Trong các công việc cụ thể như sử dụng ,đãi ngộ ,đào tạo nhân sự …Khổng Tửcũng chỉ rõ các nguyên tắc như :” sử dân dĩ thời “ sử dụng người phải phù hợp ,biếtngười ,đề bạt người chính tr
Trang 1Bài thao luân
Trình bày các nôi dung vê các hoc thuyêt quan tri
nhân luc phuong Dông
Liên hê nhân thúc cua nó vào tình hình o các
Doanh nghiêp Viêt Nam hiên nay
Trang 2những khái niệm cơ bản của nó Một trong những khái niệm cơ bản làm nền tảng chođường lối "đức trị" của Nho giáo là phạm trù Đức trong tư tưởng Khổng Tử Nghiêncứu và làm rõ những tư tưởng sâu sắc về Đức của Khổng Tử chính là cơ sở để chúng
ta nhận rõ đường lối "đức trị" của Nho giáo
Theo Khổng Tử, Đức trị chính là lấy cái đức làm cơ sở cho việc quản lý và điềuhành các quan hệ xã hội
Ông đã chủ trương trị người bằng đức là chính, nghĩa là để thu phục và dẫn dắtngười khác, nhà quản trị cần phải tu dưỡng đạo tính cần thiết, chẳng hạn như: Nhân,nghĩa, trí, tín, dũng, liêm…Trong đó, đức nhân được đặt lên đầu và là trung tâm: vìcon người và từ con người Khổng tử coi nhân là gốc, kễ là ngọn Nhân là mục tiêu, lễ
là chính sách, và để thực thi được đạo lý và mục tiêu, Khổng tử chủ trương sử dụngphương pháp chính danh
1.2.Nội dung:
Quan niệm về đức của Khổng Tử có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong phú Nhữngniệm đó thể hiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, pháthuy thiện đức của con người Từ quan niệm về đức Khổng Tử đi sâu bàn luận vềnhân, lễ làm cơ sở cho đường lối đức trị của mình Các nhà tư tưởng Nho giáo về sauđều coi tư tưởng về đức của Khổng Tử là nền tảng của đường lối đức trị Quan niệm
về đức của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa đối với xã hội cổ đại đương thời mà còn
có ý nghĩa đối với xã hội ta ngày nay Trong bối cảnh xã hội đang chịu nhiều tác độngtiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường hiện nay, rất cần trở lại với những giá trị đạođức truyền thống trong đó có tư tưởng đức trị Nho giáo Quan niệm đức là gốc củacon người và thiện đức phải biểu hiện ở hành động của Khổng Tử vẫn còn nguyên giátrị và rất vẫn còn được tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong xã hội ta ngày nay
Trong các công việc cụ thể như sử dụng ,đãi ngộ ,đào tạo nhân sự …Khổng Tửcũng chỉ rõ các nguyên tắc như :” sử dân dĩ thời “ ( sử dụng người phải phù hợp ),biếtngười ,đề bạt người chính trực (ngay thẳng)lên trên người cong queo ;kháchquan ,không thành kiến ,phân phối quân bình ,không nên quá chênh lệnh trong phânphối:”không sợ thiếu ,chỉ sợ không đều “; đào tạo bằng cách làm gương hoặc dạydỗ,thiếu cái gì dạy cái ấy ,nhà quản trị phải là cái gương để người dưới học tập
Trang 3Một trong nguyên tắc hành xử quan trọng trong học thuyết :”Đức trị “ mà ít đượcnhắc đến trong các công trình ngiên cứu về khả (đối với việc đời không nhất định phảilàm ,không nhất định không làm ,thấy hợp nghĩa thì làm )
Nguyễn Hiến Lê rất có lý khi nhận xét rằng: "Khổng Tử là người đầu tiên nóinhiều nhất đến tư cách người cầm quyền, đến bổn phận họ phải sửa mình, phải làmgương cho dân, phải giáo hoá dân Ông không tách rời đạo đức và chính trị, ông đãđạo đức hoá chính trị Và tất cả triết lý chính trị của ông gồm trong danh từ đức trị,
mà danh từ này có nghĩa là người trị dân, phải trị dân bằng đức, chứ không bằng bạolực "1
Thật vậy, Khổng Tử thật sự tin rằng, "Làm chính trị (trị dân) mà dùng đức (đểcảm hoá dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả (tứcthiên hạ về theo)" Cơ sở tư tưởng "Đức trị" của ông suy đến cùng là lòng thương yêucon người, lòng tin ở bản tính con người có thể cảm hoá được Ông quan niệm phéptrị dân " Đức hạnh của người quân tử (người trị dân) như gió, mà đức hạnh của dânnhư cỏ Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống" Khổng Tử chỉ tin vào đức chứ không tin vào
"hình" bởi "dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt để bắt dân vào khuônphép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn Dùng đạo đức để dắt dẫn dân,dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân biết hổ thẹn mà lại theo đường chính".Khổng Tử thật sự tin rằng: nếu có ai dùng ông làm quốc chính" thì một năm kỷ cương
đã khá, ba năm sẽ thành công" Tóm lại, với Khổng Tử, "Đức trị" có sức mạnh vạnnăng Đó là đường lối "dù không ra lệnh dân cũng theo", như vua Thuấn chỉ kính cẩnđoan trang ngồi trên ngai, chẳng làm gì mà thiên hạ bình trị
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng:
{ Nhân
Nhân ở đây là người nhưng không phải là con người cụ thể mà đó là bản chấtngười, lòng thương người, tính nhân đạo, tính nhân văn và nó được biểu hiện thôngqua con người cụ thể, sống ở xã hội cụ thể với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
1Nguyễn Hiến Lê (chủ dịch và giới thiệu), Luận ngữ, NXB Văn học 1995.
Trang 4Nhân là người và có 3 dấu hiệu:
- Cái gì mình muốn thì mong cho người khác muốn
- Cái gì mình thành đạt thì mong cho người khác thành đạt
- Cái gì mình không muốn thì chớ đem áp dụng cho người khác
{ Lễ
Lễ ở đây vừa là hình thức, vừa là nội dung, vừa là cơ chế, phương thức để điềuchỉnh tất cả các quan hệ xã hội cho đâu vào đấy Như vậy, sự cai trị xã hội bằng lễ gọi
là lễ trị và con người vì thế mà phải tu thân Chiều sâu của sự cai trị xã hội bằng lễ trị
là nhân trị, cả lễ trị và nhân trị gọi là đức trị Suy cho cùng thì đó là văn trị (một cáchcai trị đẹp, không phải dùng đến gươm giáo…), khẩu hiệu của nó là “thu phục nhântâm” (thu phục lòng người)
Khổng tử quy các quan hệ xã hội thành 5 mối quan hệ cơ bản: Quan hệ vua - tôi(lấy chữ trung làm đầu), quan hệ cha - con lấy chữ hiếu làm đầu, quan hệ chồng - vợ(lấy chữ tiết hạnh làm đầu), quan hệ anh - em (lấy chữ hữu làm đầu), quan hệ bạn bè(lấy chữ tín làm đầu) Khổng tử cho rằng xã hội chí ít phải giữ được “tam cương” (3mối quan hệ cơ bản), trong đó quan trọng nhất là mối quan hệ vua - tôi (bề tôi phảitrung thành với vua đến cùng - vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung)…
{ Chính danh
Theo Khổng tử, nguyên nhân của xã hội loạn là do không chính danh (Danh khôngchính - ngôn không thuận - việc không thành - xử phạt không trúng - dân) Do vậy,muốn làm xã hội ổn định thì phải chính danh từ trên xuống: quân quân - thần thần -phụ phụ -tử tử (vua phải ra vua, tôi phải ra tôi, cha phải ra cha, con phải ra con)…
.Khổng Tử chủ trương trị người bằng đức là chính, nghĩa là để thu phục và dẫn dắtngười khác ,nhà quản trị phải tu dưỡng những phẩm chất cần thiết, chẳng hạn như:nhân, nghĩa, trí, tín, dũng, liêm… Trong đó đức nhân được đặt lên hàng đầu và làtrung tâm: vì con người và từ con người Để thực thi được đạo lí và mục tiêu, Khổng
tử chủ trương sử dụng phương thức chính danh:
Tử Lộ hỏi : “ Nếu vua Vệ giữ thầy lại mà nhờ thầy coi chính sự thì thầy làm việc
gì trước?” Khổng Tử đáp : “ Tất phải chính danh trước hết chăng ?” Nếu danh khôngchính thì ngôn không thuận thì sự việc không thành ,sự việc không thành thì lễ
Trang 5nhạc ,chế độ không kiến lập được ,chế độ không kiến lập được thì hình phạt khôngtrúng ,hình phạt không trúng thì dân không biết đặt chân tay vào đâu ”
Tóm lại ,lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại ,Khổng Tử đã tập hợp một cách có hệthống các nguyên lý trong việc đối nhân xử thế nhằm phát triển một xã hội tốt đẹpdựa trên nền tảng của lòng nhân ái Tuy còn một số điểm còn hạn chế do hoàn cảnhlịch sử và thế giới quan của Khổng Tử lúc đó nhưng những điều tốt đẹp trong họcthuyết này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay và đã được kiểm chứng bằng sự vận dụngchúng vào phục vụ nhu cầu phát triển của các nền kinh tế mới của Châu Á –nhữngnền kinh tế đã phát triển nhanh chóng trong những năm cuối thế kỷ 20 (HànQuốc ,Singaprore ,Đài Loan …)
CHƯƠNG 2: TRƯỜNG PHÁI PHÁP TRỊ
2.1.Khái niệm:
Nếu như trường phái “Đức trí “ chủ trương lấy đức làm phạm trù hạt nhân thì
trường phái pháp trị lại chú trọng đến pháp luật và coi pháp luật chính là tiêu chuẩn
cho mọi hành vi trong ứng xử của người quản trị đối với người bị quản trị
Với tác phẩm Hàn Phi Tử, Hàn Phi đã chính thức khai sinh học thuyết pháp trị
của phương Đông, đồng thời đưa ra lời giải cho bài toán lịch sử hóc búa Hàn Phi đã
kết hợp các yếu tố “thuật”, “thế”, “pháp” của Thân Bất Hại, Thận Đáo, Thương Ưởng,hoàn thiện tư tưởng pháp trị của các bậc tiền bối đã khai sinh ra nó là Quản Trọng và
Tử Sản để xây dựng thành học thuyết chính trị độc lập
Pháp trị là học thuyết duy nhất có sự kế thừa, hàm chứa những những yếu tố của
những học thuyết khác nhiều nhất, nhờ đó tạo ra một phương thức giải quyết vững
Trang 6chắc, toàn vẹn và thực tế nhất trong vấn đề trị quốc: Lễ nghĩa, danh phận của Nho gia được cụ thể hoá trong pháp luật; Vô vi của Lão gia được chuyển hoá thành quan hệ
biện chứng vô vi- hữu vi; Kiêm ái của Mặc gia tuy là nội dung yếm thế nhất của học
thuyết pháp trị, nhưng Hàn Phi vẫn coi đây là mục đích cuối cùng của pháp luật
2.2.Nội dung:
Nội dung cốt lõi của học thuyết pháp trị là đề cao pháp luật với tư cách là công cụ
quan trọng nhất, hữu hiệu nhất trong việc bình ổn xã hội “Cái làm cho trị an là pháp
luật, cái gây ra loạn là sự riêng tư Pháp luật đã thiết lập rồi thì không ai có thể làm điều riêng tư được nữa”.
Hàn Phi khẳng định, việc trị nước, quản dân không thể dựa theo lễ nghi truyềnthống mà phải được thực hiện trên cơ sở những đạo luật cụ thể và chặt chẽ Bởi lẽ,
“…pháp luật không hùa theo người sang… Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu…”
Hàn Phi quan niệm pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để đem lại hòa bình, ổnđịnh và công bằng: “Bậc thánh nhân hiểu rõ cái thực tế của việc phải và trái, xét rõthực chất của việc trị và loạn, cho nên trị nước thì nêu rõ pháp luật đúng đắn, bày rahình phạt nghiêm khắc để chữa cái loạn của dân chúng, trừ bỏ cái họa trong thiên hạ.Khiến cho kẻ mạnh không lấn át người yếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già
cả được thỏa lòng, người trẻ và cô độc được trưởng thành, biên giới không bị xâm lấn,vua và tôi thân yêu nhau, cha con giữ gìn cho nhau”
Sở dĩ tư tưởng chính trị của Hàn Phi đối lập với tư tưởng Nho gia là bởi ông cómột quan niệm hết sức sâu sắc về thực tiễn Khác với Khổng Mạnh mượn đời xưa đểphê phán đời nay hay lấy cái quá khứ được tuyệt đối hóa để đo hiện tại, Hàn Phi chorằng, mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi lý luận phải đều được bắt nguồn từ chínhthực tiễn của đất nước
Then chốt của việc xây dựng đất nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật Cópháp luật, pháp luật được thi hành một cách phổ quát và đúng đắn thì xã hội mới ổnđịnh, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để xây dựng đất nước giàu mạnh, làmcho dân chúng được yên bình, hạnh phúc Từ chỗ cho rằng, “Không có nước nào luôn
Trang 7luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn luôn yếu Hễ những người thi hành phápluật mà mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành pháp luật yếu thì nướcyếu”, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng “trị nước bằng luật pháp” (dĩ pháp trị quốc), chủtrương “luật pháp không phân biệt sang hèn” (pháp bất a quý), “hình phạt khôngkiêng dè bậc đại thần, tưởng thưởng không bỏ sót kẻ thất phu” (hình quá bất tị đạithần, thưởng thiện bất di tứ phu) Ông hết sức coi trọng tác dụng của pháp luật và chủtrương xây dựng một lý luận pháp trị hoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân,kết hợp chặt chẽ “pháp”, “thuật” với “thế”.
Bên cạnh đó, Hàn Phi có những chủ trương khá tiến bộ như : quản trị phải quyềnbiến chứ không câu lệ sách vở ,thời khác thì phải việc khác ,miễn được thích nghi thìthôi ;Nhất quán giữa “hình”và “danh”( lời nói và việc làm phải thống nhất ) ;Coi thựctiễn là tiêu chuẩn để đánh giá con người và hành vi và hành vi ;coi trọng thực tiễn
Nếu như Khổng Tử chỉ đề ra nguyên lý ,và do vậy chỉ có một số ít người có nănglực đặc biệt và có nhân cách đặc biệt mới có thế hiểu và thực hành được công việcquản trị thì Hàn Phi chủ trương phải cụ thế hóa thành thao tác và quy trình để ngườibình thường cũng có thế học và thực thi được công việc quản trị Đây là một chủtrương rất tiến bộ và khoa học mà sau này các trường phái quản trị của Phương Tây
đã ứng dụng và phát huy hiệu quả rất cao trong thực tiễn Ông chủ trương pháp phảihợp thời ,dễ biết ,dễ thi hành ,phải công bằng
Trong học thuyết của mình ,Hàn Phi đã chỉ rõ và cụ thể hóa các nội dung liênquan đến sử dụng nhân sự ,đãi ngộ nhân sự :dùng người phải đúng hình danh ,theođúng quy trình khách quan ( phải phát huy được sức lực và trí tuệ ,các loại công việckhác nhau đòi hỏi các kỹ năng không giống nhau ,giao việc phải từ nhỏ đến lớn …)đãi ngộ theo nguyên tắc ,quy tắc ,quy chế chứ không theo ý riêng (thưởng phạt theoquy định rõ ràng)
Một trong những tư tưởng xuyên suốt trong học thuyết pháp trị đó là tính thực tế
“việc phải theo thời, mà biện pháp phải thích ứng, dùng việc xét người” Điều nàycũng thống nhất với quan niệm của Khổng Tử về sự quyền biến
3.3.Các nhân tố ảnh hưởng:
Ông cho rằng ,ngoại trừ một số ít thánh thần ,còn thì phần lớn con người :
Trang 8-Tranh nhau vì lợi :
-Lười biếng ,khi có dư ăn rồi thì không muốn làm nữa
-Chỉ phục tùng quyền lực
Trên cơ sở nhận thức về bản chất con người như vậy ,Hàn Phi đã xây dựng một
học thuyết quản trị nhân lực xoay quanh ba phạm trù :Pháp ,thế ,thuật
{ Pháp
Pháp là hiêu lệnh ,quy định được công bố ,công khai và mọi người phải tuân thủ.Hàn Phi hiểu rất rõ và sâu sắc về pháp luật, coi “pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho những kẻ cẩnthận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh” Đây là một tư tưởng hết sứctiến bộ so với đương thời Cái gọi là “mệnh lệnh ban bố rõ ràng nơi cửa công” khác
xa so với cách cai trị bởi ý muốn chủ quan của các cá nhân quý tộc nắm quyền đươngthời Pháp luật rõ ràng được ban bố cho trăm họ, làm cho dân biết pháp luật để tránhphạm pháp; lấy đó làm chuẩn tắc cho hành vi của mọi người, chứ không phải là cáibẫy để hại dân Các điều luật minh bạch là phương thức phòng bị tích cực, chứ khôngphải là một thủ đoạn chế tài tiêu cực Đồng thời, nó cũng chính là “hiến lệnh” – mộtcông cụ - để vua cai trị thần dân Nội dung chủ yếu của “pháp” có thể quy về 2 kháiniệm chủ yếu là “thưởng” và “phạt”
Hàn Phi cho rằng, lập pháp cần phải xét đến các nguyên tắc sau:
Tính tư lợi Hàn Phi quan niệm nền tảng của quan hệ giữa con người với con
người là tư lợi, ai cũng muốn giành cái lợi cho mình “ Người thợ mộc đóngxong quan tài thì muốn người ta chết non Đó không phải vì người thợ đóng cỗ
xe có lòng nhân, còn người thợ đóng quan tài không phải ghét người ta, nhưngcái lợi của anh ta là ở chỗ người ta chết” Luật pháp đặt ra thì cái lợi của nóphải lớn hơn cái hại
Hợp với thời thế Đây chính là thuyết biến pháp của Hàn Phi Nguyên tắc thực
tế của việc xây dựng pháp luật, hay tính thực tiễn của luật pháp, là nét nổi bậttrong tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Đối với ông, không có một pháp luật siêuhình hay một mô hình pháp luật trừu tượng tiên thiên để mà noi theo Chỉ duynhất có yêu cầu và tiêu chuẩn của thực tiễn “Pháp luật thay đổi theo thời thì trị;
Trang 9việc cai trị thích hợp theo thời thì có công lao Thời thế thay đổi mà cách caitrị không thay đổi thì sinh loạn Cho nên, bậc thánh nhân trị dân thì pháp luậttheo thời mà thay đổi và sự ngăn cấm theo khả năng mà thay đổi”
trong một thời kỳ, pháp lệnh đã đặt ra thì không được tùy tiện thay đổi (“sốbiến pháp”), vì nếu vậy thì dân chúng không những không thể theo, mà còn tạo
cơ hội cho bọn gian thần
Phù hợp với tình người, dễ biết dễ làm
Đơn giản mà đầy đủ
Thưởng hậu phạt nặng.
Đối với việc chấp pháp, nguyên tắc của Hàn Phi là:
Tăng cường giáo dục pháp chế, tức là “dĩ pháp vi giáo”
Mọi người, ai ai cũng bình đẳng trước pháp luật, tức “pháp bất a quý”, “hình
bất tị đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu” Đến bản thân bậc quân chủ – nhàvua – cũng phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật: “Kẻ làm vua chúa là kẻ phảigiữ pháp luật, căn cứ vào kết quả mà xét để lập công lao”; Nếu nhà vua biết bỏđiều riêng tư, làm theo phép công thì chẳng những dân sẽ được yên, mà nướccũng được trị
Nghiêm khắc cẩn thận, “tín thưởng tất phạt”, không được tùy ý thưởng cho
người không có công, vô cớ sát hại người vô tội
Dùng sức mạnh đạo đức hỗ trợ cho việc thi hành pháp luật.
{ Thế
Thế là quyền thế và địa vị của nhà quản trị để thực thi và bảo vệ pháp “Thế”còn được gọi là “quyền thế”, “uy thế”, “thế trọng”, nó chỉ một sức mạnh quyền uytuyệt đối, cũng chính là quyền thống trị tối cao của ông vua, bao gồm quyền sử dụngngười, quyền thưởng phạt, v.v Hàn Phi cho rằng, chỉ khi nào nắm quyền thống trịtrong tay, thì một người nào đấy mới là kẻ thống trị, mới có thể cai trị dân chúng.Trong thiên “Bát kinh”, ông viết: “Cái thế là cơ sở để thắng đám đông” (Thế giả,thắng chúng chi tư dã) Để yên ổn trị nước, bậc quân chủ tất phải nắm giữ quyền thế.Hàn Phi quan niệm rất rõ ràng những điểm trọng yếu về thế:
Trang 101/Vua không được cho bề tôi mượn quyền thế
2/ Vua không được dùng chung quyền thế với bề tôi
3/ Cần sử dụng thuật thưởng phạt để củng cố quyền thế
4/ Vua phải duy trì địa vị độc tôn của mình, không được để bề tôi quá quý hiển,
đề phòng đại thần tiếm quyền Vì vậy, nếu chỉ xét về bản thân vị vua, thì “thế” là cái
cốt lõi nhất, quan trọng nhất, còn “pháp” và “thuật” chỉ là công cụ
{ Thuật
Thuật là cách thức, nghệ thuật ứng xử của nhà quản trị để đảm bảo cho mọi người
tuân theo quy định của pháp luật Trong khi pháp và thế phải ổn định và rõ ràng thì
thuật ,ngược lại ,phải bí mật và biến hóa khôn lường
Hàn Phi chủ trương pháp trị, song cũng rất chú trọng đến “thuật” của nhà vua, bởi
vì “bầy tôi đối với nhà vua không phải có tình thân cốt nhục, chỉ vì bị tình thế buộc
không thể không thờ” Nhà vua dựa vào pháp trị để làm cho đất nước giàu mạnh, song
nếu “không có cái thuật để biết kẻ gian thì chỉ lấy cái giàu mạnh của nước mà làm
giàu có cho các quan đại thần mà thôi” Do vậy, nhà vua phải có “thuật” để dùng
người Đối với Hàn Phi, “thuật” chính là một loạt các phương pháp bổ nhiệm, miễn
nhiệm, thi cử, thưởng phạt của nhà vua Trong đó, phép hình danh là một thuật không
thể thiếu được của bậc quân chủ Với cách nhìn như vậy thì “pháp” và “thuật” gắn bó
chặt chẽ với nhau: “Nhà vua không có thuật trị nước thì ở trên bị che đậy; bầy tôi mà
không có pháp luật thì cái loạn sinh ra ở dưới Hai cái không thể thiếu cái nào, đó đều
là những công cụ của bậc đế vương”
Sử dụng “pháp”, “thuật”, “thế” cốt yếu là để tăng cường sức mạnh của tập quyền
quân chủ, tạo nên bối cảnh chính trị “việc tuy ở bốn phương song then chốt ở tại trung
ương, thánh nhân nắm giữ cái chủ yếu, bốn phương đến phục dịch” (sự tại tứ phương,
yếu tại trung ương, thánh nhân chấp yếu, tứ phương lai hiệu “Hàn Phi tử Dương
quyền”); từ đó, góp phần tạo ra một xu thế lịch sử cho việc xây dựng một nhà nước
trung ương tập quyền phong kiến thống nhất
Ở Việt Nam, tư tưởng quản trị nói chung và quản trị nhân lực nói riêng cũng được
hình thành từ rất sớm, gắn liền với quá trình dựng nước và giứ nước và quá trình đấu
tranh bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc
Trang 11Các anh hùng và các nhà văn hóa của dân tộc trong suốt 4.000 năm lịch sử dựng nước
và giữ nước đã để lại nhiều tác phẩm(hịch cáo văn thơ ) và quan trọng nhất là bằng
cuộc đời mình đã thể hiện tập trung và có sức thuyết phục tư tưởng quản trị nhân lực
mang đậm nét văn hóa Việt Nam được nhân dân tôn vinh, lưu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác Trong đó chủ tịch Hồ Chí Minh –anh hung giải phóng dân tộc, danh
nhân, văn hóa thế giới lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta đã tiếp thu, kết tinh , phát
triển 1 cách sáng tạo các di sản của cha ông để lại về mặt lí luận cũng như thực tế
Các bài nói, bài viết và tấm gương của người chính là chuẩn mực cho tư tưởng quản
trị nhân lực Việt Nam hiện đại Có thể viện dẫn 1 trong những tư tưởng độc đáo của
người trong sử dụng cán bộ:
“ Chúng ta phải nhớ rằng người đời ai cũng có chổ hay chỗ dở Ta phải dùng chỗ hay
của người ta và giúp người chữa chỗ dỡ Dùng người như dùng mộc Người thợ khéo
thì gỗ to, nhỏ thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”
PHẦN 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Tuy rằng, các tư tưởng của Khổng Tử và Hàn Phi đã cách đây hàng nghìn năm
nhưng các tư tưởng đó vẫn luôn sống mãi với mọi thời đại, và ngày nay cũng vậy, “
Đức trị” và “ Pháp trị” luôn dành được sự chú trọng quan tâm của các doanh nghiệp
để có thể quản lý doanh nghiệp một cách thành công nhất có thể
1.1 Thực trạng áp dụng của “Đức trị”
Bác Hồ đã từng nói:
“ Người có tài mà không có đức là người vô dụng Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, là nguyên nhân của mọi sự thành công
Nguồn nhân lực chất lượng cao là chìa khóa thành công của mọi doanh nghiệp Tuy
nhiên có tài phải đi cùng với có đức, như câu nói của Bác Hồ người có tài mà không
có đức thì chỉ là đồ bỏ đi, có đức mà không có tài thì không dùng được Người vừa có
Trang 12đức, vừa có tài thực sự sẽ không cần quyền cao chức vọng mà chỉ muốn được xã hội
đánh giá, tôn vinh một cách xứng đáng Họ có thể là một doanh nhân giàu có, một nhà
khoa học tài ba, một nhà giáo mẫu mực, một người suốt đời làm từ thiện hay một
chuyên gia cố vấn cho Chính phủ về một lĩnh vực nào đó, ở bất cứ đâu, khi nào cũng
có thể đóng góp được cho đất nước, cho xã hội Người vừa có đức vừa có tài chắc
chắn có trí lớn tài cao, họ không dễ dàng bị khuất phục, chịu thất bại bởi những hoàn
cảnh bất lợi trong cuộc sống Họ tìm mọi cách để chứng minh, để bộc lộ tài năng, đức
độ của mình ra ngoài xã hội.Họ chắc chắn không tham lam, ích kỷ Họ biết cách chia
sẻ, đóng góp cho cộng đồng, cho xã hội.Họ thường khiêm tốn, không khoe khoang,
không tự khuyếch trương mình do đó cần phải phát hiện kịp thời, bảo vệ, ủng hộ để
cái tâm, cái tài của họ được thừa nhận và bộc lộ ra ngoài xã hội Họ thực sự không coi
trọng lắm về vật chất, tuy nhiên, sự trong sáng, của các bậc kỳ tài luôn là tấm gương
toả sáng và là thương hiệu để họ dễ dàng có cuộc sống vật chất đầy đủ Họ hoàn toàn
biết cách kiếm tiền và tồn tại như một sự khẳng định mình
Trong xã hội hiện đại ngày nay,không ít các nhà quản trị doanh nghiệp không
chỉ thành công trong sự nghiệp kinh doanh mà còn có một uy tín xã hội cao Nhất là
đối với thời đại ngày nay, khi công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước ngày càng phát
triển, Việt Nam ngày càng mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới thì doanh nhân
Việt Nam ngày càng có cơ hội thể hiện tài năng, trí tuệ cũng như đức độ của mình Cơ
hội đó đối với doanh nhân hết sức to lớn nhưng thử thách đến với họ cũng hết sức lớn
lao
Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, khi Việt nam trở thành thành viên chính
thức của WTO, và khi tệ nạn buôn lậu, trốn thuế, làm ăn gian lận, sản xuất, lưu thông
hàng giả, hàng kém phẩm chất, hàng chứa cả chất độc đang có chiều hướng gia tăng
gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước và lợi ích người tiêu dùng, thậm chí có thể gây nguy
hiểm đến tính mạng người tiêu dùng, đòi hỏi chủ các doanh nghiệp cũng như người
tham gia quản lý doanh nghiệp trước hết không được để cho xí nghiệp của mình phạm
những tệ nạn nói trên, đồng thời còn phải tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giữa
cái thiện cái ác trong kinh doanh nhằm xóa bỏ những tệ nạn ấy Ðó cũng là một điểm
rất quan trọng thuộc về đạo đức kinh doanh của nhà doanh nghiệp ở nước ta Các