1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GDCD_ Thất nghiệp

20 200 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thất nghiệp
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục công dân
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Thất nghiệp và tình hình chung của thất nghiệp ở nước ta hiện nay Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.. Với thời

Trang 2

I.Thất nghiệp và tình hình chung của thất

nghiệp ở nước ta hiện nay

Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động

muốn có việc làm mà không tìm được việc làm Tỷ lệ thất

nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.

Thất nghiệp, đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm Bất kỳ một quốc gia nào dù nền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp đó là vấn đề không tránh khỏi chỉ có điều là thất nghiệp đó ở mức độ thấp hay cao mà thôi Với thời gian không cho phép chính vì thế mà bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam.Thất nghiệp , nó còn kéo theo nhiều vấn đề đằng sau:Sẽ dẫn đến tình trạng làm giảm nền kinh tế,sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, làm sói mòn nếp sống lành mạnh, phá vỡ nhiều mối quan hệ tạo

Trang 3

- Do tốc độ tăng cầu lao động thấp hơn so với tốc độ tăng cung lao động

và do một số vấn đề bất cập như vấn đề chất lượng lao động, trình độ lao

động, nên tỷ lệ thất nghiệp ở Hà Nội những năm gần đây tuy có giảm

nhưng vẫn ở mức cao 5,2%

- Hà Nội sau khi mở rộng có qui mô dân số lớn thứ hai toàn quốc (sau

thành phố Hồ Chí Minh) Số người bước vào tuổi lao động hàng năm

khoảng 80 nghìn người, số lao động dôi dư mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 30 nghìn người/năm; số người cần tìm việc hàng năm khoảng 120 nghìn người

- Trên thực tế, người lao động thường tìm việc làm qua các kênh: các

tổ chức giới thiệu việc làm; mạng internet; ngày hội việc làm, ngày

tuyển dụng trực tiếp, Tuy nhiên, hoạt động của các kênh này còn có

nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều trung tâm chủ yếu chỉ

hoạt động dạy nghề ngắn hạn, số lao động tiếp cận qua các dịch vụ

này chỉ chiếm khoảng 15-20%

Trang 4

Thất nghiệp tăng mạnh ở làng nghề

- Năm 2009, Hiệp hội Làng nghề

Việt Nam dự đoán khoảng 5

triệu lao động sẽ thất nghiệp

Đây là những lao động làm

trong các ngành nghề nghề thủ

công như gốm sứ, mộc, gỗ, mây

tre đan

Dự tính khoảng năm triệu lao động trong làng nghề bị mất việc trong năm 2009

- Thủ công mỹ nghệ là các mặt

hàng xuất khẩu quan trọng của

Việt Nam Và chúng là đầu mối

giải quyết công ăn việc làm cho

người lao động vùng nông thôn

Trang 5

II.Hậu quả của thất nghiệp

1 Thiệt thòi cá nhân

Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế

giao tiếp với những người lao động khác,

tiêu tốn thời gian vô nghĩa, không có khả

năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu

cũng như các hàng hóa tiêu dùng Yếu tố

sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh

vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa

bệnh Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng,

gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ

tội phạm, tỷ lệ tự tử, và suy giảm chất

lượng sức khỏe.

Theo một số quan điểm, rằng người lao động nhiều khi phải chọn công việc thu

nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v ).

Trang 6

- Cái giá khác của thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi xã hội, cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình

độ, năng lực Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng Với ý nghĩa này, thì trợ cấp thất nghiệp là cần thiết

- Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất, suy yếu ảnh hưởng của

công đoàn, công nhân lao động vất vả hơn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn và sau cùng là chủ nghĩa bảo hộ việc làm Chủ nghĩa này đặt ra những rào

cản với người muốn gia nhập công việc, hạn chế di dân, và hạn chế cạnh tranh quốc tế Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp sẽ khiến cán cân đàm

phán điều kiện lao động nghiêng về giới chủ, tăng chi phí khi rời công việc

và giảm các lợi ích của việc tìm cơ hội thu nhập khác

Trang 7

2 Ảnh hưởng tới tâm lý

Người thất nghiệp dễ ở trong

tình trạng mình là người thừa

tuy nhiên sự tác động là khác

nhau giữa hai giới Ở phụ nữ

nếu không có việc làm ngoài

thì việc nội trợ và chăm sóc

con cái vẫn có thể được chấp

nhận là sự thay thế thỏa đáng,

ngược lại ở người nam, đem

thu nhập cho gia đình gắn chặt

đến giá trị cá nhân, lòng tự

trọng

Nam giới khi mất việc làm thường tự ti, rất nhạy cảm và dễ cáu bẳn,

họ có thể tìm đến rượu, thuốc lá để quên đi buồn phiền, tình trạng này kéo dài ngoài khả năng gây nghiện ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe còn có thể khởi tạo một vấn đề mới đó là bạo hành gia đình Họ cũng

dễ bị rối loạn tâm lý như buồn phiền, mất ngủ, trầm cảm và như đã nói

ở trên đôi khi còn dẫn đến hành vi tự sát.

Trang 8

Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau Kinh tế học Keynes nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ) Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng thị trường lao động (thất nghiệp cơ cấu) Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng lý giải

áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức lương tối thiểu, thuế, các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường) Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần

đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp.

Việc áp dụng nguyên lý cung - cầu vào thị trường lao động giúp lý giải

tỷ lệ thất nghiệp cũng như giá cả của lao động.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ở Châu Phi, Trung Đông và Châu

Mỹ Latinh chỉ ra, ở các nước đang phát triển, tình trạng thất nghiệp cao trong phụ nữ và thanh niên còn là hậu quả của những quy định về

trách nhiệm chủ lao động.

Trang 9

3 Ảnh hưởng đến chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng

trưởng kinh tế

Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ

Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô

Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch vụ

không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản

phẩm và giá cả tụt giảm Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa

đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ

hội đầu tư cũng ít hơn

Trang 10

III.Nguyên nhân

Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản Ở xã hội cộng đồng xã hội nguyên thủy, việc phải duy trì trật

tự trong bầy đàn buộc mọi thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc Trong xã hội phong kiến châu Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc làm Ngay cả trong xã hội nô

lệ, chủ nô cũng không bao giờ để tài sản của họ (nô lệ) rỗi rãi trong thời gian dài Các nền kinh tế theo học thuyết Mác-Lênin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết (thực tế này có thể gọi là thất nghiệp một phần hay thất

nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động).

Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là

lợi nhuận, mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa

thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất

nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp Người lao

động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động

phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp.

Trang 11

Một là, hoàn thiện thể chế thị trường lao động theo định hướng xã

hội chủ nghĩa; nghiên cứu, xây dựng và ban hành các văn bản, cơ

chế, chính sách theo hướng tiếp cận với chuẩn mực chung của quốc

tế về lao động, việc làm và thị trường lao động,

Hai là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và

quốc tế cho đầu tư phát triển, nhất là những vùng, ngành, lĩnh vực có khả năng thu hút nhiều lao động như: các vùng kinh tế động lực, trọng điểm ở 3 miền, khu vực dân doanh, trước hết là các doanh nghiệp

vừa và nhỏ; kinh tế trang trại, hợp tác xã, làng nghề, xã nghề tiểu thủ công nghiệp ; khu vực dịch vụ, nhất là các dịch vụ thu hút nhiều lao động kết hợp khai thác tiềm năng, thế mạnh của đất nước và con

người Việt Nam

Trang 12

Ba là, tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước trong giải quyết

việc làm và phát triển thị trường lao động thông qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2010, thực hiện lồng ghép có hiệu quả Chương trình với các chương trình mục tiêu quốc gia khác (về giáo dục - đào tạo, về giảm nghèo )

Bốn là, hoàn thiện và phát triển thị trường lao động, góp

phần vào việc hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 13

Năm là, nâng cao chất lượng nguồn lao động cả về trình độ học vấn và

trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề; thực hiện liên thông giữa các cấp trình độ; giáo dục - đào tạo theo định hướng gắn với cầu lao động, đồng thời, nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp và nâng cao thể lực đảm bảo cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cả về thể lực và trí lực, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công

nghiệp

Sáu là, hoàn thiện và phát triển hệ thống an sinh xã hội Hội nhập kinh tế,

Việt Nam phải mở cửa thị trường, thực hiện theo các quy luật của thị

trường, kèm theo đó là chúng ta sẽ đối mặt với những tác động tiêu cực

từ thị trường, nhất là trong vấn đề xã hội

Trang 14

Ý kiến của một số thành viên trong tổ xung quanh vấn nạn

thất nghiệp

Trang 15

Theo bạn Vi Linh:

_Tình trạng thất nghiệp ở nước ta hiện nay đang ngày càng gia tăng trong khi

đó dân số vẫn đang tiếp tục tăng nhanh.

_ Vấn đề dân số tăng kéo theo các vấn đề khác bị ảnh hưởng( kinh tế , chố ở, trường học, bệnh viện…) và nạn thất nghiệp là không thế tránh khỏi

_Thất nghiệp đồng nghĩa với các tệ nạn xã hội như trộm cắp, nghiện hút, ma túy càng càng phổ biến Không chỉ vậy nó còn làm cho đời sống người dân khó khăn, thiếu thốn, lâm vào cảnh bi đát, khốn cùng.

_Tôi thấy thất nghiệp thực sự là một

bài toán nan giải nếu chúng ta không

biết nhìn một cách tổng thể nguy cơ

của vấn nạn này Một khi thất nghiệp

thì mọi chi tiêu trong gia đình đều giảm

=> tăng khoảng cách giàu nghèo.

Trang 16

Theo bạn Mi:

Theo tôi thì nạn thất nghiệp ngày nay rất phổ biến Tôi thấy ngoài đường xuất hiện rất nhiều người đừng đường để chờ người đến thêu họ làm phu hồ, cửu vạn.Điều này đã

và đang làm bộ mặt đô thị bị nhếch nhác.Chúng ta không nên để nạn thất nghiệp kéo dài thêm

Nhà nước cần phải ra tay nhanh chóng để có thể giải quyết được vấn nạn này Nhà nước nên tập trung giải quyết việc làm ở cả thành thị và nông thôn.Mở rộng thị

trường việc làm Xây dựng thêm nhiều khu công nghiệp ở nông thôn để người dân

có thêm việc làm.Thúc đẩy phát triển sản xuất và dịch vụ nhằm tạo việc làm cho

người lao động.

Trang 17

Bạn Phương Linh: Thất nghiệp là vấn để đáng quan tâm hàng đầu của xã hội,của Việt Nam ta hiện nay.Nguyên nhân chính là do người lao động chưa bắt kịp được với sự phát triển của KH-KT, công nghệ cao và do chính ý thức của họ Điều đó tạo ra những hậu quả nghiêm trọng cho XH Từ thất nghiệp có thế dẫn đến sự suy giảm về kinh tế, gây ra nhiều tệ nạn XH, những hành vi “Nhàn

cư vi bất thiện” Vì vậy theo tôi ngoài những chính sách của nhà nước nêu trên , còn cần phải tuyên truyền thêm ý thức tự giác lao động cho mọi người và xây dựng thêm nhiều trung tâm đào tạo việc làm để vấn nạn thất nghiệp được giảm bớt, để người lao động

ai cũng có việc làm.Như vậy thì nước mới giàu, dân mới no, xã hội mới công bằng, văn minh.

Trang 18

Nhận định xu hướng diễn biến phức tạp Chính Phủ đã báo số lao động mất việc làm là khoảng 300.000 người Theo báo cáo của Chính Phủ gửi Quốc

Hội, có hơn 64000 người đã bị mất việc trong quý I, chủ yếu là các vùng kinh

tế trọng điểm là Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng

Thống kê thu được từ khảo sát thực tế và báo cáo của 48 tỉnh thành , trong

số người thất nghiệp có 30 000 người là ở các làng nghề.Lao động mất việc làm và thiếu việc làm chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp có hàng xuất khẩu

hoặc có các nguyên liệu nhập từ nước ngoài, vừa và nhỏ, trong khi số lao

động mất việc làm năm ngoái tự 51 tỉnh thành là 66707 người

Bạn Hương cho biết:

Tôi thấy nhà nước cần nhanh chóng đưa ra và áp dụng các chính sách

1 cách hợp lí để hạn chế vấn nạn này.

Trang 19

Kết: Thất nghiệp đang gia tăng và sẽ còn tiếp tục tăng trong tương lai

Vì vậy nhà nước và các cơ quan chức năng cần nhanh chóng có

những biện pháp để giảm bớt vấn nạn mà cả xã hội cũng như toàn

nhân loại quan tâm

Trang 20

Các thành viên tham gia:

Bùi Thị Huyền Trang

Nguyễn Trà Mi

Nguyễn Phương Linh

Vi Ngọc Linh

Trương Quang Dũng

Nguyễn Lan Hương A

Thanh Tùng

Phạm Anh Duy

Hồ Hồng Thái

Nguyễn Minh Thu

Ngày đăng: 29/09/2013, 06:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

I.Thất nghiệp và tình hình chung của thất nghiệp ở nước ta hiện nay - GDCD_ Thất nghiệp
h ất nghiệp và tình hình chung của thất nghiệp ở nước ta hiện nay (Trang 2)
w