Không chỉ thực hiện tốt kế hoạch cấp trên giao, Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình còn được đánh giá cao trong việc thực hiện chính sách xã hội, Công ty đã dành hơn một tỷ đồng một phần trích
Trang 1KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm chung của tình hình phát triển xăng dầu hiện nay
Công nghiệp năng lượng là một ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt từ năm 1859 ngành dầu khí được phát triển, đây là một bước tiến lớn của lịch sử nhân loại, dầu khí được xem như là "máu" của nền công nghiệp, một thứ khoáng sản rất có giá trị Dầu khí có lợi thế là sinh nhiệt lớn, dễ dàng trong công tác vận chuyển nên đã nhanh chóng được đưa vào sử dụng trên toàn thế giới Trữ lượng dầu mỏ lớn nhất nằm ở khu vực Trung Đông,
Mỹ La Tinh, Đông Á , mỗi năm khai thác khoảng 3,5 tỉ tấn dầu Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1945 các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất đã nhóm họp và lập ra khối OPEC hay còn gọi là khối liên minh các nước sản xuất dầu lửa Mục đích của khối liên minh các nước sản xuất dầu lửa là để
ổn đinh giá xăng dầu , nó được ấn định một mức giá nhất định hàng năm, ngoài ra nó còn ấn định trữ lượng dầu mỏ khai thác hàng năm nhằm tạo nên sự ổn định và phát triển
Kể từ khi ngành Công nghiệp dầu khí ra đời thay thế cho công nghiệp than và củi là hai dạng chất đốt chủ yếu khi công nghiệp dầu khí chưa ra đời
Nó đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các nước có ngành công nghiệp dầu khí, nhất là khi công nghiệp hoá lọc dầu ra đời đã nâng cao chất lượng xăng dầu Ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển sau công nghiệp dầu khí thế giới là 127 năm, bắt đầu từ năm 1986 cho đến nay ngành công nghiệp dầu khí đã chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong ngành công nghiệp của nước ta nói chung và ngành công nghiệp năng lượng nói riêng Theo kết quả thăm dò phần lớn các mỏ dầu nằm ở vùng biển phía Nam như ở Vũng Tàu, đây là nơi có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất trong cả nước và một phần nằm ở thềm lục địa phía Bắc Trữ lượng dầu mỏ tương đối lớn theo kết quả
Trang 2những mỏ khai thác được trữ lượng chỉ khoảng một nửa khoảng 5 tỉ tấn, còn phần lớn nằm sâu dưới lòng đất không có khả năng khai thác Những năm đầu trữ lượng dầu khí khai thác được khoảng 2.5 triệu tấn dầu thô (1990) , đến năm 1993 chúng ta khai thác được 6,3 triệu tấn dầu thô với giá trị xuất khẩu là 850 triệu USD, năm 1995 là 7,6 triệu tấn dầu thô Và trong năm 2003 chúng ta đã khai thác được trên 7 triệu tấn dầu thô Qua cho chúng ta thấy chỉ sau 17 năm hoạt động ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ và nó được xem như là một trong những ngành mũi nhọn của ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam Ngoài những
mỏ dầu trữ lượng lớn nằm dải dác thềm lục địc phia Bắc và phía Nam thì chúng ta còn thăm dò được mỏ khí tự nhiên ở Tiền Hải -Thái Bình với trữ lượng rất lớn và hiệu quả kinh tế cao Tuy vậy đến nay, ngành dầu khí Việt Nam chủ yếu vẫn xuất khẩu dầu thô sang các nước và nhập xăng dầu đã qua chế biến, xử lý Để sử dụng ngay tại chỗ nguồn dầu khí năm2000 nhà nước ta
đã cho khởi công xây dựng nhà máy hoá lọc dầu đầu tiên tại Việt Nam đó là nhà máy hoá lọc dầu Dung Quất và dự kiến sẽ đưa vào hoạt động trong những năm tới nhằm giảm sản lượng dầu nhập khẩu hàng năm.
Công nghiệp dầu khí là một trong những ngành có nhiều triển vọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao Vì thế những năm gần đây ngành dầu khí Việt Nam phát triển rất mạnh Bên cạnh đó còn không ít khó khăn tình trạng khủng hoảng dầu lửa do nhu cầu sử dụng dầu lửa trên thế giới ngày một tăng, trong khi đó các nước sản xuất dầu lửa trong khối OPEC nhóm họp và tiếp tục đi đến quyết đinh cắt giảm sản lượng dầu mỏ hàng năm nhằm ổn định giá cả, đẩy giá dầu lên cao Theo thông báo mới nhất những ngày đầu năm 2004 các nước OPEC đã họp thường kỳ và quyết định tiếp tục giảm sản lượng dầu lửa hàng năm, ngày 1/4/2004 sản lượng dầu mỏ tiếp tục giảm xuống còn 26.5 triệu thùng/ năm Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến các
Trang 3nước tiêu thụ dầu lớn nhất trên thế giới như Mỹ, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các nước nhập khẩu dầu lửa trong đó có Việt Nam.
Trong những năm qua không chỉ có ngành dầu mỏ thế giới có nhiều biến động mà ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam cũng có sự biến động giá xăng dầu thế giới tăng tác động trực tiếp đẩy giá xăng dầu trong nước lên, đầu năm 2004 giá xăng dầu tiếp tục tăng mỗi lít xăng dầu tăng 400 đồng/ lít, từ 5600 đồng/ lít lên 6000 đồng/ lít và con số này tiếp tục tăng nếu như thị trường dầu lửa thế giới tiếp tục có sự biến động Tuy vậy, sức mua của người tiêu dùng rất lớn không giảm mà còn tăng lên trong năm 2004 Để có thể đứng vững trên thị trường ngành dầu khí Việt Nam cần có một sự cải tổ nhằm thích nghi được với môi trường Không nằm ngoài quy luật đó Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình đang đứng trước sự cạnh tranh rất lớn của những đơn vị ngoài ngành và đơn vị trong ngành có lợi thế kinh doanh hơn Để khẳng đinh được vị trí của mình trên thị trường Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình phải có đội ngũ nguồn nhân lực trẻ khoẻ, năng động, có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật cao được sắp xếp một cách hợp lý Mỗi một lao động đảm nhận công việc phù hợp với khả năng, ý nguyện, nhiệm vụ công việc để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình.
Thành lập ngày 17/6/1991 chính thức hoạt động ngày 1/7/1991, đến nay, Petrolimex Hà Sơn Bình phát triển hơn một thập kỷ Ra đời đúng vào thời điểm đất nước chuyển mình sang cơ chế mới, thị trường xăng dầu miền Bắc bước vào thời kỳ cạnh tranh; hoạt động trên địa bàn 3 tỉnh Hà Tây, Hoà Bình, Sơn La với diện tích gần 2 vạn k m 2 , dân số 4 triệu người, kinh tế chưa phát triển, nhu cầu sử dụng xăng dầu ít, đã đặt ra cho Công ty những cơ hội
Trang 4Nhớ ngày khai sinh trên cơ sở hợp nhất xí nghiệp xăng dầu Hà Sơn Bình thuộc Công ty xăng dầu khu vực I và kho K 133 thuộc Công ty xăng dầu B 12 , cơ
sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lòng người chưa yên nguồn lực mỏng manh với 200 lao động, 11 cửa hàng, 3300 m 3 kho bể và 2 tỉ đồng vốn cố định, sau hơn 10 năm hoạt động Công ty đã có 646 lao động tăng gấp 4 lần,
60 cửa hàng tăng gấp 5 lần, 14.000 m 3 kho bể tăng gấp 4 lần và 24 tỉ đồng vốn cố định tăng gấp 12 lần
Hơn mười năm qua, Công ty đã bán râ 830.000 m 3 xăng dầu, 8000 tấn dầu mỡ nhờn, 600.000 lon, chai dầu, 2000 tấn Gas, 2500 bộ bếp Gas, đạt doanh số 2500 tỷ đồng, nộp ngân sách 260 tỷ đồng, tổng lợi nhuận 50 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về số lượng bán: 8%; về doanh số: 12%; nộp ngân sách là15%
Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp, đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên chức ngày càng được cải thiện, bình quân thu nhập người lao động tăng 11%/ năm Tuy mới được thành lập từ năm 1991, nhưng đến nay Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình đã từng bước khẳng định được vị trí của mình trên thị trường Số lượng nhiên liệu bán tính bằng (m 3 ) ngày càng tăng nếu như năm 2001 sản lượng nhiên liệu bán là 117.500 m 3 , năm 2002 sản lượng nhiên liệu bán là 92.800 m 3 , năm 2003 sản lượng nhiên liệu bán là 177.000 m 3 Doanh thu năm 2001 là 463.362 triệu đồng, năm
2003 tăng 904.116 (triệu đồng) Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, mở rộng thị trường trong nước, Công ty từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần làm thường xuyên, không có lao động không bố trí công việc và đảm bao thu nhập cho người lao động là mục tiêu xuyên suốt trong hơn năm hoạt động Thu nhập của người lao động không ngừng tăng lên,
Trang 5thu nhập bình quân năm 2001 là 1.245.000 đồng / người / tháng, tăng 1.340.000 đồng / người / tháng, năm 2003 mức thu nhập bình quân / lao động tăng vượt trên con số 2 triệu đồng.
Từ 10 gian nhà cấp 4 khu tập thể Văn Yên khi mới thành lập Công ty đến nay đã hình thành làng xăng dầu với 60 căn hộ được cấp đất để tự làm nhà 3-4 tầng, có cơ sở hạ tầng khang trang; có khu văn hoá thể thao
Các khu nhà ở tập thể tại Hoà Bình, Sơn La đã và đang được nâng cấp dần, đồng thời xúc tiến đề nghị địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng đất
để người lao động tự làm nhà ở.
Ngoài ra, Công ty cũng rất chú ý chăm lo đến các phong trào văn hoá nghệ thuật, thể thao đây không chỉ là nhu cầu đời sống tinh thần của cán bộ công nhân viên chức, mà nó còn góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ chính trị, vừa đóng góp vào phong trào chung của Ngành và địa phương Không chỉ thực hiện tốt kế hoạch cấp trên giao, Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình còn được đánh giá cao trong việc thực hiện chính sách xã hội, Công
ty đã dành hơn một tỷ đồng( một phần trích từ quỹ phúc lợi, một phần do cán bộ công nhân viên tự nguyện đóng góp) để thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa, xoá đói giảm nghèo và công tác từ thiện, trong đó
- Dành 400 triệu đồng làm công tác đền ơn đáp nghĩa; phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, đóng góp vào quỹ đền ơn đáp nghĩa địa phương, xây dựng và sửa chữa nhà tình nghĩa, tổ chức cho cán bộ công nhân viên thuộc diện chính sách ưu tiên, đi thăm quan, tặng quà trung tâm điều dưỡng thương binh nặng, tặng quà và sổ tiết kiệm cho các gia đình chính sách gặp khó khăn.
- Dành 500 triệu đồng để thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo; thực hiện chương trình giúp 2 xã Minh Quang - Ba Vì - Hà Tây và Nậm La - Sông
Trang 6những hộ gia đình nghèo, cung cấp cho những thông tin về khoa học, Công nghệ và cho những hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất Bước đầu đã có kết quả tốt, cửa hàng xăng dầu số 31 - Minh Quang một nội dung trong chương trình xoá đói giảm nghèo chính thức hoạt động từ tháng 11 năm
2000, phục vụ nhu cầu về xăng dầu cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội địa phương mình.
- Dành 170 triệu đồng để làm công tác từ thiện, ủng hộ đồng bào bị thiên tai, ủng hộ trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi
Mặt khác, Công ty còn rất quan tâm đến công tác xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xác lập và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và tạo điều kiện cho các đoàn thể quần chúng hoạt động Đảng bộ Công ty có 5 chi bộ cùng với hai chi bộ cơ sở của hai chi nhánh, với 123 Đảng viên thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Doanh nghiệp.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công ty có 7 chi đoàn là lực lượng xung kích trong các hoạt động của doanh nghiệp.
Công đoàn Công ty thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động; vận động cán bộ Công nhân viên tích cực tham gia quản lý doanh nghiệp và xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh.
Trong quá trình phấn đấu hơn 10 năm, Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình xứng đáng đạt danh hiệu mà Đảng - Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Uỷ ban nhân dân 3 tỉnh Hà Tây, Hoà Bình, Sơn La trao tăng.
- Chủ tịch nước tặng 5 Huân chương lao động hạng Ba, Huân chương chiến công hạng Ba.
- Thủ tướng chính phủ tặng 12 bằng khen
- Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tặng một bằng khen
- Bộ Công An tặng 6 cờ thi đua xuất sắc, 17 bằng khen
- Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tặng 11 bằng khen
Trang 7- Đảng bộ Công ty được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng cờ thi đua xuất sắc và 4 bằng khen.
- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Công ty được trung ương đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng cờ thi đua xuất sắc và 4 bằng khen.
Để đạt được những thành tựu đó, 13 năm qua là sự phấn đấu không biết mệt mỏi của Công ty và toàn bộ cán bộ Công nhân viên Không dừng ở
đó trong những năm tới Công ty tiếp tục phấn đấu để trở thành đơn vị kinh doanh giỏi và đứng vững trên thị trường, khặng định được vị trí của mình, từng bước mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ra khắp các tỉnh thành trong cả nước.
2.2.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty.
Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình là đơn vị thành viên trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Công ty là doanh nghiệp nhà nước thực hiện hạch toán kinh tế độc lập.
Tổ chức và hoạt động kinh doanh của Công ty tuân thủ theo quy định pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật doanh nghiệp Nhà nước, các quy định của Tổng công ty và Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty.
Mục tiêu, nội dung hoạt động kinh doanh.
- Mục tiêu hoạt động kinh doanh của Công ty.
Công ty thành lập và hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, an ninh Quốc phòng về xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu mang lại hiệu quả kinh tế cho xã hội, bảo toàn và phát triển vốn, tạo ra lợi nhuận cho đơn vi, đóng góp ngân sách Nhà nước và cải thiện đời sống người lao động.
Trang 8Kinh doanh xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu và khí hoá lỏng; kho xăng dầu; vật tư thiết bị phục vụ ngành xăng dầu và các ngành khác
Ngoài nội dung, lĩnh vực kinh doanh trên đây, trong quá trình hoạt động công ty có thể mở rộng thêm ngành nghề kinh doanh dể đáp ứng yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ theo đúng quy định của pháp luật, Tổng công ty.
2.2.2 Hệ thống tổ chức bộ máy Công ty.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ & ĐIỀU HÀNH CÔNG TY.
Giám đốc Công ty
Phòng Kinh doanh chức h nhPhòng Tổ à
chính
Phòng Quản lý kỹ thuật
Trang 9Sau hơn 10 năm hoạt động, đến nay hầu hết bộ máy quản lý và kinh doanh của Công ty được bố trí một cách khoa học Trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại gọn nhẹ, các phòng ban quản lý ngày càng có xu hướng tinh giảm gọn nhẹ
đủ mạnh để làm cho hoạt động kinh doanh của các cơ sở hoạt động một cách hiệu quả, nhịp nhàng đồng bộ Hơn nữa các phòng ban đều đặt dưới sự quản
lý trực tiếp của lãnh đạo Công ty.
Tổ chức bộ máy của Công ty gồm có.
1. Giám đốc Công ty.
2. Các phòng chuyên môn nghiệp vụ.
Trang 10- Chi nhánh xăng dầu Sơn La
- Chi nhánh xăng dầu Hoà Bình.
- Xí nghiệp xăng dầu K 133
4 Các kho xăng dầu và cửa hàng xăng dầu.
Chức năng, nhiệm vụ của cơ cấu bộ máy quản lý sản xuất - kinh doanh
* Ban Giám đốc.
- Giám đốc là người đại diện pháp nhân của Công ty và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị và điều hành hoạt động Công ty, là người có quyền điều hành cao nhất Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, nâng lương, khen thưởng, kỷ luật với các cán bộ quản lý của Công ty thực hiện theo quy định về công tác tổ chức cán bộ hiện hành của Tổng công ty.
- Phó giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc Phó Giám đốc được Giám đốc phân công phụ trách một hoặc một số lĩnh vực công tác và chịu trách nhiệm trước Giám đốc công ty, trước pháp luật về các lĩnh vực được phân công.
Nhiệm vụ Giám đốc.
+ Nhận sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác của Nhà nước được Tổng công ty giao để thực hiện.
+ Xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm, phương án đầu tư mới và đầu tư chiều sâu, phương án liên doanh của Công
ty trình lãnh đạo Tổng công ty phê duyệt để tổ chức thực hiện.
+ Tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của Công ty.
+ Ban hành các định mức kinh tế, kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm, đơn giá, nhập, giải thể, đổi tên các phòng ban, nghiệp vụ của Công ty và của đơn
vị hạch toán phụ thuộc theo phương án đã được Tổng giám đốc phê duyệt
Trang 11quyết định thành lập, tách, nhập, giải thể đổi tên các đơn vị hạch toán boá sổ trong công ty.
+ Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, nâng lương, khen thưởng, kỷ luật cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của Tổng Công ty; Giám đốc công ty có thể phân cấp hoặc uỷ quyền cho Giám đốc đơn vị hạch toán phụ thuộc quyết định về tổ chức và cán bộ đơn vị đó.
+ Báo cáo định kỳ, đột xuất kết quả hoạt động của công ty với Tổng công ty, cơ quan của Nhà nước có thẩm quyền.
+Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chủ trương, chính sách, chế độ và các quy định của Nhà nước, Tổng công ty trên mọi lĩnh vực hoạt động của công ty.
+ Chịu sự kiểm tra, giám sát của Tổng công ty, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ công ty là bộ máy của Giám đốc công
ty, có trách nhiệm giúp Giám đốc công ty chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn thực hiện lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ do Giám đốc công ty giao trong phạm vi toàn công ty và trực tiếp tại khối trực thuộc văn phòng công ty quản lý.
Trang 12+ Xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới kinh doanh.
+ Tạo nguồn, phân phối nguồn hàng cho các đơn vị trong toàn công ty + Nghiên cứu thị trường, đề xuất phương thức, cơ chế bán hàng; cung cấp kịp thời thông tin về giá cho các đơn vị trực thuộc; định hướng cho các đơn bán hàng đạt kết quả cao.
+ Tiếp thị và bán hàng theo quy chế hiện hành.
+ Hạch toán, thống kê và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
+ Trực tiếp quản lý hệ thống kho, cửa hàng thuộc khối văn phòng công
ty theo lĩnh vực chuyên môn của phòng.
+ Chủ động kiểm tra các đơn vị cơ sở theo lĩnh vực chuyên môn của phòng,
+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc công ty giao
* Phòng Quản lý kỹ thuật
Giúp Giám đốc công ty lĩnh vực đầu tư, khoa học công nghệ, quản lý kỹ thuật ngành hàng, kỹ thuật an toàn, phòng cháy chữa cháy, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường.
ty về công tác quản lý kỹ thuật ( xây dựng cơ bản, quản lý kỹ thuật ngành hàng, an toàn ); Xây dựng và triển khai thực hiện các quy định, quy trình, quy phạm, định mức kỹ thuật cụ thể áp dụng trong nội bộ công ty.
Trang 13+ Tuyên truyên, phổ biến pháp luật, xây dựng và tổ chức triển khai các chương trình, kế hoạch về công tác phòng cháy chữa cháy, phòng chống bão lụt, bảo vệ môi trường.
+ Nghiên cứu và ứng dụng các tín bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý điều hành, chủ trì thực hiện phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật.
+ Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị cơ sở và trực tiếp quản lý hệ thống kho, cửa hàng thuộc khối văn phòng Công ty theo lĩnh vực chuyên môn.
+ Thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo quy định.
+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc công ty giao.
* Phòng Tổ chức Hành chính.
Giúp Giám đốc công ty lĩnh vực tổ chức cán bộ; lao động tiền lương, chế
độ chính sách đối với người lao động; pháp chế; thanh tra, bảo vệ, quân sự;
an toàn vệ sinh lao động; thi đua, tuyên truyền; khen thưởng, kỷ luật; hành chính.
+ Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch về lao động, tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
+ Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch về lao động tiền lương về chế
Trang 14+ Xây dựng, chỉ đạo hướng dẫn, triển khai, theo dõi, kiểm tra và thực hiện các đề án, chương trình công tác; pháp chế, thanh tra, bảo vệ chính trị nội bộ, quân sự, thi đua, tuyên truyền, khen thưởng, kỷ luật, y tế, an toàn vệ sinh lao động, hành chính và một số chính sách xã hội theo chủ trương của Nhà nước, địa phương và chỉ đạo của Giám đốc công ty.
+ Quản lý tài sản và đảm bảo các điều kiện làm việc cần thiết cho bộ máy văn phòng Công ty.
+ Thực hiện công tác văn phòng Đảng uỷ, Giám đốc, các đoàn thể công ty.
+ Trực tiếp quản lý hệ thống kho, cửa hàng thuộc khối văn phòng Công
ty theo lĩnh vực chuyên môn của phòng.
+ Chủ trì kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, Công ty theo chương trình kế hoạch được Giám đốc công ty phê duyệt.
+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc công ty giao
+ Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị cơ sở thực hiện các quy định về quản
lý tài chính, hạch toán kế toán, hệ thống sổ sách, chế độ báo cáo và mẫu biểu báo cáo thuộc lĩnh vực có liên quan.
+ Chủ trì phối hợp xây dựng và triển khai thực hiện các định mức nội
bộ về chi phi kinh doanh, công nợ, chương trình thực hành tiết kiệm
Trang 15+ Thực hiện chế độ hạch toán, thống kê, báo cáo theo quy định Trực tiếp lập báo cáo quyết toán khối văn phòng Công ty và tổng hợp báo cáo quyết toán tài chính hàng năm của các chi nhánh, xí nghiệp trực thuộc.
+ Tổng hợp nhanh kết quả kinh doanh hàng tháng, phân tích tình hình tài chính thông qua báo cáo quyết toán quý, năm để phát hiện đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và chấn chỉnh những tồn tại trong công tác quản lý tài chính và hạch toán.
+ Trực tiếp quản lý kho, cửa hàng thộc khối văn phòng Công ty theo lĩnh vực chuyên môn của phòng.
+ Thực hiện công tác kiểm tra kế toán đối với các đơn vị trực thuộc( kể
cả khối văn phòng Công ty) theo chương trình và kế hoach được Giám đốc phê duyệt, phát hiện và chấm chỉnh kịp thời những biểu hiện sai sót hoặc sơ
hở trong quản lý.
+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc công ty giao.
* Các chi nhánh xăng dầu: Sơn La, Hoà Bình, Xí nghiệp K 133 là các đơn
vị trực thuộc công ty xăng dầu Hà Sơn Bình Chịu sự điều hành của Công ty (khối văn phòng Công ty) đóng tại thị xã Hà Đông - Tỉnh Hà Tây.
2.3 Biến đổi cơ cấu nguồn nhân lực tại Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình.
Trang 162.3.1 Tình hình đội ngũ cán bộ công nhân viên chức của Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình từ năm (2001-2002).
Để thấy rõ được sự biến đổi như thế nào về cơ cấu của đội ngũ công nhân viên chức lao động ở Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình trong những năm gần đây, tôi xác định vào năm 2001 đến năm 2003 để xem xét Theo chức năng đảm nhiệm, nhân lực trong công ty được chia thành: Bộ phận gián tiếp,
bộ phận trực tiếp sản xuất - kinh doanh Có được cơ cấu nguồn lực hợp lý sẽ giúp cho quá trình kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn Cơ cấu nguồn nhân lực của công ty biến đổi theo hướng sau.(Xem bảng 1)
Trang 17Bảng 1
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Số lượng người
Tỷ lệ (%)
Số lượng người
Tỷ lệ (%)
Số lượng người
Tỷ lệ (%)
Trang 18hơn 200 lao động (1991), cơ sở vật chất còn nghèo nàn, cho đến nay xu hướng phát triển chung của xã hội để tồn tại và phát triển Công ty đã đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là trong ba năm trở lại đây(2001-2003) Tổng số lao động đã tăng rất nhanh, từ con số ít ỏi lúc đầu mới thành lập là 200 lao động đến nay số lao động đã lên đến 642 người (2001), tăng 652 người (2002) và 646 người (2003) cho thấy số lao động đã tăng gấp 3 lần năm 1991 Số liệu trên cho ta thấy hoạt động kinh doanh của Công ty ngày càng được mở rộng đã thu hút một số lượng lớn người đến độ tuổi lao động Đó là sự lớn mạnh của Công ty.
Chúng ta có thể nhận thấy rằng, ngành xăng dầu đang là một trong những ngành phát triển mạnh, nó cung cấp nguồn năng lượng cho toàn xã hội Với đặc tính sinh nhiệt lớn, dễ sử dụng, thuận lợi trong khâu vận chuyển xăng dầu đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, thay thế cho công nghiệp than và củi Nhu cầu sử dụng xăng dầu ngày càng cao, đây là cơ sở và cũng
là cơ hội cho Công ty tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh không những tăng cả về số lượng và chất lượng xăng dầu mà còn mở rộng diện tích kinh doanh ra các tỉnh trong cả nước Hiện nay, các chi nhánh xăng dầu trực thuộc Công ty xăng Hà Sơn Bình đóng ở ba tỉnh đó là: Hoà Bình, Sơn La, Hà Tây đây là ba khu vực mà công ty xăng dầu Hà Sơn Bình cung cấp chính Mục tiêu của Công ty không chỉ cung cấp xăng dầu cho ba tỉnh mà có xu hướng phát triển rộng ra các tỉnh khác Với tốc độ phát triển của xã hội hiện nay, nhu cầu sử dụng xăng dầu của xã hội là lớn một số lượng dùng cho sinh hoạt, còn lại cung cấp cho các nhà máy, xí nghiệp, đòi hỏi sự đáp ứng đủ của Công ty.
Văn phòng đại diện của Công ty đóng tại thị xã Hà Đông - Tỉnh Hà Tây với tổng số cán bộ công nhân viên là 58 người chiếm (9%) năm 2001 và tăng (9.1%) năm 2003 với tổng số cán bộ công nhân viên là 59 người Đây là đội
Trang 19ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện điều hành hoạt động kinh doanh toàn Công ty Đội ngũ này có vai trò rất lớn trong việc chỉ đạo chiến lược phát triển kinh doanh cho tất cả các chi nhánh, đảm bảo sự thực hiện thông suốt, đồng bộ giữa các chi nhánh và các cửa hàng xăng dầu do Công ty trực tiếp quản lý Bộ phận này có những yêu cầu riêng : ít mà tinh, có năng lực quản lý
tổ chức kinh doanh giỏi Mặt khác, nó đòi hỏi phải có sự nhạy bén trước sự thay đổi nhanh chóng của xã hội.
Đối với ngành đặc trưng là chuyên kinh doanh xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu và khí hoá lỏng; kho xăng dầu, vật tư thiết bị phục vụ ngành xăng dầu và các ngành khác, do đó phải có bộ phận chuyên sâu trong lĩnh vực kinh doanh, đó là bộ phận thuộc phòng kinh doanh với số lượng 8 người (1.2%) vào năm 2001 và 10 người (1.5%) năm 2002 và tăng 11 người (1.7%) năm
2003 Họ luôn phải đảm bảo chức năng quan trọng trực tiếp xây dựng kế hoạch sản lượng bán, vận tải, hao hụt hàng năm và dài hạn, chủ trì phối hợp xây dựng dự án kế hoạch toàn diện hàng năm hoặc dài hạn của công ty báo cáo Tổng công ty; xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới kinh doanh, tạo nguồn; phân phối nguồn hàng cho các đơn vị; nghiên cứu thị trường; tiếp thị
và bán hàng Chính những yêu cầu đó mà số lượng phòng kinh doanh có xu hướng tăng do nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ công nhân viên chuyên sâu về kinh doanh, nhạy bén với thời cuộc, hiểu biết về thị trường Song song với phòng Kinh doanh phòng Tổ chức Hành chính có xu hướng tăng 21 người (3.2%) năm 2001 và 22 người (3.4%) năm 2002, tăng 24 người (3.7%) năm2003 tăng (0.5%) so với năm
2001 Tuy tăng nhưng tỉ lệ tăng không đáng kể Ngược lại, phòng Quản lý kỹ thuật có xu hướng giảm từ (1.7%0 năm 2001 xuống (1.2%) năm 2003 phòng
có vai trò xây dựng và triển khai thực hịên kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất kỹ
Trang 20khi có sự cố xảy ra đòi hỏi phải vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác an toàn chống cháy nổ Những năm qua Công ty đã chú trọng vào công tác quản lý kỹ thuật đây là một khâu rất quan trọng, việc vận dụng máy móc hiện đại thay thế cho lao động chân tay, chính vì vậy mà phòng Quản lý kỹ thuật có xu hướng giảm trong những năm trở lại đây
Ngày nay, trong sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường cạnh tranh Công ty đang đứng trước rất nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó cũng không ít khó khăn Thuận lợi Công ty đã có bề dày lịch sử, có hệ thống bộ máy tổ chức nhân sự gọn nhẹ, hiệu quả, đội ngũ cán bộ công nhân viên có tay nghề chuyên môn cao đây là thuận lợi giúp Công ty phát triển vững chắc Bên cạnh đó khó khăn lớn nhất của Công ty là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các đơn vị ngoài ngành có kinh doanh xăng dầu và của các đơn vị trong ngành có lợi thế kinh doanh hơn, mục tiêu chất lượng được đặt lên hàng đầu Song để khách hàng đến được với mình không chỉ cần có như vậy
mà song song với chất lượng là phương thức thanh toán phải thuận lợi, rút ngắn thời gian cho khách hàng Với 13 người (2%) năm 2001 và 12 người (1.9%) năm 2003 phòng Kế toán tài chính đã thực hiện quyết toán nhanh chóng đáp ứng nhu cầu khách hàng
Tại hai chi nhánh xăng dầu Sơn La và Xí nghiệp xăng dầu K 133 đội ngũ cán bộ trong bộ phận gián tiếp kinh doanh có xu hướng tăng (0.5%) từ năm 2001-2003 Chi nhánh xăng dầu Hoà Bình không tăng vẫn giữ nguyên bộ máy làm công tác quản lý Sở dĩ, có sự tăng lên là do hoạt động kinh doanh tại các chi nhánh và tại các cửa hàng cần có sự chỉ đaọ sát sao từ trên xuống của bộ máy lãnh đạo.
Hiện nay, trong xu hướng phát triển chung của toàn xã hội là từng bước hội nhập quốc tế và thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nhằm đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp với đội ngũ cán bộ công nhân viên
Trang 21lành nghề, tuyển mới những người có trình độ học vấn kinh nghiệm nhằm mục tiêu phục vụ cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh Với cơ cấu đội ngũ cán bộ công nhân viên như hiện nay những năm qua Công ty đã hoạt động một cách có hiệu quả, tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh, xây dựng mở rộng các cửa hàng bán xăng dầu, thu hút một khối lượng lao động lớn đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động, đời sống tinh thần của cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện, hoàn thành tốt kế hoạch kinh doanh hàng năm Khi xem xét ở bộ phận kinh doanh trực tiếp là nơi có số lao động đông hơn cả, số lượng lao động tại các cửa hàng do văn phòng Công ty trực tiếp quản lý là 204 người (31.8%) năm 2001 vào năm 2002 là
186 người (28%) và năm 2003 là 177 người (27,4%) Tại các chi nhánh Sơn
La số lượng lao động tăng 177 người (18.2%) năm 2001 và 143 người (21.9%) năm 2002, giảm xuống 134 người năm 2003 chiếm (20.7%) Còn tại chi nhánh Hoà Bình năm 2001 là 91 người chiếm (14.2%) so với tổng là 642 người, năm 2002 tăng thêm một lao động chiếm (14.1%) so với tổng 652 người và tăng thêm 3 lao động chiếm (14.7%) năm Tổng số lao động trực tiếp tại xí nghiệp xăng dầu K 133 cũng có xu hướng tăng trong ba năm qua với
106 lao động chiếm (16.5%) năm 2001, năm 2002 số lao động giảm xuống
95 người chiếm (14.6%) Sở dĩ như vậy là do sự biến động của thị trường xăng dầu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh làm cho hoạt động kinh doanh năm 2002 của Công ty có xu hướng giảm dẫn đến việc tinh giảm lao động và trong năm 2002 độ tuổi lao động về hưu chiếm tỉ lệ cao Do vậy năm
2002 số lượng lao động có xu hướng giảm Đến năm 2003 tăng 109 lao động chiếm (16.9%) nó cho thấy hoạt động kinh doanh của Công ty đi vào ổn định
và đang từng bước phát triển, khẳng định vị trí của mình trên thị trường.
Trang 22Như vây, việc phân chia các bộ phận theo chức năng, nhiệm vụ là cách
cơ bản trong quá trình tổ chức hoạt động kinh doanh của ngành.
Nhìn chung tại các chi nhánh xăng dầu đã chú trọng sắp xếp một cách
hợp lý nhân lực quản lý và sản xuất kinh doanh cho phù hợp với chức năng
của từng bộ phận Cùng với việc tổ chức sắp xếp lại khối gián tiếp các phòng
ban ngày càng có xu hướng giảm nhẹ đã thực sự làm cho guồng máy kinh
doanh của ngành xăng dầu thuộc Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình hoạt động
một cách nhịp nhàng, đồng bộ đạt hiệu quả cao, phù hợp với tổ chức quản lý
và điều kiện kinh doanh của ngành mình.
2.3.2 Cơ cấu giới của đội ngũ công nhân viên chức lao động.
Việc nghiên cứu cơ cấu giới sẽ góp phần xác lập sự ổn định hài hoà về
giới trong quá trình sắp xếp đội ngũ công nhân viên chức trong các chi
nhánh xăng dầu thuộc Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình sao cho phù hợp với
đặc thù kinh doanh của ngành Tỉ lệ lao động nam và lao động nữ trong
ngành có sự chênh lệch giữa các bộ phận khác nhau và biến động qua các
năm từ 2001-2003 như thế nào?
Có thể nói, phân công lao động theo giới tính là hình thức phân công lao
động đầu tiên của loài người Trong quá trình đổi mới, có sự tăng nhẹ về tỷ
lệ lao động nữ, nhưng lao động nam tại Công ty vẫn chiếm đa số Chúng ta sẽ
thấy được thực trạng cơ cấu lao động theo giới tính và động thái của sự
chuyển dịch cụ thể qua số liệu thống kê sau (Xem bảng2).
- Bộ phận gián tiếp 23 = 3.5% 17 = 2.65% 6 = 0.9% 23 = 3.5% 17 = 2.6% 6 = 0.9% 26
Trang 23- Bộ phận trực tiếp 117 = 18.2% 71 = 11.1% 46 = 7.2% 143 = 21.9% 84 = 12.9% 59 = 9% 134 2.CN Hoà Bình 117 = 17.1% 72 = 12.2% 38 = 5.9% 111 = 17% 73 = 11.2% 38 = 5.8% 114
công ty trực tiếp quản lý
204 = 31.8% 130 = 20.2% 74 = 11.5% 186 = 28.5% 109 = 16.7% 77 = 10% 177 Tổng 642 401 = 62.5% 241 =37.54 652 408 = 62.6% 244 = 37.4% 646
Bảng 2:
Trang 24Với đặc thù của ngành chuyên kinh doanh xăng dầu, Gas thì việc tuyển dụng lao động phải phù hợp với tính chất của công việc, với khả năng, và sức khoẻ Xăng dầu là ngành đặc biệt, hoạt động kinh doanh không theo thời vụ
mà nó mang tính chất thường xuyên, quanh năm, cho nên số lượng lao động
ít có sự biến động Do vậy mà sự biến động tỉ lệ lao động nam và lao động nữ qua các năm có sự thay đổi nhưng không nhiều
Theo số liệu thống kê ta thấy sự chênh lệch giữa lao động nam và lao động nữ hàn năm này là tương đối lớn năm 2001, nam là 401 người (62.46%) trong khi đó nữ chỉ chiếm (37.5%) với 241 lao động so với tổng là 642(chênh 24.9%) Năm 2002 tỉ lệ lao động nam tăng (62.6%) với 408 lao động và lao động nữ la 244 người chiếm (37.4%) so với tổng là 652 người Đến năm 2003 số lao động nữ có tăng nhưng không đáng kể (38.2%) với 247 lao động, trong đó tỉ lệ lao động nam giảm xuống còn (61.8%) với 399 lao động so với tổng là 646 người Qua con số thống kê trên chúng ta có thể đi đến nhận xét rằng tuy lao động nữ có xu hướng tăng lên trong ba năm qua (2001-2003) tăng từ 241 người (2001) lên 247 người (2003) thì trong Công
ty số lao động nam vẫn chiếm ưu thế Sở dĩ mà có sự chênh lệch này là do đặc thù của ngành, đây là ngành độc hại, nồng độ chì cao dễ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, nhất là đối với nữ giới do sức đề kháng kém hơn nam giới
Do đòi hỏi cần có sức khoẻ tốt để có thể chống lại những độc hại ngành, vì thế mà tỉ lệ lao đông nam nhiều hơn lao động nữ Mặt khác, hoạt động kinh doanh xăng dầu của Công ty diễn ra trên địa bàn ba tỉnh, khoảng cách giữa các chi nhánh xăng dầu, các cửa hàng, các cây xăng là rất lớn, phân bổ ở những vùng sâu, vùng xa như ở Hoà Bình, Sơn La chính vì thế với điều kiện làm việc thường xuyên phải xa nhà, phải đi công tác nên công việc này thường phù hợp với nam giới hơn nữ giới.
Trang 25Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy rằng tỉ lệ lao động nữ cũng có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây Xét tỉ lệ này tại khối văn phòng Công ty ta thấy với 58 người chiếm (9.03%) năm 2001 trong đó lao động nam là 37 người (5.76%), nữ 21 người (3.27%) đến năm 2002 tỉ lê lao động nam là (5.4%), so với lao động nữ là (3.4%) vào năm 2003 với 59 người chiếm (9.1%) trong đó 35 người (5.4%) là nam giới và 24 người (3.7%) là
nữ giới So với tỉ lệ lao động nữ thuộc khối văn phòng Công ty từ năm
2001 là 8 người Năm 2003 tổng số lao động tại ba chi nhánh tăng so với năm 2001 là 3 người, trong đó nam là 364 người chiếm (56.3%), và nữ giới
223 người chiếm (34.5%) Tỉ lệ lao động nữ tại 3 chi nhánh xăng dầu có xu hướng tăng nhưng không đáng kể năm 2003 tăng lên (1%) so với năm 2001 Xét một cách tổng quát, nhìn vào bảng cơ cấu giới của đội ngũ công nhân viên chức lao động của Công ty ta thấy tỷ lệ lao động nam lớn hơn lao động nữ, kể cả khối văn phòng Công ty và các chi nhánh xăng dầu cơ sở trực thuộc Công ty Đặc điểm này là do nhu cầu về lao động của ngành xăng dầu.
Trang 262.3.2.1.Cơ cấu giới trong bộ phận gián tiếp.
Theo xu hướng chung của toàn xã hội trong những năm gần đây lực lượng lao động nữ ngày càng có xu hướng tăng lên, không những ở bộ phận trực tiếp sản xuất - kinh doanh chủ yếu sử dụng đến sức lao động chân tay,
mà ở những bộ phận là công tác quản lý lãnh đạo nữ giới cũng đã có mặt đông hơn họ chiếm tỉ lệ ngày càng đông và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong xã hội.
Xét cơ cấu giới trong bộ phận gián tiếp để thấy được sự biến đổi tỉ lệ nam giới và nữ giới là công tác lãnh đạo ( Xem bảng 3)
Trang 27Bảng 3
Năm
Bộ phận
Phòng TCHC 21 = 36.2 13 = 22.4% 8 = 138% 22= 38.6% 13 = 22.8% 9 = 15.8% 24 =40.7 % 14 = 23.7 10 = 16.9% Phòng Kế toán 13 = 22.4% 6 = 10.3% 7 = 12.1% 12 = 21% 5 = 8.8% 7 = 12.3% 12 = 20.3% 5 = 8.5% 7 = 11.9% Phòng Kinh doanh 8 = 13.8% 3 = 5.2% 5 = 8.6% 10 = 17.5% 5 = 8.8% 5 = 8.8% 11 = 18.6% 5 = 8.5% 6 = 10%
Trang 28Qua bảng số liệu trên cho thấy ở môi trường làm việc như ban Giám đốc, phòng Tổ chức Hành chính, phòng Quản lý kỹ thuật, phòng Kinh doanh, phòng Kỹ thuật số nhân lực nam nhiều hơn nhân lực nữ Trong đó tại phòng Quản lý kỹ thật 100% là nam giới, sở dĩ như vậylà do tính chất công việc nặng nhọc, cần có sức khoẻ nên phòng này hợp với nam giới Và tại ban Giám đốc, phó Giám đốc nam cũng chiếm ưu thế 100% là nam giới.
Tại phòng Kế toán số nhân lực nữ chiếm ưu thế hơn số nhân lực nam Điều đó chứng tỏ rằng đây là công việc nhẹ nhàng đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ
mỉ , nhạy cảm, linh hoạt phù hợp với thể trạng nữ giới và họ đã chứng tỏ được vai trò của họ là không thể thiếu trong khâu này.
Như vậy, ta có thể thấy sự phân bổ nhân lực nam và nữ giới giữa các phòng ban tương đối ổn định qua các năm 2001-2003, tuy số lượng lao động
nữ có tăng nhưng không đáng kể, tỉ lệ nhân lực nam vẫn giữ ưu thế chủ yếu, nhất là trong ban Giám đốc; phòng Quản lý kỹ thuật Chỉ có phòng Kế toán là
số lượng nữ giới chiếm ưu thế hơn nam giới Còn lại các phòng ban khác trong bộ phận gián tiếp nam giới vẫn chiếm đa số.
2.3.2.2 Cơ cấu giới trong bộ phận trực tiếp sản xuất - kinh doanh
Xét cụ thể ở từng khâu sản xuất - kinh doanh ta thấy rõ hơn sự bố trí nhân lực nam và nhân lực nữ đối với các nghề qua bảng số liệu thống kê sau (Xem bảng 4).
Trang 29Tổ sửa chữa, Bảo vệ, -Tạp vụ vệ sinh 7 = 1.6% 5 = 1.1% 2 = 0.4% 2 = 0.4% 2 = 0.4% 0 1 = 0.2% 1 = 0.2% 0 -Công nhân 80 = 17.8% 53 = 11.8% 27 = 6% 83 = 18% 57 = 12.3% 26 =5.6% 86 = 18.6% 66 = 14.3% 20 = 4.3%
Xí nghiệp K 133 106 = 23.6% 68 = 15.1 38 = 8.46% 105 = 22.7% 67 = 14.5% 38 = 8.2% 109 = 23.6% 69 = 14.9% 40 = 8.7% -Kho xăng Nam Phong, Đỗ Xá 59 = 13.1% 44 = 9.8% 15 = 3.3% 61 = 13.2% 39 = 8.4% 22 = 4.8% 62 = 13.4% 39 = 8.4% 23 = 5% -Tổ sửa chữa, Bảo vệ, Tạp vụ vệ sinh 9 = 2% 4 = 0.9% 5 = 1.1% 11 = 2.4% 5 = 1% 6 = 1.3% 9 = 1.9% 6 = 1.3% 3 = 0.6%
-Công nhân 30 = 6.7% 12= 2.7% 18 = 4% 27 = 5.8% 17 = 3.7% 10 = 2.1% 29 = 6.3% 17 = 3.7% 12 = 2.6% Các cửa hàng do văn phòng Công ty
trực tiếp quản lý 135 = 30% 98 =21.8% 37 = 8.2% 122 =26.4% 97 = 21% 25 = 5.4% 124 = 26.8% 91 = 20% 33 = 7.1%
Trang 30Qua số liệu trên cho ta thấy, tỉ lệ lao động nam và nữ trong bộ phận trực tiếp cũng có sự chênh lệch đáng kể, lao động nam vẫn chiếm ưu thế hơn
so với lao động nữ Số liệu này thể hiện rõ tại các kho xăng; tổ sửa chữa, bảo
vệ, tạp vụ vệ sinh và các tổ hoá nghiệm.
Tại chi nhánh xăng dầu Sơn La thì số lượng lao động nam giới tại bộ phận kho xăng nhiều hơn số lao nữ: năm 2001 nam giới là 10 người chiếm (2.2%) , nữ giới là 2 người chiếm (0.4%) Hai năm kế tiếp 2002-2003 thì tại kho xăng Bó Ẩn 100% là nam giới không có lao động nữ tham gia vào khâu này.
Tại chi nhánh xăng dầu Hoà Bình, lao động nữ tại tổ sửa chữa, bảo vệ năm 2001 là 7 người trong đó số lao động nam là 5 người chiếm (1.1%), lao động nữ là 2 người (0.4%), từ năm 2001-2003 số lao động nữ giới không tham gia vào đó, tại kho xăng dầu Hòa Bình có sự tham gia của lao động nữ nhưng số lượng không đáng kể.
Xí nghiệp xăng dầu K 133 thực chất là kho chứa xăng của Công ty, tại đây đặt hai kho xăng: Đỗ Xá và Nam Phong, kho xăng Nam Phong là kho dự trữ xăng dầu không cung cấp xăng dầu mà mang tính chiến lược dự trữ Quốc gia Kho xăng Đỗ Xã là kho cung cấp xăng dầu cho các chi nhánh trực thuộc,
từ đây xăng dầu được đưa đến các chi nhánh, các cửa hàng Xăng dầu sẽ được phân phối đi các chi nhánh theo đơn đặt hàng, hoá đơn nhập xăng dầu tại các chi nhánh.
Số lượng lao động tại các kho xăng cho thấy nam giới chiểm tỉ lệ cao hơn nữ giới, năm 2001 tỷ lệ lao động nam nhiều hơn lao động nữ là (6.5%), năm 2002 sự chênh lệch giữa lao động nam và lao động nữ có xu hướng giảm tỉ lệ lao động nam lớn hơn lao động nữ là (3,6%), tương tự năm 2003
là (3.4%).Có nghĩa là năm 2002-2003 lao động nữ tại các kho xăng Đỗ Xá và