luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài
Trang 1xã hội Tập trung mọi nỗ lực, khả năng và điều kiện để XĐGN tạo được tiền đề khai thác nguồn lực con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm đưa nước ta ngang tầm với các nước trong khu vực, quốc tế; rút ngắn khoảng cách về lạc hậu Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác XĐGN, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách để giải quyết vấn đề nghèo đói, với nhiều chính sách như: chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN, chương trình phát triển kinh tế xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa, chương trình 135; chương trình 327… Mỗi người dân càng thấm thía và trân trọng những thành quả của Đảng và Nhà nước mang lại và tin tưởng con đường Đảng và Bác Hồ đã chọn cho nhân dân Việt Nam, Độc lập tự do gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội Việc xây dựng đất nước trong thời bình ngày nay không còn con đường nào khác đó là sự đồng lòng, nỗ lực để xây dựng đất nước càng vững mạnh về mọi mặt: kinh tế - chính trị - xã hội…
Huyện Quế Sơn là huyện trung du miền núi của tỉnh Quảng Nam, người dân chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, đời sống gặp nhiều khó khăn Mặc dù trong những năm gần đây được Đảng và Nhà nước quan tâm rất nhiều, các dự án, các
Trang 2chương trình hổ trợ cho người nghèo, khắc phục một phần khó khăn về kinh tế, tỷ
lệ hộ nghèo đã giảm xuống Nhưng hiện tượng nghèo đói vẫn còn là vấn đề thách
thức đối với huyện Đó là lý do chọn đề tài “XĐGN tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp 2007-2011, cũng với mong muốn đóng
góp một phần nào cho công tác XĐGN, phát triển kinh tế xã hội
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức thực hiện chính sách XĐGN ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp mang tính khả thi trong thời gian tới chủ yếu về mặt quản lý để nâng cao hiệu quả của chính sách XĐGN của huyện, góp phần thực hiện mục tiêu XĐGN của huyện xuống mức tối thiểu
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ nông dân nghèo, thông qua việc điều tra, khảo sát các mô hình kinh tế hộ nông dân
Thực hiện công tác XĐGN và tác động của nó đối với sự phát triển xã hội huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Trang 3Đối tượng nghiên cứu chính là những nhà, những hộ nghèo đói trên địa bàn huyện.
5 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, trừu tượng hóa của chủ nghĩa Mác – Lênin
Thống kê, điều tra xã hội học, điều tra các số liệu sơ cấp và thứ cấp
Phân tích số liệu (qua các số liệu được cấp từ các thống kê của huyện)
6 Ý nghĩa của đề tài:
Góp phần làm rõ cơ sở, nội dung, nhiệm vụ và vai trò của chính sách XĐGN của Đảng và Nhà nước ta, cũng như huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Những kết quả, giải pháp trong đề tài này có thể là những tài liệu, nguồn thông tin cho những người nghiên cứu sau này về tình hình XĐGN ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Là cơ sở lý luận để các nhà hoạch định chính sách XĐGN
Trang 4Đề xuất một số ý kiến đóng góp thiết thực đối với các nhà quản lý, đối với Ban chỉ đạo các cấp trong việc thực thi chính sách XĐGN ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về XĐGN tại địa bàn huyện Quế Sơn- tỉnh Quảng Nam.
Chương 2 : Thực trạng đói nghèo và XĐGN ở huyện Quế Sơn tỉnh
Quảng Nam.
Chương 3 : Phương hướng và giải pháp XĐGN ở huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói
1.1.1 Các khái niệm về nghèo đói
1.1.1.1 Quan niệm về nghèo đói
Trong lịch sử các nhà khoa học đã đưa ra một số khái niệm sau đây: nghèo khổ, phân hóa giàu nghèo; còn trong xã hội học có đề cập đến các thuật ngữ: phân tầng xã hội, phân hóa giai cấp… Trên thực tế, có nhiều cách tiếp cận khác nhau và
có thể sử dụng vào mục đích nghiên cứu như: Nghèo, hộ nghèo, dân cư nghèo…Vậy, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không đủ các điều kiện về vật chất và tinh thần để duy trì một cuộc sống tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng Còn Đói là một bộ phận của người nghèo không đủ các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống hàng ngày Do đó “nghèo đói là khái niệm được dùng từ lâu đời trên thế giới để diễn đạt mức sống của một nhóm dân cư, một Quốc gia, so với mức sống của công đồng nhiều quốc gia hay một quốc gia khác”[8,26]
Vậy, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống hàng ngày
Nghèo đói được chia làm: nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối
Trang 6Nghèo đói tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống con người, nhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế xã hội và các phong tục, tập quán của địa phương.
Nghèo đói tuyệt đối chỉ xãy ra khi thu nhập hay mức tiêu dùng của một người hay hộ gia đình giảm xuống thấp hơn giới hạn nghèo đói
Nghèo đói tương đối là tình trạng được xác định khi so sánh mức sống của cộng đồng hay nhóm dân cư này với cộng đồng hay nhóm dân cư khác hoặc giữa các vùng với nhau
Tỷ trọng dân số nghèo đói của một quốc gia nói lên sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của quốc gia đó Ngân hàng thế giới đã thu thập những thông tin có sẵn về phân phối thu nhập theo đối tượng của 66 nước gồm các nước phát triển và các nước đang phát triển
Nghèo đói tương đối được chú ý nhiều hơn, để có giải pháp thu hẹp sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo Trong thực tế, việc đánh giá thực trạng nghèo đói thường kết hợp với các phương pháp tương đối và phương pháp tuyệt đối
1.1.1.2 Quan niệm về giảm nghèo
Theo tài liệu của bộ lao động thương binh xã hội về công tác XĐGN cho thấy giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Vậy những người thoát nghèo, tức là họ có mức sống cao hơn mức sống tối thiểu, tức là họ đã chuyển từ tình trạng ít có điều kiện lựa chọn sang tình trạng có điều kiện lựa chọn hơn, để cải thiện đời sống mỗi người
1.1.1.3 Các chuẩn mực phân định nghèo ở Việt Nam
Chuẩn nghèo là chi phí cần thiết để đảm bảo đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống
Trang 7Theo chuẩn nghèo, cận nghèo giai đoạn 2011-2015, quy định tại chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Thủ Tướng Chính Phủ.
Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo
Khu vực thành thị( thị trấn ): Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo
Theo quy định tại quyết định số117/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2008 của Thủ Tướng Chính Phủ là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng
130 % mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo 2011, cụ thể :Khu vực nông thôn: Những hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 401.000 đến 520.000đồng/người/tháng
Khu vực thành thị :những hộ có thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng ( Thu nhập bình quân đã khấu trừ chi phí sản xuất ) Giới hạn nghèo đói được xác định sau đây: Thứ nhất là, chi phí ước tính cho một khối lượng “hàng hóa cơ bản”, thứ hai là, căn cứ vào tiêu chí dinh dưỡng
Những nhóm người khác nhau trong cộng đồng hay giữa các vùng có tình trạng nghèo đói khác nhau thì đòi hỏi cần có các chính sách khác nhau và phù hợp cho họ phát triển
1.2 Thực tiễn đói nghèo và chương trình XĐGN ở Việt Nam
1.2.1 Thực tiễn đói nghèo ở Việt Nam
Mặc dù trong thời gian qua, Việt Nam đã thành công trong quá trình thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, đó là sự nổ lực của các cấp ngành, các tổ chức trong công tác XĐGN, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì tỷ lệ người nghèo giảm xuống rất nhanh
Trang 8Theo cổng thông tin điện tử của Đảng Cộng Sản Việt Nam: Kể từ khi Việt Nam thực thi chương trình xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2005-2010 đến nay, tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước giảm xuống khá nhanh, từ 22% vào năm 2005 giảm xuống còn 9,45% năm 2010, đã vượt mục tiêu 10% đề ra của Quốc hội.
Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội Việt Nam đã trình lên Chính phủ Nghị quyết Định hướng xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 Nghị quyết nhằm giảm số hộ nghèo từ 15-17% vào năm 2011 xuống còn 4-5% vào năm
2020 theo chuẩn nghèo mới
Nhân tố tác động trực tiếp đến chương trình XĐGN đó là thị trường kinh tế nước ta liên tục trong 15 năm qua tăng trên 6%
Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong nổ lực XĐGN, đó chính là việc thực hiện đồng bộ các chính sách đối với người nghèo, chính sách đất đai, vay vốn, đào tạo nghề, chính sách miễn giảm thế và đóng góp xã hội, đồng thời là kết quả của các chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng miền núi, vùng sâu, vùng
xa và các giải pháp nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục, y tế…
Nhưng thực tế, tỷ lệ nghèo đói vẫn tăng hoặc giảm ở một số vùng, nhất là những vùng sâu, vùng xa, hải đảo, dân tộc thiểu số… Dẫn đến sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, hiện tượng phân hóa giàu nghèo lại có xu hướng tăng lên
1.2.2 Mục tiêu và quan điểm của Đảng và Nhà nước về XĐGN
1.2.2.1 Quan điểm
Bước sang năm 2011, nước ta có những thuận lợi cơ bản đó là nền kinh tế luôn giữ được mức tăng trưởng khá về an sinh xã hội được đảm bảo, kinh tế chính trị luôn được ổn định Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thành công tốt đẹp, tạo được sức mạnh và niềm tin trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp đổi mới đất nước Đó là niềm khích lệ giúp Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt chương trình XĐGN trong giai đoạn hiện nay
Trang 91.2.2.2 Mục tiêu
Trên thực tế, vấn đề XĐGN ở Việt Nam còn nhiều bất cập, đó là tỷ lệ hộ nghèo giữa các vùng còn chênh lệch nhau rất lớn Sự phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn càng lớn Do đó, để khắc phục được vấn đề tồn tại đó Đảng
và Nhà nước đã đưa ra những mục tiêu sau đây:
Một là xóa bỏ tình trạng cùng cực thiếu đói
Hai là đạt phổ cập giáo dục tiểu học
Ba là tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ
Bốn là giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
Năm là tăng cường sức khoẻ bà mẹ mang thai và trẻ em
Sáu là phòng chống bệnh HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác
Bảy là đảm bảo bền vững môi trường
Tám là thiết lập quan hệ dối tác toàn cầu vì mục đích phát triển
1.2.2.3 Vai trò của Nhà nước
Nhà nước với tư cách là người có thể tham gia kinh doanh đứng đầu một số ngành kinh tế, các ngành cơ bản, vì vậy một trong những chương trình XĐGN là xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho người nghèo Nhất là vùng sâu vùng xa, họ không có điều kiện tiếp xúc thị trường và trung tâm kinh tế văn hóa xã, đây là cơ hội giao lưu kinh tế văn hóa với nhau giữa các địa phương trong và ngoài nước, tạo việc làm, tăng thu nhập, giúp người dân thoát được nghèo đói, vươn lên giàu có.Nhà nước với tư cách là người điều tiết vĩ mô toàn xã hội thông qua các công
cụ (thuế, tài chính, tiền tệ…) để quản lý xã hội Vì vậy, với chương trình XĐGN, nhà nước phải giám sát theo dõi chỉ đạo xuống từng địa phương, nhất là vấn đề cấp vốn: phải đúng đối tượng, đúng hộ thực sự nghèo để cấp vốn, vốn được cấp cho
Trang 10người dân với nhiều ưu đãi: lãi xuất thấp, thời gian hoàn trả vốn lâu hơn, được hổ trợ về khoa học kỹ thuật Ngoài ra người dân nghèo còn được hưởng nhiều chương trình ưu đãi khác như: đào tạo nghề và chi phí đào tạo nghề được miễn giảm, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế miễn phí…
Nhà nước với tư cách là người xây dựng các chiến lược dài hạn, ngắn hạn cho phù hợp với giai đoạn hiện nay Trong đó có chiến lược về chương trình XĐGN, nhân rộng chương trình này một cách rộng rãi đối với các ngành, các cấp trong toàn
xã hội, kết hợp với các chương trình đền ơn đáp nghĩa, gia đình có công cách mạng Chương trình khuyến học, thưởng cho các con em nghèo vượt khó vươn lên trong học tập…
Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo là rất cần thiết, phải có các cơ sở khám bệnh, kiểm tra sức khoẻ cho người nghèo theo định kỳ, nhất là đối với người già, phụ nữ và trẻ em, giúp người nghèo chữa trị bệnh, hướng dẫn người nghèo tự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là chính
Nhờ có chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, trong thời gian qua, rất nhiều dự án, nhiều chương trình hổ trợ người nghèo, đã đưa xuống các cơ sở, các
dự án đã được nhân ra như sau:
Dự án 1: Chủ yếu là hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng trước mắt là ưu tiên các vùng sâu, vùng xa, bãi ngang, những vùng còn nhiều rất nhiều khó khăn trong đời sống xã hội
Dự án 2: Nhân rộng các mô hình giảm nghèo, tạo cơ hội cho các hộ nghèo ổn định cuộc sống, giải quyết việc làm, tăng thu nhập tiến tới thoát nghèo và vươn lên giàu có, góp phần ổn định kinh tế - chính trị và xã hội
Dự án 3: Hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo thông qua truyền thông, quảng
bá, giám sát để đánh giá thực hiện chương trình có hiệu quả tốt nhất
Trang 111.3 Những bài học kinh nghiệm về chương trình XĐGN
1.3.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới
* Kinh nghiệm của Ấn Độ
Kinh nghiệm trong cải cách với phát triển nông thôn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải cách kinh tế thuần nông Là nước đông dân nhất thế giới chính quyền
Ấn Độ đã hết sức quan tâm đến công XĐGN, để có thể tác động đến một bộ phận dân cư đang ở tình trạng nghèo khổ, ngoài phấn đấu để tăng trưởng kinh tế, Ấn Độ
áp dụng các biện pháp giải quyết việc làm, cải thiện đời sống Đẩy mạnh chính sách
mở cửa đối với hoạt động thương mại
Vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn ở Ấn Độ được chú trọng hàng đầu, với các mô hình kinh tế hộ gia đình, sản xuất tư nhân
Tăng trưởng theo hướng có lợi cho người nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập phúc lợi cho người dân Cải thiện chất lượng nguồn nhân lực
1.3.2 Kinh nghiệm một số tỉnh, thành của Việt Nam về XĐGN
Xem xóa đói giảm nghèo là vấn đề búc xúc của toàn tỉnh, nhân rộng những
mô hình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả Năm 2005 trung bình tỉnh có 44.000 hộ nghèo, cho đến nay số hộ nghèo đã giảm xuống còn 18.000 hộ
Lạng Sơn quyết định phải thay đổi phương pháp chỉ đạo, điều hành thông qua
Trang 12kết hợp lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư cho miền núi cùng với nguồn lực của địa phương, tập trung vốn hoàn thành dứt điểm từng dự án, cuốn chiếu theo địa bàn nhằm khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, không đồng bộ, kéo dài thời gian, hạng mục sau vừa làm xong thì hạng mục trước đã hư hỏng, xuống cấp
Theo đó, Lạng Sơn chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương thực hiện XĐGN bằng cách phân công các thành viên trong cấp ủy theo dõi, kiểm tra, đôn đốc ở từng cụm xã Đồng thời, giao trách nhiệm cụ thể cho từng cán bộ, đảng viên, cho mỗi đơn vị Các cơ quan, đơn vị, tổ chức xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, thực hiện chương trình XĐGN theo “thế mạnh” của mình Ví dụ Hội Phụ nữ phối hợp với Phòng Kinh tế, Trạm Khuyến nông mở các lớp bồi dưỡng chuyển giao khoa học kỹ thuật, tổ chức các nhóm trao đổi kinh nghiệm làm ăn, kết hợp với việc tuyên truyền về công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, giáo dục trẻ
em cho chị em phụ nữ Hội Nông dân tăng cường vận động hội viên phát triển kinh
tế gia đình, đầu tư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi mùa vụ cơ cấu cây trồng Uỷ ban MTTQ và các phường, xã tổ chức tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân hảo tâm đóng góp tiền của, vật chất để hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở, giếng nước sạch, thực hiện chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát
Có thể nói, cho đến nay, chương trình XĐGN của tỉnh Lạng Sơn đã đi vào chiều sâu và thu được kết quả khả quan với gần 18.000 hộ thoát khỏi ngưỡng đói nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo đến nay (tiêu chí cũ) xuống còn 17,85% Bộ mặt vùng nông thôn miền núi đã thay đổi rõ rệt điện-đường-trường-trạm đều đã được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh
* Huyện Nam Đông Tỉnh Thừa Thiên Huế
Nam Đông là huyện anh hùng trong thời kỳ đổi mới với những thành công trong việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các cấp và các ngành trong huyện giải quyết những
Trang 13vấn đề như: Nâng cấp hệ thống thủy lợi và xây dựng thêm 13 hồ đập kiên cố, kiên
cố hóa 24 km kênh mương, đảm bảo tưới cho hơn 90% diện tích lúa nước Huyện xây dựng mới 16,3 km đường dây trung thế, 32,9 km đường dây hạ thế, 17 trạm biến áp, kéo điện từ lưới điện quốc gia về cho 100% số xã, với hơn 95% số hộ sử dụng điện Nguồn vốn định canh, định cư trong giai đoạn này cũng tập trung 19,7 tỉ đồng đầu tư giao thông, giếng nước, các công trình phúc lợi, hỗ trợ khai hoang ruộng nước, giúp tách hộ, lập vườn cho 276 hộ ở nghèo ổn định nơi ăn chốn ở Nam Đông tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế thấp sang trồng rừng, cao su, trồng cau và cây có múi
Đối với hộ nghèo được hỗ trợ như: Cho vay vốn với lãi xuất ưu đãi, hướng vào một số cây có hiệu quả như cây cao su, cây keo; hướng dẫn cách làm ăn, cho vay đối với sinh viên nghèo, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình theo quy mô lớn
Với các chính sách hỗ trợ vì người nghèo, huyện Nam Đông đã giảm nhanh số người nghèo, kinh tế của huyện đã dần từng bước đi vào ổn định
Trang 14CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở
HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quế Sơn là huyện trung du miền núi, nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Tam Kỳ 50Km về phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 57Km về phía Nam, trải dài theo hướng Đông Bắc và Tây Nam là điều kiện thuận lợi của huyện, có thể giao lưu về kinh tế, văn hóa với thành phố Đà Nẵng, trung tâm kinh tế của miền trung
Địa hình của huyện chia làm 2 thị trấn ( Đông Phú, Hương An) và 12 xã (Quế Xuân 1, Quế Xuân 2, Quế Phú, Quế Cường, Phú Thọ, Quế Hiệp, Quế Thuận, Quế Châu, Quế Minh, Quế An, Quế Long, Quế Phong)
Vùng đồng bằng gồm 04 xã và 01 thị trấn : Quế Xuân 1, Quế Xuân 2, Quế Phú, TT Hương An, TT Đông Phú Vùng trung du có 8 xã : Quế Cường, Phú Thọ,
Trang 15Quế Hiệp, Quế Thuận, Quế Châu, Quế Minh, Quế An, Quế Long Vùng núi có 1 xã : Quế Phong.
Huyện Quế Sơn có 25.075 ha diện tích tự nhiên Trong đó, đất nông nghiệp 14.000 ha, diện tích đất rừng hơn 10.000 ha
2.1.1.2 Về khí hậu thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có 2 mùa rõ rệt : mùa khô từ tháng 3 đến tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh
Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình : 250 - 260c, nhiệt độ thấp nhất : 180 -
190c, nhiệt độ cao nhất trung bình : 300 - 340c, biên độ nhiệt trong ngày có sự thay đổi rõ rệt, biên độ nhiệt ngày mùa hè lớn hơn ngày mùa đông
Chế độ mưa : Lượng mưa trung bình hằng năm từ 2000 – 42000 mm Số ngày mưa trung bình từ 130 ngày đến 165 ngày, các tháng 2-3-4 là những tháng có ít mưa nhất, tháng 11 có số ngày mưa nhiều nhất Lượng mưa từ tháng 9 đến tháng 12 cường độ mưa lớn, tập trung trong một thời gian ngắn, chiếm trên 70% lượng mưa
cả năm
Chế độ nắng : Số giờ nắng trung bình trên toàn huyện từ 1800 – 2100 giờ/ năm, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 6 và tháng 7; tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 12
Với đặc điểm phân bố địa hình, thuận lợi cho phát triển đa dạng hệ sinh học, cây trồng, con vật nuôi Có điều kiện để phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi khác nhau Đất đai chiếm phần lớn là gò đồi thuận lợi đẩy mạnh phát triển kinh tế vườn, trang trại với quy mô lớn và trồng các cây cung cấp nguyên liệu như: sắn, tràm Vùng phía đông hội đủ các yếu tố cần thiết cho việc hình thành vùng kinh tế năng động : nằm ở vị trí điểm giao lưu của các vùng lân cận, có địa hình cao ráo
Trang 16bằng phẵng, chịu ảnh hưởng và sức hút của Đà Nẵng, Tam Kì – Chu Lai, vùng kinh
tế ven biển, phía tây giáp với các huyện miền núi là giàu về tiềm năng nông-lâm nghiệp, có tiềm năng về khoáng sản
Với điều kiện khí hậu khắc nghiệt (lũ lụt, bão tố, hạn hán) thường xuyên xảy
ra ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Một số vùng đồi núi còn khó khăn cho phát triển cơ sở kinh tế, giao thông thủy lợi, hạ tầng xã hội, phát triển đời sống dân sinh Đất đai nghèo dinh dưỡng, đồng ruộng nhỏ hẹp, điều kiện tưới tiêu hạn chế gây khó khăn phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng khoa học kỉ thuật vào sản xuất.Địa hình gò đồi kéo dài từ tây sang đông gây khó khăn cho việc bố trí sản xuất cũng như quy hoạch các chiến lược phát triển
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.2.1 Cơ sở hạ tầng
Huyện có xuất phát điểm về kinh tế rất thấp, đặc biệt là cơ sở hạ tầng đang yếu kém, khi bước vào công cuộc đổi mới đến nay, nền kinh tế xã hội đã có nhiều bước tăng trưởng, huyện đã tập trung huy động nhiều nguồn lực để đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, thuỷ lợi và mạng lưới điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt Quá trình phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng đã tác động mạnh tới đời sống, thu nhập của hộ gia đình được tăng lên và bước đầu đã được ổn định
Các tuyến đường giao thông nông thôn, hệ thống cấp thoát nước cơ bản đã được nâng cấp, đáp ứng được yêu cầu của huyện Đầu tư xây dựng cơ bản tiến triển mạnh mẽ, các công trình, dự án xây dựng đã đạt được kết quả cao, với mức vốn chi thực tế nhỏ hơn kế hoạch đề ra, góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Tổng vốn đầu tư xây dựng cở bản là 12.843.880 nghìn đồng, giảm 28,3% so với kế hoạch vốn
Trang 17Nhà nước thực hiện hoàn thiện quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng của huyện, tập trung hoàn thiện những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt, theo hướng hiện đại và đồng bộ ở các vùng động lực phát triển, các khu công nghiệp, khu kinh
tế Hoàn thiện cơ bản mạng lưới giao thông thiết yếu, giao thông nông thôn, thị trấn Phát triển nhanh nguồn điện, đảm bảo nguồn năng lượng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sinh hoạt của nhân dân
Hệ thống điện quốc gia, bưu chính viễn thông đang từng ngày phát triển giúp cho người dân sinh hoạt thuận lợi
2.1.2.2 Dân số
Là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo, huyện phải có các biện pháp tích cực như: tuyên truyền, tổ chức xã hội, xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa mới…giảm tỷ lệ dân số để phát triển kinh tế
Hiện nay trên địa bàn toàn huyện tổng dân số là 97.537 người theo thống kê năm 2009, bình quân 389 người/ 1 km2
Chương trình kế hoạch hóa gia đình trong các năm gần đây được giữ vững theo mức quy định, tuy nhiên dân số của huyện vẫn khá đông
Người dân chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, khả năng làm kinh tế còn hạn chế rất nhiều, chất lượng cuộc sống chưa cao, so với huyện khác chất lượng cuộc sống đã có nhiều thay đổi, mức thu nhập bình quân đầu người có tăng lên, nhưng so với các huyện khác trong tỉnh vẫn còn thấp
Trang 18được sự hướng dẫn của cán bộ địa phương, đầu tư đúng hướng, áp dụng nhiều giống mới, chăm sắp đúng cách nên chất lượng và số lượng sản phẩm thu hoạch tăng lên Trong đó, giá trị của ngành trồng trọt là 104.820 triệu đồng, tăng 10.32% so với cùng
kì năm 2009; ngành chăn nuôi là 58.020 triệu đồng, tăng 5.15% so với cùng kì; dịch
vụ là 4.588 triệu đồng, tăng 105.37% so với cùng kì; săn bắt thuần dưỡng thú là 10 triệu đồng, giảm 9.1% so với cùng kì Tổng sản lượng lương thực đạt được là 35.064,30 tấn, tăng 20.78% so với cùng kì năm 2009, kết quả các loại cây đem trồng đều vượt sản lượng so với năm ngoái Điều cơ bản là hướng dẫn các hộ nghèo là trồng cây phù hợp, đúng thời vụ, không được để đất trống
Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển với tổng đàn trâu là 4.319 con, tổng đàn bò
là 13.218 con, tổng đàn lợn là 55.183 con, gia cầm là 242.502 con Trong năm 2010,chăn nuôi gia súc đạt 39.786 triệu đồng, tăng 5.88% so với cùng kì; chăn nuôi gia cầm đạt 11.449 triệu đồng, tăng 5.19% so với cùng kì; chăn nuôi khác đạt 1.195 triệu đồng, tăng 51.45% so với năm 2009 số con tăng, giết thịt giảm do có nhiều đợt dịch như: lỡ mồm long móng, heo tai xanh…
Tổng giá trị sản xuất nghành lâm nghiệp đạt được trong năm 2010 là 13.516,7 triệu đồng, tăng 10.43% so với năm 2009 Trong đó, trồng rừng và nuôi rừng là 4.213,9 triệu đồng, tăng 2.13% so với cùng kì ; khai thác lâm sản là 8.286,70 triệu đồng, tăng 16.05% so với cùng kì; thu nhặt các sản phẩm từ rừng là 91,40 triệu đồng, tăng 4.34% so với cùng kì; các loại hình dịch vụ lâm nghiệp là 924,70 triệu đồng, tăng 7.52% so với cùng kì
Tổng giá trị sản xuất nghành thủy sản đạt 475,8 triệu đồng, tăng 3.94% so với cùng kì Trong đó, giá trị sản lượng thủy sản nuôi trồng là 270 triệu đồng, giá trị sản lượng thủy sản đánh bắt là 192,0 triệu đồng, giá trị các loại hình dịch vụ thủy sản là 13,8 triệu đồng
Trang 20
Tổng giá trị sản xuất của ngành Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp TTCN) trong năm 2010 tăng lên đáng kể, đạt 235.322 triệu đồng Trong đó, doanh nghiệp nhà nước có giá trị sản xuất là 37.291,0 triệu đồng, tiểu công nghiệp nhỏ ngoài quốc doanh có giá trị sản xuất là 198.031,0 triệu đồng Một số sản phẩm chủ yếu như : phôi thép, tinh bột sắn, dệt vải, gạch nung, gổ xẻ, công cụ cầm tay So với cùng kì năm 2009, giá trị sản xuất CN-TTCN tăng 3.4%, đã thu hút được một lượng lao động khá đông, giảm lực lượng lao động nông nghiệp sang công nghiệp, chất lượng sản phẩm ngày càng được tăng lên Hiện nay, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và cụm làng nghề đã được quy hoạch và xây dựng.
Đầu tư xây dựng cơ bản đã được nâng cấp, các công trình, dự án xây dựng đã đạt kết quả khả quan, với mức vốn chi thực tế nhỏ hơn kế hoạch đề ra, góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Tổng vốn đầu tư xây dựng cở bản là 12.843.880 nghìn đồng, giảm 28,3% so với kế hoạch vốn Trong đó, đầu tư nguồn XHCB tập trung là 3.626.506 nghìn đồng, giảm 9.12% so với kế hoạch ( KH) vốn; nguồn vốn trung ương bổ sung là 3.657.353 nghìn đồng, giảm 19.6% so với KH vốn; vốn tỉnh bổ sung là 274.990 nghìn đồng, giảm 33.13% so với KH vốn; nguồn khắc phục lũ lụt là 746.844 nghìn đồng, giảm 28,68% so với KH vốn; nguồn dự phòng là 172.317 nghìn đồng, giảm 19,89% so với KH vốn; nguồn kiến thiết quy định là 619.072 nghìn đồng giảm 21,6% so với KH vốn; nguồn kết chuyển và chuyển nguồn là 3.338.799 nghìn đồng, giảm 8.5% so với KH vốn; nguồn khác là 406.000 nghìn đồng
Về thu ngân sách nhà nước năm 2009 là 179.173 triệu đồng, đạt 163,72% so với Kế hoạch ( KH) Trong đó, thu phát sinh kinh tế là 29.258 triệu đồng, đạt 121,84% so KH ; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên là 117.058 triệu đồng, đạt 139,82% so KH thu chuyển nguồn từ năm 2009 sang là 28.069 triệu đồng ; thu kết
Trang 21dư ngân sách 2009 là 2.959 triệu đồng ; và các khoảng thu để lại quản lý qua ngân sách là 1.829 triệu đồng, đạt 272,58% so KH.
Về tài chính tín dụng: Do đặc điểm của huyện là tập trung nhiều xã nghèo, nên nguồn vốn chủ yếu là được vay từ ngân hàng chính sách, ngân hàng thương mại và các chương trình XĐGN Bước đầu giúp cho bà con ổn định được cuộc sống, thu nhập đầu người được tăng lên, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của huyện
Các cụm công nghiệp, khu công nghiệp, trung tâm thương mại đã được xây dựng với trang thiết bị hiện đại là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế huyện Đường liên thôn, liên huyện đã được bê tông hoá, tạo điều kiện cho người dân trao đổi hàng hoá giữa các vùng địa phương trong và ngoài tỉnh
2.1.2.4 Văn hoá - xã hội và y tế
Về giáo dục và y tế cũng được nhà nước đầu tư xây dựng và nâng cấp Hệ thống trường lớp đã được xây dựng kiên cố, hiện tượng trường tạm, lớp tạm không còn nữa, số trường đạt chuẩn quốc gia đã tăng lên
Hệ thống y tế đã được đầu tư rất nhiều, 14/14 xã đều có trạm xá, bệnh viện trung tâm huyện đã được trang bị hệ thống máy móc khám chữa bệnh tốt hơn đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trong huyện
Trong những năm trở lại đây, tình hình văn hóa – xã hội của huyện đã được chú trọng và quan tâm nên ngành giáo dục và y tế đã thay đổi vượt bậc
Về y tế: toàn huyện có 16 cơ sở khám bệnh, với tổng cộng 137 giường bệnh
và 170 cán bộ y tế Cơ sở vật chất, trang thiết bị, các điều kiện phục vụ công tác y
tế tiếp tục được đầu tư Chất lượng khám chữa bệnh đã từng bước được nâng cao,
số lượng người đến khám và chữa bệnh tăng lên nhiều so với năm trước Công tác phòng, chống dịch bệnh được chỉ đạo thực hiện tốt nên dịch bệnh được kiểm soát,