Còn các chính sách kinh tế đó vẫncha phát huy đợc hiệu quả ở miền núi, nơi tỉ lệ đói nghèo còn cao và sự suythoái môi trờng đe dọa cuộc sống hàng ngày của ngời dân.. Từ thực tiễn đó, nhi
Trang 1Lời mở đầu
Thế giới đang không ngừng thay đổi nh vũ bão nhờ sự phát triển vợtbậc của khoa học kĩ thuật công nghệ Những phát minh mới ngày càng tạo ranhiều của cải vật chất, sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củacon ngời Cuộc sống hiện đại, con ngời đợc đáp ứng đầy đủ về vật chất lẫntinh thần Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận dân c sống trong đóinghèo Theo Liên Hợp Quốc hiện nay trên thế giới có khoảng 800 triệu ngời
đói kinh niên, 1.3tỉ ngời sống trong nghèo đói (thu nhập dới 1 USD/ngày)
Đặc biệt, ở một số nớc đang phát triển, tỉ lệ đói nghèo có thể chiếm hơn50% Liên Hợp Quốc xác định bảo đảm an ninh lơng thực là một vấn đề bứcthiết đối với toàn cầu Bởi vì con ngời muốn tồn tại và phát triển thì trớc hếtphải có cái ăn Và nếu không xoá đợc đói nghèo thì các chơng trình pháttriển đều trở nên vô nghĩa Nh vậy, mục tiêu xoá đói giảm nghèo (XĐGN)
nh một mắt xích trong dây chuyền của sự phát triển kinh tế xã hội Mà lại làmắt xích đầu tiên có vai trò khởi động và đặc biệt trọng yếu
Để giải quyết khâu trọng yếu này mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều cómột con đờng riêng dựa trên cơ sở lịch sử và thực tiễn về nguồn lực tự nhiêncũng nh con ngời của quốc gia đó Trong quá trình XĐGN, ngoài sự cần thiết
có một sự giúp đỡ từ bên ngoài thì sự chủ động tự lực tự cờng của mỗi quốcgia chính là một nhân tố quan trọng
Từ một quốc gia thiếu lơng thực triền miên trong suốt thời kì hợp táchoá nông nghiệp, sau khi thực hiện một số cải cách trong công cuộc ĐổiMới, Việt Nam đã đứng trong hàng ngũ những nớc đứng đầu về xuất khẩulúa gạo, cà phê, chè, cao su và một số nông phẩm khác Tuy nhiên sự thànhcông vợt bậc về kinh tế này chỉ tập trung ở các "vựa lúa" tại vùng đồng bằng,nơi mà các chính sách mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngời nông dân khaithác tối đa năng lực sản xuất của mình Còn các chính sách kinh tế đó vẫncha phát huy đợc hiệu quả ở miền núi, nơi tỉ lệ đói nghèo còn cao và sự suythoái môi trờng đe dọa cuộc sống hàng ngày của ngời dân
Hà Giang là tỉnh miền núi phía bắc địa đầu biên cơng của tổ quốc, làmột trong những tỉnh nghèo nhất nớc với khí hậu khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng(CSHT) kinh tế - xã hội ( KT - XH) thấp, kinh tế chậm phát triển Trong đó
Trang 2Quản Bạ là một trong bốn huyện miền núi trên cao nguyên Đồng Văn củatỉnh Hà Giang Điều kiện cơ sở hạ tầng còn thấp kém trình độ dân trí thấp vàkhông đồng đều nên đời sống của đồng bào trong huyện còn gặp nhiều khókhăn Một bộ phận dân c con sống trong tình trạng đói nghèo Nguy cơ tụthậu so với các huyện bạn và cả nớc là vấn đề đang đặt ra cho Đảng bộ huyệnQuản Bạ những thử thách mới Làm thế nào để từng bớc cải thiện đời sốngnhân dân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu KT - XH do Đại hội Đảng bộhuyện lần thứ XV đề ra Từ thực tiễn đó, nhiệm vụ cấp bách mà huyện QuảnBạ quyết tâm thực hiện là từng bớc xoá hộ đói, giảm hộ nghèo, xây dựnghuyện nhà giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Để góp phần thực hiện những nhiệm vụ cấp bách, huyện Quản Bạ
đang tích cực triển khai phong trào XĐGN và đạt đợc những thành quả đáng
kể, góp phần ổn định đời sống của đồng bào miền núi cao, giữ vững an ninhchính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phơng Tuy nhiên công tác này vẫnbộc lộ nhiều vớng mắc cần khắc phục Trớc hết là do chúng ta cha làm rõquan niệm về đói nghèo và quan điểm của Đảng ta về giải quyết vấn đểXĐGN, cũng nh thực trạng đói nghèo của huyện Quản Bạ Đồng thời chaxác định những tiêu chí đánh giá mức độ đói nghèo, những hạn chế, nguyênnhân trong chơng trình XĐGN trong thời gian qua; đề ra những phơng pháp
cụ thể hữu hiệu nhằm thực hiện việc đi sâu nghiên cứu công tác XĐGN ở địaphơng cha toàn diện, sâu sắc và cha đợc quan tâm đúng mức Chính vì vậy,nghiên cứu vấn đề XĐGN tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế của huyệnQuản Bạ trong những năm tới là một vấn đề hết sức quan trọng
Thực hiện đề tài này, tôi hi vọng vận dụng lí luận chính trị XĐGN tạihuyện Quản Bạ Nhằm làm sáng tỏ cơ sở lí luận của vấn đề, phân tích đúng
đặc điểm thế mạnh của huyện, tìm ra đúng nguyên nhân và đề ra giải pháphữu hiệu
Đề tài đợc thực hiện dựa trên cơ sở phơng pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac_Lênin, quán triệt các phơngpháp lôgic biện chứng, quan điểm hệ thống toàn diện, lịch sử cụ thể kháchquan trong phản ánh và phơng pháp phân tích, tổng hợp thông qua số liệuthống kê và điều tra xã hội học về XĐGN và tình hình KT - XH của huyệnQuản Bạ (giai đoạn 2001-2005) để phân tích, so sánh chỉ ra thực trạngnguyên nhân đói nghèo ở địa phơng
Trang 3Nguồn tài liệu nghiên cứu ngoài tài liệu học tập của trờng Đại họcKinh tế Quốc dân Hà Nội, đề tài còn sử dụng các văn kiện ĐH Đảng tỉnh HàGiang lần thứ V và Đảng bộ huyện Quản bạ lần thứ XV, số liệu phòng Lao
động Thơng binh và Xã hội
Do năng lực và thời gian hạn chế, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứucủa đề tài chỉ tập trung vào "Một số vấn đề XĐGN ở huyện Quản Bạ - Hà
giang" Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 phần chính là:
Phần I: Phân hoá giàu nghèo và sự cần thiết của XĐGN trong quá trình phát triển kinh tế ở nớc ta.
Phần II: Tình hình XĐGN ở huyện Quản Bạ trong thời gian 2005.
2001-Phần III: Giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả công tác XĐGN ở huyện Quản Bạ trong thời gian tới (2006 - 2010).
Trong quá trình thực hiện tôi xin trân thành cảm ơn PGS TS TrầnNgọc Phác và tập thể thầy cô giáo khoa Thống kê - ĐH KTQD; Huyện uỷ,UBND huyện và các phòng ban trong huyện đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tàinày
Phần I Phân hóa giàu nghèo và sự cần thiết của
xóa đói giảm nghèo trong quá trình
phát triển kinh tế nớc ta
I Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và t tởng Hồ Chí Minh
về nghèo đói :
1 Tính tất yếu của quá trình phân hóa giàu nghèo:
Xã hội loài ngời đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độsản xuất vật chất quyết định Bằng lao động sản xuất, con ngời ngày càngsáng tạo, khai thác thiên nhiên tạo ra của cải vật chất, không ngừng đáp ứngnhu cầu ngày càng cao Nơi đâu năng suất lao động càng cao thì nơi đó nhucầu của con ngời càng đợc đáp ứng đầy đủ Và ngợc lại, ở đâu năng suất
Trang 4thấp, sản xuất ra ít của cải vật chất, khả năng đáp ứng nhu cầu thấp thì ở đócon ngời rơi vào cảnh đói nghèo
Trong xã hội có giai cấp, những ngời bị áp bức bóc lột phải chịu cuộcsống cùng cực Không chỉ có vậy, sự khốc liệt của tự nhiên, thiên tai, bão lũ,
sự tàn phá của chiến tranh đều khiến cuộc sống con ngời thêm cơ cực Đóinghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dới chế độ công xã nguyên thuỷ,chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ lực lợng sản xuấtthấp kém mà ngay cả trong thời đại ngày nay với cuộc Cách mạng khoa học
kĩ thuật công nghệ hiện đại, với lực lợng sản xuất cực kì cao thì trong từngquốc gia kể cả những quốc gia phát triển vào bậc nhất thế giới, đói nghèovẫn tồn tại một cách hiển nhiên Do đó giải quyết vấn để đói nghèo luôn luôn
là một nhiệm vụ quan trọng, một mục tiêu của sự phát triển đối với mọi quốcgia, mọi dân tộc Có nhiều cách lí giải và giải quyết khác nhau về hiện tợng
đói nghèo Điều đó phụ thuộc vào thế giới quan của mỗi ngời, mỗi giai cấpmỗi nhà nớc Đối với chúng ta việc xem xét hiện tợng đói nghèo phải luôn
đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác_Lênin và t tởng Hồ Chí Minh,trên lập trờng cách mạng của giai cấp công nhân
Trong di sản kinh điển mácxít, Mác và Engghen ngay từ khi sáng lậphọc thuyết vào giữa thế kỉ XV thì những tác phẩm nổi tiếng của hai ông đều
có bàn về tình trạng nghèo khổ của giai cấp vô sản và những ngời lao độngdới ách thống trị của CNTB, tiêu biểu nhất là: "bản thảo kinh tế triết học"(1844_Mac), "tình cảnh giai cấp công nhân Anh" (1845 - Engghen), “t bản’’(Mac bắt đầu viết năm 1860 và đợc Engghen kết thúc năm 1895)
Trong những tác phẩm này, Mac - Engghen đã mô tả cặn kẽ tỉ mỉ vàxác thực tình cảnh đói nghèo của những ngời vô sản phải bán sức lao độngcho chủ t bản để kiếm sống Phụ nữ và trẻ em phải làm việc đến kiệt sứctrong các xởng thợ Nông dân bị tớc đoạt ruộng đất, mất hết TLSX, phải chạy
ra các đô thị và trở thành những ngời thất nghiệp Họ trở thành nạn nhân củatình trạng bị nóc lột giá trị thặng d tuyệt đối và tơng đối của các chủ t bảntrong thời kì tích luỹ nguyên thuỷ và tự do cạnh tranh của CNTB Hai ông đãvạch rõ hậu quả khôn lờng của chế độ bóc lột tàn bạo này Đó là nguyênnhân cơ bản dẫn đến sự phân hoá xã hội thành hai cực: một số ít nắm trongtay toàn bộ tài sản, quyền lực ngày càng giầu có - giai cấp t sản; nhân dânlao động ngày càng bần cùng hóa, lún sâu vào cái hố của sự nghèo đói, bệnh
Trang 5tật, thất nghiệp và thất học - giai cấp vô sản Đây cũng là nguyên nhân cơbản thúc đẩy quá trình phân hoá giàu nghèo thành phân hoá giai cấp mà đốikháng giữa hai giai cấp đó là không thể điều hoà đợc.
Theo Mac - Engghen, nguồn gốc sâu xa của tình trạng đói nghèo làchế độ sở hữu TBCN về TLSX ở chế độ áp bức bóc lột ngời Đói nghèo làsản phẩm của sự phân bố không đồng đều về quyền lực trong xã hội Trongtuyên ngôn Đảng Cộng sản Mác đã nghi rõ “trong những thời đại lịch sử trớchầu nh khắp mọi nơi chúng ta đều thấy xã hội hoàn toàn chia thành những
đẳng cấp khác nhau, cái thang chia thành từng nấc thang địa vị xã hội” Khixã hội chuyển sang CNTB cái hố phân biệt giàu nghèo chẳng những khôngmất đi mà ngày càng sâu rộng thêm "Ngời lao động trở thành một ngờinghèo khổ và nạn nghèo khổ tăng lên nhanh hơn là dân số và của cải", “Giaicấp t sản hiện đại sinh ra trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong khôngxoá bỏ đợc những giai cấp, đối kháng giai cấp” “Tuy nhiên đặc điểm củathời đại giai cấp t sản là đã đơn giản hoá những đối kháng Giai cấp xã hộingày càng chia thành hai phe lớn thù địch nhau, hai giai cấp hoàn toàn đốilập nhau: giai cấp t sản và giai cấp vô sản” Do đó chỉ có thể xoá bỏ chế độ thữu, chế độ bóc lột mới có thể giải phóng giai cấp vô sản và quần chúng lao
động thoát khỏi đói nghèo lầm than, làm cho họ trở thành ngời lao động tự
do và ngời làm chủ tiến tới một xã hội công bằng, văn minh “xã hội khôngthể sống dới sự thống trị của giai cấp t sản không còn tơng đồng với sự tồntại của xã hội nữa”
Trong điều kiện chuyển CNTB từ tự do cạnh tranh sang CNTB độcquyền và độc quyền nhà nớc, Lênin đã tiếp tục bảo vệ và phát triển lí luậncủa chủ nghĩa Mácxít nói chung và tiếp tục phân tích một cách gay gắt cácmâu thuẫn kinh tế xã hội Đây là thời kì tích tụ trầm trọng hơn sự nghèo đóicùng cực của giai cấp vô sản và những ngời lao động trên khắp thế giới.Lênin đã vạch ra luận cơng giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản và các dân tộc
bị áp bức bóc lột khỏi ách thống trị của của CNTB bằng cách mạng vô sản do
Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Sau Cách mạng thánh Mời 1917,trong bớc chuyển từ “chính sách thời chiến” sang “chính sách kinh tế mới”(NEP), Lênin còn chỉ rõ cùng với sự phát triển kinh tế hàng hoá theo cơ chếthị trờng tự do cạnh tranh thì sự phân hoá giàu nghèo cũng trở thành tất yếu
đối với đời sống cộng đồng dân c “Sự phát triển của CNTB lẫn sự bần cùng
Trang 6hoá của nhân dân không còn là hiện tợng ngẫu nhiên nữa, hai hiện tợng đótất nhiên phải đi kèm sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá dựa trên sự phâncông xã hội”; đặc biệt đối với dân c nông thôn “một khi nông dân đã trởthành ngời sản xuất hàng hoá thì đạo đức của họ tất nhiên là sẽ phải xâydựng trên đồng rúp mà ngời ta cũng không thể quy trách nhiệm cho họ về
điều đó đợc và chính điều kiện của cuộc sống đã buộc họ phải săn đồng rúpbằng mọi mánh khoé buôn bán Tình hình đã nh vậy thì dù không phạm phảimột tội hình sự nào đó, không có một sự nô dịch nào đó, không có một gianlận nào, nông dân vẫn cứ phân hoá thành kẻ giàu ngời nghèo Sự bình đẳng
xa kia không còn đứng vững nổi trớc những biến động của thị trờng Đókhông hẳn là một sự suy luận, đó là một sự thật” Vì vậy, Lênin chủ chơngthúc đẩy nền kinh tế hàng hoá, dùng lợi ích vật chất, coi đó nh một đòn bẩykinh tế để khuyến khích mọi ngời lao động, giải phóng sức sản xuất, pháttriển kinh tế Đây đợc coi là một trong những biện pháp để căn bản có thểxoá bỏ tình trạng đói nghèo, nhất là ở nông thôn trong công cuộc xây dựngxã hội mới - xã hội XHCN
Vận dụng những quan điểm, lí luận của chủ nghĩa Mac_Lênin vào
điều kiện Việt Nam một cách sáng tạo, chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng líluận về cách mạng giải phóng dân tộc chống thực dân Ngời tổ chức, xâydựng, rèn luyện Đảng ta tiến hành lãnh đạo nhân dân làm cách mạng đểgiành độc lập tự do cho tổ quốc Suốt cuộc đời Ngời hi sinh cho dân tộc ViệtNam Ngời hằng ao ớc "tôi có một ham muốn tột bậc, ham muốn đó là dântộc ta, đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đợc học hành” Ngaysau khi Cánh mạng tháng Tám thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đóinghèo nh một thứ giặc “nội xâm” mà thứ giặc đó còn nguy hiểm không kémgì giặc ngoại xâm cả Vì vậy Ngời đã sớm phát động cuộc thi ái quốc, kêugọi toàn dân ra sức tăng sản xuất thực hành tiết kiệm, nhờng cơm sẻ áo,quyên gạo cứu đói Ngay từ khi đó Ngời đã nhận thức sâu sắc vấn đề đóinghèo cũng nh tầm quan trọng của xoá đói giảm nghèo ở nớc ta
* Tính tất yếu của sự phân hoá giàu nghèo trong quá trình phát triển kinh tế:
Dới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nớc, nền kinh tế Việt Nam đangchuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chếthị trờng có sự quản lí điều tiết của nhà nớc, định hớng XHCN nền kinh tế
Trang 7đã có bớc tăng trởng đáng kể, bộ mặt đất nớc không ngừng đổi mới, số hộnghèo giảm đi, số hộ giàu tăng lên Song hiện tợng phân hoá giàu nghèongày càng có xu hớng gia tăng và sự chênh lệch giữa các vùng miền ngàycàng rõ nét, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miềnnúi, giữa dân tộc kinh và đồng bào dân tộc thiểu số Để đánh giá đúngnguyên nhân của hiện tợng này phải có một quan niệm thực sự khoa học,trên cơ sở đó thái độ và cách giải quyết đúng đắn Trớc hết phải thấy đợc sựphân hoá giàu nghèo không phải là do hiện tợng ngẫu nhiên, tạm thời mà đãxuất hiện rất lâu trong lịch sử Tuy nhiên mức độ thể hiện tuỳ thuộc vào cácgiai đoạn kinh tế, các chính sách KTXH, bản chất của giai cấp cầm quyền
Con ngời, ai cũng có ý thức vơn lên trong mọi lĩnh vực hoạt động củamình, đặc biệt là trong qúa trình lao động sản xuất vật chất - cơ sở của đờisống xã hội Luôn tìm mọi cách để cải thiện công cụ, nâng cao chất lợng sảnphẩm cũng nh năng suất lao động Nhng do giới hạn về năng lực của mỗi ng-
ời là khác nhau nên hiệu quả kinh tế mà mỗi ngời đạt đợc là không giốngnhau.Trong cùng một điều kiện về thời gian không gian, những ngời có thểlực, trí tuệ, khả năng sáng tạo cao hơn thờng có kết quả sản xuất cao hơn, thunhập cao hơn và đơng nhiên đợc đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu về vật chất lẫntinh thần so với những ngời kém hơn về sức khoẻ, trí tụê Và nếu không cóyếu tố chủ quan nào can thiệp theo hớng tích cực thì tất yếu sẽ tạo ra sự phânhoá xã hội, phân hoá giai cấp
Nền kinh tế thị trờng tác động đến phân hoá giàu nghèo còn mạnh hơngấp nhiều lần so với kinh tế tự nhiên Trong nền kinh tế thị trờng con ngờisản xuất hàng hoá dịch vụ hớng vào thị trờng, nhằm đáp ứng nhu cầu của thịtrờng Họ sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh trên thị trờng Họ lao động nhiềuhơn tạo ra khối sản phẩm đa dạng hơn phong phú hơn về cả mẫu mã lẫn chấtlợng Nhờ đó đời sống của họ đợc cải thiện, số hộ giàu tăng lên số hộ nghèo
ít đi
Nhng điều gì cũng có tính hai mặt của nó và nền kinh tế thị trờng cũngkhông thoát khỏi quy luật đó Dới tác động cạnh tranh, quá trình phân hoágiàu nghèo cũng diễn ra ngày càng nhanh chóng, rõ nét Đầu tiên là giữa cácvùng miền, vùng nào có điều kiện tự nhiên, nhân văn, con ngời thuận lợihơn thờng có nền KT - XH phát triển hơn Thứ hai, là giữa thành thị và nôngthôn mà nguyên nhân cơ bản chính là giá trị kinh tế cao của những ngành
Trang 8sản công nghiệp mà chủ yếu nằm ở thành thị Thứ ba, giữa miền xuôi vàmiền ngợc, những vùng núi vùng sâu vùng xa, vùng biên giới hải đảo điềukiện tự nhiên quá khắc nghiệt, là nơi c trú chủ yếu của đồng bào các dân tộcthiểu số, trình độ dân trí thấp thờng kém phát triển hơn Bên cạnh đó phânhoá giàu nghèo còn do: sự gia tăng dân số, rủi ro đặc biệt là do năng lựcsản xuất của mỗi chủ thể kinh tế, mỗi hộ, mỗi gia đình.
2 Quan niệm về đói nghèo và thớc đo đói nghèo:
2.1 Đói nghèo và các khía cạnh của đói nghèo:
Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và đang thu hút cảcộng đồng quốc tế cần nỗ lực nhằm từng bớc XĐGN và nâng cao phúc lợicho ngời dân Tuy nhiên, không có một định nghĩa duy nhất về đói nghèo vàcũng không có một phơng pháp hoàn hảo để đo đợc nó Nghèo là tình trạng
bị thiếu thốn ở nhiều địa phơng diện.Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạothu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ
bị tổn thơng trớc những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu vànhững khó khăn tới những ngời có khả năng giải quyết; ít đợc tham gia vàoquá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không đợc ngời khác tôn trọng
đó là những khía cạnh của đói nghèo Nhng đo đợc từng khía cạnh đó mộtcách nhất quán là điều rất khó còn gộp tất cả những khía cạnh đó vào thànhmột chỉ số nghèo hay thớc đo đói nghèo duy nhất là chuyện không thể.Songvẫn rất cần các chỉ tiêu về nghèo nhằm thông tin cho các chính sách công và
để đánh giá đợc mức độ thành công của các chính sách đó
2.2.Thớc đo đói nghèo:
Để tính toán một thớc đo đói nghèo, cần có ba yếu tố Đó là: lựa chọnmột tiêu chí nghiên cứu và chỉ số phản ánh phúc lợi; lựa chọn một ngỡngnghèo, đó là mức giới hạn mà cá nhân hay hộ gia đình nằm dới mức đó sẽ bịcoi là nghèo; chọn ra một thớc đo đói nghèo đợc sử dụng để phản ánh chotổng thể hoặc một nhóm dân c
Trang 9chất lợng cuộc sống nh chi cho ăn uống, học hành, thuốc thang và các dịch
vụ y tế Hoặc qua mức thu nhập bình quân đầu ngời
Khía cạnh phi tiền tệ của đói nghèo đợc dùng để đo tình trạng thiếuthốn về y tế, giáo dục, các mối quan hệ xã hội, sự bất an, kém tự tin haythiếu quyền lực Tuy nhiên giá trị của các chỉ số này đều đợc ớc tính đo sự
đánh giá chủ quan của con ngời
2.2.2.Lựa chọn và ớc tính ngỡng nghèo:
Ngỡng nghèo (hay chuẩn nghèo) là ranh giới để phân biệt giữa ngờinghèo và ngời không nghèo Nó có thể là một ngỡng tính bằng tiền hoặc phitiền tệ Có hai cách xác định ngỡng nghèo :
+ Ngỡng nghèo tuyệt đối: là chuẩn tuyệt đối về mức sống đợc coi làtối thiểu, cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khoẻ mạnh.Dựa trên rổ lơng thực cần thiết (tính đến cả cơ cấu tiêu dùng lơng thực củacác hộ gia đình đặc thù của một nớc) hai ngỡng nghèo tuyệt đôí đợc tínhtoán Ngỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một rổ lơng thựchàng ngày, gọi là ngỡng nghèo lơng thực thực phẩm (LTTP) Ngỡng nghèonày thờng thấp vì nó chỉ tính đến chi tiêu cho lơng thực Ngỡng nghèo thứhai là ngỡng nghèo chung, bao gồm cả phần chi tiêu cho các sản phẩm phi l-
ơng thực
+ Ngỡng nghèo tơng đối: đợc xác định theo phân phối thu nhập hoặctiêu dùng chung trong cả nớc, phản ánh tình trạng của một bộ phận dân csống dới mức trung bình của cộng đồng
Do Việt Nam là nớc đang phát triển có điểm xuất phát thấp nên chúng
ta còn đa thêm quan niệm về đói và thiếu đói, nhằm đảm bảo tính chất u tiênhoá, chính xác hơn trong chính sách XĐGN của chính phủ Đó là tình trạngcủa một bộ phận dân c có mức sống dới mức tối thiểu chỉ đủ khả năng đảmbảo có đợc mức lơng thực cần thiết để tồn tại Trong bộ phận này có nhữngngời đói gay gắt, là tình trạng của một bộ phận dân c có mức sống cách xa d-
ới mức tối thiểu, phải đói ăn chịu đứt bữa theo những thời gian nhất định
ở Việt Nam hiện nay cha có ngỡng nghèo thống nhất Việc phân tích
đánh giá đói nghèo vẫn sử dụng một trong hai ngỡng nghèo tuyệt đối:
Thứ nhất, ngỡng nghèo của Tổng Cục Thống Kê xác định dựa theo
cách tiếp cận của ngân hàng Thế Giới.Theo hớng này TCTK đa ra hai ỡng :
Trang 10ng Nghèo đói LTTP: là những ngời có mức thu nhập không đảm bảo cholợng dinh dỡng tối thiểu (bù đắp 2100 calori/ngời/ngày đêm).
- Nghèo đói chung: đợc xác định trên cơ sở ngỡng nghèo LTTP và coi
đó là tơng ứng với 70% nhu cầu cơ bản tối thiểu, 30% còn lại là các nhu cầutối thiểu cơ bản khác Nghèo đói chung là những ngời không đảm bảo thunhập để đáp ứng cả hai yêu cầu chung
Theo đó, căn cứ vào giá cả chung, TCTK đa ra ngỡng nghèo áp dụng
từ năm 1998 ở Việt Nam nh sau: ngỡng nghèo LTTP là 107234đ/ngời /tháng
và ngỡng nghèo chung là 149156 đ/ngời/tháng
Thứ hai, ngỡng nghèo của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội (Bộ
LĐTBXH) Cách này xác định ngỡng nghèo mang tính chất tơng đối hơn.Tiếp cận từ khía cạnh thu nhập, xác định ngỡng nghèo là mức thu nhập tốithiểu của từng khu vực, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và tình trạng giá cả hànghoá tiêu dùng ở các khu vực khác nhau Cụ thể năm 2000, chuẩn đói nghèo
nh sau:
-Hộ đói: hộ có mức thu nhập bình quân một ngời trong một
tháng quy ra gạo dới 13 kg
-Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tơng ứng sau: -Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo:80.000đ/tháng -Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đ/ngời/tháng -Vùng thành thị: 150.000đ/ngời/tháng
2.2.3 Các thớc đo đói nghèo thông dụng:
Sau khi xác định ngỡng nghèo, có thể tính toán một số thớc đo để môtả quy mô, độ sâu và độ nghiêm trọng của đói nghèo Ba thớc đo thông dụngnhất phản ánh các khía cạnh đó lần lợt là: tỉ lệ đói nghèo, khoảng nghèo vàbình phơng khoảng nghèo
Ba thớc đo đó đều có thể tính đợc bằng công thức chung nh sau:
Trang 11Cả ba thớc đo đói nghèo đều có một tính chất hữu ích chung là nó chophép phân tách các thớc đo tổng hợp theo vùng hoặc nhóm dân c Tuy nhiên,
nó mới chỉ tập trung đo lờng những khía cạnh thiếu thốn về điều kiện vậtchất của ngời nghèo Bên cạnh đó còn có các thớc đo định tính khác để phản
ánh sự thiếu thốn về y tế và giáo dục, nguy cơ dễ bị tổn thơng và tình trạngkhông có tiếng nói, không có quyền lực của ngời nghèo
II.Vài nét về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Hà giang nói riêng:
1.Vài nét về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam:
Theo chuẩn đói nghèo của TCTK thì tỉ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam
đã giảm từ 70% N1990 xuống còn 32% N2000 và 28,9% N2002 So với mụctiêu giảm 1/2 tỉ lệ đói nghèo giai đoạn 1990-2015 thì Việt Nam đã về trớcmục tiêu này và đợc cộng đồng quốc tế đánh giá là nớc giảm tỉ lệ đói nghèotốt nhất Tuy nhiên Việt nam vẫn là một trong những nớcnghèo - đứng hàngthứ 133/174 quốc gia trên thế giới theo GDP bình quân đầu ngời
Đói nghèo ở Việt Nam mang tính chất vùng rõ rệt Các vùng núi cao,vùng sâu, vùng xa có tỉ lệ đói nghèo khá cao Có tới 64% số hộ đói nghèo tậptrung tại các vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyênhải miền Trung Đó là những vùng tài nguyên thiên nhiên khắc nghiệt, CSHTkém phát triển và thiếu đồng bộ Nghèo đói ở nớc ta phổ biến là trong những
hộ có thu nhập thấp và bấp bênh Phần lớn thu nhập của ngời nghèo là từnông nghiệp với điều kiện nguồn lực rất hạn chế 90% số ngời đói nghèo ở n-
ớc ta sinh sống ở vùng nông thôn, trình độ tay nghề thấp không có điều
Trang 12kiện tiếp cận với hệ thống thông tin nên rất khó có khả năng chuyển đổi việclàm sang các ngành nghề phi nông nghiệp để có thu nhập cao hơn
Trong những năm gần đây, tỉ lệ đói nghèo ở nớc ta có đợc cải thiện nhngmức cải thiện ở nhóm ngời nghèo chậm hơn so với mức chung Cụ thể là sựgia tăng chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giầu nhất và 20% nghèo nhất(từ 7,3 lần N1995 lên 9,1 lần N2002) cho thấy hố ngăn cách giàu nghèo đang
có xu hớng gia tăng
2.Vài nét về XĐGN và mục tiêu XĐGN của tỉnh Hà giang:
Hà giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, nơi địa đầu biên cơng của tổquốc Đợc tách từ tỉnh Hà Tuyên từ tháng 10.1990 Do đặc điểm địa lí, tựnhiên, giao thông đi lại khó khăn, dân c sống phân tán, cơ sở vật chất kĩ thuậtnghèo nàn lạc hậu, đất đai canh tác ít, dân c chủ yếu là dân tộc, trình độ dântrí thấp vơí sự kết hợp các yếu tố chủ quan duy ý trí trớc đây đã để lại mộtthực trạng KT-XH hết sức thấp kém, lạc hậu
Sản xuất của tỉnh Hà giang chủ yếu là nông, lâm nghiệp độc canh câylúa, cây ngô một vụ, mang nặng tính tự cung tự cấp Cơ cấu cây trồng vậtnuôi cha hợp lí Tiến bộ KHKT còn chậm đa vào ứng dụng sản xuất Đờisống nhân dân các dân tộc còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếukém Giai đoạn này tỉ lệ đói nghèo tăng nhanh, sự phân hoá ngày càng rõ rệt
ở từng vùng, từng địa phơng, từng dân tộc Chênh lệch giàu nghèo N2003khoảng 7,5-10 lần, cụ thể:
*Mục tiêu XĐGN của Hà Giang trong thời giang tới nh sau:
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ V xác định mục tiêu tổng quátcủa chơng trình XĐGN tỉnh Hà giang nh sau:
- Hết N2010 xoá xong hộ đói nói chung và các gia đình chính sách nóiriêng
- Giảm hộ nghèo xuống dới 20% Đảm bảo nớc sinh hoạt cho đồngbào vùng cao
Trang 13- Phấn đấu hết năm 2010, 100% xã có CSHT cơ bản (điện, đờng, ờng, trạm) Ưu tiên đầu t cho xã nghèo, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, xã biêngiới, vùng đồng bào dân tộc khó khăn.
Trang 14tr-Phần II Tình hình xoá đói giảm nghèo ở
huyện quản bạ giai đoạn 2001-2005.
I tác động của đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tới hiện tợng
đói nghèo tại huyện quản bạ:
Quản Bạ là một trong bốn huyện vùng cao nằm trên cao nguyên đá vôi
Đồng Văn, chỗ thấp nhất là xã Đông Hà nằm dọc theo sông Miện, có độ caotrung bình so với mặt nớc biển từ 900 – 1200m Địa hình núi đá vôi phứctạp,chia cắt mảnh
Do bề mặt đứt gãy, nhiều hang động đợc hình thành, địa hình đồi núi,nhiều ruộng bậc thang
Trang 151.4 Sông nớc:
Sông lớn nhất chảy qua huyện Quản Bạ là sông Miện, bắt nguồn từVân Nam - Trung Quốc, chảy qua các xã: Bát Đại Sơn, Cán Tỷ, Lùng Tám,
Đông Hà, Thái An và nối liền với sông Lô
Ngoài ra, do kiến tạo của địa hình phức tạp còn tạo nhiều khe lạch vàsuối có nớc về mùa ma, còn mùa khô nớc cạn
1.5 Thổ nhỡng:
Do quá trình phong hóa từ đá vôi trầm tích nâng lên phiến thạch nên
đất thờng có độ cơ giới nặng, độ phì cao ở những nơi có độ dốc thấp <250 nhxã Thanh Vân, Quản Bạ, Quyết Tiến, Đông Hà, Lùng Tám; còn ở các xãvùng cao có độ dốc từ 260- 450 thờng xảy ra hiện tợng sạt lở và rửa trôimạnh vào mùa ma nh xã Tùng Vài, Tả Ván, Nghĩa Thuận, Cao Mã Pờ
1.6.Khoáng sản:
Do cha thăm dò khảo sát đầy đủ song trong địa bàn huyện không có
mỏ khoáng sản nào lớn đáng kể Chỉ có mỏ quặng sắt lộ thiên thuộc xãQuyết Tiến, vùng biên xã Cao Mã Pờ, Nghĩa Thuận
Trang 16Trong đó: - Đất nông nghiệp :8.771 ha
- Đất lâm nghiệp: 24.185 ha
- Đất chuyên dùng:164,56 ha
- Đất ở:423,04 ha
- Đất cha sử dụng:21.495,4 ha
Diện tích đất đã sử dụnglà:
- Đất nông nghiệp: 8.771 ha
Trong đó: + Đất cây hàng năm: 7.815 ha
+ Đất cây lâu năm: 951 ha
+Đất ao hồ: 5 ha
- Đất lâm nghiệp :
Trong đó : + Rừng tự nhiên :22.486 ha
+ Rừng trồng :579 ha
+ Đất đồi núi trọc:1.120ha
Đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp cha đa vào khai thác là 1.491 ha.KL: Nh vậy điều kiện tự nhiên có ảnh hởng rất lớn tới sự phát triểnkinh tế nói chung và sự phân hoá giàu nghèo nói riêng của huyện Quản bạ.Tuy có nhiều yếu tố hạn chế sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội, song với uthế về độ cao, đất đai, khí hậu đã tạo ra cho huyện Quản bạ những lợi thếriêng Hệ sinh thái phong phú, thuận lợi cho việc phát triển mạnh cây chè
đặc sản San Tuyết, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao nh: hồng không hạt, lêmận ; cây dợc liệu quý nh: đỗ trọng, ấu tẩu, xuyên nhung, thảo quả, đơngquy nhiều tiềm năng phát triển cây tre, trúc Đồng thời phát triển chănnuôi gia súc nh đàn trâu, bò, lợn, ngựa, dê, ong mật Đặc biệt huyện là nơi cótiềm năng lớn về du lịch sinh thái, với khí hậu mát mẻ, phong cảnh núi nonhùng vĩ song cũng không kém phần trữ tình, với nhiều địa danh nổi tiếng nhCổng trời, Núi Đôi, Núi Cô Tiên, Hang Khau Mỉ – Tùng vài, và sắc tháivăn hoá phong phú đa dạng của các dân tộc thiếu số
2 Đặc điểm dân số xã hội:
2.1.Đặc điểm dân số lao động:
Dân số Quản Bạ phân bố không đều giữa các xã, các vùng tronghuyện Chủ yếu tập trung ở các xã vùng thấp, xã có nhiều điều kiện thuận lợihơn cho sản xuấtvà sinh hoạt Tập trung ở các thung lũng, chân núi, cạnh
Trang 17sông suối Một số sống rải rác trên các sờn núi Năm 2005, toàn huyện có7.838 hộ với 39.243 khẩu Mật độ dân số tha khoảng 73 ngời/km2.
Dân số Quản Bạ là dân số trẻ, lực lợng lao động dồi dào Tổng số ngờitrong độ tuổi lao động là: 20.423 ngời, trong đó số ngời có khả năng lao
động là: 17.829 ngời
Bao gồm: - Theo giới tính:
+ Nam: 8.380 ngời, chiếm 47%
+ Nữ: 9.449 ngời, chiếm 53%
- Theo trình độ:
+ Không biết chữ: 2.236 ngời
+ Cha tốt nghiệp cấp I: 3.376 ngời
+ Đã tốt nghiệp cấp I: 6.439 ngời
+ Đã tốt nghiệp cấp II: 2.107 ngời
+ Đã tốt nghiệp cấp III: 2.157 ngời
- Theo nghề nghiệp:
+ Lao động trong khu vực nông nghiệp: 12.339 ngời+ Lao động trong khu vực tiểu thủ công nghiệp: 1.630 ngời
+ Lao động khu vực dịch vụ - thơng mại: 2.246 ngời+ Lao động trong khu vực nhà nớc: 1.514 ngời
Ta thấy, dân số Quản Bạ là dân số trẻ, lực lợng lao động đồi dào, cần
cù chịu khó tuy nhiên trình độ lao động thấp, chủ yếu lao động trong ngànhsản xuất nông nghiệp, lao động ngành nghề cha phát triển, lao động kĩ thuật
ít Do vậy: nâng cao trình độ cho ngời lao động là vấn đề cần thiết để chuyểndịch cơ cấu lao động giữa các ngành nghề nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tếcần đợc quan tâm
2.2 Đặc điểm dân số dân tộc:
Huyện Quản Bạ bao gồm 14 dân tộc anh em cùng chung sống Trong
đó, dân tộc H’mông chiếm hơn 60%, đặc biệt: có dân tộc chỉ chiếm cókhoảng 1% và dân tộc Pu y cả nớc chỉ có duy nhất ở huyện Quản Bạ - HàGiang
Hiện nay toàn huyện có 104thôn bản Đây là kết quả của cả quá trình
đấu tranh lâu dài với thiên nhiên để xây dựng bản làng của đồng bào các dântộc Qua đó, họ đã khẳng định đợc truyền thống văn hoá, kinh nghiệm lao
Trang 18động sản xuất, phong tục tập quán phù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗivùng, mỗi dân tộc Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng, từ phong tục tập quán
đến cộng đồng ngôn ngữ, sống c trú đan xen có sự pha trộn ảnh hởng lẫnnhau Một số dân tộc nh Tày, Nùng, H’mông còn duy trì truyền thống trồnglanh, dệt vải, nhuộm tràm, hát đối, hát cọi, thổi kèn lá, sáo trúc, mặc trangphục truyền thống, ở nhà sàn và mở các lễ hội trong những dịp nh tết đếnxuân về, tổ chức các trò chơi dân gian: chơi quay, chơi cù, đẩy gậy, némcòn… Đời sống văn hoá phong phú, nét đẹp của mỗi dân tộc luôn đợc giữvững và phát huy
Không những vậy, trải qua quá trình đấu tranh giữ gìn bảo vệ biên
c-ơng của tổ quốc, đồng bào các dân tộc huyện Quản Bạ đã chứng minh đợctruyền thống yêu nớc thơng nòi, đoàn kết tơng thân tơng ái nh truyền thốngtốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam ta
Song bên cạnh đó sự tồn tại của các phong tục cũ nh ma chay cới xinvẫn còn nặng nề Sự tồn tại kéo dài của một số các tập quán lạc hậu nh: nạntảo hôn, cúng bái, ma chay và các tệ nạn xã hội nh: cờ bạc, rợu chè, làmột sự bất lợi không nhỏ cho sự phát triển sản xuất và đời sống của các dântộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Sự bất đồng về ngôn ngữ cũng gây không ítkhó khăn cho việc thực hiện các chơng trình XĐGN Do đó cần sớm khắcphục và loại bỏ các phong tục lạc hậu và tệ nạn xã hội ra khỏi cộng đồng
3 Đặc điểm kinh tế xã hội:
Quản Bạ là một huyện miền núi phía Bắc nằm trên cao nguyên đá vôi
Đồng Văn Do đặc điểm địa lí phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cphân bố không đều cơ sở vật chất lạc hậu Kết hợp với các yếu tố chủ quanduy ý chí trớc đây để lại thực trạng kinh tế xã hội vô cùng thấp kém và lạchậu
Thu ngân sách của huyện chỉ đạt 10% chi thờng xuyên, còn lại 90% là
do cấp trên hỗ trợ
Nền kinh tế mang tính tự cung tự cấp Nông nghiệp chiếm tỷ trọng rấtcao.Trong đó, chủ yếu là độc canh cây lúa (920ha) và cây ngô (3400ha),chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn chậm và cha hợp lí Khoa học kĩ thuật ít đ-
ợc áp dụng vào sản xuất và năng suất cây trồng cha cao
Trang 19Cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông đi lại khó khăn từ huyện đi các xã
và đến tỉnh Đây là trở ngại lớn trong giao lu kinh tế trong huyện và tới cáchuyện bạn trong tỉnh
Về y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn yếu kém, dịch bệnh nhsốt rét, cúm, sởi vẫn cha đợc dập tắt, luôn đe doạ tính mạng của đồng bào.Công tác kế hoạch hoá gia đình cha thật sự phát triển kết hợp với các hủ tụclạc hậu, dân trí thấp nên tỉ lệ tăng dân số còn cao
Về giáo dục, trờng lớp còn tạm bợ, tình trạng học xen và lớp ghép cònphổ biến; đội ngũ giáo viên còn thiếu và yếu; số học sinh đến trờng còn thấp,
số đồng bào dân tộc thiểu số biết tiếng phổ thông cha nhiều
Tóm lại vì mặt bằng kinh tế xã hội của huyện Quản bạ còn thấp kémnên công tác xóa đói giảm nghèo phảI luôn gắn chặt với việc phát triển kinh
tế xã hội mới có thể đảm bảo một cuộc sống thật sự an toàn cho ngời dân,tăng trởng một cách bền vững
II.Khái quát tình trạng đói nghèo của huyện Quản Bạ giai
Nhờ chính sách của Đảng từng bớc đổi mới trong nông nghiệp, nh Chỉthị 100 – Chỉ thị 10 của Đảng, tình hình sản xuất nông nghiệp đợc thay đổi.Biểu hiện rõ nét qua sự tăng lên về số lợng cũng nh chất lợng cây trồng vậtnuôi; diện tích, năng suất, số lợng đàn gia súc gia cầm ,các loại cây côngnghiệp ,cây ăn quả, cây dợc liệu đợc quan tâm phát triển Điều này đã đánhdấu một bớc phát triển đối với kinh tế xã hội huyện Quản Bạ, đó là sự phát
Trang 20triển kinh tế nhiều thành phần, sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng có sựquản lí của nhà nớc định hớng xã hội chủ nghĩa.
Đã có một số HTX nhanh chóng thay đổi cơ chế quản lí có chế độchính sách hợp lí nên khuyến khích ngời lao động hăng hái thi đua lao độngsản xuất, nâng cao năng suất Trong nông nghiệp có nhiều hộ nông dân đãnhanh chóng không những thoát khỏi đói nghèo mà còn có “của ăn của để”
do có vốn đầu t, kinh nghiệm sản xuất, biết hạch toán kinh tế
Tuy nhiên đó chỉ là một số rất ít, còn lại đa số bộ phận dân c vẫn cònloay hoay cha dám mạnh dạn thay đổi, kiếm tìm nguồn lực, phơng sách tăngthu nhập Họ tạm bằng lòng với mức sống trung bình tạm đủ so với mặt bằngthu nhập của vùng Đa số chỉ trông chờ vào hạt ngô, hạt lúa, hứng chịu nhiềuhơn sự rủi ro, thất bát mùa màng Không có lơng thực đồng nghĩa với việckhông thể chăn nuôi để tăng thu nhập Không có tiền để đầu t vào vật nuôi,giống, cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch đợc ít hơn; trongkhi số ngời trong gia đình ngày càng tăng thêm Chung quy lại các hộ gia
đình, nông dân đói nghèo chủ yếu là vì: thiếu ăn, đông con, thiếu vốn, thiếusức lao động, sức kéo, thiếu giống, thiếu phân bón đặc biệt ở các vùng núicao, vùng giáp biên Còn nhiều HTX cơ chế chuyển đổi còn lúng túng, thiếusót và chậm trễ
Giai đoạn này tỉ lệ đói nghèo cao và sự phân hoá giàu nghèo ngàycàng rõ nét, mức sống có sự chênh lệch ở từng thôn bản, từng xã, từng dântộc
Do vậy, công tác XĐGN phải làm cho dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra, tự họ vơn lên xoá đói giảm nghèo dới sự giúp đỡ từ phía Đảng vàNhà nớc Đặc biệt, mục tiêu XĐGN phải luôn gắn chặt với mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội của toàn huyện
2 Thực trạng đói nghèo ở huyện Quản Bạ giai đoạn 2001 – 2005:
Đảng bộ và các cơ quan ban ngành huyện Quản Bạ đã có các biệnpháp và định hớng phù hợp với đờng lối đúng đắn của Đảng và Nhà nớc Nhờ
đó trong những năm qua tình hình tăng trởng kinh tế nói chung và công tácXĐGN nói riêng đã có những kết quả đáng kể Các ngành kinh tế từng bớcphát triển, cơ cấu kinh tể đã và đang chuyển dịch theo hớng tiến bộ: giảmdần tỉ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỉ trọng các ngành thơng mại, dịch
Trang 21vụ, xây dựng, công nghiệp; trong cơ cấu ngành nông nghiệp tỉ trọng củanganh chăn nuôi đang tăng lên.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong những năm qua đã tạo việclàm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân Góp phần giải quyết nhiềuvấn đề KT-XH nh ổn định chính trị kinh tế, trật tự trị an, giữ vững quốcphòng an ninh, nhân dân thêm tin tởng vào đờng lối chính sách của Đảng
Bảng 1: Cơ cấu ngành kinh tế (GDP - theo giá thực tế) qua các năm của
Bảng 2: Cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - ng nghiệp của
Huyện Quản Bạ giai đoạn 2001 – 2005:
Biểu 3: Phân loại kinh tế hộ Huyện Quản Bạ (Giai đoạn 2001-2005)Theo chuẩn cũ
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 TB thời kì
2001-2005
Trang 23Biểu 4: Chỉ tiêu xã hội cấp xã thuộc khu vực nông thôn huyện Quản Bạ
Qua những số liệu ta thấy:
Trớc hết, mặt bằng chung của huyện vẫn còn thấp, các hộ gia đình chủ
yếu mới thoát khỏi đói nghèo, bớc đầu làm ăn có hiệu quả Tính đến ngày30/11/2005, toàn huyện có 7838 hộ, thì trong đó có đến 6365 xếp loại trungbình (chiếm 78.121 %), 602 hộ vẫn đang trong tình trạng đói nghèo (7.68
%) Tuy tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh nhng cha thật bền vững do số hộ trungbình có mức thu nhập sát mức nghèo còn tơng đối lớn, đặc biệt là tỉ hộnghèo theo chuẩn mới khá cao chiếm 69.39 %
Thứ hai, các hộ đói nghèo phân bố không đều giữa các xã trong huyện
và tỉ lệ đói nghèo ở các xã khác nhau rất nhiều.Ta thấy tỉ lệ hộ nghèo caonhất là ở xã Thái an (73/356 hộ chiếm 20.51 %) thứ hai là xã Lùng Tám(75/542 hộ chiếm 13.84%), thứ ba là xã Thanh Vân (71/770 chiếm 9.22%)
Trang 24Nhất là ở một số xã cha có hộ nào đợc xếp loại hộ giàu nh: Cao Mã Pờ, Bát
Đại Sơn Đây là những xã có điều kiện địa lí, tự nhiên khắc nghiệt hơn các xãkhác trong huyện
Thứ ba, xã Đông Hà có tỉ lệ đói nghèo thấp nhất huyện (15/451 hộ
chiếm 3.33 %) Có lẽ do Đông Hà là xã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn về
điều kiện tự nhiên nh là xã ở vùng thấp có sông Miện chảy qua tạo nguồnthuỷ lợi lớn cho tới tiêu, độ dốc thấp, đất đai màu mỡ, khí hậu ấm nónghơn… nên có điều kiện tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp
Thứ t, Thị trấn Tam sơn - trái tim huyết mạch của huyện nhà - là nơi có
cơ sở hạ tầng tốt nhất, trình độ dân trí cao nhất… nền kinh tế thị trờng pháttriển nhất thì cũng là nơi sự phân hoá giàu nghèo bộc lộ rõ nét nhất Thị trấnTam sơn là địa bàn có tổng số hộ giàu cao nhất huyện (201/982 hộ chiếm20.47 %), song cũng là nơi có số hộ nghèo cao (88/982 hộ chiếm 8.96%) xếpthứ t toàn huyện từ trên xuống
Biểu 5: Thu nhập bình quân một lao động theo loại hộ 2001 - 2003
động/1 tháng) gấp 1.45 lần thu nhập bình quân chung và hơn 2.88 lần so vớithu nhập bình quân một lao động của hộ nông nghiệp Điều này cho thấy sự