Nguyên tắc chungVề thành phần tham gia Để xây dựng kế hoạch dạy học có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong bài học, nên có sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên với chủ th
Trang 1Các bước xây dựng
Kế hoạch dạy học có sử dụng
Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 3Các bước xây dựng
Kế hoạch dạy học có sử dụng
Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 4Nghề thêu của người Dao tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Trang 5“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân,
vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình
thức khác” (Luật di sản văn hóa 2009).
Di sản văn hóa phi vật thể có ở mọi nơi xung quanh chúng ta và là nguồn tài liệu
đa dạng, phong phú, có thể khai thác để học tập suốt đời Việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể vào dạy học ở trường phổ thông sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, đồng thời đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học Qua đó, bài học trở nên sinh động, hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh nâng cao nhận thức, phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức, và tiếp thu bài học tốt hơn Việc sử dụng di sản văn hóa vào quá trình dạy học sẽ giúp cho học sinh dễ dàng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, giải thích một cách khoa học hơn về các hiện tượng liên quan đến thế giới xung quanh Đồng thời, sử dụng di sản văn hóa trong dạy học cũng cung cấp cho học sinh các kiến thức về giá trị, chức năng, ý nghĩa của những di sản này, từ
đó nâng cao nhận thức của giới trẻ về bảo vệ các giá trị di sản văn hóa của dân tộc, hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững
Hướng dẫn này là tài liệu tham khảo cho giáo viên phổ thông Hướng dẫn chỉ ra các bước có thể tiến hành khi xây dựng kế hoạch bài học nội khóa có sử dụng các
di sản văn hóa phi vật thể tại lớp học, bảo tàng hoặc tại nơi có các di sản văn hóa đang tồn tại Khi sử dụng hướng dẫn này cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương
Giới thiệu
Trang 7Nguyên tắc chung
Về thành phần tham gia
Để xây dựng kế hoạch dạy học có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong bài học, nên có sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên với chủ thể văn hóa
là người dân và các cán bộ văn hóa tại địa phương
Trong trường hợp cán bộ văn hóa địa phương không có điều kiện tham gia hoặc không có điều kiện phối hợp với chủ thể văn hóa, giáo viên có thể chủ động tự xây dựng bài học và tận dụng tối đa các nguồn lực và tài nguyên sẵn có, đặc biệt lưu ý đến tính chính xác về nội dung của di sản văn hóa
Trong quá trình thực hiện, giáo viên và cán bộ văn hóa cần:
Đảm bảo tính phù hợp của việc sử dụng di sản văn hóa vào bài học;
Đảm bảo tính chính xác đối với các nội dung của di sản văn hóa;
Đảm bảo tính khả thi trong đáp ứng yêu cầu phân phối chương trình của môn học
Lễ rước nước
trong hội Gióng
đền Phù Đổng,
Trang 9Các bước xây dựng
Kế hoạch dạy học
Trang 10Bước 1
Lập danh mục di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương
Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO đưa ra định nghĩa:
“Di sản văn hóa phi vật thể” được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một
số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện Quốc
tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững
Di sản văn hóa phi vật thể gồm các lĩnh vực:
(a) các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của
di sản văn hóa phi vật thể;
(b) nghệ thuật trình diễn;
(c) tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội;
(d) tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;
(e) nghề thủ công truyền thống
Để có được danh mục đầy đủ nhất, giáo viên và cán bộ văn hóa cần:
- Hiểu được khái niệm và biết cách nhận diện di sản văn hóa phi vật thể;
- Điều tra thông tin về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể đang tồn tại ở địa phương, thông qua:
• Tham khảo danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của Phòng Văn hóa và Thông tin quận, huyện và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố (gọi chung là tỉnh;
• Thu thập thông tin từ cộng đồng, đặc biệt là từ già làng, trưởng bản, trưởng thôn hay những người cao tuổi khác, v.v thông qua phỏng vấn;
• Tra cứu thông tin qua tư liệu sách, báo, tạp chí, băng đĩa, bài báo nghiên cứu, v.v
về di sản văn hóa phi vật thể tại thư viện nhà trường, thư viện huyện, thư viện tỉnh, thư viện quốc gia, v.v;
• Tra cứu thông tin trên Internet
- Lập danh mục di sản văn hóa phi vật thể của địa phương hoặc nhóm dân tộc và mô tả tóm tắt về các di sản đó trong danh mục
Trang 11Bài học nội khóa có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể
có thể diễn ra trên lớp hoặc tại thực địa
Ở bước này cán bộ văn hóa tiến hành, sau đó giáo viên bổ sung Nếu không có cán bộ văn hóa, giáo viên thực hiện nhưng cần đảm bảo sự phù hợp của các di sản khai thác sử dụng với nội dung bài học Giáo viên cần kiểm tra tính chính xác của thông tin về di sản với sự giúp đỡ của cán bộ văn hóa, nhà nghiên cứu, quản lý di sản văn hóa tại địa phương hoặc đối chiếu với các nguồn thông tin chính thống
Những đặc điểm nhận diện di sản văn hóa phi vật thể:
Là di sản đang được thực hành tại cộng đồng;
Được cộng đồng sáng tạo, duy trì và chuyển giao từ đời này sang đời khác;
Được cộng đồng xem là một phần quan trọng trong đời sống, tạo nên bản sắc của họ;
Phản ánh sự đa dạng văn hóa và tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng và nhóm người
Trang 12Để thực hiện bước này, giáo viên và cán bộ văn hóa cần phối hợp:
- Nghiên cứu nội dung các bài học trong chương trình, sách giáo khoa và nội dung các
di sản văn hóa phi vật thể tại danh mục đã lập ở Bước 1;
- Lập bảng danh mục chỉ ra liên kết giữa nội dung bài học và di sản văn hóa phi vật thể;
- Trên cơ sở bảng tổng hợp, chọn một (hoặc nhiều) di sản văn hóa phi vật thể, phù hợp với bài học để tiến hành thiết kế bài học sử dụng các di sản đó
STT Bài trong
sách giáo
khoa
Di sản văn hóa phi vật thể có thể sử dụng
Nội dung bài giảng và hoạt động học có sử dụng
di sản
Hình thức dạy học (trên lớp/
tại di sản)
Các phương diện về phát triển bền vững
• Đặc điểm nguồn âm: khi phát ra âm các vật đều dao động
• Hoạt động: Kiểm tra mặt cồng, chiêng, trống: dùng tay sờ, dùng giấy mỏng để sát mặt cồng, hoặc/và dùng quả cầu bấc để sát mặt cồng
Học trên lớp Ý thức bảo
vệ di sản văn hóa
và bản sắc dân tộc
• Tìm hiểu vai trò của ngành thân mềm: làm đồ trang sức, làm vật trang trí, làm sạch môi trường nước, v.v
• Học sinh trải nghiệm hoặc trình bày về nghề khảm trai, ốc, hoặc nuôi ngọc trai
• Học trên lớp hoặc tại nơi có thực hành nghề
• Học sinh được giao bài tập tìm hiểu trước về nghề thủ công
có sử dụng ngành thân mềm và trình bày trước lớp
Ý thức bảo
vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn nghề thủ công truyền thống
Trang 131 Nghiên cứu tài liệu liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể đã lựa chọn
Trước khi tổ chức nghiên cứu tại thực địa, giáo viên và cán bộ văn hóa cần phối hợp:
- Nghiên cứu mọi tư liệu đã có liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể đã được lựa chọn;
- Xác định các thông tin, tư liệu cần bổ sung để xây dựng nội dung bài học;
- Chuẩn bị bảng câu hỏi phỏng vấn tại thực địa về nội dung di sản văn hóa phi vật thể cần bổ sung;
- Dự kiến các hoạt động học tập hoặc thí nghiệm, thực hành có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể
Trên cơ sở các di sản đã được xác định ở Bước 2, giáo viên xây dựng kế hoạch bài học, chú
ý thiết kế các hoạt động học tập cho học sinh, sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp Bài học có cấu trúc như sau:
2 Xây dựng kế hoạch và thiết kế bài học
Giáo viên bộ môn phối hợp với
cán bộ văn hóa nghiên cứu tư liệu
Trang 14(Lưu ý hình thành những năng lực cho học sinh trong bài học)
II Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
1 Giáo viên
2 Học sinh
III Tiến trình tổ chức các hoạt động học tập
1 Kiểm tra bài cũ (Cần linh hoạt trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập)
2 Dẫn dắt vào bài mới
3 Nghiên cứu, tìm hiểu về di sản trong thực tế
Giáo viên phối hợp với cán bộ văn hóa tổ chức nghiên cứu thực tế, khảo sát tại nơi có di sản Việc tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu về di sản trong thực tế không nên quá dài và nên chia thành 2 đợt, mỗi đợt khoảng 1-2 ngày:
Đợt 1:
Tiến hành thu thập thông tin tại nơi có di sản thông qua cách thức phỏng vấn, ghi âm, chụp ảnh, quay phim, v.v và kiểm chứng tính phù hợp của di sản với nội dung bài học Kiểm chứng hoạt động học đã gợi ý có phù hợp với yêu cầu nội dung và thời lượng bài
học hay không Xác định hình thức tổ chức dạy học: trên lớp hoặc tại di sản (Bài học tại thực địa) Nghiên cứu khả năng mời người nắm giữ, thực hành di sản (Xem Đặc điểm nhận diện
ở trang tiếp theo) tại địa phương tham gia vào hoạt động dạy học
Đợt 2:
Bổ sung tư liệu còn thiếu sau khi chỉnh sửa lại kế hoạch bài học Chuẩn bị hiện vật, phương tiện, đồ dùng phục vụ cho bài học
Trang 15Trong trường hợp không có điều kiện để tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu tại thực tế, giáo viên với sự trợ giúp của cán bộ văn hóa có thể tìm hiểu sâu về di sản thông qua các buổi nói chuyện, thuyết trình, giảng dạy của các nhà nghiên cứu về từng di sản văn hóa cụ thể hoặc thông qua các nguồn tư liệu phát hành chính thức và các cơ quan quản lý văn hóa
Giáo viên bộ môn và cán bộ văn hóa tìm hiểu hát dân ca tại nhà nghệ nhân
Đặc điểm nhận diện người nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể:
Am hiểu, có kỹ năng, kỹ thuật, bí quyết nổi bật;
Đã thực hành di sản nhiều năm;
Tham gia tổ chức, hoặc thực hành liên tục;
Có đóng góp trong truyền dạy;
Được cộng đồng công nhận
Thí dụ: thầy ông Hiệu, thợ cả, ông Tiên chỉ, ông trùm phường, nghệ nhân, đồng
thầy, võ sư, ông mo, bà mo, ông lang, ca nương, kép đàn, chủ tế, v.v
Trang 16- Tính phù hợp của việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể vào bài học;
- Tính khả thi trong việc đáp ứng các yêu cầu trong phân phối chương trình của môn học;
- Tính chính xác của nội dung di sản văn hóa phi vật thể
Dựa trên những ý kiến đánh giá sau giảng tập dượt, giáo viên và cán bộ văn hóa cần thống nhất để điều chỉnh tiến trình bài học, các hoạt động, tư liệu hình ảnh và lời giảng của giáo viên cho phù hợp và hoàn thiện kế hoạch, thiết kế bài học Bổ sung thêm tư liệu, phương tiện phục vụ cho bài học (nếu cần)
Bước 4
Giảng tập dượt, đánh giá và hoàn thiện
4 Bổ sung, điều chỉnh kế hoạch bài học
5 Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực trong thiết kế hoạt động học tập
Tùy từng môn học, thời gian và hình thức tổ chức dạy học, giáo viên có thể sử dụng các
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động học tập trước, trong và sau
tiết học sao cho phù hợp
Dựa trên các nguồn tư liệu đã thu thập (sách, báo, tạp chí, băng đĩa, bài báo nghiên cứu, phỏng vấn, bài viết của nhà nghiên cứu, v.v.) và tư liệu thu thập từ nghiên cứu thực tế, giáo viên phối hợp với cán bộ văn hóa chọn lọc phần tư liệu về di sản có giá trị sử dụng hiệu quả nhất để gắn với bài học và khắc sâu kiến thức về phần này
Trang 17Giảng tập dượt tiết Vật lí
Sau khi đã hoàn thành việc thiết kế cần đưa bài học vào kế hoạch giảng dạy của bộ môn trong học kỳ hoặc năm học, Ban Giám hiệu, tổ bộ môn cần theo dõi tình hình thực hiện thực tế, đánh giá và có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp (nếu cần)
Giáo viên bộ môn tổ chức giảng dạy bài học trên lớp hoặc tại di sản (tại thực địa) theo
kế hoạch và thiết kế bài học đã xây dựng (Chú ý đến công tác chuẩn bị chu đáo, đầy
đủ mọi điều kiện để việc tổ chức dạy học diễn ra an toàn, đúng kế hoạch và hiệu quả).Các cơ quan quản lý giáo dục tại địa phương cần phối hợp với cơ quan quản lý, nghiên cứu về di sản văn hóa thường xuyên tổ chức dự giờ kiểm tra và đánh giá về chất lượng, hiệu quả triển khai sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học; đồng thời đưa
ra góp ý, bổ sung và xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng và những chính sách
Trang 18UNESC
Trang 19Trò đánh mảng của người Mường
Trang 21Một số gợi ý
giúp thực hiện hiệu quả
việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học
Trang 22Trong quá trình xây dựng bảng danh mục ở Bước 2, cố gắng hạn chế sử dụng trùng lặp các di sản ở các môn học khác nhau Nếu có trùng lặp, giáo viên và tổ bộ môn nên khai thác các khía cạnh khác nhau của di sản, và cần bám sát kiến thức bộ môn Do đó, các tổ
bộ môn cần phối hợp nghiên cứu cho tất cả các môn học, tiết học và thống nhất bộ môn nào sử dụng di sản hoặc khía cạnh nào của di sản để vừa tránh chồng chéo vừa giúp học sinh hiểu về di sản dưới nhiều góc độ
Khi thực hiện các Bước 2, 3, 4 và 5, cần lưu ý rằng sử dụng di sản văn hóa phi vật thể
trong tổ chức bài học nội khóa là một phương thức dạy học chứ không phải là nội dung
tích hợp Điều này có nghĩa giáo viên không chú trọng dạy về di sản mà chỉ lấy di sản văn hóa phi vật thể hoặc các phương diện của di sản văn hóa phi vật thể làm công cụ, học cụ hoặc tư liệu để giải thích, minh họa cho nội dung khoa học của bài học nội khóa
Do vậy, việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể nhất thiết phải tuân thủ đầy đủ các yêu
cầu theo phân phối chương trình cho bài học nội khóa Với bài học nội khóa, có thể cân
BVHTTDL về Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông, Trung tâm giáo dục thường xuyên thì cán bộ quản lý, giáo viên và tổ bộ môn cần chủ động đề nghị sự hỗ trợ của các
cơ quan, đơn vị có liên quan, nhất là Phòng Văn hóa và Thông tin tại quận, huyện, thị xã hoặc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển phát biểu chỉ đạo tại lớp Tập huấn thí điểm sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông
Trang 23- Tiết học trong chương trình;
- Tiết học tự chọn;
- Chương trình giáo dục địa phương
Với tiết học trong chương trình, trên cơ sở đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên có thể
tổ chức dạy học có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trên lớp hoặc ở ngoài nhà trường Cần chú ý các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo; coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường Với bài học trên lớp, nội dung và hoạt động dạy và học có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể có thể đưa vào đầu tiết, giữa tiết, cuối tiết hoặc xen kẽ trong suốt tiết học tùy từng môn, tiết học cụ thể
Với tiết học tự chọn và chương trình giáo dục địa phương, giáo viên có thể sử dụng
toàn bộ 1 tiết học hoặc kết hợp 2 - 3 tiết học về di sản văn hóa phi vật thể
Đối với tiết học tự chọn, có thể kết hợp dạy liên môn, thí dụ: Vật lí - Âm nhạc, Âm nhạc - Ngữ văn, Vật lí - Âm nhạc - Ngữ văn - Lịch sử, Hóa học - Sinh học - Địa lí, Mỹ thuật - Công nghệ, hoặc Công nghệ - Ngữ văn, v.v
Với chương trình giáo dục địa phương, do có thời lượng rộng rãi, giáo viên có nhiều
lựa chọn để đưa di sản văn hóa phi vật thể địa phương vào nội dung bài giảng và hoạt động giáo dục Ở hình thức này, nội dung bài học cũng có thể xem là nội dung tích hợp, hoặc mô đun Tổ chức dạy học sử dụng di sản trong các tiết địa phương giúp khắc sâu hơn về di sản văn hóa phi vật thể của chính địa phương đó
Trang 24sử dụng di sản được đưa vào phải đảm bảo đạt mục tiêu kiến thức của môn học theo chương trình giáo dục - đào tạo hiện hành Phần bài tập về nhà nên kết nối với nội dung
di sản sẽ được dạy ở bài học tiếp theo hoặc ở môn học khác
hệ và tác động qua lại giữa con người, thiên nhiên và văn hóa, sự biến đổi, những nguy
cơ và thách thức mai một văn hóa, biến đổi khí hậu và môi trường, rủi ro thảm họa, nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững, v.v để đưa vào bài học, làm cho bài học sâu sắc, sinh động hơn và có tính giáo dục cao
Khi thiết kế nội dung bài giảng và hoạt động học ở Bước 4, giáo viên không nên chỉ giới hạn trong một di sản văn hóa phi vật thể mà có thể mở rộng, so sánh, liên hệ với 1-2 di sản văn hóa phi vật thể khác để mở rộng kiến thức và làm rõ hơn đặc trưng của các di sản
đó Đối với những di sản văn hóa phi vật thể phổ biến ở nhiều địa phương, mặc dầu ưu tiên giới thiệu di sản ở địa phương mình, giáo viên nên mở rộng giới thiệu di sản ở những địa phương khác để học sinh thấy được sự đa dạng, bản sắc và sự kế tục của di sản Giáo viên có thể linh động sử dụng di sản tương đồng, hoặc di sản ở địa phương khác để sử dụng dạy học, trong trường hợp địa phương mình không có di sản đáp ứng yêu cầu của bài học
Trang 25Các kỹ năng và tri thức thực hành di sản văn hóa phi vật thể là nguồn học liệu phong phú
Cán bộ văn hóa hỗ trợ giáo viên
Tùy vào khối lượng tư liệu thu thập và khả
năng kết nối với cộng đồng chủ thể văn
hóa, giáo viên có thể cân nhắc đưa nội
dung giới thiệu về di sản văn hóa phi vật
thể vào nhiều hay ít, có sử dụng tư liệu
hình ảnh hay không, có mời cộng đồng
tham gia hay không, thời lượng hoạt
động học tập và phần cung cấp kiến thức
về di sản văn hóa phi vật thể ít hay nhiều,
v.v Điều này có nghĩa không nhất thiết
phải giới thiệu toàn bộ nội dung về di
sản văn hóa mà chỉ cần chọn lọc những
yếu tố đại diện nhất của di sản văn hóa
phi vật thể, nhằm khơi dậy sự tò mò cho
học sinh để sau đó các em tự tìm hiểu cụ
thể hơn khi thấy yêu thích di sản đó Giáo
viên cũng nên lưu ý yếu tố cảm xúc, thái
độ của học sinh trong hoạt động học tập
7
8 Khi tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu di sản
trong thực tế ở Bước 4, nếu thành phần
tham gia gồm có giáo viên và cán bộ văn
hóa, nhiệm vụ mỗi bên có thể phân chia
như sau:
- Cán bộ văn hóa: Hỗ trợ giáo viên tiếp
xúc với cộng đồng nắm giữ di sản hoặc
cá nhân am hiểu để phỏng vấn, thu thập
thông tin và tư liệu hóa (ghi âm, chụp ảnh
hoặc quay phim, v.v.) nội dung về di sản
văn hóa phi vật thể sẽ sử dụng trong bài
học Cập nhật thông tin mới nhất về tình
trạng của di sản văn hóa phi vật thể Đưa
ra những gợi ý về các hoạt động học tập
thông qua di sản văn hóa phi vật thể
- Giáo viên: Chuẩn bị các câu hỏi phỏng
vấn xoay quanh nội dung dự kiến sử dụng
trong dạy học Kiểm chứng tính khoa học,
tính phù hợp của di sản văn hóa phi vật
thể với bài học; xác định các hoạt động
học tập phù hợp với nội dung bài học
Phối hợp với cán bộ văn hóa để thiết kế
nội dung và hoạt động học tập qua các di
sản văn hóa phi vật thể
Trang 26Tiết học môn Đạo đức
- Nếu có thể, giáo viên nên nhận diện những người am hiểu, có khả năng diễn đạt tốt,
có khả năng tham gia hỗ trợ xây dựng kế hoạch, thiết kế bài học cùng giáo viên và tham gia giảng dạy cùng giáo viên trên lớp hoặc tại di sản;
- Ưu tiên chọn các di sản văn hóa phi vật thể xung quanh nhà trường Tuy nhiên, không nên bó hẹp trong phạm vi nhất định và luôn trao đổi, kiểm chứng độ chính xác của thông tin qua cán bộ văn hóa hoặc chuyên gia am hiểu về lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và khoa học của môn học;
- Khi tiến hành phỏng vấn thu thập thông tin, cần lưu ý đặt câu hỏi mở, đơn giản, rõ ràng (để làm rõ các thông tin ai, cái gì, như thế nào, ở đâu và khi nào?) và tránh các câu hỏi chỉ đem lại câu trả lời “Có” hoặc “Không” Tránh áp đặt ý tưởng của mình để có thể nắm bắt được những cách giải thích, diễn giải trực tiếp của chính chủ thể văn hóa Với sự đồng
ý của chủ nhân, cần tận dụng ghi lại tất cả các loại tư liệu như hình ảnh, ảnh chụp gia đình, lưu bút, thư từ, công cụ, dụng cụ, vật gia truyền, kỷ vật, sản phẩm, không gian thực hành có liên quan đến di sản, v.v Sau mỗi chuyến đi trải nghiệm, cần xem lại ngay các tư liệu đã thu thập được để có kế hoạch chụp, quay, ghi âm bổ sung trong chuyến đi sau;
- Giáo viên có thể bồi dưỡng thêm kiến thức qua các buổi nói chuyện, thuyết trình của chuyên gia về di sản hoặc kiến thức khoa học liên quan đến môn học
9
“So với các tiết học sử dụng học cụ hiện tại của nhà trường thì việc
sử dụng di sản tiện lợi và gần gũi với các em hơn, các em hiểu bài nhanh và bài học trở nên phong phú hơn Với học cụ là di sản, các
em tham gia hoạt động học sôi nổi hơn rất nhiều.”
Thầy Trần Văn Hùng, giáo viên môn Vật lí, trường THCS Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
Trang 27Giáo viên và cán bộ văn hóa đi tìm hiểu về xe đác (guồng quay nước) của người Mường
Sự tham gia của giới trẻ trong thực hành là biểu hiện rõ nhất
về sức sống của di sản Hội Gióng đền Phù Đổng 2012
Trang 28Trong quá trình nghiên cứu để xây dựng bài học, cần quan tâm khai thác những kinh nghiệm và tri thức dân gian cũng như cách giải thích dân gian vào bài học để chỉ ra sự phát triển của tri thức từ dân gian đến khoa học hiện đại Cần tính đến việc tạo trải nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp, chẳng hạn qua tư liệu nghe nhìn, cho học sinh giao lưu với cộng đồng chủ thể văn hóa, nhằm khắc sâu hơn kiến thức môn học, tình yêu di sản và ý thức tôn trọng chủ nhân di sản cũng như nhận thức và hiểu biết về sự phát triển bền vững.
Trong trường hợp sử dụng các loại tư liệu trong bài học, cần kết hợp đan xen và kết nối một cách hợp lý để quản
lý thời gian hiệu quả: hình ảnh, lời thoại và trình diễn của chủ thể văn hóa, lời giảng của giáo viên, hoạt động của học sinh, v.v để nội dung có sự liên tục, không trùng lặp và đa dạng Có thể giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể linh hoạt ở nhiều hình thức, tùy điều kiện: qua tư liệu hình ảnh kèm phụ đề, lời bình hoặc tiếng nói của chủ thể văn hóa, v.v
10
Để giúp học sinh thực hiện tốt hoạt động học, khi thiết
kế hoạt động học tập tại Bước 4, cần lưu ý rằng vai trò của giáo viên là:
- Người hướng dẫn, điều phối hoạt động và tạo điều kiện để học sinh tự chọn nội dung hoặc chủ đề gắn với bài học sắp tiến hành;
- Hướng dẫn học sinh tìm kiếm thông tin qua các nguồn: sách, báo, tạp chí, trang web, tại gia đình, trong cộng đồng, v.v., và phương pháp thu thập và điều tra thông tin (cách đặt câu hỏi phỏng vấn, viết, vẽ, chụp ảnh, ghi âm, sưu tầm hiện vật, v.v.);
- Khuyến khích học sinh tìm kiếm những tri thức dân gian nhờ đến sự trợ giúp của ông bà, cha mẹ, người thân hoặc hàng xóm, v.v và mời họ tham gia vào quá trình học tập và sưu tầm, tìm hiểu về di sản văn hóa cùng học sinh;
- Khuyến khích học sinh sáng tạo và tự quyết định hình thức trình bày và tổng kết thông tin (thí dụ: viết,
vẽ, trưng bày, làm đoạn phim, bài trình chiếu, đóng kịch, trình bày theo nhóm, cá nhân, tái tạo hiện vật, v.v.)
Tôi cảm thấy tiết học
như vậy rất khô khan
và nhiều em cảm thấy
khó tiếp thu Nếu
sử dụng di sản, đưa
những cái đời thường,
gần gũi vào trong
Cô Lê Thị Hương,
giáo viên môn Hóa học,
trường THCS Tử Nê,
Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
Trang 2912 Khi hướng dẫn học sinh thực hiện hoạt động học tập,
giáo viên không nên quá chú trọng vào kết quả và chất lượng thông tin, tư liệu học sinh thu thập, mà nên tập trung vào quá trình nhận thức và sự trải nghiệm
về di sản văn hóa phi vật thể để tránh gây áp lực, tạo
sự thoải mái và hào hứng với hoạt động học Ngay cả việc học sinh không sưu tầm được thông tin, hiện vật cũng là câu chuyện để liên hệ đến sự mai một của các
di sản văn hóa phi vật thể và những bài học giáo dục
về sự phát triển bền vững giúp cho học sinh hình thành
ý thức giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể này Trong trường hợp thông tin học sinh thu thập chưa chính xác, giáo viên có thể sử dụng kiến thức đã tìm hiểu để giải thích, hoặc đề nghị cán bộ văn hóa xác minh và truyền đạt lại cho học sinh vào một thời điểm thích hợp
Tham vấn người am hiểu tại cộng đồng để hiểu về di sản
Nhạc sư đờn ca tài tử Nguyễn Vĩnh Bảo, Tp Hồ Chí Minh
Luật di sản văn hóa sửa đổi và bổ sung (2009) NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Marjorie Hunt (2003), the Smithsonian Folklife and Oral History Interviewing Guide [Hướng dẫn của Viện Smithsonian về
phỏng vấn đời sống dân gian và lịch sử truyền khẩu], Viện Smithsonian, Washington.
Tài liệu tham khảo:
Trang 30UNESC
Trang 32Một số
bài học minh họa
Trang 34Sử dụng nghề khảm trai vào bài học sinh học Tiết 22 – Bài 21: ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH THÂN MỀM
I Mục tiêu bài học
1 Kiến thức
• Phân tích được sự đa dạng của ngành thân mềm;
• Trình bày được đặc điểm chung của ngành thân mềm;
• Nêu và phân tích được những lợi ích và tác hại của ngành thân mềm, giá trị kinh tế, mỹ thuật mà ngành thân mềm mang lại;
• Có thêm hiểu biết về một làng nghề truyền thống của Hà Nội liên quan đến ngành thân mềm
2 Kỹ năng
• Thu thập thông tin, tư liệu;
• Phân tích, so sánh, khái quát và tổng hợp hóa kiến thức;
• Hoạt động nhóm để cùng giải quyết một vấn đề thực tế và thuyết trình
3 Thái độ
• Yêu thích môn học;
• Có ý thức bảo vệ môi trường và bảo tồn sự đa dạng của thân mềm, biết khai thác các nguyên liệu
từ tự nhiên phục vụ cho cuộc sống;
• Tham gia tuyên truyền bảo vệ môi trường;
• Yêu thích các di sản văn hóa, tôn trọng chủ nhân các di sản văn hóa;
• Có ý thức trong việc tìm hiểu và phát huy các di sản văn hóa
II Chuẩn bị cho bài học
• Tự sưu tầm tư liệu qua sách báo, Internet;
• Đi nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hiện vật, tranh ảnh phục vụ cho tiết dạy từ trong cộng đồng;
• Dựng phim tư liệu về di sản phục vụ cho tiết dạy;
• Các nguyên liệu cần thiết để tổ chức học sinh tham gia một công đoạn của nghề khảm trai, làm
đồ chơi và chơi trò chơi dân gian
2 Học sinh
• Đọc trước nội dung bài, kẻ sẵn bảng 1 trang 72 vào vở;
• Sưu tầm tài liệu, tranh ảnh về vai trò của ngành thân mềm và các nghề truyền thống liên quan đến ngành thân mềm;
• Tự sưu tầm tư liệu (viết, tranh, ảnh), hiện vật trong gia đình, làng bản;
• Tự viết, vẽ, chụp ảnh về di sản
III Nội dung và tiến trình tiết dạy
1 Kiểm tra bài cũ (2 phút)
Giáo viên: Nêu tên và môi trường sống các loài thân mềm có trong hình (giáo viên chiếu PowerPoint).
Học sinh có thể kể thêm tên một vài loài thân mềm khác
Trang 35Dẫn dắt: Như các em có thể thấy, có rất nhiều loài thân mềm khác nhau Vậy thực tế ngành thân mềm
đa dạng như thế nào, có đặc điểm chung và vai trò gì? Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu trong Tiết 22 - Đặc điểm chung và vai trò của ngành thân mềm.
2 Nội dung bài mới
Trước khi vào bài mới, cô quy định về hoạt động nhóm trong buổi học hôm nay như sau:
• Nhóm nhỏ: 4 bạn thuộc 2 bàn liền kề;
• Nhóm lớn: một dãy bàn – tương ứng với một tổ.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung
Chúng ta cùng hướng lên màn hình
(sử dụng hình ảnh trong phần kiểm tra
bài cũ)
Vừa nãy có bạn đã nêu tên và môi trường
sống của các loài thân mềm này Bây giờ,
kết hợp nghiên cứu sách giáo khoa, các em
hãy nhận xét về kích thước và tập tính của
sách giáo khoa, thảo luận và thực hiện
lệnh ∆ ở trang 71 và 72 Mỗi nhóm sẽ điền
kết quả của nhóm mình vào phiếu, nhóm
nào xong sớm nhất sẽ lên trình bày và
được đánh giá.
Chiếu phiếu học tập của nhóm xong sớm
nhất, gọi đại diện lên trình bày, yêu cầu
các nhóm khác theo dõi, cho nhận xét và
bổ sung
Nhận xét và chốt kiến thức
Qua 2 phần tìm hiểu vừa xong, chúng ta
Quan sát hình, nghiên cứu sách giáo khoa, thảo luận nhóm, đưa ra câu trả lời
Đại diện trình bày, các học sinh khác theo dõi, nhận xét
và bổ sung
Theo dõi và ghi bài
Các nhóm thực hiện, thảo luận thống nhất cách trình bày
Đại diện trình bày, các học sinh khác theo dõi, nhận xét
và bổ sung
Ghi nhớ
I Đặc điểm chung
1 Sự đa dạng của thân mềm
- Số lượng loài: rất lớn
- Ống tiêu hóa phân hóa
Hoạt động 1: Tìm hiểu đa dạng và đặc điểm chung của ngành thân mềm (10 phút)
Trang 36có thể thấy ngành thân mềm rất đa dạng
và phong phú, song cơ thể đều có đặc điểm
chung Vậy với tính đa dạng, phong phú
của ngành thân mềm, ngành này có vai
trò gì đối với môi trường cũng như với sự
phát triển kinh tế-xã hội của con người,
chúng ta cùng tìm hiểu Mục II.
Yêu cầu đại diện 2 nhóm trình bày bài
tìm hiểu về vai trò của thân mềm đã
Nhận xét và đánh giá phần trình bày của
học sinh, chốt kiến thức Chiếu bổ sung
một số hình ảnh về vai trò của thân mềm
Rõ ràng, bên cạnh rất nhiều lợi ích, thân
mềm cũng gây những tác hại nhất định đối
với nền kinh tế-xã hội của con người Nắm
được những kiến thức này, chúng ta sẽ có
ý thức giảm thiểu tác hại của thân mềm
và phát huy những lợi ích mà thân mềm
mang lại.
Trong phần trình bày vừa rồi của các
nhóm, các em có đề cập đến thân mềm
cung cấp nguyên liệu quan trọng cho một
số nghề truyền thống Chẳng hạn, đối với
con trai, ngoài nghề nuôi trai lấy ngọc, thịt
trai dùng để chế biến món ăn, vỏ trai còn
được sử dụng để làm trang trí Gắn với
ngành thân mềm, ở Việt Nam có một số
nghề: nghề nuôi trai lấy ngọc ở Nha Trang,
nghề câu mực ở Quảng Ngãi… (giáo viên
vừa nói vừa chiếu PowerPoint)
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
Đại diện trình bày, các học sinh khác theo dõi, nhận xét
và bổ sung
Theo dõi và ghi bài
Tự điều chỉnh bài tìm hiểu của mình và ghi nhớ
II Vai trò
1 Lợi ích
- Làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho động vật khác;
- Là nguyên liệu
để làm đồ trang sức, vật trang trí,
đồ chơi, dược liệu;
- Làm sạch môi trường nước;
- Có giá trị về mặt địa chất;
- Góp phần phát triển kinh tế-xã hội
2 Tác hại
- Làm hại cây trồng;
- Làm vật trung gian truyền bệnh;
- Phá hủy các công trình bằng gỗ ở dưới nước
Hoạt động 2: Tìm hiểu vai trò của ngành thân mềm (15 phút)
Trang 37một nghề truyền thống ngay tại một địa
phương ở Hà Nội.
Trước khi xem phim tư liệu, cô có 3 câu hỏi
dành cho các em Các em sẽ trả lời các câu
hỏi này sau khi xem phim:
- Nguyên liệu để khảm là gì?
- Tại sao hiện nay các nghệ nhân phải
nhập thêm trai từ Trung Quốc?
- Tại sao nguyên liệu ốc phải nhập ngoại từ
Singapore, Úc… và nhiều nước khác?
Chiếu phim Nghề khảm trai làng Chuôn
Ngọ, xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên,
Hà Nội.
Cung cấp thông tin: Như các em vừa xem
trong phim, nghề khảm trai ở làng Chuôn
Ngọ (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên,
Hà Nội) có từ thế kỷ III dưới thời Lý Ông
tổ nghề khảm trai Trương Công Thành từ
việc ghép các mảnh vỏ trai rất đỗi bình
thường thành các hình thù trang trí đẹp
mắt đã khởi sinh ra một nghề truyền thống
có giá trị cao tồn tại và phát triển đến ngày
nay, mang lại cuộc sống phát đạt cho người
dân địa phương Điều đó chứng tỏ sức sáng
tạo của người Việt Nam và cũng tạo nên
một nét văn hóa đặc trưng của đất nước
ta, đồng thời minh chứng rằng từ những
điều bình thường song nếu sáng tạo, chúng
ta có thể tạo nên những giá trị to lớn.
Trên tay cô là phần xà cừ ở vỏ trai đã được
ép phẳng Đây là trai Trung Quốc Đây là
trai Việt Nam Các em có nhận xét gì về
màu sắc của 2 loại trai này?
Có thể thấy, trai Việt Nam nhiều màu sắc
hơn, giúp tạo ra những sản phẩm khảm có
màu sắc phong phú và bắt mắt Đồng thời
trai Việt Nam dẻo và dai hơn, trai Trung
Quốc giòn và dễ vỡ Vậy, bạn nào có thể
trả lời các câu hỏi cô đặt ra trước khi xem
phim?
Gọi học sinh trả lời các câu hỏi
Nhận xét: Việc phải nhập nguyên liệu từ
nước ngoài không chỉ do nhu cầu sử dụng
đồ khảm trai/khảm xà cừ tăng lên khiến
Theo dõi phim
Học sinh quan sát và có thể trả lời câu hỏi: Trai Trung Quốc chỉ có màu trắng, trai Việt Nam có nhiều màu sắc hơn
Trả lời câu hỏi
Trang 38nguyên liệu trong nước không đủ cung cấp,
mà còn do môi trường sống của trai là các
con sông hiện nay ngày càng bị ô nhiễm
nghiêm trọng Ngay như dòng sông Nhuệ
cũng đang bị ô nhiễm bởi nước thải từ làng
Chuôn Ngọ và các làng nghề dọc hai bờ
sông, khiến tôm, cá, trai, ốc không thể tồn
tại được Hoặc việc khai thác triệt để quá
mức không có giới hạn về kích cỡ của ốc
khiến tại các vùng biển của Việt Nam hiện
nay không có loại ốc đủ to để có lớp xà cừ
đẹp dùng để khảm, buộc chúng ta phải
nhập ốc từ nước ngoài.
Như vậy các em thấy bên cạnh những tác
hại do ngành thân mềm gây ra cho con
người, những hoạt động của con người
cũng tác động xấu đến ngành thân mềm.
Vì thế, bảo vệ môi trường nước (chẳng hạn
như hạn chế sử dụng các chất tẩy rửa…)
sẽ giúp bảo vệ môi trường sống của các
sinh vật dưới nước, trong đó có thân mềm,
có như vậy chúng ta mới có thể duy trì và
phát triển được các nghề thủ công đặc sắc
của Việt Nam.
Hoạt động 3:
Học sinh trải nghiệm với nghề truyền thống liên quan đến thân mềm (18 phút)
Để hiểu rõ hơn vai trò của ngành thân
mềm cũng như có thể áp dụng những kiến
thức đã học trong thực tế, các em sẽ được
tham gia một số hoạt động: thực hiện một
công đoạn của nghề khảm trai, làm đồ
trang trí và chơi trò chơi.
Một sản phẩm khảm trai hoàn chỉnh như
các em nhìn thấy ở đây (cho học sinh xem
một số sản phẩm khảm trai giáo viên đã
chuẩn bị) phải trải qua rất nhiều công
đoạn, đòi hỏi người nghệ nhân phải thật
kiên nhẫn, tỉ mỉ và khéo tay Sau đây, các
em sẽ xem qui trình làm ra một sản phẩm
khảm trai.
Chiếu đoạn băng Các công đoạn làm ra
một sản phẩm khảm trai. Xem phim, ghi nhớ thông tin
Thân mềm cung cấp nguyên liệu quan trọng cho nhiều nghề truyền thống: Khảm trai, làm đồ trang sức, vật trang trí, thuốc chữa bệnh, sản xuất thực phẩm
Trang 39Ngoài nghề khảm trai, vỏ ngao, sò, ốc…
cũng được dùng để tạo ra các đồ lưu niệm
đẹp mắt (chiếu trên máy chiếu ảnh một
số sản phẩm làm từ vỏ ngao, sò, ốc…)
Ngoài việc được sử dụng cho các nghề thủ
công, vỏ của ngành thân mềm còn được sử
dụng để chơi trò chơi Các em có thể thấy
trên màn hình trẻ em ở Hải Hậu - Nam
Định chơi rải ranh bằng vỏ ngao Ngoài ra,
vỏ sò, vỏ ngao còn được dùng để chơi một
loại cờ dân gian đang mai một của Việt
Nam là cờ gánh
(Chiếu lên màn hình bàn cờ gánh và
hướng dẫn cách chơi)
Giao nhiệm vụ cho từng nhóm:
- Nhóm 1: tham gia một công đoạn của
nghề khảm trai (tùy điều kiện thực tế);
- Nhóm 2: làm một số vật dụng trang trí,
đồ chơi từ vỏ sò vỏ trai;
- Nhóm 3: chơi rải ranh;
- Nhóm 4: chơi cờ gánh
Trong khi học sinh tham gia các hoạt
động, giáo viên hướng dẫn thêm cho từng
nhóm, đặc biệt là nhóm cưa miếng trai và
nhóm chơi cờ gánh
Mời các nhóm cho biết cảm nghĩ về hoạt
động vừa tham gia
Như các nhóm vừa chia sẻ, các bạn trong
nhóm làm đồ trang trí phải có óc tưởng
tượng và sự sáng tạo mới làm ra được
những sản phẩm đẹp Đối với sản phẩm
khảm trai cũng vậy, chỉ riêng việc cắt
miếng trai theo hình thù mong muốn đã
rất khó rồi Vì thế, một sản phẩm thủ công
đòi hỏi rất nhiều công sức song lại chứa
đựng những giá trị lớn của kỹ năng lao
động và óc sáng tạo Với các bạn nhóm trò
chơi dân gian, các bạn thấy các nguyên
liệu sử dụng chơi trò chơi dân gian là
những nguyên liệu lấy từ tự nhiên, rất
dễ kiếm và lấy ngay từ trong môi trường
sinh sống của mỗi chúng ta Các trò chơi
dân gian không chỉ rèn luyện sự khéo léo,
nhanh tay, nhanh mắt mà còn rèn luyện
trí thông minh, cách tư duy logic
Ghi nhớ cách chơi
Tham gia các hoạt động
Đại diện 3 nhóm phát biểu cảm nghĩ
Trang 40Vì vậy, sau tiết học này các em có thể tiếp
tục chơi các trò chơi mà các em được học
và dạy cho các bạn khác cùng chơi được
như các em.
3 Củng cố - đánh giá
- Yêu cầu học sinh hoàn thành bảng 2 trang 72 (chiếu đáp án trên PowerPoint)
Vai trò của các đại diện thân mềm ở địa phương
+ Làm thực phẩm cho con người: trai, ốc đá, ốc mít, trùng trục, hến…
+ Làm thức ăn cho động vật khác: tất cả
+ Làm đồ trang trí: trai, ốc
+ Làm nguyên liệu cho một số nghề thủ công: nuôi trai lấy ngọc, nghề khảm trai, ốc xà cừ…+ Làm sạch môi trường nước: các loài thân mềm sống dưới nước (trai, ốc đá, ốc mít, trùng trục, hến…)
+ Có hại cho cây trồng và làm vật chủ trung gian truyền bệnh: ốc sên, ốc bươu vàng…
+ Phá hủy công trình bằng gỗ ở dưới nước: hà sông…
- Đọc phần ghi nhớ cuối bài
4 Dặn dò
- Đọc thêm mục em có biết Đọc trước bài 22
- Chuẩn bị theo nhóm ít nhất 1 con tôm sống còn bơi được, 1 con tôm đã nấu chín