnh với thị trường quốc tế

Trên đây, là toàn bộ khái quát về vài trò của hệ thống Ngân hàng thương mạihoạt động trong cơ chế thị trường Trên góc độ một sinh viên nghiên cứu về hoạtđộng đầu vào của một ngân hàng, mà chủ yếu là hoạt động huy động vốn ta sẽ xemxét kỹ hơn vấn đền này thông qua việc huy động vốn của một Ngân hàng thươngmại trong nền kinh tế thị trường

III - CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :

Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt độngđược trước hết phải có vốn Nhưng vì mặt hàng kinh doanh của Ngân hàng rất đặcbiệt, vì vị trí và vai trò của nó cho nên nhu cầu về vốn của Ngân hàng thương mại

là rất lớn, do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm :

Trang 7

1) Nguồn vốn tự có :

Nguồn vốn này được hình thành từ hai bộ phần là :

+ Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu của một Ngân hàng thương mại, là

tiêu chuẩn được thành lập và đi vào hoạt động của NHTM Về mặt quy mô thì vốnđiều lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định

Vốn điều lệ có thể do ngân sách Nhà nước cấp (đối với vốn NHTM quốcdoanh), có thể do các thành viên đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu (đối vớiNHTM cổ phần) hoặc vốn điều lệ có thể do cá nhân tự bỏ vốn ra (đối với Ngânhàng tư nhân)

Loại vốn này nói lên quy mô hoạt động và khat năng cạnh tranh ban đầu củaNgân hàng Các Ngân hàng thương mại có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốnnày (đối với NHTM quốc doanh)

+ Vốn tích lũy : Vốn này được hình thành trong quá trình hoạt động của

Ngân hàng thông qua việc trích nộp các quỹ Cứ mỗi Ngân hàng căn cứ vào kếtquả hoạt động của mình mà trích một phần lợi nhuận nhằm bổ xung vào vồn tự cócủa Ngân hàng Tuy nhiên, tỷ lệ này lại tuỳ thuộc vào quy định của từng nước

2) Vốn dự trữ :

Theo quy định chung của các NHTM đều phải mở tài khoản tại các Ngânhàng trung ương và nộp vào đó các khoản dự trữ bao gồm :

- Dự trữ tối thiểu pháp định

- Dự trữ để đảm bảo các hoạt động của Ngân hàng

- Các khoản dự trữ đặc biệt được pháp luật qui định

Trang 8

3) Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống.

Vì các NHTM hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiệntình trạng ở Ngân hàng này có hiện tượng thừa vốn do huy động nhiều nhưngkhông sử dụng hết, trong khi đó Ngân hàng kia lại thiếu vốn Sở dĩ có tình trạngnày là do : Về phía Ngân hàng thừa vốn có thể do sự biến động lớn ở thị trườngđầu ra dẫn đến việc không mở rộng được hoạt động trong khi vẫn phải duy trì việchuy động vốn vì mục đích giữ khách hàng Còn về phía bên Ngân hàng thiếu vốn

do thị trường đầu ra mở rộng trong khi thị trường đầu vào không thể mở rộng đượchơn nữa, dẫn đến tình trạng thiếu vốn Chính lúc này Ngân hàng trung ương hoặccác hội sở chính sẽ thực hiện việc điều phối chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếutrên cơ sở hai bên cùng có lợi

Chính vì thế, đây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp Ngânhàng có thể mở rộng được thị trường đầu ra trong điều kiện thị trường đầu vào vẫncòn bị hạn chế và qua đó làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng

4) Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng :

+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà nước:

NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nước thông qua hìnhthức chiết khấu các giấy tờ có giá Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền mặt củakhách hàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá như : tín phiếu, trái phiếu kho bạcNhà nước, tiền triết khấu Nguồn vốn này hình thành chủ yếu là để đảm bảo kảhnăng thanh toán của Ngân hàng

+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :

Trang 9

Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở nhữn nước đang phát triển,bởi vì ở các nước này Ngân hàng muốn có được vốn ở nguồn này phải được phépcủa Ngân hàng Nhà nước và thường dưới hình thức vay theo hiệp định.

5) Nguồn vốn huy động:

Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất để Ngân hàng có thể hoạtđộng để cho vay Đây là số tiền Ngân hàng nhận được dưới nhiều hình thức khácnhau

- Nhận tiền gửi của khách hàng

- Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng

- Vốn phát hành

Ngân hàng có quyền sử dụng số tiền này để phục vụ cho các mục đích củamình Nếu như trong thời kỳ bao cấp, việc huy động vốn của Ngân hàng theo quychế tập trung toàn ngành và phụ thuộc vào chủ tiêu do trên giao thì này chuyểnsang hạch toán kinh doanh, huy động vốn đuợc thực hiện một cách linh hoạt căn cứvào các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước và nhu cầu vay vốn của nền kinhtế

Chi tiết về các hình thức này sẽ được trình bầy trong phần “ Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng”

IV - CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM :

1 Tính chất vận động của nguồn vốn huy động :\

Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc “đi vay để cho vay” Do đó, khi huyđộng vốn, giữa Ngân hàng và các tổ chức kinh tế hình thành một quan hệ tín dụngthông qua vận động giá trị tiền gửi, vồn huy động được vận động trên cơ sở hoàntrả và có lãi Quá trình đó được thể hiện ở giai đoạn sau :

Trang 10

- Giai đoạn tập trung nguồn vốn vào ngân hàng, ở giai đoạn này tiền đượcchuyển từ các tổ chức kinh tế, dân cư, người cho vay sang Ngân hàng - người đivay Như vậy, ta thấy rằng đặc điểm cở bản khác với việc đi mua bán hàng hoá là

giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại Mác viết : “Đối với hàng hoá đơn giản với tư cách là hàng hoá thì ở trong tay người mua hay người bán, nó cũng vẫn là một giá trị như thế, chỉ dưới hình thức khác nhau mà thôi” Người bán và người mua

đều có một giá trị như trước, giá trị này mà họ đã nhượng đi, người thứ 1 thìnhượng đi dưới hình thức hàng hoá, người thứ 2 nhượng đi dưới hình thức tiền

tệ trong việc cho vay thì chỉ có một bên được nhận giá trị và chỉ có một bênnhượng đi giá trị mà thôi ? ( Các Mác tư bản tập 3 trang 32)

- Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất sau khi huy động vốn ngân hàng(người đi vay) được quyền sử dụng vốn đó để thoả mãn những nhu cầu về vốn nhấtđịnh ở giai đoạn nàynguồn vốn huy động được sử dụng tham gia trực tiếp vào sảnxuất hoặc đáp ứng những nhu cầu về tiêu dùng của người đi vay Tuy nhiên người

đi vay không có quyền sở hữu về giá trị các khoản vay không có quyền sở hữu vềgía trị các khoản vay đó mà chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhấtđịnh

- Ở giai đoạn hoàn trả: Đây có thể nói là giai đoạn kết thúc một vòng tuầnhoàn của nguồn vốn huy động Sau khi vốn mà ngân hàng đã huy động tham giahoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì ngân hàng hoàn trảcho các tổ chức kinh tế và dân cư

Mác viết: “ Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữumột thời gian và chẳng qua chỉ là tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động Tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một thời gian nhất định”

( Các Mác- tư bản quyển 3 tập 2 trang 57).

Trang 11

Như vậy, hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của vốn tín dụng.Mặt khác sự hoàn trả của mỗi nguồn vốn huy động là quá trình quay trở về giá trị.Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thức giá trị Tuy nhiên

sự vận động đó không phải vơí tư cách là phương tiện lưu thông mà với tư cách làmột lượng giá trị vận động Chính vì lý do đosự hoàn trả luôn được bảo tồn vềmặt giá trị và phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức Ngay cả trong điều kiện lạmphát sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phải được bảo đảm và tôn trọng thông qua cơchế điều tiết bằng lãi xuất

2 Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn huy động.

Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu được hình thành thông qua quá trìnhtập trung một bộ phận tiền tệ của dân cư, của các đơn vị kinh tế Do vậy hoạt độnghuy động vốn của một ngân hàng thương mại chịu tác động của rất nhiều yếu tố, từcác yếu tố mang tính chất vĩ mô đến các yếu tố ở tầm vi mô Trong đó các yếu tốchính yếu được phân tích như sau:

a Yếu tố lãi xuất huy động:

Không phải ngân hàng cứ đưa ra được mức lãi xuất cao là có thể thu hútđược vốn nhàn rỗi của dân cư mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi xuất cụ thể do ngânhàng đưa ra sẽ đem lại cho người gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu, điều đó

có nghĩa là mức lãi xuất mà ngân hàng đưa ra phải đảm bảo luôn lớn hơn tỉ lệ lạmphát

Thông thường quy mô của tiền gửi ngân hàng biến động tỷ lệ thuận với lãixuất huy động Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt thì quy luật này bị phá

vỡ Chẳng hạn khi lãi xuất huy động giảm nhưng người g ửi vẫn thu được mộtkhoản lợi tức sau khi đã trừ đi tỷ lệ trượt giá thì vốn lưu động ở ngân hàng vẫn cóthể tăng lên Như vậy, có thể nói lãi suất huy động là yếu tố ảnh hưởng lơn đến quy

mô nguồn vốn thu hút vào Ngân hàng Tuy nhiên, lãi suất vấn ảnh hưởng lớn nhất

Ngày đăng: 02/10/2013, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w