1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

84 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH CHÂU

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI HUYỆN QUẾ SƠN,

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH CHÂU

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI HUYỆN QUẾ SƠN,

Trang 3

Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến PGS, TS Lê Văn Đính,

người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học cho tôi với tinh thần trách nhiệm cao trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó, tôi gửi lời cảm ơn đến UBND huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Quế Sơn, Đảng ủy - UBND xã Quế Hiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Bản thân đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu soát nhất định Tôi rất mong nhận được sự góp ý, chia sẻ của quý thầy, cô và các bạn học viên để luận văn có giá trị thực tiễn hơn

Chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Thực hiện chính sách đối với người có

công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” này là công trình nghiên cứu của

cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Lê Văn Đính

Các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Chính sách công

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Nguyễn Minh Châu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG 7

1.1 Người có công và chính sách đối với người có công 7

1.2 Nội dung và quy trình thực thi chính sách đối với người có công cách mạng 16

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách đối với người có công cách mạng 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 26

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 26

2.2 Tình hình và kết quả tổ chức thực hiện chính sách người có công tại huyện Quế Sơn theo quy trình thực hiện chính sách 29

2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 48

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 54

3.1 Quan điểm 54

3.2 Giải pháp 56

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 BMVNAH Bà mẹ Việt Nam anh hùng

10 NHĐCM Người hoạt cách mạng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1 Bảng số liệu người được chi trả trợ cấp hằng tháng

2.2 Số lượng đối tượng chính sách được xác nhận đến thời

2.3 Số liệu vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa và chăm sóc

phụng dưỡng Bà Mẹ VNAH từ năm 2013-2018 39

2.4 Kết quả thực hiện công tác điều dưỡng người có công

2.5

Số liệu về sửa chữa, xây mới nhà ở cho đối tượng chính

sách, người có công theo Quyết định 22 của Thủ tướng

Chính phủ từ năm 2013-2018

41

2.6 Số liệu kinh phí tu bổ, nâng cấp, xây mới các nghĩa

trang liệt sĩ, di tích lịch sử từ năm 2013-2018 43

Trang 8

2.2 Hoạt động đặt vòng hoa tại Tượng đài chiến thắng Quế

2.3 Lễ quy tập hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang nhân dân xã

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Lịch sử của Việt Nam trải qua những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Chính từ đó đã hun đúc nên một truyền thống vô cùng qúy báu của nhân dân ta, đó là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ người trồng cây” Trong thời đại Hồ Chí Minh, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, Bác

Hồ, quân và dân ta đã sát cánh cùng nhau để “Trường kỳ kháng chiến” đánh thắng hai đế quốc to lớn để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc

Sau khi giành độc lập, thống nhất đất nước, cùng với việc xây dựng, kiến thiết nước nhà, quân và dân ta lại một lần nữa sát cánh cùng nhau trong hai cuộc chiến tranh biên giới (biên giới Tây nam, biên giới phía Bắc) để bảo

vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Không những vậy, trong quá trình xây dựng, bảo vệ

Tổ quốc, vẫn có không ít trường hợp phải hy sinh vì sự bình yên của nhân dân, vì chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia

Có thể nói rằng được một Tổ quốc vẹn toàn, để người dân đất Việt được sống trong hòa bình, tự do như hôm nay, các thế hệ cha ông ta đã mất mát, hy sinh không hề nhỏ Đã có hàng triệu, hàng triệu người con ưu tú của đất nước đã ngã xuống, hàng triệu, hàng triệu người đã hy sinh một phần thân thể và cũng có không ít gia đình phải chịu ảnh hưởng của cuộc chiến, mãi mãi không gặp lại người thân yêu Cho đến nay, gần 45 năm qua đi kể từ ngày toàn thắng năm 1975, vẫn còn nhiều liệt sỹ chưa tìm thấy hài cốt, vẫn còn nhiều liệt sỹ chưa được trả lại tên, nhiều NCC với cách mạng chưa được công nhận, xác nhận và tri ân

Chính những điều đó mà Đảng, Nhà nước cùng nhân dân đã không ngừng làm tốt công tác Đền ơn đáp nghĩa cả về chủ trương, chính sách, nhằm chăm lo để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công và thân nhân người có công với nước

Trang 10

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách chế độ đối với thương binh, bệnh binh, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, người

có công, gia đình có công giúp đỡ cách mạng và thường xuyên bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, đến nay đã hình thành một hệ thống chính sách mà các nội dung đều gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội và liên quan đến đời sống hàng ngày của người có công Điều

đó không những góp phần ổn định cuộc sống cho người có công và thân nhân người có công mà còn góp phần giáo dục truyền thống “Uống nước, nhớ nguồn” trong cộng đồng, nhất là trong thế hệ trẻ

Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật nước ta vẫn đang ở trong giai đoạn từng bước hoàn thiện, luật hóa nên vẫn còn những bất cập, chưa triệt để Hơn nữa, Việt Nam là một nước nghèo, do ảnh hưởng của hậu quả chiến tranh, thiên tai, lũ lụt xảy ra thường xuyên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước còn gặp nhiều khó khăn nên công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống cho người có công với cách mạng vẫn còn hạn chế

Xuất phát từ yêu cầu khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực

tiễn sâu sắc Từ những nhận định trên, tôi lựa chọn vấn đề “Thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài

nghiên cứu tốt nghiệp Chương trình đào tạo thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Chính sách người có công với cách mạng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết về chính sách người có công với cách mạng, trong đó có đề cập đến công tác này ở góc độ lý luận, chính sách, thực tiễn, Một số công trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu như sau:

- Tập sách “Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay” của

Trang 11

tác giả Hoàng Chí Bảo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 Tác giả khẳng định: Chính sách xã hội không ngừng thay đổi để phù hợp với đối tượng áp dụng Đất nước ngày càng phát triển thì việc yêu cầu các chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với lợi ích của đối tượng Chính sách đối với người có công được thay đổi qua các thời kỳ, sự thay đổi đó có những mặt tích cực và tiêu cực trong việc triển khai, thực hiện chính sách

- Năm 1997, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, đã xuất bản cuốn Những

điều cần biết về chính sách với người có công, trong đó nêu rõ những căn cứ

pháp lý về thực hiện chính sách đối với người có công ở nước ta Bài viết đã

đề cập đến các căn cứ pháp lý cụ thể, rõ ràng để mọi người và chính bản thân người có công biết được những quyền lợi nào họ được hưởng

- Năm 2005, Nguyễn Thị Hằng, nguyên Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH có

bài: Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương

binh, gia đình liệt sỹ, NCC với cách mạng, đăng trên Tạp chí Cộng sản số

7/2005 Tác giả nêu những nét khái quát thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và NCC trong 10 năm

từ 1995 đến 2005, qua đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã hội

- Năm 2015, tác giả Phạm Thị Hải Chuyền - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Tiếp tục thực hiện tốt Chính sách ưu đãi người có công với nước hiện nay và định hướng đến năm 2020, Tạp chí Cộng sản số 837

- Tuệ Văn, Đề xuất sửa đổi chính sách ưu đãi người có công, Tạp chí

Quản lý nhà nước Online 25/06/2019 Bài viết chỉ rõ công tác thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tiếp tục đặt ra các yêu cầu mới, đòi hòi cần tiếp tục hoàn thiện Trên cơ sở phân tích các vướng mắc, tác giả đã đề xuất các giải pháp sửa đổi chính sách ưu đãi người có công

Trang 12

- PGS, TS Nguyễn Danh Tiên, Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà

nước đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, Tạp chí Cộng

sản Online 27/7/2015 Tác giả bài viết đã trình bày chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công, chính sách ưu đãi xã hội chăm lo cho người có công

đi vào đời sống xã hội và đề xuất giải pháp tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm tốt hơn nữa chính sách đối với người có công

- Nguyễn Phú Trọng, Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công là

tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm cao cả của hệ thống chính trị và toàn dân, Báo Nhân dân điện tử, Thứ Năm, 27/07/2017 Bài viết đã nêu bậc sự những

hy sinh, cống hiến to lớn của các bậc cách mạng tiền bối, các anh hùng liệt sĩ, thương binh, đồng bào, chiến sĩ cả nước và chỉ rõ việc quan tâm chăm sóc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng là chủ trương, quan điểm nhất quán của Ðảng và Nhà nước ta, là đạo lý truyền thống của dân tộc ta

Trên cơ sở các bài viết và kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước, luận văn tiếp tục làm rõ vấn đề thực hiện chính sách đối với người có công từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác này tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng ở nước ta

Trang 13

- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công cách mạng tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

- Quan điểm và đề xuất các giải pháp giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc tổ chức thực hiện chính sách đối với người

có công cách mạng; quy trình thực hiện chính sách cho các nhóm đối tượng thuộc diện thụ hưởng chính sách theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2013 đến năm 2018 và đề

ra giải pháp trong thời gian tới

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về chính sách xã hội nói chung và chính sách đối với người có công cách mạng nói riêng Nội dung nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ khoa học chính sách công và các khoa học liên ngành

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp; Phương pháp đối chiếu - so sánh

Cụ thể, luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp các

tư liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu như các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương; các bài viết trên sách, báo, tạp chí và công trình nghiên cứu khác liên quan trực tiếp

Trang 14

hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách người có công với cách mạng ở nước ta nói chung và tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam nói riêng; kết hợp phương pháp phân tích, đánh giá, dự báo để phân tích thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp

6 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng ở nước ta

- Đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện các chính sách đối với người

có công trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công cách mạng tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến

- Góp phần hiện thực hóa những nội dung được nêu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Một số vấn đề về chính sách

xã hội giai đoạn 2012 - 2020” nói chung và Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng nói riêng; Chỉ thị số 14-CT/TW, ngày 19-7-2017 của Ban Bí thư "Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác người có công với cách mạng"

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đề tài được chia thành

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với người có công

cách mạng

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công tại

huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao

hiệu quả của chính sách đối với NCC tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG

1.1 Người có công và chính sách đối với người có công

1.1.1 Người có công với cách mạng

1.1.1.1 Khái niệm

Xuất phát từ đặc điểm lịch sử của dân tộc Việt Nam và với truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây Trong chính sách của Đảng, Nhà nước ta qua các thời kỳ cách mạng luôn có những ghi nhận và ưu đãi với những người đã có những cống hiến, hy sinh hoặc có những thành tích, đóng góp đặc biệt xuất sắc cho đất nước Những chính sách

ưu tiên, ưu đãi đó được thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật và

đã được thực hiện từ rất lâu Song, đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm người có công cách mạng; do đó, khái niệm này

trước đây thường được hiểu theo nghĩa hẹp như sau: “Người có công với cách

mạng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam -

nữ, tuổi tác có đóng góp, cống hiến xuất sắc trong các cuộc kháng chiến thời

kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật”

Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, căn cứ vào các tiêu chuẩn, điều kiện đối với từng đối tượng là người có công mà Nhà nước

đã quy định thì có thể hiểu: “Người có công cách mạng bao gồm những

người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam - nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Họ là những người có thành tích hoặc cống

Trang 16

hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc… được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật”

Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, thể thao Theo cách hiểu này thì người có công không chỉ là những người có công với cách mạng trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà còn là các đối tượng khác như: anh hùng lao động, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân…

1.1.1.2 Đặc điểm

Vì đã từng chiến đấu, trải qua các cuộc chống chiến tranh xâm lược nên người có công với cách mạng luôn luôn trân trọng quá khứ và tự hào về những cống hiến của bản thân và gia đình cho sự nghiệp cách mạng Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc, với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân, họ đã không ngại hy sinh tuổi xuân, máu xương, tài sản, gia đình để cống hiến cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc

Khi chiến tranh đã qua đi, nước nhà được hòa bình, độc lập, thống nhất Song có nhiều chiến sĩ cách mạng, những thanh niên trẻ trung năng động ngày nào giờ đây đã mất đi một phần thân thể, mang trong mình những vết thương không bao giờ lành lại, gây ảnh hưởng tới sức khỏe, nỗi đau về thể xác, bệnh tật cho bản thân và nỗi lo toan, trăn trở của người thân trong gia đình Nhưng, với ý chí kiên cường mạnh mẽ của người chiến sĩ cách mạng họ

tiếp tục nêu cao bản chất truyền thống “Anh bộ đội Cụ Hồ”, gương mẫu đi

đầu trong các phong trào hoạt động, phấn đấu, nỗ lực tự lo cho bản thân và gia đình nên tìm những công việc phù hợp để lao động, vượt qua khó khăn, quên đi bệnh tật và chấp hành tốt các chủ trương của Đang, chính sách pháp

Trang 17

luật của Nhà nước, là tấm gương sáng để mọi người trong gia đình, xã hội noi theo; luôn trung thành với chế độ mà mình đã đem sức lực, máu xương để đánh đổi, bảo vệ; họ luôn thể hiện tinh thần đấu tranh quyết liệt với những tiêu cực của xã hội

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, người có công là những người bản lĩnh, có uy tín, có sự tác động ảnh hưởng, có tiếng nói quan trọng trong cộng đồng dân cư, trong đời sống xã hội để vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và hội nhập; môi trường, điều kiện của nền kinh tế thị trường, xã hội phát triển nhanh đòi hỏi sự nhanh nhạy, thích nghi và không “ưu tiên” cho người không bắt kịp xu thế; do đó với hoàn cảnh khó khăn, đôi lúc họ cũng có tâm trạng mặc cảm, cảm thấy mình bị thiệt thòi, thua thiệt, mất mát hơn so với những người xung quanh Vì vậy, cần có

sự quan tâm, giúp đỡ, sẻ chia về vật chất và tinh thần của toàn xã hội Nhìn chung, người có công cách mạng có những đặc điểm khác nhau nên việc chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ cũng khác nhau và phải tìm hiểu kỹ đặc điểm, nhu cầu, nguyện vọng của họ để có sự giúp đỡ, sẻ chia hợp lý

1.1.2 Chính sách công và thực thi chính sách công

1.1.2.1 Khái niệm chính sách công

Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định Tuy nhiên, do đặc điểm có

tính đặc thù về cấu trúc, chức năng của hệ thống chính trị, nên hiện nay, ở nước ta cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chủ thể ban hành chính sách công Giữa quyết sách chính trị (của Đảng cầm quyền) và chính sách công

(của Nhà nước) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Chính sách công là một

Trang 18

dạng biểu hiện cụ thể quyết sách chính trị của đảng cầm quyền (cương lĩnh, đường lối…); nó thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc tổ chức, quản lý, điều hành một lĩnh vực hoạt động nào đó của đời sống xã hội Quyết sách chính trị của Đảng cầm quyền và Chính sách công có điểm chung, đó là sự thể hiện ý chí giai cấp cầm quyền, giai cấp thống trị xã hội Trong đó, Quyết sách chính trị của Đảng cầm quyền là cơ sở đường lối của các Chính sách công và Chính sách công là hình thức thực tế, hình thức pháp lý, là công cụ để thể hiện Quyết sách chính trị Bất cứ một chủ thể lãnh đạo quản lý chính trị nào (cụ thể là Đảng cầm quyền) sau khi đề ra một Quyết sách chính trị nào đó đều lưu tâm đến việc Quyết sách chính trị đó phải được các cơ quan trong bộ máy nhà nước, chính quyền thể chế hoá thành Chính sách công như thế nào;

và ngược lại để nhà nước có được những Chính sách công đúng đắn thì không thể không dựa trên sự định hướng các Quyết sách chính trị của Đảng cầm quyền Tất nhiên, sự phân biệt giữa Quyết sách chính trị và Chính sách công chỉ có tính tương đối Bởi vì có những Chính sách công nhiều khi do khả năng, quy mô, phạm vi điều chỉnh và tác động của nó trong đời sống xã hội quá lớn (nhiều khi nó có tính “ưu trội” do hiệu quả tác động vào các quan hệ

xã hội của nó có tính “trực tiếp” nhờ đặc trưng “cưỡng chế” của nó) thì cũng

có thể xem nó như một Quyết sách chính trị Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xă hội Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn đó chính là những căn cứ định hướng, chỉ đạo để các cơ quan trong bộ máy Nhà nước ban hành các Chính sách công Từ thực tiễn đó, có quan điểm

cho rằng: Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của các chủ

thể chính trị có thẩm quyền (Đảng cầm quyền, Nhà nước, tổ chức chính trị -

xã hội) về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết những vấn

Trang 19

đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức

nhất định để đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định

1.1.2.2 Thực thi chính sách công

Chu trình chính sách là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách đến khi kết quả của chính sách được đánh giá Ở Việt Nam hiện nay, chu trình chính sách thường được chia làm 3 công đoạn: Hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, đánh giá chính sách Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng Để

tổ chức điều hành có hiệu quả công tác thực thi chính sách, trước tiên cần tuân thủ các bước tổ chức thực thi cơ bản như: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công; phổ biến, tuyên truyền chính sách công; phân công, phối hợp thực hiện chính sách công; duy trì chính sách công; điều chỉnh chỉnh sách công; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chỉnh sách công

và đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm

Trên thực tế việc phân biệt các bước trong chu trình chính sách công chỉ có tính tương đối Nghĩa là, nó có sự giao thoa, đan xen, lồng ghép với nhau Việc thực hiện các bước trong thực thi chính sách xã hội phải được xem xét ở cấp độ chủ thể thực thi: Chính sách xã hội, chính sách người có công được cấp Trung ương hoạch định (chính sách quốc gia) thì cấp thực thi chính sách đó là chính quyền địa phương các cấp Trên cơ sở chính sách quốc gia, chính quyền địa phương các cấp căn cứ điều kiện đặc thù của địa phương mình lại tiếp tục thể chế hóa chính sách quốc gia thông qua việc ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình (chính sách địa phương) và tổ thức thực hiện để hiện thực hóa các chính sách nói trên Vì vậy, trong tính tương đối, vừa có thể coi việc thực thi chính sách xã hội, chính sách người có công của

Trang 20

một tỉnh, thành phố chỉ là một khâu trong chu trình chính sách (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả) và vừa có thể coi việc thực thi đó hàm nghĩa cả chu trình chính sách (chính sách địa phương) với cả 3 bước (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả)

Thực thi chính sách là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra; là toàn bộ quá trình hoạt động của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách có hiệu quả Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một chính sách công, thực thi chính sách là một trong những khâu hợp thành của chu trình chính sách nếu thiếu một công đoạn thì chu trình chính sách không thể tồn tại và đáp ứng mục tiêu của chính sách Thực thi chính sách chính là giai đoạn biến nội dung chính sách thành hiện thực, từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung, qua đó khẳng định tính đúng đắn, hợp lý của chính sách và giúp chính sách ngày càng hoàn chỉnh

Từ quan niệm nêu trên, thực thi chính sách đối với người có công là quá trình đưa những chính sách đối với người có công, các ưu đãi xã hội của Nhà nước vào thực tiễn thông qua các văn bản pháp luật, chủ trương nhằm giúp hỗ trợ cho người có công phần nào về vật chất cũng như tinh thần, giúp

họ vượt qua nhưng khó khăn trong cuộc sống

Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hóa chính sách nên các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo sát sao công tác tổ chức triển khai thực chính sách hiện này Có thể thấy

số lượng người có công hiện nay rất lớn, với những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, chế độ chính sách khác nhau; do đó để có thể thực thi chính sách đối với người có công thì đòi hỏi phải định ra một hệ thống tổ chức, phân

Trang 21

công trách nhiệm cho các tổ chức, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các tổ chức một cách hữu hiệu trong việc thực thi chính sách nhằm đạt được những mục tiêu đề ra, đảm bảo công bằng cho các đối tượng

1.1.3 Thực thi chính sách đối với người có công cách mạng

1.1.3.1 Khái niệm chính sách đối với người có công cách mạng và thực thi chính sách đối với người có công cách mạng

Chính sách đối với NCC với cách mạng là một chính sách lớn trong hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội, là bộ phận trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta, đó là chính sách đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với NCC cách mạng

Chính sách đối với người có công phản ánh sự quan tâm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của toàn xã hội, của thế hệ đi sau đối với thế hệ cha anh thông qua các văn bản pháp luật, các căn cứ pháp lý với người có công được thể chế hóa

Như vậy “Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và thân nhân,

gia đình của người có công”

Chính sách đối với người có công không chỉ ghi nhận sự biết ơn của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân và cộng đồng xã hội đối với người có công và thân nhân trong gia đình họ mà còn thể hiện tinh thần nhân văn cao

cả, góp phần ổn định chính trị - xã hộị, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa của dân tộc”

Thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng là quá trình

biến các đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà

Trang 22

nước liên quan đến những quy định về ưu đãi người có công với cách mạng thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đơn

vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra Đó là quá trình triển khai hệ thống chính sách liên quan đến những quy định về ưu đãi người có công với cách mạng vào thực tiễn nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra

1.1.3.2 Khái niệm ưu đãi người có công với cách mạng

Bản thân những người có công là những cá nhân, công dân làm công việc tại cộng đồng, tự coi đó là trách nhiệm, nghĩa vụ với cộng đồng nơi mình sinh sống Họ không bao giờ kể công, đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa Nhưng cộng đồng đời đời nhớ ơn họ và có những hoạt động

“đền ơn đáp nghĩa” cụ thể, nhất định tùy thuộc vào điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội Những người có công được cộng đồng dành cho những

ưu đãi cụ thể trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Đó không phải là sự trả công, mà là sự “đền ơn đáp nghĩa” của cộng đồng đối với bản thân người

có công và gia đình họ

Ưu đãi người có công - những người có công lao, cống hiến đặc biệt với đất nước, với cộng đồng, là sự thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, được ưu tiên hơn mức bình thường

Đó có thể là sự ưu tiên về đời sống vật chất, có thể là sự ưu tiên về đời sống văn hóa, tinh thần

Tiếp cận trên góc độ kinh tế học thì đây là hoạt động phân phối lại của cải vật chất của xã hội Tuy nhiên, sự phân phối này không căn cứ vào kết quả lao động của mỗi người đã đóng góp, cống hiến để trả công

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến ưu đãi xã hội thông qua việc ban

Trang 23

hành nhiều văn bản, chính sách quy định việc giúp đỡ thương binh, bệnh binh, giải quyết những nhu cầu bức xúc khi chạy chữa vết thương, bệnh tật và các nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày Bên cạnh đó, nhiều phong trào được nhân dân, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội phát động, phát triển mạnh

mẽ ở hầu hết các địa phương thuộc vùng tự do như: trợ giúp thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ làm nhà ở, giúp ruộng đất, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để thương binh, bệnh binh về làng có cuộc sống ổn định

Đến nay, ưu đãi xã hội trở thành một nhiệm vụ kinh tế - xã hội trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta, nhiều phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” được cộng đồng xã hội phát động và phát triển mạnh mẽ trên khắp cả nước với nhiều thành quả hết sức ấn tượng, đáng khích lệ, tôn vinh

Ưu đãi người có công là sự “đền ơn đáp nghĩa” của cộng đồng, là sự phản ánh trực tiếp của Nhà nước, là sự đãi ngộ, ưu tiên đặc biệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với những công dân có nhiều hy sinh, cống hiến với đất nước nhằm tạo mọi điều kiện, khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống

1.1.3.3 Sự cần thiết của việc thực hiện chính sách đối với người có công cách mạng

Thực hiện chính sách người có công là cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến đối tượng người có công cách mạng

Thông qua việc thực hiện chính sách nhằm bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống chính sách đối với người có công cách mạng

Sau khi thực hiện chính sách đối với người có công cách mạng, trên cơ

sở đó nhận biết được chính sách đó có phù hợp hay không, có đi vào thực tiễn cuộc sống hay không

Trang 24

1.2 Nội dung và quy trình thực thi chính sách đối với người có công cách mạng

1.2.1 Nội dung của việc thực thi chính sách đối với người có công cách mạng

Nội dung thực thi chính sách đối với người có công dựa trên các văn bản pháp luật và các văn bản hướng dẫn liên quan, trong đó có Pháp lệnh ưu đãi người có công, cụ thể: trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; cấp bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; Nhà nước có chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình người có công với cách mạng; được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ theo học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học…;

* Trợ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần cho các đối tượng sau:

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

- Liệt sĩ;

- Bà mẹ Việt nam anh hùng;

- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động;

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

- Bệnh binh;

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;

- NHĐCM hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

- Người có công giúp đỡ cách mạng

Trang 25

1.2.2 Quy trình thực thi chính sách đối với người có công cách mạng

Quy trình thực thi chính sách đối với người có công cách mạng được tiến hành qua 7 bước như sau:

Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Để thực hiện hiệu quả chính sách người có công cách mạng, cần phải tiến hành xây dựng kế hoạch một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng từ việc tổ chức điều hành, chuẩn bị các nguồn lực thực hiện, thời gian thực hiện, kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách nhưng phải đảm bảo tuân thủ theo đúng mục tiêu, quan điểm và yêu cầu của chủ thể ban hành

Nội dung của Kế hoạch gồm: dự kiến các cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp triển khai thực hiện, kinh phí đảm bảo thực hiện; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi chính sách; quyền và trách nhiệm của cán bộ quản lý và cán bộ thực thi chính sách; cơ chế tác động giữa các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện chính sách người có công với cách mạng Nhất là phải cung cấp đầy đủ nguồn lực về tài chính, con người, cơ sở vật chất, đảm bảo việc triển khai được diễn ra thuận lợi, mang lại hiệu quả cao

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách người có công với cách mạng

Phổ biến tuyên truyền chính sách giúp nhân dân, người có công và thân nhân người có công hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn, tính khả thi của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước Phổ biến tuyên truyền chính sách giúp cho cán bộ được phân công thực hiện chính sách nhận thức được ý nghĩa, quy mô của chính sách đối với đời sống

xã hội, để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao Ngoài ra, công tác phổ biến, tuyền tuyền

Trang 26

chính sách người có công với cách mạng cần được thực hiện thường xuyên liên tục với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng chính sách qua các lần họp dân, tiếp xúc cử tri hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: đài phát thanh, đài truyền hình, các báo, tạp chí…

Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Là việc cơ quan tổ chức thực hiện chính sách căn cứ chức năng, nhiệm

vụ của từng tổ chức, cá nhân có liên quan để phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng, khoa học và hợp lý; xác định rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm chính, cơ quan nào phối hợp, tránh tình trạng nêu chung chung, phân công không rõ ràng nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ trong quá trình thực hiện chính sách được diễn ra suôn sẻ, thuận lợi

Việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách ở nước ta thời gian quan còn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập Một số chính sách khi ban hành không thể triển khai thực hiện được do sự phân công, phân nhiệm cho các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp thực hiện không rõ ràng, còn chồng chéo dẫn đến tình trạng đùn đẩy, né tránh hoặc ôm đồm, làm không đến nơi đến chốn

Để tránh tình trạng trên và thực hiện tốt vấn đề này, trước hết phải có sự thống nhất cao về quan điểm, mục tiêu và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ công tác lãnh đạo chỉ đạo đến công tác tuyên truyền vận động, phân công phân nhiệm và đảm bảo các nguồn lực cho việc thực hiện chính sách

Bước 4: Duy trì chính sách người có công với cách mạng

Nhằm phát huy tính ưu việc và sự tồn tại của chính sách cần phải duy trì thực hiện Trong quá trình thực hiện chính sách, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thường xuyên theo dõi nghiên cứu, tham mưu đề xuất các giải pháp, các biện pháp bảo đảm cho chính sách được duy trì tồn tại và phát

Trang 27

huy tác dụng Khi thực hiện chính sách gặp những khó khăn do yếu tố khách quan, thị trường biến động thì đội ngũ cán bộ thực thi chính sách phải có năng lực hay kiến thức sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách, đồng thời chủ động đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế; đồng thời, sử dụng những công cụ quản lý Nhà nước cần thiết để tác động kịp thời giúp cho chính sách được duy trì ổn định, đảm bảo quyền và lợi ích cho người có công

Bước 5: Điều chỉnh, bổ sung chính sách người có công với cách mạng

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách đối với người có công trên cơ sở đề xuất những bất cập của người thực hiện chính sách và phù hợp với quá trình phát triển của xã hội

Trong quá trình xây dựng chính sách, khi triển khai thực hiện sẽ có những vấn đề bất cập, thiếu sót, chưa phù hợp hoặc phát sinh những yếu tố chưa lường trước được Mặt khác, xã hội càng phát triển, nhu cầu đời sống của người có công đòi hỏi phải cao hơn do có sự biến động của giá cả thị trường, các mặt hàng thiết yếu tăng cao, chế độ hỗ trợ không đảm bảo cho người có công ổn định cuộc sống Đây là điều kiện hợp lý, quan trọng để thực hiện việc điều chỉnh chính sách

Tuy nhiên, việc điều chỉnh các biện pháp hoặc cơ chế trong chính sách phải năng động, linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tiễn tại mỗi địa phương, toàn xã hội, vì thế cơ quan nhà nước các cấp phải chủ động điều chỉnh biện pháp thực hiện có hiệu quả chính sách miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách

Bước 6: Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách là hoạt động diễn

Trang 28

ra thường xuyên của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cơ quan, đơn vị, cá nhân cán bộ được phân công thực hiện chính sách; kể cả đối tượng chính sách giúp cho việc thực hiện chính sách đảm bảo nguyên tắc, đúng quy trình, kế hoạch đã ban hành và mục đích cuối cùng là đến được với đối tượng hưởng chính sách

Việc kiểm tra có thể để hỗ trợ kỹ thuật hoặc kiểm tra để nhận định những khó khăn, thách thức trong quá trình hực hiện chính sách Thực tế, chính sách người có công với cách mạng được thực hiện trên địa bàn rộng lớn, trong phạm vi cả nước; đồng thời, việc thực hiện do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia; hơn nữa mỗi địa phương, vùng miền có các điều kiện

về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường khác nhau; cũng như trình

độ, năng lực, tổ chức điều hành của cán bộ khác nhau thì chất lượng tham mưu và giải quyết cũng khác nhau Do đó, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm phải tiến hành đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách nhằm nâng cao chất lượng công việc mà cán bộ thực hiện, kịp thời hỗ trợ kỹ thuật cho cán bộ thực hiện cũng như phát hiện nguyên nhân của những bất cập, hạn chế; phòng ngừa các vi phạm sai sót có thể xảy ra trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời xử lý nghiêm khắc các vi phạm và sai sót đã xảy ra

Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Hoạt động đánh giá, tổng kết quá trình hực hiện chính sách người có công là khâu hết sức quan trọng và cần thiết trong tổ chức thực hiện chính sách Là quá trình xem xét, kết luận và chỉ đạo điều hành thực hiện chính sách của cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Trong đánh giá, tổng kết phải đánh giá toàn diện các mặt, các bước, từ khâu xây dựng, tuyên truyền, công tác lãnh đạo chỉ đạo đến việc thực thi chính sách nhằm phát huy ưu

Trang 29

điểm, tìm ra nguyên nhân hạn chế bất cập và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn Trên cơ sở đó, đề xuất kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người có công

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách đối với người có công cách mạng

1.3.1 Sự hoàn thiện pháp luật chính sách người có công với cách mạng

Khi có một thể chế pháp luật và hệ thống chính sách của nhà nước về ưu đãi người có công chặt chẽ, đầy đủ và đồng bộ làm cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về ưu đãi người có công Ngược lại, hệ thống pháp luật, chính sách thiếu đồng bộ thì không thể thực hiện tốt việc xử lý chính sách ưu đãi người có công Chính vì vậy, hệ thống pháp luật, chính sách là nhân tố và là công cụ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước

1.3.2 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách người có công với cách mạng

Đây là nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực ưu đãi người có công Các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công được ban hành nhưng

nó có trở thành hiện thực hay không phụ thuộc vào việc tổ chức thực thi nó của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và sự hưởng ứng của toàn dân Bởi vậy, tổ chức triển khai thực thi chính sách không những là nội dung của quản

lý nhà nước mà còn có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện có hiệu lực, hiệu quả pháp luật và chính sách ưu đãi người có công

Để chính sách thật sự đi vào cuộc sống, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, phong phú cả về hình thức lẫn nội dung tuyên truyền, đối tượng tuyên truyền

Trang 30

1.3.3 Nhận thức của người dân nói chung và người có công với cách mạng nói riêng về chính sách người có công

Nước ta là một nước có phong tục tập quán tốt đẹp đó là truyền thống thờ cúng tổ tiên, ông bà Truyền thống đó đã trở thành tiềm năng, nền tảng văn hóa tinh thần quan trọng của dân tộc

Những tiềm năng văn hóa tinh thần của dân tộc là một trong những nhân tố hết sức quan trọng trong việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công

Những tiềm năng văn hóa tinh thần của dân tộc thể hiện ở truyền thống cách mạng của dân tộc, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam Những yếu

tố đó quyết định thái độ ứng xử của dân tộc đối với người có công

Một dân tộc có tiềm năng văn hóa tinh thần cao thì dân tộc đó có tinh thần đoàn kết dân tộc cao, sẵn sàng hi sinh, đóng góp sức người, sức của vì độc lập tự

do của Tổ quốc Cách mạng của dân tộc ta và thực hiện các phong trào của toàn dân chăm sóc người có công của dân tộc đã minh chứng điều này

1.3.4 Ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với chính sách

ưu đãi người có công với cách mạng

Cán bộ, công chức nói chung trước hết cũng là một người dân, mỗi người đều tự hào về truyền thống quý báu của dân tộc, mỗi người đều có ý thức trách nhiệm đối với những người đã có công với nước Song, vì họ là cán

bộ công chức nên buộc phải có ý thức trách nhiệm cao hơn người dân, bởi niềm tin của mỗi người cán bộ công chức tạo ra cho nhân dân chính là niềm tin của dân đối với Đảng, Nhà nước Cán bộ công chức luôn là người đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng cũng vậy, ý thức, trách nhiệm của cán bộ công chức là hạt nhân để thực hiện, nó không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước mà trở thành ý thức, trách nhiệm của cộng

Trang 31

đồng xã hội, của toàn dân

Cán bộ luôn là nhân tố có tính chất quyết định, lĩnh vực ưu đãi người

có công cũng vậy, bởi lẽ bộ máy các cơ quan chuyên môn chính là hệ thống

cơ quan hành chính nhà nước, nhân danh nhà nước để thực thi pháp luật, chính sách về ưu đãi người có công

Với truyền thống vốn có, hơn ai hết cán bộ công chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công phần lớn đều tự hào về công việc của mình.Với niềm tự hào đó, cán bộ công chức đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao

cả Ngoài trách nhiệm của người cán bộ công chức theo quy định của pháp luật, cán bộ công chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công còn làm việc với trách nhiệm là cầu nối chuyển tải tinh thần, chủ trương đền ơn đáp nghĩa của Đảng, Nhà nước, của cộng đồng xã hội đến với người có công

1.3.5 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thực hiện chính sách người có công trước hết là trách nhiệm của Nhà nước Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ để nhà nước xác định mức ưu đãi phù hợp Vì vậy, sự phát triển của kinh tế - xã hội là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách đối với những người có công và ngược lại, nếu được xác định đúng mức, chính sách ưu đãi xã hội cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, góp phần tạo ra sự ổn định kinh tế - xã hội

Khả năng về tài chính và điều kiện cơ sở vật chất của đất nước là nhân

tố hết sức quan trọng đối với việc quản lý nhà nước về chính sách ưu đãi người có công Khi có khả năng về tài chính và vật chất đảm bảo thì đối tượng người có công có thể được mở rộng; chế độ ưu đãi người có công cũng được quy định ở mức cao hơn Ngược lại, khả năng tài chính và cơ sở vật chất còn hạn hẹp thì việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước đối với người

có công sẽ gặp khó khăn hơn

Như vậy, thực thi chính sách đối với người có công không đơn giản bởi

Trang 32

vì nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau trong đó có bản chất của vấn đề chính sách, hệ thống pháp luật chính sách, nguồn lực, đối tượng thụ hưởng chính sách, chủ thể thực thi chính sách Những nhân tố này có thể làm cho quá trình thực thi chính sách thuận lợi hoặc cũng có thể là không thực hiện như mong muốn Do đó, khi thực thi chính sách cần quan tâm đến các yếu tố này để đảm bảo chính sách đạt kết quả tốt

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của Luận văn chủ yếu đề cập đến cơ sở lý luận về chính sách người có công với cách mạng, trong đó nêu bật được quá trình hình thành và phát triển của hệ thống văn bản, cơ quan chuyên trách thực hiện chính sách người có công

Từ đó phân tích các nội dung liên quan đến khái niệm, đặc điểm, quan điểm, quá trình hình thành và hình thức thực hiện chính sách người có công với cách mạng; phân tích những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách người có công với cách mạng, bao gồm sự hoàn thiện chính sách người có công với cách mạng, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách người có công với cách mạng, nhận thức của người dân và người

có công với cách mạng cũng như ý thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức

và sự ảnh hưởng của sự phát kinh tế - xã hội lên việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Qua nghiên cứu các nội dung trên có thể nhận thấy rằng việc ban hành, thực hiện chính sách đối với người có công là chủ trương, chính sách hoàn toàn kịp thời và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Nội dung các chính sách đối với người có công đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Nhà nước Trước khi tổ chức thực hiện đã xem xét, đề ra các bước quy trình chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch; phổ biến, tuyên truyền; phân công, phối hợp thực hiện đến khâu đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách đối với người có công; đồng thời, phân tích, đánh giá, dự lường các yếu tố tác động ảnh hưởng trong quá trình thực hiện chính sách để có những giải pháp điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI

HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách người có công tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Về điều kiện tự nhiên

Quế Sơn là huyện trung du, miền núi thuộc tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 40 km về phía tây nam và cách tỉnh lụy Quảng Nam 30

km về phía tây bắc; đông giáp Thăng Bình, tây nam giáp Nông Sơn, nam giáp Hiệp Đức, bắc và tây bắc giáp Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Có diện tích tự nhiên 251,17 km2 Toàn huyện, có 13 xã và 01 thị trấn gồm: Hương An, Phú Thọ, Quế An, Quế Châu, Quế Cường, Quế Hiệp, Quế Long, Quế Minh, Quế Phong, Quế Phú, Quế Thuận, Quế Xuân 1, Quế Xuân 2 và thị trấn Đông Phú; trong đó, có 01 xã miền núi là xã Quế Phong Tổng dân số 28.329 hộ, 104.073 khẩu, với 2.921 hộ nghèo, tỷ lệ 10,31%; 3.390 hộ cận nghèo, tỷ lệ 11,97%; trên 70% dân số sinh sống bằng nghề nông

2.1.2 Về điều kiện kinh tế

Toàn huyện có 53.258 người trong độ tuổi lao động, chiếm 51,2% dân

số toàn huyện, lao động công nghiệp trên địa bàn 1.560 người, lao động vận tải 510 người, lao động tư thương và dịch vụ tư nhân là 2.531 người, còn lại

là lao động nông nghiệp và các ngành nghề khác, hằng năm huyện có kế hoạch mở lớp đào tạo nghề trồng tiêu, mây tre đan, nuôi gà tre, cơ khí, may mặc tạo việc làm ổn định cho 3.567 lao động, góp phần phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương

Là huyện có tiềm năng về đất đai, đất rừng, có thế mạnh về phát triển lâm nghiệp, có nhiều khe suối, di tích lịch sử để phát triển du lịch - dịch vụ

Trang 35

như: di tích chiến thắng Cấm Dơi, núi Hòn Tàu, suối Tiên; CN - TTCN phát triển tương đối mạnh như: khu công nghiệp Đông Quế Sơn, cụn công nghiệp Hương An, Quế Cường, Dốc Đỏ…Có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng

và phong phú; Có lợi thế về phát triển cây lâm nghiệp; Có nguồn lao động dồi dào; được hưởng nhiều ưu đãi từ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Đường giao thông ĐX, ĐH được đầu tư bê tông hóa, kết nối thông suốt giữa các xã trong huyện và một số huyện trong tỉnh như: Nông Sơn, Hiệp Đức, Thăng Bình, Duy xuyên…

2.1.3 Về đối tượng người có công và nguồn lực thực hiện chính sách người có công cách mạng

Toàn huyện hiện có hơn 41.000 đối tượng là người có công với cách mạng, trong đó có 1.739 Mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự

Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng (trong đó, có 131 Mẹ còn sống, các Mẹ

đã được các đơn vị nhận phụng dưỡng suốt đời); 7.061 Liệt sĩ; 4.744 thương,

bệnh binh các loại; gần 11.000 đối tượng tù đày; trên 17.000 đối tượng được tặng thưởng Huân - Huy chương kháng chiến các hạng; hàng trăm gia đình được tặng thưởng Huân chương độc lập các hạng Hiện nay, toàn huyện có 7.684 lượt đối tượng chính sách hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên, với kinh phí chi trả hàng tháng trên 9,6 tỷ đồng

Là địa phương chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, lại thường xuyên bị thiên tai nên đời sống của nhân dân nói chung, người có công với cách mạng nói riêng gặp nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ, chính quyền huyện Quế Sơn luôn xác định công tác Thương binh - Liệt sĩ, người có công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, trong những năm qua Đảng bộ và chính quyền huyện đã tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, ban, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện công tác Thương binh - Liệt sĩ và người có công cách mạng đạt nhiều kết quả quan trọng

Trang 36

Việc sắp xếp, bố trí cán bộ thực hiện chính sách người có công cách mạng được huyện quan tâm chú trọng Toàn huyện hiện có 16 cán bộ trực tiếp phụ trách công tác chính sách người có công: cấp huyện 02 cán bộ, cấp

xã 14 cán bộ làm công tác chính sách ưu đãi người có công Sau khi tiếp thu các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Phòng LĐ-TB&XH huyện, các xã - thị trấn triển khai thực hiện, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong nhân dân và các đổi tượng người có công tại khu dân cư Đồng thời chỉ đạo Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội hướng dẫn cán bộ phụ trách công tác Thương binh -

xã hội các xã - thị trấn cụ thể, rõ ràng về hồ sơ, thủ tục để thực hiện các chế

độ chính sách cho các đối tượng theo đúng quy định, không để xảy ra trường hợp sai sót làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của gia đình người có công với cách mạng

Bảng 2.1 Bảng số liệu người được chi trả trợ cấp hằng tháng

phân bố theo địa bàn

Số

TT Tên xã

Cán

bộ TKN

Bà Mẹ VNAH

Liệt

Thương binh

Bệnh binh

Có công

CM

Bị bắt

tù, đày

Chất độc hóa học

Tổng cộng

Trang 37

Số

TT Tên xã

Cán

bộ TKN

Bà Mẹ VNAH

Liệt

Thương binh

Bệnh binh

Có công

CM

Bị bắt

tù, đày

Chất độc hóa học

Tổng cộng

Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH huyện tháng 12/2018

2.2 Tình hình và kết quả tổ chức thực hiện chính sách người có công tại huyện Quế Sơn theo quy trình thực hiện chính sách

2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện chế độ chính sách đối với người có công cách mạng

Nhận thức rõ trách nhiệm và nghĩa cử của mình đối với những người có công với cách mạng, từ sau ngày giải phóng quê hương, nhất là sau khi Pháp lệnh "Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng " có hiệu lực, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân của huyện Quế Sơn đã xem công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với nước là nhiệm vụ tập trung, chỉ đạo hàng đầu, thường xuyên Huyện ủy đã thường xuyên lãnh

Trang 38

đạo, chỉ đạo UBND huyện và các ngành chức năng của huyện, các Chi, Đảng

bộ triển khai thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ chính sách đối với người

có công cách mạng theo quy định và công tác này đã được xã hội hóa cao và

đi vào chiều sâu

2.2.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Xác định tính ưu việc và sự cần thiết của chính sách đối với người có công cách mạng nên sau khi tiếp thu Pháp lệnh ưu đãi người có công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2012; các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương; Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 1/10/2012 của Tỉnh ủy Quảng Nam về thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành (khóa XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”; Chỉ thị số 22-CT/TU ngày 23/7/2012 của Tỉnh ủy Quảng Nam về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác lao động, người có công và xã hội; các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam Căn cứ vào sự chỉ đạo trên, chỉ tiêu Nghị quyết đề ra hằng năm và tình hình thực tế của địa phương, Phòng LĐ-TB&XH huyện đã tham mưu UBND huyện Quế Sơn xây dựng và ban hành các kế hoạch tương ứng với từng nội dung cụ thể để triển khai thực hiện chính sách người có công; đồng thời, ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các ngành liên quan của huyện và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn triển khai thực hiện Kế hoạch đã xác định rõ thời gian, tiến độ, lộ trình thực hiện và tiến độ hoàn thành các loại hình chính sách

2.2.3 Công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách người có công với cách mạng

Để các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đi vào cuộc sống, được người dân và các đối tượng chính sách nắm bắt kịp thời, Ủy ban

Trang 39

nhân dân huyện đã xây dựng kế hoạch cụ thể và tiến hành tuyên truyền phổ biến bằng nhiều hình thức đa dang, phong phú như: tổ chức hội nghị để triển khai quán triệt, hướng dẫn thực hiện các chủ trương của Đảng, văn bản pháp luật của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và Pháp lệnh ưu đãi người có công; giao Hội đồng giáo dục pháp luật huyện tuyền truyền; giao Phòng Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện tổ chức tuyền truyền bằng pano, áp phích tại các trục đường chính, điểm công cộng hoặc tổ chức đội văn nghệ lưu động để tuyên truyền đến các khu dân cư xa trung tâm huyện; đồng thời chỉ đạo ủy ban nhân dân các xã, thị trấn triển khai tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân

Mặt trận, các hội, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, triển khai đến cán bộ, hội viên thông qua hội nghị tập huấn về thực hiện chính sách ưu đãi người có công; Lồng ghép các nội dung chính sách vào nội dung tuyên truyền qua hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Hội đoàn thể chính trị - xã hội để tuyên truyền cho hôi viên, đoàn viên biết, qua đó hiểu rõ hơn về chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về chính sách người có công với cách mạng

2.2.4 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Muốn chính sách được thực hiện thành công thì phải có sự phân công, phân nhiệm và phối hợp thực hiện giữa các cấp, các ngành, có vậy chính sách mới đi vào thực tiễn cuộc sống và đúng đối tượng thụ hưởng chính sách Chính vì có nhiều chủ thể tham gia và để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo trong quá trình tổ chức thực hiện thì đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách phải nghiên cứu và thống nhất việc phân công nhiệm vụ; đồng thời cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời và tham gia giám sát của cả hệ thống chính trị Trong đó, cấp ủy Đảng giữ vai trò lãnh đạo

Trang 40

chỉ đạo chung; chính quyền là cơ quan quản lý, điều hành; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội là cơ quan chuyên môn, đồng thời là cơ quan thường trực tham mưu các hoạt động thực hiện chính sách người có công; các cơ quan chuyên môn khác phối hợp thực hiện; Mặt trận Tổ chức, các đoàn thể chính trị - xã hội giám sát và tuyên truyền vận động hội viên, đoàn viên và nhân dân thực hiện, cụ thể: Phòng LĐ-TB&XH huyện và cá bộ phụ trách LĐ-TB&XH các xã - thị trấn chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện chính sách từ việc hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc, thẩm định hồ sơ, thủ tục kê khai, rà soát, lập danh sách các đối tượng, quản lý hồ sơ, lập thủ tục chi trả và đề nghị chi trả các chế độ trợ cấp, đến việc tổng hợp báo cáo Phòng Tư pháp, Phòng Văn hóa Thông tin, Trung tâm Văn hóa Thể thao - Đài truyền thanh truyền hình huyện căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng kế hoạch tổ chức phổ biến, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến chính sách người có công để cán bộ, nhân dân và đối tượng chính sách biết và thực hiện Phòng Nội vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện bố trí cán bộ, công chức ngành LĐ-TB&XH từ huyện đến cơ

sở đảm bảo chuyên môn, đủ số lượng, hoạt động hiệu quả Cơ quan Quân sự huyện phối hợp với Hội Cựu chiến binh, các ngành, các xã - thị trấn xác minh, sưu tầm, tra cứu hồ sơ quân nhân lưu trữ để xác nhận đề nghị thực hiện chính sách cho các đối tượng theo quy định Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổng hợp danh sách học sinh, sinh viên là con em người có công với cách mạng để thực hiện việc hỗ trợ chế độ ưu đãi trong giáo dục theo quy định UBMTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và vận động các hội viên, đoàn viên, các đối tượng chính sách và toàn thể nhân dân thực hiện; đồng thời trực tiếp tham gia vào các họat động, vận động sự hỗ trợ, đóng góp từ các tổ chức, cá nhân vào “Quỹ đền ơn đáp

Ngày đăng: 29/02/2020, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG – Hà Nội 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb CTQG – Hà Nội 2016
Năm: 2016
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011),, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG – Ha Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb CTQG – Ha Nội
Năm: 2011
7. Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1995), Thông tư liên bộ ngày 13/11/1995 hướng dẫn cấp phát và quản lý kinh phí ưu đãi NCC với cách mạng thuộc Ngân sách Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên bộ ngày 13/11/1995 hướng dẫn cấp phát và quản lý kinh phí ưu đãi NCC với cách mạng thuộc Ngân sách Trung ương
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 1995
9. Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư liên tịch số 25/2010/TLLT - BTC - BYT - BLĐTBXH hướng dẫn chế độ chăm sóc sức khỏe đối với NCC với cách mạng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 25/2010/TLLT - BTC - BYT - BLĐTBXH hướng dẫn chế độ chăm sóc sức khỏe đối với NCC với cách mạng
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
13. Hoàng Chí Bảo (1993), Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1993
14. Chính phủ (2013), Nghị định số 101/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 09 năm 2013 quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với NCC với cách mạng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 101/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 09 năm 2013 quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với NCC với cách mạng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
15. Chính phủ (2013), Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
18. Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, NCC với cách mạng, Tạp chí Cộng sản số 7/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, NCC với cách mạng
20. Nguyễn Đình Liêu (1994), Pháp lệnh ưu đãi đối với NCC – Một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, Tạp chí Lao động xã hội, (số 91 tháng 9/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh ưu đãi đối với NCC – Một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống
Tác giả: Nguyễn Đình Liêu
Năm: 1994
21. Nguyễn Đình Liêu (1996), Hoàn thiện pháp luật ưu đãi NCC ở Việt Nam, Lý luận thực tiễn, Luận án Phó tiến sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật ưu đãi NCC ở Việt Nam, Lý luận thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đình Liêu
Năm: 1996
22. Nguyễn Đình Liêu (2000), Một số suy nghĩ về hoàn thiện Pháp luật ưu đãi NCC, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về hoàn thiện Pháp luật ưu đãi NCC
Tác giả: Nguyễn Đình Liêu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
23. Lê Chi Mai (2001), Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, NXB Đại học Quốc gia TP. HCM.24. Nguyễn Phú Trọng, Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công làtình cảm thiêng liêng, trách nhiệm cao cả của hệ thống chính trị và toàn dân, Báo Nhân dân điện tử, Thứ Năm, 27/07/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, "NXB Đại học Quốc gia TP. HCM. 24. Nguyễn Phú Trọng, "Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công là "tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm cao cả của hệ thống chính trị và toàn dân, Báo Nhân dân điện tử
Tác giả: Lê Chi Mai
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. HCM. 24. Nguyễn Phú Trọng
Năm: 2001
25. Nguyễn Danh Tiên (2012), Chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sỹ thời kỳ đổi mới, Tạp chí Khoa học Quân sự tháng 7, Trung tâm Thông tin Khoa học quân sự, Bộ Quốc phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sỹ thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Danh Tiên
Năm: 2012
26. Quốc hội (2019), Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Số 02/VBHN-VPQH ngày 04 tháng 01 năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2019
27. Thành ủy Tam Kỳ (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Tam Kỳ lần thứ XX, nhiệm kỳ 2015 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Tam Kỳ lần thứ XX
Tác giả: Thành ủy Tam Kỳ
Năm: 2015
28. Tỉnh ủy Quảng Nam (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI
Tác giả: Tỉnh ủy Quảng Nam
Năm: 2015
29. Uỷ ban thường vụ Quốc hội (2005), Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng
Tác giả: Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2005
30. Uỷ ban thường vụ Quốc hội (2012), Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh ưu đãi NCC với cách mạng (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2012
31. Uỷ ban thường vụ Quốc hội (1994), Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
Tác giả: Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Năm: 1994
32. Uỷ ban thường vụ Quốc hội (2012), Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt anh hùng” ( sửa đổi, bổ sung ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt anh hùng”
Tác giả: Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w