Việc công nhận này bắt đầu từ tháng 11/2001 và đến năm 2008 thì thêm hai danh sách: - Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - Danh sách di sản văn hoá phi vật thể c
Trang 1NƯỚC TA ĐÃ CÓ BAO NHIÊU DI SẢN
VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ ĐƯỢC THẾ GIỚI CÔNG NHẬN
Di sản văn hoá phi vật thể thế giới là cách mà chúng ta quen gọi các Di sản văn hoá phi vật thể nhân loại và Kiệt tác truyền khẩu được Ủy ban Liên chính phủ về Bảo tồn văn hoá phi vật thể của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận, mang giá trị văn hoá - lịch sử toàn cầu Việc công nhận này bắt đầu từ tháng 11/2001 và đến năm 2008 thì thêm hai danh sách:
- Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
- Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp Tính đến tháng 10/2013, Việt Nam hiện đã có 7 di sản phi vật thể được UNESCO công nhận là Di sản thế giới ở các mức khác nhau
1 Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa thế giới phi vật thể Việt
Nam đầu tiên được công nhận vào tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Âm nhạc cung đình Việt Nam đã có từ thời Lý, phát triển qua các triều đại kế tiếp và lên đến đỉnh cao dưới triều Nguyễn (1802 – 1945) “Nhã nhạc” để chỉ âm nhạc cung đình nói chung, mà
có khi chỉ để nói tới nhạc lễ cung đình nói riêng Huế là kinh đô nhà Nguyễn nên nhạc cung đình nhà Nguyễn vẫn được gọi là Nhã nhạc cung đình Huế So với các triều đại trước thì Nhã nhạc cung đình Huế phát triển vượt bậc về quy mô, nghệ thuật, tổ chức Triều đình định ra 7 thể loại: Giao nhạc dùng trong lễ
Tế Giao (tế trời đất); Miếu nhạc dùng trong các lễ tế miếu; Ngũ tự nhạc dùng trong các cuộc tế lễ Thần Nông, Thành Hoàng, Xã Tắc; Đại triều nhạc dùng trong những dịp lễ lớn hoặc đón tiếp sứ thần các nước; Thường triều nhạc dùng trong các lễ bình thường trong triều; Yến nhạc dùng trong các cuộc yến tiệc lớn trong cung đình; Cung trung nhạc phục vụ trong nội cung Mỗi loại có nội dung và tên gọi phù hợp với từng tính chất cuộc lễ của triều đình, số lượng bài bản rất phong phú Chẳng hạn trong lễ Tế giao có 10 nhạc chương (chương trình
Trang 2gồm nhiều bài nhạc) có chữ Thành (thành tựu), lế tế Xã Tắc có 7 nhạc chương mang chữ Hoà (hài hoà), lễ Đại triều có 5 bài mang chữ Bình (hoà bình), lễ tế Văn Miếu có 6 bài mang chữ Văn (học vấn), lễ Đại yến có 5 bài mang chữ Phúc (may mắn) Các dàn nhạc và nhạc cụ rất
đa dạng và quy mô, chẳng hạn Huyền nhạc có 26 nhạc công, Đại nhạc
có đến 43 nhạc công Các nhạc khí sử dụng có âm sắc đa dạng, phong phú với đầy đủ tiếng kim, tiếng thổ, tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng da, tạo nên những âm thanh trầm bổng, trong đục khác nhau, vừa hoà quện vừa tách bạch Đó là chưa kể tới đông đảo các múa hát kèm theo với nhiều người diễn xuất trang phục cầu kỳ nghiêm cẩn, điệu múa phức tạp pha cả văn lẫn võ Âm nhạc cung đình Huế bao gồm: nhạc lễ nghi thờ cúng và nhạc lễ nghi triều chính, múa cung đình, ca nhạc thính phòng và kịch hát (tuồng cung đình) tổng hợp trong đó sự phong phú,
đa dạng về nhiều mặt: về loại hình nghệ thuật, thể loại, chủng loại nhạc khí và âm sắc, bài bản, cơ cấu tổ chức dàn nhạc và các hình thức hoà tấu, môi trường trình diễn, nhạc điệu…
2 Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được công nhận
là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm
2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên là không gian văn hoá của 17 dân tộc thiểu số sống trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kom Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông
và Lâm Đồng Tín ngưỡng của cư dân nơi này bắt nguồn từ tục thờ cúng tổ tiên, shaman giáo (một tín ngưỡng tin vào sự phán bảo của các thầy cúng khi lên đồng) và thờ cúng vật linh, từ đó hình thành nên một thế giới siêu nhiên vừa gần gũi vừa thần bí Cồng chiêng là chiếc cầu nối con người, thần linh và thế giới siêu nhiên mà trong đó mỗi chiếc cồng chiêng cũng là một vị thần, càng nhiều tuổi càng thiêng Hầu như nhà nào cũng có cồng chiêng, số cồng chiêng trong gia đình thể hiện quyền thế và sự giàu có Cuộc đời người Tây Nguyên gắn liền với tiếng cồng tiếng chiêng, các sự kiện quan trọng từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả…cho đến lễ cúng máng nước, mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ
Trang 3mừng nhà rông mới v.v… đều có cồng chiêng, những điệu múa, những lời khấn
Cồng chiêng đánh bằng nắm tay, vỗ bằng bàn tay hoặc gõ bằng dùi, cũng không đánh một chiếc mà thành từng dàn, ít nhất là 2 nhiều
là 13 hoặc hơn chiếc lớn nhỏ, mỗi chiếc phát ra một âm thanh khác nhau, cả dàn cùng đánh tạo nên một dàn hoà tấu cùng giai điệu và đa
âm sắc Một điểm đặc trưng của cồng chiêng Tây Nguyên và cồng chiêng Việt Nam là mỗi người đánh một cồng hoặc chiêng chứ không đánh chung Cồng chiêng của Việt Nam rất đặc trưng so với cồng chiêng ở những khu vực khác do tính cộng đồng rất cao Điều này thể hiện ở việc mỗi nhạc công đánh một chiếc Trong dàn nhạc, từng thành viên nhớ rõ từng tiết tấu của từng bài chiêng trong mỗi nghi lễ
và liên tiếp người này đánh xong đến người khác đánh, kết hợp hài hòa với nhau tạo thành chuỗi âm thanh cồng chiêng sinh động của từng bài, đi cùng các điệu múa tập thể trong các nghi lễ, hội hè
Nhân đây cũng xin nói thêm, nhiều người – kể cả có nhà báo cũng nhầm lẫn khi gọi “Di sản văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” Cồng chiêng thì có ở rất nhiều dân tộc, quốc gia, thuộc văn hoá vật thể Còn không gian văn hoá cồng chiêng là một văn hoá tổng hợp vật thể và sinh hoạt tâm linh cộng đồng Do sự đặc sắc của mình, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên mới trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
3 Dân ca Quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại,
được công nhận ngày 30/9/2009
Quan họ Bắc Ninh là những làn
điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc
Bộ, tập trung chủ yếu ở vùng Kinh
Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang), Hát
quan họ là hình thức hát giao duyên,
đối đáp giữa "bọn nam" của làng
này với “bọn nữ” của làng kia,
nguồn gốc từ tục kết chạ (hai làng
kết nghĩa anh em thân tình) Kết chạ
quan họ là kết nghĩa anh em giữa hai làng theo nguyên tắc quan họ nam làng này kết bạn với quan họ nữ làng kia và ngược lại Chạ nào cũng nhún mình gọi bạn khác phái trong chạ bên kia là “liền anh” (đàn anh), “liền chị” (đàn chị) Với các làng đã kết chạ, trai gái trong các
"bọn" quan họ đã kết bạn không được cưới nhau
Trang 4Quan họ tồn tại song hành cùng lễ hội làng, làng có lễ hội mời
quan họ làng khác tham gia và thế nào cũng phải có làng kết chạ
Từng đôi nam nữ khác làng hát đối đáp, giao duyên với nhau, ít thì 2 đôi 3 đôi nhưng thường nhiều hơn Cũng có lúc chia làm hai bên có người đứng đầu mỗi bên, thay nhau bên này đối bên kia đáp rất linh hoạt, cuốn hút Cái khó của hát quan họ là bài hát đối đáp phải cùng giai điệu nhưng khác lời nên người hát phải tập từ nhỏ Việc tập tành càng phải kiên trì hơn vì quan họ có rất nhiều làn điệu khác nhau, hát phải đúng làn điệu với bạn hát Giai điệu quan họ vô cùng phong phú, tiết tấu chậm, dập dìu, tha thiết
Quan họ còn tới nay thuộc loại truyền khẩu và đặc biệt là hoàn toàn không dùng nhạc đệm Dân ca quan họ có 213 giọng khác nhau, với hơn 400 bài ca Lời ca chính dưa theo thể thơ lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp với từ ngữ giàu tính ẩn dụ, trong sáng, mẫu mực thể hiện tình yêu lứa đôi Lời phụ là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi,ư hư, a ha v.v…
Miếng giầu (trầu) xuất hiện rất nhiều trong quan họ, có giầu têm cánh phượng và giầu têm cánh quế để mời nhau hay đưa vào lời hát Trang phục của người nữ gồm nón quai thao (nón mái bằng, vành rộng, có quai dây thao), khăn vấn tóc (khăn vấn và khăn mỏ quạ), yếm, áo, váy, thắt lưng; nam đội khăn xếp, ô lục soạn, áo cánh bên trong và áo dài 5 thân bên ngoài, quần, dép Chiếc ô của liền anh và cái nón của liền chị quan họ là một biểu tượng của quan họ
4 Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp,
được công nhận ngày 01/10/2009
Ca trù xuất hiện sơ khai vào đầu thế kỷ 11, bắt đầu thịnh hành từ thế kỷ 15 nhưng đến nửa cuối thế kỷ 20 thì mờ nhạt dần và gần như chỉ được thế giới biết đến qua tiếng hát của nghệ nhân Quách Thị Hồ (1909 – 2001) Tuỳ từng địa phương và từng không gian diễn xướng mà hát Ca trù có một lối hát riêng, nên còn được gọi là hát ả đào (tên xưa, lấy theo ca nương nổi tiếng họ Đào thời Lý), hát cửa đình (hát thờ), hát cửa quyền (hát cung đình hay nhà quan), hát cô đầu (hát quán), hát nhà tơ (hát tại gia), hát thi và hát ca quán (hát chơi) Hát ca trù có từ xưa ở miền Bắc
Trang 5và Bắc Trung bộ, miền Nam thì mới có tại TP HCM những năm gần đây
Tham gia biểu diễn Ca trù có 3 người Quan trọng nhất là “Đào nương” hay “Ca nương” là người hát nữ vừa hát vừa gõ phách lấy nhịp, “Kép” là nam nhạc công đệm đàn đáy (một loại đàn cổ hộp vuông, cần dài, có 3 dây tơ và 10 phím) cho đào nương, “Quan viên”
là người điểm trống chầu Kỹ thuật hát rất tinh tế, đòi hỏi phải nắn nót, chau chuốt từng chữ nhưng không được há to miệng, hơi phải ém trong cổ, tiếng ậm ự mà lời ca vẫn rõ ràng, rõ chữ Vì vậy đôi khi có thêm người nữ sắp ra nghề xin được ngồi chầu sau đào nương để học Hát Ca trù là hát thơ với một hệ bài bản phong phú quy định cho từng lối hát, trong đó có các thể thơ quen thuộc và thuần Việt như lục bát, song thất lục bát Ngoài ra còn có các thể thơ 7 chữ và 1 câu lục cuối bài, thể thơ Đường luật, thể phú, thơ Đường luật trường thiên Đặc biệt, thể thơ hát nói (thơ 8 chữ) là thể thơ dành riêng cho Ca trù, một sáng tạo độc đáo của Ca trù vì chỉ có Ca trù mới hình thành nên thể thơ này Lời lẽ, ca từ của Ca trù mang tính uyên bác, ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ, mang nhiều cảm xúc, trầm ngâm, sâu lắng Đào nương lão luyện phải thuộc cả trăm bài là thường Cùng với thơ, múa cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên nét đặc sắc, riêng biệt của nghệ thuật hát Ca trù
5 Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội là di sản văn
hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010
Hội Gióng là lễ hội truyền
thống tưởng nhớ và ca ngợi
chiến công của người anh hùng
Thánh Gióng, được tổ chức ở
nhiều nơi thuộc vùng đồng bằng
Bắc Bộ nhưng tiêu biểu nhất là
Hội Gióng ở đền Phù Đổng và
đền Sóc
Hội Gióng ở đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) là
nơi theo truyền thuyết, Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt bay lên trời Hội được tổ chức từ mùng 6 đến 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại khu
di tích đền Sóc Đêm mùng 5 làm lễ Mộc Dục (tắm tượng) để chuẩn bị trước Mùng 6 khai hội, dân các xã quanh vùng đến dâng lễ vật Nghi
lễ dâng hoa tre (làm bằng những thanh tre nhỏ, đầu tre tuốt bông và
Trang 6nhuộm màu tượng trưng cho roi ngựa của Thánh Gióng) được tiến hành đầu tiên Sang mùng 7 chính hội (ngày Thánh cưỡi ngựa sắt lên trời) diễn hoạt cảnh chém 3 tướng giặc Ân cuối cùng ở chân núi Vệ Linh trước khi lên đỉnh núi ngắm non sông rồi bay về trời Chiều mùng 8 làm lễ khiêng mô hình voi và ngựa giấy lớn ra bờ sông hoá (đốt) để kết thúc lễ hội Người tham gia lễ hội dành nhau chung khiêng voi và ngựa mong được chạm tay vào đồ tế đức Thánh sẽ gặp may mắn Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như chọi gà, cờ tướng, hát ca trù, hát chèo…
Hội Gióng ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà
Nội) được tổ chức từ ngày mùng 6 đến 12/4 âm lịch hàng năm Theo truyền thuyết, làng Phù Đổng chính là nơi sinh ra Thánh Gióng Trong các ngày hội, rất nhiều lễ rước diễn ra đình đám với sự tham gia của hàng trăm vai diễn và đông đảo dân làng, tuần tự tái hiện sự tích Thánh Gióng Lễ rước nước mở đầu lễ hội Lễ rước cỗ chay có cơm và
cà để dâng lên Đức Thánh Lễ rước khám đường nhằm thăm dò đường
đi đến trận địa Ngày chính hội 9/4 rước cờ, múa “thờ thần”, múa “bắt hổ” và hội trận (diễn lại trân đánh của Thánh Gióng) Các ngày sau tổ chức các lễ rước vãn duyệt quân, kiểm tra lại binh khí; lễ tạ ơn Thánh Gióng và khao quân mừng thắng lợi; lễ rước nước, lễ rửa khí giới Một số trò chơi và các tiết mục múa hát cũng được tổ chức Ngày 12/4
tổ chức lễ rước cắm cờ, kiểm tra lại chiến trường đi đến đâu cắm cờ trắng đến đấy để xác nhận giặc đã quy hàng Buổi chiều, làm lễ tế báo tin thắng trận lên Thiên đình và kết thúc lễ hội
Riêng trên địa bàn Hà Nội còn có hơn 10 lễ hội Gióng nhưng mới được xếp vào vùng lan toả vì chưa được UNESCO công nhận như 2 lễ hội hoành tráng trên
6 Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp,
được công nhận ngày 24/11/2011
Hát Xoan là một hình thức nghệ thuật dân gian truyền khẩu đặc sắc có tuổi trên 2.000 năm, phổ biến ở Phú Thọ, đất các vua Hùng
Có rất nhiều truyền thuyết về nguồn gốc hát Xoan, cổ nhất
có lẽ là câu chuyện về vua Hùng cùng hai em đi tìm đất đóng đô, giữa đường dạy trẻ em các bài
Trang 7hát của mình, từ đó dân làng học theo và hát vào các lễ mừng Xuân, gọi là hát Xuân rồi nói chệch ra là hát Xoan
Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình) Người Văn Lang xưa tổ chức các cuộc hát Xuân (Xoan) vào mùa xuân để đón chào năm mới, chia làm 3 dạng thức: hát thờ cúng các vua Hùng
và Thành hoàng làng, hát nghi lễ cầu mùa màng tươi tốt và cầu sức khỏe, hát lễ hội nam nữ giao duyên
Những người đi hát Xoan thường là bà con hay cùng thôn làng,
tổ chức thành phường Xoan hay họ Xoan, đứng đầu là ông Trùm Các thành viên nam gọi là Kép, gái là Đào Mỗi phường Xoan có khoảng
15 đến 18 người Nam mặc áo the, khăn xếp, quần trắng; nữ mặc áo năm thân thường là mầu gụ (nâu), khăn mỏ quạ, áo cánh trắng, yếm điều (đỏ), thắt lưng bao, dải yếm các mầu, quần lụa, đeo xà tích (sợi xích bạc nhỏ dùng làm trang sức rất phổ biến ngày trước)
Hát Xoan rất đa dạng về kiểu hát: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và
ca khúc, đồng ca nữ hay nam, tốp ca, đối ca, hát nhiều giọng, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp Giọng hát có lúc nghiêm trang, có khi thong thả, lại có những điệu dồn đuổi khỏe mạnh, hay duyên dáng, trữ tình Trong hát Xoan, múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau, dùng điệu múa minh họa nội dung cho lời
ca Các tiết mục múa hát thường theo bài bản chặt chẽ trong một buổi Xoan
Các phường Xoan quan hệ thân thiết với nhau, gọi là “nước nghĩa” Người làng Xoan này nước nghĩa với phường Xoan khác và các phường Xoan cũng nước nghĩa với nhau Họ coi nhau thân thiết như anh em, nhưng tuyệt đối đào kép Xoan không được lấy nam nữ thanh niên của làng nước nghĩa, một tập tục sau này thấy ở các chạ (làng kết nghĩa) của quan họ
7 Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng là di sản văn hóa phi vật thể được
công nhận vào ngày 6/12/2012
Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng (Hùng Vương) bắt nguồn từ thời đại các Vua Hùng với niềm tin cùng chung giống nòi “con Rồng cháu Tiên”, cùng chung một cội nguồn, cung chung Quốc tổ Hùng Vương
Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân lấy nàng
Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành một trăm người con trai Năm mươi người con theo
Trang 8mẹ lên núi, năm mươi người theo cha xuống biển lập nghiệp Người con cả theo mẹ lên vùng đất Phong Châu (nay là Phú Thọ) lập ra nước Văn Lang và được tôn làm Vua Hùng Văn Lang là nhà nước đầu tiên trong lịch sử của người Việt, trải 18 đời vua Các Vua Hùng dạy dân trồng lúa nước và chọn núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng để thực hiện những nghi lễ theo
tín ngưỡng của cư dân nông
nghiệp như thờ thần lúa (thần
nông), thần mặt trời để cầu
mưa thuận gió hòa, mùa màng
tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nảy
nở Ghi nhớ công lao to lớn
của các Vua Hùng, nhân dân
đã lập đền thờ tưởng niệm
(khu di tích lịch sử đền Hùng)
mà trung tâm là núi Nghĩa
Lĩnh và lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày giỗ Tổ
Ngay từ thời nhà nước Văn Lang, người Việt đã lập miếu thờ các vua Hùng Dưới các triều đại về sau, cả dân và triều đình đều sùng kính, thờ tự, hàng năm làm lễ giỗ Tổ, tức các vua Hùng Trong bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470- đời vua Lê Thánh Tông và đời vua
Lê Kính Tông - năm 1601 có đoạn: “Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói ” Bia ở đền Hùng lập vào thời Nguyễn viết: “lấy ngày mồng Mười tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái” Từ 1945 ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến nay, người Việt trong nước hay ờ nước ngoài, từ đất liền tới hải đảo, dù theo thể chế chính trị nào cũng hướng
về các vua Hùng, thờ cúng vua Hùng, lấy ngày giỗ vua Hùng làm
các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương ở VN Bà con Việt Nam ở nước ngoài cũng không quên lập nơi thờ vua Hùng ở nhiều nơi
Thờ cúng vua Hùng không chỉ là nghi lễ mà là một tín ngưỡng của mọi người, lâu bền và sâu sắc
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca
Trang 9Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.