Nhiều khi họ chỉ dựa vào sách giáo viên và thực hiện một cách dập khuôn máy móc nội dung hớng dẫn trong sách giáo viên mà thiếu sự sáng tạo, cha phát huy đợc tính tích cực của học sinh b
Trang 1Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trờng Đại học s phạm Hà Nội I đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp kiến thức quý báu về nghiệp vụ s phạm cho em trong suốt khoá học Lớp đại học Tại chức - khoá K6B - Hải Dơng nhằm nâng cao chất lợng dạy học ở
bậc tiểu học
Đặc biệt đề tài này đựơc hoàn thành nhờ sự hớng dẫn tận tình chu đáo của cô Đặng Thị Kim Nga - giáo viên trờng Đại học s phạm Hà Nội I cùng với sự giúp đỡ của ban giám hiệu, giáo viên và học sinh Trờng tiểu học Hải Tân TP Hải Dơng Em hy vọng đề tài "rèn
kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 bằng hệ thống câu hỏi" có những đóng góp thiết
thực trong việc nâng cao chất lợng dạy và học ở bậc tiểu học
Kính mong nhận đựơc sự góp ý chân tình của các thầy cô, đặc biệt là cô Đặng Thị Kim Nga để đề tài nghiệp vụ s phạm của em hoàn thiện và đạt hiệu quả cao hơn
Hải Tân, ngày 10 tháng 3 năm 2008
Ngời thực hiện đề tài
Trần Thị Bích Hạnh
Trang 2Chơng III.Sử dụng hiệu quả hệ thống câu hỏi đọc hiểu sách giáo
3.1 Lấy học sinh làm trung tâm để thiết kế câu hỏi phù hợp 163.2 Khắc phục, điều chỉnh những hạn chế của câu hỏi trong sách giáo
khoa Tiếng việt 4
17
Kết luận
Trang 3Phần mở đầu
1/ lí do chọn đề tài
1.1 Tập đọc là một phân môn của chơng trình Tiếng Việt bậc Tiểu học, đây là một phân môn có tỉ lệ đặc biệt quan trọng trong chơng trình nó đảm nhận việc hình thành cho học sinh kỹ năng đọc một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc Tiểu học
Đọc là một hoạt động của ngôn ngữ là quá trình chuyển từ hình thữc chữ viết sang lời nói âm thanh và thông hiểu nó (đọc thành tiếng).Đọc còn là quá trình chuyển từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)
Nh vậy cả hai hình thức đọc thành tiếng và đọc thầm đều không thể tách rời đối với hiểu văn bản đọc
Chính vì vậy dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với một ngời đi học Đó là một khả năng không thể thiếu đợc của con ngời thời đại văn minh
Qua dạy tập đọc các em biết đọc các văn bản và tiếp nhận nội dung từng văn bản Nhờ biết đọc, các em đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần Từ đây, các em biết tìm hiểu, biết đánh giá cuộc sống nhận thức mối quan hệ về tự nhiên và t duy Hơn thế nữa qua tiết dạy tập đọc, ở từng bài giúp các em không thể thức tỉnh về nhận thức mà còn rung
động tình cảm, nảy nở những ớc mơ tốt đẹp, năng lực hành động đợc khơi dậy, sức mạnh sáng tạo đợc phát triển
1.2 Xuất phát từ thực tế dạy học phân môn tập đọc ở lớp 4
Thực trang dạy tập đọc trên cả hai đối tợng: giáo viên và học sinh ở một số trờng tiểu học tại địa phơng tôi công tác vẫn còn nhiều hạn chế Theo đánh giá chủ quan của bản thân tôi, sự hạn chế đó là do nhiều yếu tố nh: Giáo viên truyền thụ kiến thức tới học sinh một cách áp đặt theo nội dung kiến thức sách giáo khoa mà cha tìm đợc những điểm bất hợp lý của sách giáo khoa Có giờ dạy đọc thì hết sức khó khăn vì giáo viên không hiểu nội dung chính của bài đọc, song cũng có giờ dạy đọc thì giáo viên lại biến nó thành giờ giảng văn Giáo viên thờng sử dụng y nguyên những câu hỏi trong sách giáo khoa để đàm thoại Thiếu sự quan tâm đúng mức tới việc nghiên cứu nội dung bài đọc và những câu hỏi trong sách giáo khoa để điều chỉnh phơng pháp giảng dạy cho phù hợp Nhiều khi họ chỉ dựa vào sách giáo viên và thực hiện một cách dập khuôn máy móc nội dung hớng dẫn trong sách giáo viên mà thiếu sự sáng tạo, cha phát huy đợc tính tích cực của học sinh bởi những câu hỏi mà giáo viên đa ra cho học sinh không phù hợp với trình độ của các em, từ
đó học sinh chán học
Trang 4Trong dạy đọc giáo viên còn lúng túng, cha biết tổ chức nh thế nào để rèn luyện kỹ năng đọc hiểu học sinh nên cha nắm bắt đợc mức độ hiểu nội dung bài đọc của các em đến
đâu Nhiều giáo viên khi dạy một bài đọc cũng chỉ nhằm mục đích chính là: các em đọc to
rõ ràng và trả lời những câu hỏi giáo viên đa ra từ sách giáo khoa, mức độ của việc trả lời cũng chỉ dừng lại ở việc đọc lại một hay nhiều câu văn trong bài đọc mà không tự nói ra đ-
ợc ý hiểu của các em
Về phía học sinh các em học sinh tiểu học phần lớn các em đọc mà không hiểu bài
đọc, các em chỉ cố gắng đọc to, rõ ràng đối với những bài tập đọc và thuộc lời những bài
có yêu cầu cần học thuộc lòng
Chính không hiểu bài đọc nên các em còn đọc sai nhiều mà không biết là đã đọc sai, các em cha có năng lực đọc diễn cảm bởi các em cha hiểu bài đọc
Đó chính là thực trạng về vấn đề dạy - học Tập đọc ở một số nhà trờng tiểu học hiện nay ở bậc học này, rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh đòi hỏi phải có quá trình luyện tập lâu dài từ các lớp đầu cấp đến các lớp cuối cấp mà quan trọng nhất là giai đoạn lớp 4 - 5
1.3 Xuất phát từ những vấn đề trong thực tiễn về nhu cầu của bản thân phải trau dồi kiến thức chuyên môn để nâng cao năng lực của mình, nâng cao chất lợng dạy học, để làm chủ sách giáo khoa,chơng tình mới hiện nay tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài : “Rèn luyện
kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 bằng hệ thống câu hỏi
2/ Đối tợng và mục đích nghiên cứu
2.1 Đối tợng
- Nội dung chơng trình phân môn Tiếng Việt lớp 4
- Học sinh lớp 4A Trờng tiểu học Hải Tân- TP Hải Dơng
2.2 Mục đích
- Đề tài nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả của việc đọc hiểu cho học sinh lớp 4 thông qua hệ thống câu hỏi
3/ Phơng pháp nghiên cú
3.1 Phân tích các tài liệu dạy học
Để tiến hành làm đề tài này tôi đã thu thập sách giáo khoa Tiếng việt lớp 4, sách giáo viên và sách tham khảo
Trớc hết tôi đọc kĩ các bài tập đọc có trong sách Tiếng việt, nắm bắt nội dung và rà soát từng câu hỏi có trong sách ở mỗi bài phân tích để phát hiện câu hỏi hay và thu thập
Trang 5Sau đó tôi nghiên cứu đọc sách giáo viên xem với những câu hỏi khó họ đã chia, tách hay thay đổi bằng những câu hỏi nhỏ nh thế nào? trong khi dạy bài đó tôi ghi chép lại
Với học sinh tôi dùng phơng pháp thăm dò bằng TEST vừa đóng vừa mở
Ví dụ:
Em có thích học môn này không?
Tại sao em lại thích?
Nếu đợc lựa chọn em sẽ chọn môn nào?
Vì sao em lại chọn môn đó?
Em có hứng thú học môn này không?
Vì sao em hứng thú? (hay vì sao không hứng thú)
3.3 Phơng pháp dạy thực nghiệm
Để điều tra tính khả thi của mình khắc phục hạn chế tôi soạn dạy một bài minh hoạ
đó là bài:” Trung thu độc lập” (Lớp 4 tập I trang 66)
Phần nội dung
Chơng I
Nội dung dạy học Tập đọc lớp 4 1.1 Mục tiêu dạy tập đọc lớp 4
Tập đọc với t cách là một phân môn của Tiếng việt ở bậc tiểu học, nó có nhiệm vụ
đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh Vì thế mục tiêu quan trọng nhất của nó là:
- Hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc đợc tạo nên từ 4 kĩ năng cũng là 4 yêu cầu về chất lợng của “đọc” Đọc đúng, đọc nhanh (đọc lu loát trôi chảy) đọc hiểu, đọc diễm cảm Bốn kĩ năng này đợc hình thành trong hai hình thức đọc: Đọc thành
Trang 6tiếng và đọc thầm Chúng đợc hình thành và hỗ trợ lẫn nhau vì vậy trong dạy học đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phong cách và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách giáo khoa Nói cách khác thông qua việc dạy đọc phải giúp cho học sinh thấy đợc khả năng đọc là có lợi cho các em trong suốt cuộc đời Phải làm cho các em thấy đợc đó là một trong những con đờng để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ
đầy đủ và phát triển
- Ngoài ra, dạy đọc còn làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kién thức văn học cho học sinh Phát triển ngôn ngữ cho học sinh giáo dục t tởng đạo đức, tình cảm thị hiếu, thẩm mỹ cho học sinh Giúp học sinh biết đọc để giao tiếp và giải trí
1.2 Nội dung:
Dạy tập đọc lớp 4 có nội dung sau:
- Củng cố, nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh
Thông qua giờ bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật, báo chí khoa học Nhằm tiếp tục củng cố nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã đợc hình thành phát triển từ các lớp dới đồng thời rèn luyện một kĩ năng mới là đọc diễn cảm
Phát triển kĩ năng đọc – hiểu lên mức cao hơn: nắm và vận dụng đợc một số khái niệm nh đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách Để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ
- Qua đó mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con ngời đểu góp phần hình thành nhân cách con ngời mới
1.3 Phơng pháp dạy học chủ yếu:
Nh chúng ta đã biết:” Không có một phơng pháp nào là vạn năng không có một con
đờng duy nhất nào đi tới đích” Để dạy tập đọc đạt hiệu quả cao trong mỗi giờ tập đọc chúng ta phải vận dụng linh hoạt các phơng pháp Cụ thể là:
- Phơng pháp đàm thoại: Phơng pháp này thờng dùng khi kiểm tra bài cũ hay trong lúc tìm hiểu nội dung bài, có thể là giáo viên phát vấn trớc hay cũng có thể học sinh phát vấn hỏi bạn
- Phong pháp sử dụng đồ dùng trực quan: Đồ dùng đẹp sinh động có sức hấp dẫn lôi cuốn các em vào bài học Đặc biệt t duy của học sinh tiểu học là t duy trực quan sinh động vì vậy phong pháp này rất phù hớp với các em Chúng ta có thể dùng bức tranh, ảnh vẽ,
ảnh chụp phóng to dùng trong lúc giới thiệu bài hay dùng để giảng từ
Trang 7- Phơng pháp thảo luận nêu vấn đề: Trong một giờ học việc thay đổi hình thức học tập là rất cần thiết Nếu các em chỉ nghe để trả lời hay đặt câu hỏi để hỏi bạn mãi thì rất nhàm chán dẫn tới các em không hứng thú học tập Vì vậy ngời giáo viên cần tổ chức cho các em thảo luận nhóm hay nêu ra vấn đề trong lúc đọc hiểu hay lúc giảng từ
- Phơng pháp luyện tập: Trong thực tế mỗi bài tập đọc gồm hai phần lớn: luyện đọc
và tìm hiểu nội dung Phần luyện đọc giúp các em làm quen thành thạo với văn bản trên cơ
sở đó các em dễ hiểu đợc nội dung khi các em đã hiểu đợc nội dung mà tác giả muốn nói tới qua việc sử dụng những từ ngữ và các biện pháp tu từ của tác giả giúp các em có ý thức
việt 4 2.1 Thống kê phân loại hệ thống câu hỏi đọc hiểu sách giáo khoa Tiếng việt 4
Dựa vào mục đích chia câu hỏi thành 3 loại:
- Câu hỏi nhận diện
- Câu hỏi cắt nghĩa
- Câu hỏi phản hồi
a)Câu hỏi nhận diện: Đây là loại câu hỏi giúp học sinh tái hiện đợc điều mà nội dung bài trình bày Nội dung câu hỏi thờng là những câu hỏi: tìm về những từ ngữ, hình
ảnh các câu văn, hay ý của đoạn Loại câu hỏi này thờng đứng ở vị trí số 1, số 2 trong hệ thống câu hỏi của bài
Nh bài đầu tiên của chơng trình lớp 4 Dế Mèn bênh vực kẻ yếu.
Câu hỏi 1: Tìm những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt?
Hay bài Th thăm bạn - tuần 3.
Trang 8Câu hỏi 2: Tìm những câu cho thấy bạn Lơng rất thông cảm với bạn Hồng? Hay câu hỏi: Hình ảnh Ông lão ăn xin đáng thơng nh thế nào? - Bài Ngời ăn xin - tuần 3.
Nh vậy bằng câu hỏi nhận diện dựa vào bài tập đọc các em sẽ tìm đợc những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt: “Thân hình chị nhỏ bé, gầy yếu, ngời bự những phấn nh mới lột Cánh chị mỏng, ngẵn chùn chũn, quá yếu lại cha quen mở Vì ốm yếu chị kiếm bữa cũng chẳng đủ lên lâm vào cảnh nghèo túng” Hay những câu văn nói nên Lơng rất thông cảm với bạn Hồng khi cảnh lũ lụt đã cớp đi ngời cha yêu quý của mình: “ Đọc báo Thiếu niên Tiền phong, mình rất xúc động đợc biết ba của Hồng đã hy sinh trong trận lũ lụt vừa rồi Mình gửi bức th này chia buồn với bạn Mình hiểu Hồng đau đớn và thiệt thòi
nh thế nào khi ba Hồng đã ra đi mãi mãi”
Với loại câu hỏi này rất phù hợp với trình độ học sinh trung bình vì đòi hỏi trình độ
t duy thấp, phù hợp khi các em bắt đầu tìm hiểu nội dung của mỗi văn bản sau bớc luyện
đọc
b)Câu hỏi cắt nghĩa:
Ngoài câu hỏi nhận diện trong mỗi bài tập đọc còn xuất hiện những câu hỏi có nội dung yêu cầu học sinh phải giải thích ý nghĩa của từ ngữ nào đó hay cần giải thích ý nghĩa của hình ảnh tiêu biểu có trong bài Loại câu hỏi này đòi hỏi các em phải có sự t duy khá lô gíc, khá nhạy bén
Hình thức ở dạng câu hỏi này có thể đa “từ” ra và yêu cầu từ này nghĩa là gì hay em hiểu “hình ảnh này” nh thế nào?
Nh vậy có yêu cầu đó học sinh phải dựa vào nghĩa của tù hay ý nghĩa của hình đó
mà trả lời câu hỏi Ví nh trong bài Hoa học trò tập đọc 4.
Câu hỏi 2: Tại sao tác giả lại so sánh những tán hoa phợng nh muôn ngàn con bớm thắm đậu khít nhau
ở câu này các em trả lời phải khái quát đợc ý hiểu của mình về cánh hoa, nhị hoa và
số lợng hoa phợng mà trong bài nói tới nh: “ Tác giả so sánh những tán hoa phợng đậu khít nhau”
- Nhìn cánh hoa phợng giống nh cánh bớm
- Nhị của hoa hệt nh râu của con bớm
- Số lợng của hoa phợng rất lớn
Nh vậy hoa phợng là loài hoa nhiều về số lợng, tơi thắm về màu sắc và có cách nở rất đặc biệt – nở đồng loạt
Trang 9Hay ở câu 5: Tại sao tác giả gọi hoa phợng là Hoa học trò, lại nói là nỗi niềm bông phợng gắn với niềm vui buồn của tuổi học trò.
ở câu này các em phải có sự suy luận và liên tởng để trả lời đợc: mùa hoa phợng nở kết thúc năm học, báo hiệu mùa thi và ở sân trờng nào cũng trồng phợng
Hay với bài Chị em tôi ở câu hỏi 2 : Vì sao mỗi lần nói dối cô chị lại thấy ân hận ?
Dựa vào đoạn đầu của bài, học sinh giải thích đợc mỗi lần nói dỗi cô chị lại thấy ân hận bởi cô rất thơng ba, biết mình đã phụ lòng tin của ba nhng vẫn tặc lỡi nói dối ba vì cô đã quen nói dối nhiều lần
Những câu hỏi nh trên là câu hỏi ở dạng cắt nghĩa, nó thờng nằm ở câu thứ 2, thứ 3 trong hệ thống câu hỏi của mỗi bài
c)Câu hỏi phản hồi:
Dạng câu hỏi này giúp học sinh phát hiện đợc mục đích hay ý nghĩa của nội dung bài Dạng câu hỏi này tác động đến ngời đọc, ngời đọc phải phô cái ý đấy ra ý đó có thể
về nội dung hay nghệ thuật của văn bản Các câu hỏi đó thờng nằm ở vị trí cuối cùng trong
hệ thống câu hỏi của bài Thờng có nội dung hỏi: Em có nhận xét gì? Hay Em thích hình
ảnh nào? Vì sao?
Chúng ta có thể nhận ra rất rõ các câu hỏi phản hồi Bài Dế Mèn bênh vực kẻ yếu
(tiết 1) câu hỏi 4: Nêu một hình ảnh nhân hoá mà em thích? Cho biết vì sao em thích?
Muốn trả lời đúng câu hỏi này các em phải nắm đợc văn bản hiểu đợc nội dung của bài mới cho ra một đáp án chính xác và hay Có những em thích hình ảnh: “Nhà Trò ngồi gục đầu bên tảng đá cuội mặc áo thâm dài, ngời bự phấn “ Vì hình ảnh này tả rất đúng về Nhà Trò giống nh một cố gái đáng thơng và yếu đuối Nhng cũng có những em học sinh lại thích hình ảnh Dế Mèn xoè cả hai càng ra, bảo Nhà Trò: “Em đừng sợ Hãy trở về cùng với tôi đây Đứa độc ác không thể cậy khoẻ ăn hiếp kẻ yếu” Hình ảnh này cho ta thấy Dế Mèn nh một võ sĩ oai vệ lời lẽ mạnh mẽ và nghĩa hiệp Song cũng có em thích hình ảnh: “
Dế Mèn dắt Nhà Trò đi một quãng thì tới chỗ mai phục của bọn nhện” Vì hình ảnh này tả
Dế Mèn rất dũng cảm, Dế Mèn biết che trở, bảo vệ kẻ yếu, đi thẳng tới chỗ mai phục của bọn nhện
Hay với bài Tre Việt Nam - tuần 4, ở câu hỏi 2: Em thích những hình ảnh nào về
cây tre và búp măng non? Vì sao?
Các em đọc lớt toàn bài và tìm ra cho mình hình ảnh mà em thích và giải thích đợc vì sao em thích? Nhiều học sinh phát biểu, các em có thể thích những hình ảnh nh: “ Có manh áo cộc tre nhờng cho con” bởi cái mo tre màu nâu, bao quanh cây măng lúc mới
Trang 10mọc nh chiếc áo mà tre nhờng cho con Hình ảnh: “Nòi tre đâu chịu mọc cong, cha nên đã nhọn nh chông lạ thờng” vì cây măng rất khởe khoắn, rất ngay thẳng và khảng khái, không chịu mọc cong Hình ảnh “Mai sau, mai sau, mai sau Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh” bằng điệp từ, điệp ngữ cho ta thấy sự kế tiếp liên tục của các thế hệ - tre già, măng mọc giống nh sự duy trì nòi giống của con ngời đồng thời cho ta thấy sức sống mạnh mẽ, bất diệt của cây tre.
Hay đến với tuần 30 chúng ta bắt gặp bài thơ Dòng sông mặc áo ở câu hỏi 4: Em
thích hình ảnh nào trong bài? Vì sao em thích? Các em tự chọn cho mình hình ảnh
mà em tâm đắc nhất, biết thuyết phục ngời đọc bởi cái thích của mình Có những em thích hình ảnh:
“Dòng sông mới điệu làm sao
Nắng lên mặc áo lụa đào thớt tha”
Bởi hình ảnh này cho ta thấy, dòng sông nh các cô gái thiếu nữ thật mềm mại thớt tha, uyển chuyển và rất gợi cảm Có những em lại cho rằng em thích hình ảnh:
“Chiều trôi thơ thẩn áng mâyCài lên màu áo hây hây dáng vàng Rèm thêu trớc ngực vầng trăngTrên nền nhung tím trăm ngàn sao lên”
Vào buổi chiều tà khi hoàng hôn buông xuống dòng sông vào buổi tối đợc trải rộng một màu nhung tím in hình ảnh vầng trăng và trăm ngàn ngôi sao lấp lánh tạo thành bức tranh đẹp, nhiều màu sắc lung linh, huyền ảo Dòng sông thật đẹp thơ mộng và lãng mạn
Hay đến với bài Con chuồn chuồn nứơc của tác giả Nguyễn Thế Hội - tuần 31.ở
câu hỏi 2: Em thích hình ảnh so sánh nào? Vì sao? Các em có thể thích những hình ảnh so sánh khác nhau Có em thích hình ảnh: “Chuồn chuồn với bốn cái cánh mỏng nh giấy bóng, hai con mắt long lanh nh thuỷ tinh” Vì đó là hình ảnh so sánh đẹp giúp các em hình dung đợc rõ hơn về đôi cánh và cặp mắt đợc tác giả miêu tả thật tinh tế Có những em lại thích hình ảnh “ Thân chú nhỏ và thon vàng nh màu vàng của nắng mùa thu, bốn cánh khẽ rung rung nh còn đang phân vân” Bằng hình ảnh so sánh này giúp các em hình dung đợc
rõ hơn màu sắc của thân con chuồn chuồn, độ rung thật khẽ khàng của cánh khi chú chuồn chuồn đang đậu trên một cành lộc vừng thật mảnh dẻ Cách so sánh đó thật mới lạ: so sánh
Trang 11màu vàng của thân chuồn chuồn với màu của nắng, so sánh độ rung của cánh với tâm trạng phân vân của con ngời
Nh vậy với dạng câu hỏi phản hồi buộc các em phải động não, phải suy nghĩ phải liên tởng qua những hình ảnh chi tiết trong bài để bộc lộ quan điểm của mình với yêu cầu cần hỏi làm cho ngời nghe hiểu đợc và thấy đợc những nét thật độc đáo qua nội dung và nghệ thuật của bài đọc qua đó giúp các em phát triển t duy biết đào sâu suy nghĩ và thêm yêu thích Tiếng Việt
Nh ở bài Dế Mèn bệnh vực kẻ yếu ( tiết 1 của nhà văn Tô Hoài)
Câu hỏi 1: Tìm những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt
Câu hỏi 2: Nhà trò bị bọn nhện ức hiếp, đe doạ nh thế nào?
Câu hỏi 3: Những lời nói, cử chỉ nào nói lên tấm lòng nghĩa hiệp của Dế Mèn
Câu hỏi 4: Nêu một hình ảnh nhân hoá mà em thích Cho biết vì sao em thích?
Chúng ta dế dàng thấy câu hỏi 1; thuộc câu hỏi nhận diện
Câu hỏi 2,3; thuộc câu hỏi cắt nghĩa
Câu hỏi 4 thuộc câu hỏi phản hồi
Trang 12Hay dến với bài Nếu chúng mình có phép lạ - tuần 8 hệ thống câu hỏi phân loại rất rõ:
* Câu hỏi nhận diện là câu 1,2
1 Câu thơ nào đợc lặp lại nhiều lần trong bài việc lặp lại nhiều lần câu thơ ấy nói lên điều gì?
2 Mỗi khổ thơ nói lên một điều ớc của các bạn nhỏ Những điều ớc ấy là gì?
* Câu hỏi cắt nghĩa là câu 3
3 Hãy giải thích ý nghĩa của những cách nói sau:
a Ước “không còn mùa đông”
b Ước “ hoá trái bom thành trái ngon”
* Câu hỏi phản hồi là câu 4
4 Em thích mơ ớc nào trong bài? Vì sao?
- Trong hệ thống câu hỏi có những câu hỏi rất thú vị
Ví dụ: Bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ” của tác giả Nguyễn Khoa
Điềm Câu hỏi 1: Em hiểu thế nào là “những em bé lớn trên lng mẹ”? Qua trả lời câu hỏi các em sẽ hiểu đợc : ở trên miền núi ngời phụ nữ đi đâu, làm việc gì cũng thòng địu con đi theo Ngay cả những lúc ngủ em bé cũng nằm trên lng mẹ Có thể nói: Sự lớn lên của em
bé ở trên lng mẹ Hay câu hỏi 1 trong bài “ Hoa học trò” – tuần 23 Tại sao tác giả lại gọi hoa phợng là “Hoa học trò” vì phợng là loài cây rất gần gũi, quen thuộc với học trò Phợng thờng đợc trồng trên các sân trờng và nở vào mùa thi của học trò Thấy màu hoa phợng học trò nghĩ đến kỳ thi và những ngày nghỉ hè.Hoa phợng gắn với kỉ niệm của rất nhiều học trò
về mái trờng
- Cái hay thứ ba của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Tiếng việt 4 là: Có những câu hỏi ở dạng trắc nghiệm Chính những câu hỏi trắc nghiệm là cách diễn đạt khác của loại câu hỏi thứ 3 – câu hỏi phản hồi Cách diễn đạt đó đã giảm đợc độ khó cho học sinh
Với bài Ông Trạng thả diều – tuần 11 câu hỏi 4: Tục ngữ hoặc thành ngữ nào dới
đây nói đúng ý nghĩa của câu chuyện trên?
a Tuổi trẻ tài cao
b Có chí thì nên
c Công thành danh toại
Trang 13Trên cơ sở các em đã tìm hiểu song câu hỏi 1,2,3 trong sách giáo khoa các em đã lắm bắt đợc nội dung của bài Các em cùng nhau trao đổi thảo luận xem ý nghĩa của từng câu tục ngữ, thành ngữ nêu trên.
Câu: tuổi trẻ tài cao ý muốn ca ngợi một con ngời tuổi đời rất ít nhng có tài
Câu: “ Có chí thì nên” muốn khuyên chúng ta nếu con ngời có ý chí vợt lên mọi khó khăn gian khổ thì đều thành công
Câu: “ Công thành danh toại” muốn nói tới một con ngời đỗ đạt cao
Nh vậy ở mỗi câu thành ngữ, tục ngữ đều có ý đúng Nguyễn Hiền “ tuổi trẻ tài cao”
là ngời “ Công thành danh toại” nhng điều mà câu chuyện muốn khuyên ta là “ Có chí thì nên”
Bằng sự lập luận học sinh sẽ tìm đợc ý đúng nhất nên ý nghĩa của truyện là câu tục ngữ “Có chí thì nên” làm cho học sinh dễ dàng nêu đợc ý nghĩa của câu chuyện ca ngợi chú bé Nguyễn Hiền thông minh, có ý chí vợt khó đã đỗ Trạng nguyên khi mới 13 tuổi
Hay đến với bài: Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất trang 30 ở câu hỏi 3: Hạm đội của Ma-gien-lăng đã đi theo hành trình nào? Chọn ý đúng:
a Châu Âu - Đại Tây Dơng - châu Mỹ - châu Âu
b Châu Âu - Đại Tây Dơng - Thái Bình Dơng - châu á - châu Âu
c Châu Âu - Đại Tây Dơng - châu Mỹ - Thái Bình Dơng - châu á - Ân Độ Dơng - châu Âu
Đây là một bài học tích hợp kiến thức tự nhiên xã hội với rất nhiều từ có tên nớc ngoài và địa danh lịch sử quả thật trong một tiết học các em làm quen với bài đọc và tìm hiểu nội dung, hiểu đợc ý nghĩa của bài là rất khó khăn Nếu cứ để các em tự tìm ra hành trình mà hạm đội của Ma-gien-lăng đã đi thi đó là điều khó chính xác với một số em đặc biệt những em ít làm quen với địa danh thế giới – các châu lục của thế giới Nhng với dạng câu hỏi 3 đã đa ra ba hành trình khác nhau yêu cầu các em chọn ý dúng nhất thì lần theo thứ tự từng đoạn trong bài tập đọc các em dễ tìm ra một hành trình đúng mà hạm đội của Ma-gien-lăng đã đi đó là ý c
Một lần nữa khẳng định với cách trình bày câu hỏi ở dạng trắc nghiệm đã giảm đi rất nhiều độ khó của câu hỏi làm cho các em tiếp nhận nội dung bài học một cách tốt hơn
đảm bảo thời gian cho tiết học và giờ học sinh động, học sinh hứng thú học tập
Bên cạnh những cái hay, cái thú vị của biết bao câu hỏi trong hệ thống câu hỏi bài tập đọc chúng ta còn bắt gặp không ít những khó khăn
Trang 14b Nhận xét nhợc điểm
- Hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa đã thiết kế những câu hỏi trùng lặp nhau
Nh bài Truyện cổ nớc mình của Lâm Thị Mỹ Dạ ỏ câu hỏi 2: bài thơ gợi cho em
nhớ đến những truyện cổ nào? đọc qua các dòng thơ học sinh sẽ phát hiện đợc các truyện
cổ đợc nhắc đến trong bài thơ: Tấm Cám (thị thơm thì giấu ngời thơm), Đẽo cày giữa đờng (Đẽo cày theo ý ngời ta) , Cây khế, Thạch Sanh học sinh còn kể đợc các câu chuyện khác
có nội dung nhân hậu, thơng ngời, ở hiền gặp hiền Nhng sang tới câu hỏi thứ 3: tìm thêm những truyện cổ khác thể hiện lòng nhân hậu của ngời Việt Nam ta Nh vậy các em lại nêu ra những truyện mà các em biết có hầu hết các câu chuyên đã đợc nhắc tới trong câu hỏi thứ 2 nh : Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây khế
Vậy giá trị của câu hỏi không cao nội dung trả lời đợc lặp đi lặp lại khiến cho các
em không ít băn khoăn bởi trả lẽ đáp án trả lời ở câu hỏi 1 lại đợc lặp lại ở câu hỏi 2 Đó là tính không hay của những câu hỏi có nội dung trùng lặp
- Thứ hai, trong hệ thống câu hỏi có những câu hỏi đón đầu tức là ý hỏi đợc cài đặt, rồi lại áp đặt học sinh phải tìm
Ví nh: Trong bài :Đôi giày ba ta màu xanh trang 81 ở câu hỏi thứ nhất : tìm những
câu văn miêu tả vẻ đẹp của đôi giày ba ta Cha cần trả lời câu hỏi học sinh đã biết đợc đôi giày ba ta rất đẹp
Đáp án của câu 1: Đôi giày ba ta rất đẹp Cổ giày ôm sát chân Thân giày làm bằng vải cứng dáng thon thả màu vải nh màu da trời những ngày thu Phần thân gần sát cổ có hai hàng khuy dập, luồn một sợi dây trắng nhỏ vắt ngang”
Nh vậy ý trả lời của câu hỏi đã có ngay ở lời hỏi
Hay đến với tuần 22 chúng ta bắt gặp bài: Chợ tết, ở câu hỏi 4: bài thơ là một bức
tranh giàu màu sắc về chợ Tết Em hãy tìm những từ ngữ đã tạo nên bức tranh giàu màu sắc ấy Câu hỏi không nên đa ra sẵn lời nhận xét về buổi chợ vào ngày giáp Tết Câu hỏi chỉ cần yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ tả cảnh chợ vào ngày giáp tết Qua cách trả lời các em sẽ thấy đợc bức tranh giàu màu sắc ấy
Hoặc bài: Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ, ở câu hỏi 3 là câu hỏi áp đặt:
Tìm những hình ảnh đẹp nói nên tình yêu thơng và niềm hy vọng của ngời mẹ đối với con
- Cái cha đợc thứ ba của hệ thống câu hỏi sách giáo khoa Tiếng việt 4 : Có những câu hỏi diễn đạt rất vụng về câu chữ hình ảnh rất tối nghĩa, mục đích không rõ ràng Nh câu hỏi 1 trong bài Ngời ăn xin hình ảnh ông lão ăn xin đáng thơng nh thế nào? Bài tập