1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn PHẢN BIỆN TRONG văn NGHỊ LUẬN

49 305 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 564,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trong kì thi học sinh giỏi các cấp môn Ngữ văn cũng đánh giá rất cao những bài học sinh thể hiện tư duy phản biện sắc sảo, đưa ra được dẫn chứng và lý lẽ thuyết phục, để phản b

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH NINH BÌNH TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG VĂN TỤY

BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2018- 2019 TÊN SÁNG KIẾN:

PHẢN BIỆN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN

Giáo viên: 1 Lê Trâm Anh

2 Vũ Thị Yến Đơn vị công tác: Tổ Ngữ văn Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

Ninh Bình, tháng 5 năm 2019

Trang 2

BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2018 - 2019

I Tên sáng kiến

Phản biện trong văn nghị luận

II Đồng tác giả sáng kiến

1 Vũ Thị Yến

Chức danh: Giáo viên

Đơn vị công tác : trường THPT chuyên Lương Văn Tụy Trình độ chuyên môn : Thạc sỹ Ngữ văn

Email: vuyenlvt@gmail.com

Số điện thoại: 01689445274

2 Lê Trâm Anh

Chức danh: Giáo viên

Đơn vị công tác : Trường THPT chuyênLương Văn Tụy

Trình độ chuyên môn : Thạc sĩ Ngữ văn

Email: tunahoangvietanh@gmail.com

Số điện thoại: 0984961912

Trang 3

1 Giải pháp cũ thường làm

Trong phương pháp dạy truyền thống, phần lớn giáo viên thường nghiêng

về cách dạy truyền đạt một chiều, thày đọc trò chép, học sinh thụ động theo những lối mòn của tư duy Kết quả là không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh Học sinh ngày càng có xu hướng “không mặn mà” với môn Văn, thiếu hứng thú tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo trong giờ học

2 Giải pháp mới cải tiến

Trong dạy văn hiện nay, việc phát huy tư duy phản biện đã được chú trọng

Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Những nghiên cứu gần đây cho thấy, các nhà giáo dục đã hoàn toàn tin tưởng rằng trường học nên tập trung hơn vào việc dạy học sinh tư duy phản biện Ngày nay, nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đã coi trọng tư duy phản biện trong dạy học Ở Mĩ, người

ta đề cao tính dân chủ trong giáo dục, tạo điều kiện cho người học phát huy khả năng phản biện Hệ thống giáo dục Anh thì coi tư duy phản biện như một môn học chính quy Ở Việt Nam, trong thời đại công nghệ số và thế giới phẳng, khi từng khắc từng giờ con người phải đối diện với sự bùng nổ thông tin, đôi khi là nhiễu loạn thông tin, các nhà giáo dục cũng đã quan tâm đến phát triển tư duy phản biện cho học sinh, giúp các em có nhận thức đúng đắn và vững vàng hơn,

để lựa chọn phương hướng, hành động đúng đắn trong cuộc sống

Phát huy khả năng phản biện của học sinh còn là một cách đề cao, coi trọng tính dân chủ trong giáo dục Theo John Dewey – nhà giáo dục Mĩ : nền giáo dục biết coi trọng tính dân chủ là một nền giáo dục tiến bộ Do đó, phát huy khả năng phản biện của học sinh là một yếu tố thúc đẩy sự tiến bộ trong giáo dục Đây cũng đã và đang là mong muốn của lãnh đạo các cấp ngành giáo dục

Trang 4

Xu hướng đề thi THPTQG những năm gần đây, Bộ GD và ĐT có xu hướng ra đề mới: Ở câu 4 phần đọc hiểu (thang điểm là 1,0) thường là câu hỏi:

“Suy nghĩ của anh chị…” về một vấn đề được nêu ra ở văn bản (đoạn trích đọc hiểu ở trên) Đây là câu hỏi để học sinh có thể phát triển được tư duy phản biện Phương hướng đáp án có thể là: đồng tình, không đồng tình, hoặc đồng tình một phần tùy theo quan điểm chính kiến của học sinh

Đặc biệt, trong kì thi học sinh giỏi các cấp môn Ngữ văn cũng đánh giá rất cao những bài học sinh thể hiện tư duy phản biện sắc sảo, đưa ra được dẫn chứng và lý lẽ thuyết phục, để phản bác những quan điểm sai, thiếu căn cứ Rõ nhất là ở ý học sinh nêu ra được phản đề, đưa ra ý kiến trái ngược với vấn đề của

đề bài, thể hiện cái nhìn toàn diện, sâu sắc Minh chứng rõ nét nhất là đề thi HSGQG năm 2019, câu nghị luận văn học yêu cầu như sau: “Rồi đây, có thể

xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm thơ Lúc đó, sáng tạo văn học có còn

là độc quyền của con người"?Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình Rõ ràng để giải quyết được tốt đề bài trên, học sinh không

thể thiếu được tư duy phản biện

Hơn nữa, “văn học là nhân học”, dạy chữ phải đi đôi với dạy người Trong mỗi giờ văn, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc giúp các em khám phá cái hay cái đẹp của văn chương nghệ thuật; mà còn phải trau dồi cho học sinh những kỹ năng cần thiết như kỹ năng tranh luận, giao tiếp, bộc lộ tư tưởng, tình cảm… Vì vậy, việc vận dụng tư duy phản biện trong văn nghị luận là một phương pháp hiệu quả

Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi thấy bên cạnh quá trình giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức về các tác phẩm văn học, thì việc rèn kỹ năng làm bài cho học sinh là một khâu then chốt quyết định chất lượng Triết lý về con cá và cần câu luôn luôn đúng đắn, giúp học sinh trở thành một chủ thể độc lập và sáng tạo Đây cũng chính là một trong những đích cần đạt tới của giáo dục Việt Nam hiện nay Vì vậy việc rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh có ý nghĩa quan thiết

Trang 5

Như vậy có thể kết luận rằng trang bị cho học sinh không đơn giản là kiến thức cơ bản về tác phẩm, mà quan trọng hơn giáo viên giúp các em có kĩ năng làm bài NLVH dạng liên hệ đối sánh một cách nhuần nhuyễn là khâu then chốt quyết định thành công trong kì thi THPTQG năm nay

Hơn nữa, các tác phẩm văn học văn xuôi lớp 12 và lớp 11 được chọn lọc đọc hiểu trong chương trình THPT đều là những tác phẩm xuất sắc của những tác giả lớn Trong xu hướng đổi mới của giáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh, đây vẫn là những tác phẩm có giá trị vững bền, góp phần không nhỏ trong việc bồi đắp tâm hồn, hoàn thiện nhân cách cho học sinh biết sống yêu thương, nhân ái, hoà nhập cùng cộng đồng, nhận biết và trân trọng giữ gìn những giá trị đích thực của cuộc sống Đây cũng là những tác phẩm thuộc trọng tâm kiến thức để ôn thi THPTQuốc gia, thi học sinh giỏi các cấp… Vì vậy thực

hiện đề tài: Rèn kỹ năng làm câu nghị luận văn học trong bài thi THPTQG (dạng bài liên hệ đối sánh)có ý nghĩa thiết thực với giáo viên và học sinh trong

cả quá trình dạy và học

IV Thời gian áp dụng:

Các năm học : 2010 - 2011; 2011 - 2012; 2012 - 2013; 2013 - 2014; 2014

- 2015, 2015 - 2016, 2016 - 2017, 2017 – 2018, 2018 – 2019

V Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được

Là giáo viên dạy văn cấp THPT, thực hiện đề tài Phản biện trong văn nghị luận, cũng là một cách chúng tôi tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn

nghiệp vụ Hơn nữa, chúng tôi mong muốn qua đề tài này sẽ giúp học sinh rèn được kỹ năng thể hiện quan điểm riêng, kỹ năng tư duy độc lập, kỹ năng lập luận, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm bài văn nghị luận – một dạng đề trọng tâm trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT, một cách tốt nhất Đồng thời, đây cũng là cơ hội để chúng tôi được trao đổi với đồng nghiệp về một dạng đề bài mới mẻ

Trang 6

Chúng tôi đã vận dụng sáng kiến này để ôn thi học sinh giỏi tỉnh, thi

Ôlimpic Đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ, bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia…

ôn thi Đại học, ôn thi THPT Quốc gia và đã đạt được những kết quả khả quan

Cụ thể :

Năm học

Kết quả Thi HSG tỉnh Thi HSG Khu vực

ĐBDH và BB

Thi HSG Quốc gia Thi ĐH

2010-2011 Lớp 12 Văn : 11

giải (1 nhất, 4 nhì, 6 ba )

6/6 HS đạt giải (2 nhì, 1 ba, 2 khuyến khích

Điểm TB môn Văn đạt 7,87

đạt giải (2 Ba, 1 khuyến khích) 2012-2013 Lớp 10 Văn: 3/3 hs

đạt giải (1 nhì, 2 ba.)

2013-2014 Lớp 11 và 12

Văn : 15 giải ( 1 nhất, 8 nhì, 6 ba)

Lớp 11 Văn :3/3 hs đạt giải (2 nhất, 1

ba )

3/6 hs đạt giải (3 giải ba )

Điểm TB môn văn đạt 7,81

2014-2015 Lớp 12 Văn: 15

giải (7 giải nhì,

8 giải ba)

Đạt 5/6 hs đạtgiải (2 nhì, 2 ba, 1 khuyến khích)

2015-2016 Lớp 10 Văn: 3/3 hs

đạt giải (1 Ba, 2 khuyến khích)

Trang 7

giải (3 nhì, 5

Ba, 7 khuyến khích)

đạt giải (1 Ba, 2 khuyến khích)

khích

2017-2018 Lớp 12 Văn: 17

giải (1 nhất, 4 giải nhì, 5 giải

ba, 7 khuyến khích)

Năm học

2018 -

2019

Lớp 10 Văn: 3/3 hs đạt giải (2 huy chương bạc, 1 khuyến khích)

VI Điều kiện và khả năng áp dụng

Nội dung sáng kiến này có thể vận dụng rộng rãi trong quá trình dạy và học ở các bậc: Tiểu học, THCS, THPT.Các thầy cô giáo và học sinh có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, hội thảo chuyên đề; vận dụng tài liệu trong quá trình dạy học ở các cấp…để đạt hiệu quả thiết thực, phù hợp với yêu cầuđổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh hiện nay

Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến

Vũ Thị Yến

Lê Trâm Anh

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG

1 Tư duy phản biện

1.1 Khái niệm

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Tư duy phản biện hay là tư

duy phân tích là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá

một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm…Tư duy phản biện không chỉ đơn thuần là sự tiếp nhận và duy trì thông tin thụ động Đó có thể tóm tắt là quá trình tư duy tìm lập luận phản bác lại kết quả của một quá trình tư duy khác để xác định lại tính chính xác của thông tin.”

- Tư duy phản biện hiểu một cách đơn giản nhất, đó là khả năng suy nghĩ và tư

duy đa chiều, xem xét mọi khía cạnh của vấn đề để tìm ra chân lý, chứ không chấp nhận mọi ý kiến một cách dễ dãi ngay từ đầu

1.2 Vai trò

Trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học do Bộ trưởng Bộ

GD-ĐT ban hành có nói: “Hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng

tạo và biết phản biện” Tư duy phản biện có ý nghĩa hết sức to lớn

Trước hết, tư duy phản biện sẽ giúp học sinh thoát khỏi tư duy khuôn mẫu, lỗi thời của cách học thụ động Học sinh sẽ chủ động tiếp cận, khám phá tri thức, suy nghĩ một vấn đề theo nhiều cách khác nhau, chứ không nhất nhất tán đồng theo quan điểm áp đặt của giáo viên Nhờ vậy, học sinh sẽ rèn luyện được thói quen tư duy độc lập, sáng tạo

Thứ hai, nhờ có tư duy phản biện, học sinh có thể nhìn nhận, đánh giá một vấn đề ở nhiều góc độ, từ đó tìm ra một quan điểm sống tích cực, một bản lĩnh

Trang 9

trong thời hiện đại, khi cuộc sống ngày càng hối hả, xô bồ với biết bao vấn đề phức tạp, vàng thau lẫn lộn, tốt xấu đan xen

Thứ ba, để phản biện được những quan điểm trái chiều, chúng ta sẽ học được cách lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác, đồng thời cũng tự tin, mạnh dạn, cởi mở để bày tỏ chính kiến của mình trước cộng đồng

Thứ tư, tư duy phản biện sẽ là động lực để học sinh nỗ lực, tìm hiểu khám phá tri thức sách vở và tích lũy hiểu biết đời sống, để có thể chuẩn bị cho mình những lý lẽ sắc bén hơn trong tranh luận

Đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu đào tạo con người toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng phản biện của học sinh cần thiết hơn bao giờ hết Trang bị cho thế hệ trẻ tư duy phản biện cũng có nghĩa là trang bị cho các em khát vọng đổi mới và khát vọng thành công trong cuộc sống

1.3 Yêu cầu

Muốn phát huy được khả năng phản biện của học sinh, trước hết cả người dạy và người học đều phải có tư duy phản biện

Người học phải luôn suy nghĩ về những điều giáo viên trình bày, biết đặt

ra và trả lời được các câu hỏi như “Tại sao lại như vậy?”, “Như thế thì đã thực

sự đúng đắn chưa?”…; không tiếp thu kiến thức một cách thụ động, một chiều

mà phải chủ động, chọn lọc, luôn luôn hướng tới chân lí của vấn đề Nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách biện chứng Người học phải biết, nhìn nhận, đánh giá mọi vấn đề theo những cách mới mẻ, thậm chí, khi cần thiết có thể phủ nhận lại cách đánh giá của giáo viên Muốn phản biện được, học sinh cần có hiểu biết sâu rộng về vấn đề Đây chính là yếu tố thúc đẩy người học luôn luôn có ý thức tìm tòi, khám phá nếu muốn vươn tới đỉnh cao tri thức Học sinh cũng phải có kĩ năng lập luận (bao gồm các kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh…) mới có thể phản biện tốt vấn đề Trong phản biện, cần thuyết phục được người khác hướng

Trang 10

tới những kết luận chính xác hơn Phản biện phải mang tính khách quan, khoa học cần có tâm sáng, tầm cao, cách đúng

Giáo viên cần coi tư duy phản biện là tư duy của con người hiện đại Quan hệ thày – trò phải thực sự thân thiện, chân lí của vấn đề phải được đưa lên hàng đầu Giáo viên tạo môi trường thuận lợi cho những phản biện của học sinh, bằng các biện pháp động viên, khích lệ làm cho học sinh thấy tự tin, hào hứng Phản biện của học sinh có thể chưa đạt đến chân lí thì giáo viên cũng nên kết thúc bằng những lời động viên, tránh chỉ trích gây tâm lý căng thẳng, hoặc đẩy trò vào tình trạng tự ti,mặc cảm, không dám tiếp tục thể hiện quan điểm của mình

2 Tư duy phản biện trong văn nghị luận

Văn nghị luận là kiểu bài người viết bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình trước một vấn đề đặt ra trong đời sống (nghị luận xã hội), hoặc trong văn học (nghị luận văn học)

Trong những năm gần đây, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá trong

môn Ngữ văn theo hướng tăng tính mở trong đề bài, nhất là phần nghị luận xã

hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh chủ động, sáng tạo trong trình bày, lập luận theo quan điểm của mình Đó chính là cơ hội phát huy khả năng phản biện của học sinh

Hơn nữa,tác phẩm văn học là một kết cấu mời gọi Bạn đọc là người đồng sáng tạo với nhà văn Việc tiếp cận giá trị của tác phẩm phụ thuộc vào thị hiếu thẩm mĩ, năng lực cảm thụ, trình độ, sự trải nghiệm… của mỗi người Vì vậy, khi bàn luận về văn chương, mỗi người có thể có những cách khám phá khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Vì vậy, trong việc dạy và học văn, tư duy phản biện rất quan trọng Những góc nhìn đa chiều sẽ làm dày thêm lớp trầm tích ý nghĩa của tác phẩm Tuy nhiên mọi quan điểm chỉ được đánh giá cao trên cơ sở khoa học

Trang 11

3 Cách thức vận dụng tư duy phản biện trong văn nghị luận

Phản biện một quan điểm sai có thể thực hiện bằng nhiều cách: phản biện luận điểm, phản biện luận cứ, phản biện cách lập luận, hoặc kết hợp cả ba cách thật linh hoạt

3.1 Phản biện một luận điểm

Phản biện một luận điểm tức là vạch ra cái sai của bản thân luận điểm Trước hết, học sinh phải đọc, nghiền ngẫm thật kỹ để phát hiện ra những luận điểm sai lầm, chuẩn bị lý lẽ và dẫn chứng thuyết phục, để trình bày quan điểm riêng của mình một cách tự tin Trong quá trình phản biện, học sinh phải

có thái độ khách quan, chừng mực, phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng tranh luận

Cách thức để phản biện một luận điểm là, chúng ta có thể:

Thông thường chúng ta hay dùng thực tế, và dùng phép suy luận để phản biện

Ví dụ 1: Dùng thực tế để phản biện: Chẳng hạn nghiên cứu “Truyện

Kiều”, Nguyễn Bách Khoa đưa ra nhận định: “Nó (Truyện Kiều) chứa chan một

chất tàn héo, tiêu ma (chất thơ)… Cái đẹp của “Truyện Kiều” ngày nay chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thưởng ngoạn được” Luận điểm này

có hai điểm chưa thỏa đáng: Thứ nhất: chất thơ của “Truyện Kiều” chứa chan

một sự tàn héo Thứ hai: chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thưởng ngoạn được “Truyện Kiều” Để phản biện ý kiến này, chúng ta có thể chỉ ra:

Trang 12

Trong thực tế tác phẩm chất thơ của “Truyện Kiều” không phải là sự tàn héo,

mà là tình yêu tha thiết đối với con người, là nỗi đau khi phẩm giá con người bị chà đạp Hơn nữa, nhận định đó trái với thực tế đời sống, bởi những người có chí tiến thủ, không bao giờ chịu thụt lùi cũng vẫn yêu mến “Truyện Kiều”

Ví dụ 2: Dùng phép suy luận để làm rõ cái sai của luận điểm Chẳng hạn

để phản biện luận điểm trên, chúng ta có thể suy luận như sau: Nếu luận điểm:

Cái đẹp của “Truyện Kiều” ngày nay chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thưởng ngoạn được” là đúng, thì đa số người dân Việt Nam, những người

chắc chắn là không muốn thụt lùi, sẽ quay lưng lại với “Truyện Kiều” Nhưng thực sự không phải như vậy “Truyện Kiều” luôn là cuốn sách gối đầu giường của rất nhiều người dân Việt Nam

Ví dụ 3: Tôi còn nhớ một cuộc đối đáp rất thú vị giữa nhà soạn kịch Anh Bớc-na Sô và cô vũ nữ Bớc-na Sô khi đã nổi tiếng, có một cô vũ nữ đề nghị

ông cưới cô ta với lý do: “Nếu ông và em lấy nhau thì con của chúng ta sẽ

thông minh như ông và xinh đẹp như em, thật là tuyệt vời” Bớc-na Sô hóm

hỉnh bác lại: “Nếu tôi và em lấy nhau, mà con cái chúng ta lại đẹp như tôi và

thông minh như em, thật đáng sợ biết bao!”

3.2 Phản biện một luận cứ

Phản biện một luận cứ tức là vạch ra tính chất sai lầm, giải tạo trong lý lẽ

và dẫn chứng được sử dụng

Ví dụ, vào thời kì trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhất Chi Mai

phê bình Vũ Trọng Phụng: đọc văn Vũ Trọng Phụng, thấy “phẫn uất, khó

chịu…vì cảm thấy tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen ẩn trong đó” Sự chỉ

trích của Nhất Chi Mai ở đây gồm ba luận cứ: hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen Và

theo ông, đó toàn là những thứ xấu xa, đê tiện cả Vũ Trọng Phụng đã phản biện lại Nhất Chi Mai một cách chặt chẽ, thuyết phục:

Trang 13

“Hắc ám, có! Vì tôi vốn là người bi quan Căm hờn, cũng có, vì tôi cho rằng cái xã hội nước nhà mà lại không đáng căm hờn, mà lại cứ vui vẻ trẻ trung, trưởng giả, ăn mặc tân thời, khiêu vũ, v.v…như các ông chủ trương thì một là không muốn cải cách gì xã hội, hai là ích kỷ một cách đáng sỉ nhục

Còn bảo nhỏ nhen thì là thế nào?

Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người

có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của bọn dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có những chuyện

ô uế, dâm đãng, mà bảo là nhỏ nhen, thì há dễ Zola, Hugo, Malraux, Dostoievski, Maxime Gorki, lại không cũng là nhỏ nhen?”

Vũ Trọng Phụng đã bác lại đúng ba luận cứ, khẳng định nội dung tiến bộ và tính chiến đấu của ông đối với xã hội thối nát đương thời

3.3 Phản biện cách lập luận

Phản biện cách lập luận là chỉ ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi logic trong lập luận của đối phương, chỉ ra sự đổi thay khái niệm trong quá trình lập luận

Ví dụ: Trong bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức, tác giả

viết: “Một nước không thể không có quốc-hoa, Truyện Kiều là quốc-hoa của ta;

một nước không thể không có quốc-túy, Truyện Kiều là quốc-túy của ta; một nước không thể không có quốc-hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta.”

Cách lập luận của Phạm Quỳnh ngợi ca giá trị của “Truyện Kiều” trong nền văn hóa dân tộc nói chung là đúng, nhưng trong điều kiện lúc bấy giờ cách lập luận như vậy có phần phiến diện, và chưa chặt chẽ, làm như “Truyện Kiều”

là tất cả, ngoài kiệt tác này ra không có gì giá trị hơn nữa Ngô Đức Kế đã phản biện lại cách lập luận ấy như sau: “… thế thì từ Gia Long về trước, chưa có Truyện Kiều, thì nước ta không quốc hoa, không quốc túy, không quốc hồn, thế

Trang 14

thì cái văn trị vũ công mấy triều… đều là ở đâu đem đến…” Với cách lập luận này, Phạm Quỳnh đã không thể trả lời được

Các cách thức phản biện trên đây, trong thực tế nhiều khi không tách rời nhau, mà liên kết với nhau để tạo nên những lập luận chặt chẽ Mục đích của phản biện là xác nhận sự thật, bảo vệ chân lý Nếu xa rời chân lý thì phản biện trở thành ngụy biện

Trang 15

CHƯƠNG II: MỘT SỐ DẠNG ĐỀ VỀ TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG

VĂN NGHỊ LUẬN

1 Tư duy phản biện trong nghị luận xã hội

Nghị luận xã hội là kiểu bài yêu cầu học sinh trình bày quan điểm của mình về một vấn đề xã hội (một tư tưởng đạo lý, một hiện tượng đời sống, hoặc một vấn đề xã hội được đặt ra trong một tác phẩm văn học) Cuộc sống vốn đa diện, nhiều chiều Việc vận dụng tư duy phản biện trong kiểu bài này giúp học sinh nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ, rèn luyện tư duy sắc sảo, khả năng suy nghĩ độc lập, để có thể trình bày quan điểm một cách thuyết phục

1.1 Nghị luận về tư tưởng đạo lý

Phần lớn những tư tưởng đạo lý được đưa ra cho học sinh bàn bạc là những tư tưởng đúng, là bài học quý giá về cách sống, lý tưởng sống cao đẹp …

mà tuổi trẻ cần hướng tới Tuy nhiên, một quan điểm rất khó có thể bao chứa được toàn bộ chân lý của đời sống Vì vậy, vận dụng tư duy phản biện để bổ sung, hoặc lật ngược lại vấn đề của đề bài là một kỹ năng tốt, giúp học sinh bàn luận về ý kiến một cách toàn diện, sâu sắc hơn

Ví dụ minh họa:

Đề bài 1 : Suy nghĩa của anh (chị) về câu tục ngữ: “Thất bại là mẹ thành công”

Đây là câu tục ngữ rất quen thuộc với học sinh, nhưng để bàn luận sâu sắc

về nó thì không phải em nào cũng làm được Phần lớn các em chỉ dừng lại ở việc tán đồng xuôi chiều với bài học mà tác giả dân gian gửi gắm: Sau mỗi lần thất bại con người sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm qúy giá cho mình

để trưởng thành, vững vàng hơn Mà rất ít học sinh lật ngược được vấn đề: Không chỉ “Thất bại là mẹ thành công”, mà thành công cũng là mẹ của thành công Thành công sẽ tạo cho chúng ta một cơ sở vững chắc, đặc biệt là sự tự tin vào bản thân – một yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của con người;

Trang 16

thêm vào đó thành công sẽ đem lại cho con người những điều kiện cần thiết để vươn tới thành công tiếp theo

Đề bài 2: Suy nghĩa của anh (chị) về ý kiến của Ban-zắc: “Khi công nhận cái yếu của mình, con người trở nên mạnh mẽ”

Đây là một bài học rất bổ ích với học sinh phổ thông, bởi tuổi trẻ bồng bột, luôn khao khát tỏa sáng, và đôi khi chưa ý thức được hết về giới hạn của bản thân mình Với đề bài này, đa phần các em sẽ khẳng định được: Khi công nhận cái yếu của mình, tức là con người đã có đủ dũng cảm và năng lực nhận thức để kiểm điểm bản thân một cách khách quan, tòan diện Điều ấy giúp con người có nghị lực, trưởng thành, “trở nên mạnh mẽ” hơn Nói cách khác, một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh cho con người trong cuộc sống là nhận thức đúng đắn về điểm yếu của bản thân và đủ dũng cảm, trung thực để công nhận điều này Tuy nhiên, để bài viết sắc sảo hơn, học sinh cần vận dụng tư duy phản biện để đưa ra ý kiến trái ngược với đề bài, đó là: Không chỉ khi nhận thức được rõ hạn chế của mình con người mới trở nên mạnh mẽ, mà khi hiểu được thế mạnh của bản thân, và phát huy được tận độ năng lực của mình, con người cũng sẽ làm nên được những điều kì diệu “Công nhận cái yếu của mình”, không

có nghĩa là tự ti, mặc cảm, cũng không tự cao tự đại, mà biết ứng xử một cách khiêm tốn, đúng mực, biết mình biết ta để vươn lên trong cuộc sống

Đề bài 3: Nhà tâm lý học Christopher Stont đã nói: “Trong thâm tâm, con nguời thường ái ngại trước cái mới, cái tiến bộ Chính vì thế họ cố nép mình sau những định kiến” Suy nghĩa của anh (chị) về ý kiến trên

Đứng trước một đề văn nghị luận, nếu học sinh chỉ quen tư duy một chiều thì bài viết sẽ nông cạn, hời hợt Không phải lúc nào ý kiến của đề bài nêu ra cũng đúng đắn, tòan diện Vì vậy, khi gặp những đề bài này, học sinh cần vận dụng lý lẽ và dẫn chứng sắc bén để phản biện vấn đề Ví dụ đối với đề bài trên, một học sinh đã viết như sau:

Trang 17

Mỗi con người được sinh ra ở những quốc gia khác nhau, hòan cảnh khác nhau, thời điểm khác nhau, song đều giống nhau ở chỗ đều được lớn lên, được hít thở bầu không khí mang đậm bản sắc văn hóa của gia đình mình, dân tộc mình Những gì thuộc về truyền thống, thuộc về bản sắc dường như đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi người ngay từ khi là những đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời cho đến tận giây phút trút hơi thở cuối cùng Christopher Stont quả không sai khi nắm bắttâm lý rất chung của mỗi con người “Định kiến” là những gì đã trở nên lỗi thời, cổ hủ, song vì lí do gì mà đôi khi người ta vẫn sùng bái, tôn thờ?

Đó là bởi vì trong chúng ta luôn ẩn náu một kẻ thù mang tên “sợ hãi” Ta sợ quay lưng lại với những gì được cho là truyền thống, là đạo lý nghìn đời của dân tộc Ta sợ bị quy kết là kẻ “có mới nới cũ” Ta sợ mình không có đủ khả năng để tiếp nhận và chiếm lĩnh những điều mới mẻ, tiến bộ Ta sợ những thứ tân kì, mới mẻ kia biết đâu lại là những “bông hoa ác”, hay những “luồng gió độc” mang đến cho ta sự nguy hiểm Lúc nào ta cũng sợ, cũng toan tính theo kiểu:“Giữ cái cũ thì có ba điều lợi, tiếp thu cái mới thì có năm điều hại” để rồi từ thời đại này qua thời đại khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác, ta cứ mãi ru mình trong những định kiến, “những chiếc bao cũ kĩ”, thậm chí đã trở nên rách nát, lạc hậu Không đâu xa lạ, ngay chính ngôi nhà ta đang sống, lúc nào ta cũng mãi là đứa trẻ bé bỏng và yếu ớt cần được sự chở che, ôm ấp của cha mẹ

Để rồi ngay đến những ước mơ, ngay đến tương lai, thậm chí chuyện hôn nhân trọng đại cũng một tay cha mẹ sắp xếp Đó là lý do vì sao đến tận hôm nay, kỉ nguyên của thời hiện đại, của khoa học công nghệ mà ta vẫn được nhà trường dạy cho những điều đã trở nên “lỗi thời”: Rằng Việt Nam là quốc gia có “rừng vàng biển bạc”, trong khi thống kê mới nhất, tài nguyên thiên nhiên nước ta đang cạn kiệt đến mức báo động Vì lí do gì mà ta vẫn được dạy là: Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, trong khi đó người dân trong nước vẫn không đủ gạo để ăn, biết bao người dân đã và đang không thể sống sót qua hôm nay Thật không sai khi nói rằng, chúng ta luôn bị ảnh hưởng bởi quan niệm:

Trang 18

“Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”

Thế nhưng, bạn thử nghĩ xem, trong cuộc sống hội nhập hiện nay, chúng

ta đang sống trong một thế giới phẳng, thế giới của phát minh, của khoa học công nghệ, sẽ ra sao nếu chúng ta cứ sống mãi với quá khứ vàng son, mà quên

đi câu trả lời hoàn hảo nhất cho giá trị của những điều tiến bộ Còn nhớ khi văn học phương Tây tràn vào Việt Nam, ban đầu rất nhiều người còn e dè, không chấp nhận Nhưng rồi ta vẫn phải tiếp thu những điều tân kì mới lạ đó và thực tế

đã chứng minh chúng ta hòa nhập nhưng không hòa tan, hòa hợp để mình tốt lên, đẹp lên Cất đi những bộ áo tứ thân mớ ba mớ bảy gây khó khăn trong đi lại, con người Việt Nam cũng trở nên năng động trong những bộ quần áo công

sở Từ bỏ tục nhuộm răng đen, con người Việt Nam trở nên đẹp hơn với nụ cười

“như mùa thu tỏa nắng” của bộ răng trắng sáng Từ bỏ những hủ tục khắt khe của thời đại phong kiến, con người Việt Nam trở nên nhạy bén, linh hoạt, thỏa sức đam mê, sáng tạo trong những ước mơ của mình Thế mới biết, đôi khi việc cởi bỏ chiếc áo cũ không phải là điều tồi tệ, trái lại một chiếc áo mới giúp ta trở nên đẹp hơn, rạng rỡ hơn, thành công hơn trong cuộc sống

Tất nhiên, mọi thứ đều có giới hạn của nó Việc chúng ta chấp nhận cái

“dị kỉ”, cái mới, không có nghĩa là ta đánh mất đi bản sắc của mình, không có nghĩa là ta a dua, chạy theo thế giới Bạn thử nghĩ xem, trên con đường cả nhân loại băng về phía trước, đôi khi chúng ta chậm lại, dừng lại một phút thôi để ngắm nhìn những gì ta đang có, để nâng niu lời mẹ dạy bảo con gái phải giữ cho mình nét duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam, để trân trọng giọng kể đầy tự hào của ông bà về một thời chiến đấu anh dũng của dân tộc, về đức tính cần cù, siêng năng và tinh thần đoàn kết yêu thương nhau của đồng bào ta chậm lại để biết trân quý và lưu giữ những giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa của gia đình, dân tộc mình Ta yêu những bức họa nổi tiếng của Pháp, nhưng

Trang 19

mới nhưng cũng phải xem xét cái mới ấy có thực sự phù hợp với ta hay không? Hãy luôn biết rộng mở tâm hồn để tiếp thu tinh hoa, nhưng cũng cần biết “đóng cửa” để lưu giữ giá trị của riêng mình

(Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Học sinh lớp 12 chuyên Văn)

1.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Cuộc sống vốn đa sắc màu, đa sự, đa đoan Nên những vấn đề đời sống được nêu ra để học sinh bàn bạc cũng dung chứa những góc nhìn đa diện Bởi vậy, tư duy phản biện đặc biệt cần thiết trong những dạng dề này

Đề bài 1: Hiệu ứng đám đông đang là vấn đề làm xôn xao dư luận trong thời gian vừa qua Suy nghĩa của anh (chị) về hiện tượng này

Ở đề bài này, giáo viên không chỉ gợi mở để học sinh thấy đượcnhững tác động tiêu cực của hiệu ứng đám đông như: Hội chứng đám đông gây nên những hậu quả nặng nề cho cộng đồng nhưng hiện tượng này đang xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành cách hành xử phi văn hóa, thậm chí vô nhân tính giữa người với người Chúng ta có thể kể đến những những minh chứng hùng hồn như vụ hôi bia, hôi ngô ở Đồng Nai, cả xã đánh chết trộm chó, hàng nghìn công nhân xô xát với bảo vệ, hàng nghìn người chen chúc để được ăn miễn phí buffet hay đến việc người dân đổ xô đi lễ chùa, lễ hội, mua vàng Đặc biệt, gần đây, chúng ta thật sự đau lòng trước vụ việc hai người phụ nữ vì hoàn cảnh éo le nghèo khổ phải đi bán tăm, lại bị nghi ngờ là bắt cóc trẻ con và bị đám đông hành hung đến trọng thương, phải nhập viện cấp cứu Quả không sai khi ai đó đã nói: Hiệu ứng đám đông có thể “giết chết” một con người

Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải kích thích tư duy phản biện để các em thấy, chúng ta không thể phủ nhận hiệu quả tích cực của hiệu ứng đám đông nếu biết khai thác đúng cách và có mục đích chính đáng Hiệu ứng đám đông có thể giúp một cộng đồng người thực hiện được những điều lớn lao hay vĩ đại mà một vài người riêng lẻ không thể thực hiện được Khi một điều gì đó được sự tham gia, đồng thuận của nhiều người thì rất dễ thành công, đúng như cha ông ta đã

Trang 20

dạy: “Nhiều tay vỗ nên bộp”, “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại

nên hòn núi cao” Cuộc kháng chiến chống Pháp, và chống Mĩ trường kì, khi cả

dân tộc ta cùng ra trận để đánh tan hai đế quốc hùng mạnh đã minh chứng cho điều đó

Đề bài 2: Về hiện tượng một số giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đang bị mai một

Ở đây, đa phần học sinh sẽ đưa ra dẫn chứng thực tế để khẳng định sự mai một của một số giá trị văn hóa truyền thống trên các lĩnh vực như: trong đời sống, tín ngưỡng, tôn giáo, trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật (hội họa, âm nhạc, sân khấu điện ảnh, )

Nhận thức được như vậy cũng đã rất quý Nhưng chúng ta cần phải hướng cho các em có cái nhìn sâu hơn, biết bàn bạc mở rộng và lật ngược lại

vấn đề: Không phủ nhận hiện nay một số giá trị văn hóa truyền thống đang bị

mai một Nhưng chúng ta còn đủ niềm tin cho một thế hệ trẻ dù cuộc sống số hóa đang cuốn họ vào vòng quay chóng mặt, nhưng họ vẫn tha thiết một tình yêu với những gì là “quốc hồn quốc túy” Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của cuộc sống hiện đại, nhưng rất nhiều thanh niên các dân tộc Mường, Thái, Mông vẫn rất yêu thích bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình Họ thường xuyên mặc quần áo dân tộc, sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình trong đời sống hàng ngày chứ không chỉ trong các ngày lễ hội Nam nữ thanh niên vẫn say mê học hát then, đàn tính, học nghề thủ công truyền thống; cùng nhau hát, biểu diễn trò chơi dân gian trong những ngày lễ hội Hãy lắng nghe tiếng lòng của một nhà thơ nữ, thế hệ 8X:

“12 tháng bộn bề, 12 giờ hối hả Vòng đua cuối chạy về năm mới Tất bật quá, tất niên ngày không hề cũ

Trang 21

Kịp vớt nồi bánh chưng xanh mướt Kịp đơm đĩa xôi nếp thơm lừng Kịp ngắm cây đào hé cánh môi bừng mắt lộc Kịp ngửi mùi khói, mùi âm thanh của những bếp ăn, những

căn nhà bận rộn

Kịp cùng tắm lá mùi cho dậy thì mãi mãi

Kịp tĩnh tâm khấn vái ông bà

(Vi Thùy Linh - Bàn tay) Trong cuộc sống hiện đại vội vã, lo toan, tưởng rằng những nét đẹp của Tết xưa

đã bị phai nhòa Nhưng những hương sắc ấy, vẫn đậm đà trên trang thơ của thế

hệ 8X như một sự khẳng định, thế hệ trẻ vẫn dành tình yêu và quyết tâm giữ gìn cội nguồn bản sắc, văn hóa Việt

Đề bài 3: Tình yêu tuổi học trò

Đề bài đã nêu ra một vấn đề muôn thuở với lứa tuổi học trò Vì vậy, học sinh sẽ bàn luận rất sôi nổi Theo kinh nghiệm của chúng tôi, các em sẽ chia theo hai quan điểm: một là ủng hộ tình yêu tuổi học trò, hai là phê phán tình cảm này Trong quá trình học sinh tranh luận, các em sẽ rèn luyện được kỹ năng phản biện của mình Những bạn ủng hộ sẽ đưa ra những điều tốt đẹp mà tình yêu tuổi học trò mang lại bảo vệ quan điểm của mình như: Đây là thứ tình cảm trong sáng, tự nhiên của con người mà không ai có quyền ngăn cản Tình yêu sẽ giúp các bạn hòa thiện bản thân, giúp đỡ nhau tiến bộ trong học tập, trau dồi được một số kỹ năng như biết lắng nghe, biết quan tâm và chăm sóc người khác… Tình yêu học trò cũng giúp chúng ta trưởng thành hơn, chín chắn hơn… Để phản bác lại những lý lẽ trên, những học sinh khác lập luận rằng: Không nên yêu

ở lứa tuổi học trò vì lúc này học sinh chưa phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý,

vì vậy những cảm xúc tiêu cực khi yêu như: ghen tuông, giận hờn sẽ khiến cho chúng ta không thể tập trung học tập, thậm chí có bạn còn có hành động dại dột

Trang 22

như bỏ nhà ra đi, tử tự… làm cha mẹ đau lòng Hơn nữa, nếu các bạn không làm chủ được bản thân, đi quá giới hạn tình cảm trong sáng thì sẽ gây ra những hậu quả đáng tiếc như có thai ngoài ý muốn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm sinh lý

Đề bài 4: Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến của Euripides: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận”

Câu nói khẳng định vai trò to lớn của gia đình trong cuộc đời của mỗi con người Tuy nhiên, học sinh cũng cần lật ngược lại vấn đề: Trong cuộc sống có rất nhiều người ngay từ nhỏ đã không có được sự chở che, đùm bọc, giáo dục của gia đình nhưng vẫn thành đạt, trở thành những con người hữu ích cho cộng đồng Hơn nữa, con người là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, trong cuộc sống không chỉ có gia đình là nền tảng, mỗi con người trưởng thành trong sự hòa đồng với xã hội với những nguồn tình cảm rất đáng trân trọng: bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau Vì vậy, mỗi chúng ta phải hài hòa giữa tình riêng và nghĩa chung, không chỉ bảo vệ gia đình mình, mà còn phải trân trọng những gia đình khác và góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả xã hội

2 Tư duy phản biện trong nghị luận văn học

Xuất phát từ đặc trưng của tác phẩm văn học là một kết cấu mở với cấu trúc ba tầng: tầng ngôn từ, tầng hình tượng và tầng tư tưởng Ngôn ngữ văn học

vốn hàm súc, đa nghĩa, “ngôn tận nhi ý bất tận” Hình tượng văn học là phương

tiện để tác giả khái quát cuộc sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình Qua tấm thảm ngôn từ và thế giới hình tượng, mỗi người đọc sẽ có cách cảm thụ khác nhau về chủ đề của tác phẩm và thông điệp nhân sinh của tác giả Trong quá trình bạn đọc đồng sáng tạo với nhà văn, mỗi độc giả tùy theo trình độ, lứa tuổi, sự tinh tế trong cảm nhận, sẽ có những cách khám phá khác nhau Điều

Trang 23

chứng thuyết phục để bảo vệ quan điểm của mình Tư duy phản biện là một điều thiết yếu trong giờ đọc hiểu, cũng như trong quá trình học sinh làm văn nghị luận văn học

Khi tìm hiểu truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng tôi có đặt ra cho học sinh vấn đề: Cô Tấm có hiền lành, tốt bụng như câu thành ngữ “hiền như cô Tấm”? Đây quả là một vấn đề có khả năng kích thích được tính tranh biện, đối thoại của học sinh với nhiều ý kiến trái chiều Nhưng tựu chung lại có hai luồng quan điểm trái ngược nhau Nhóm thứ nhất cho rằng: Tấm không hiền lành như câu thành ngữ dân gian “hiền như cô Tấm” Bởi vì Tấm đã ra tay giết hại người em gái cùng cha khác mẹ với mình Độc ác hơn Tấm đã làm mắm Cám gửi về cho

mụ dì ghẻ ăn Đó là việc làm dã man, phi nhân tính Nhóm thứ hai phản biện lại: Xuất phát từ đặc trưng nhân vật trong truyện cổ tích nói riêng và văn học dân gian nói chung là nhân vật chức năng, tức là họ được sáng tạo ra để thực hiện một chức năng nào đó Chẳng hạn nhân vật mang nhiệm vụ đại diện cho cái thiện, đại diện cho cái ác, đồng thời thể hiện những triết lý sâu sắc của dân gian Dân gian đã để cho Tấm giết Cám nhằm thể hiện triết lý: “Ác giả ác báo”, giết người phải đền mạng Mẹ con Cám đã tàn ác đến độ lạnh lùng, thản nhiên, giết hại Tấm hết lần này đến lần khác, thì nhất định phải bị quả báo Như vậy với tư tuy phản biện giờ văn diễn ra khá sôi nổi, vừa rèn luyện được cho học sinh kỹ năng tranh luận, giao tiếp, vừa định hướng giáo dục được nhân cách, tâm hồn cho các em

Chẳng hạn, khi dạy truyện ngắn: “Chí Phèo” của Nam Cao, khi giáo viên nói: Chí Phèo là nạn nhân khốn khổ nhất của xã hội Thực dân nửa phong kiến đang trên con đường phá sản, bần cùng; thì ngay lập tức một học sinh đã giơ tay

ý kiến: Theo em, Chí Phèo không chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống phi nhân tính; mà Chí Phèo còn là phạm nhân Sau khi ra tù, Chí có thể lựa chọn một con đường khác, chứ không nhất thiết phải làm tay sai cho Bá Kiến - trở thành công

cụ của tội ác, gây nên biết bao cảnh đổ máu và nước mắt cho những người dân lương thiện Cái chết của Chí là sự trả giá cho những lỗi lầm mà chính anh đã

Trang 24

gây ra Không phải ai rơi vào hoàn cảnh như vậy cũng tha hóa, biến chất như Chí Những ý kiến trái chiều như vậy từ phía học sinh thật đáng trân trọng biết bao trong giờ học Văn

2.1 Tư duy phản biện khi nghị luận về một tác phẩm thơ trữ tình

Đặc điểm của tác phẩm trữ tình là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc mãnh liệt Thế giới tâm hồn sâu kín là “địa hạt” của những tác phẩm trữ tình Mà mỗi con người lại là một “vũ trụ riêng chứa đầy bí mật”, với những sắc thái cảm xúc

rõ nét dễ nắm bắt, nhưng cũng có những cung mậc rất mơ hồ, mong manh, tinh

tế khó nắm bắt Vì vậy, trước một thi phẩm thường có rất nhiều cách cảm nhận khác nhau, thậm chí trái ngược Vì vậy, việc áp dụng tư duy phản biện để bác bỏ những cách hiểu sai, khẳng định chân lý đúng đắn khi nghị luận về một tác phẩm thơ trữ tình là một việc làm quan thiết

Một số đề bài minh họa:

Đề bài 1: Khi nhận xét về bài thơ “Sóng”, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ thể hiện sự chủ động, mãnh liệt, luôn khao khát tự khám phá, nhận thức của người phụ nữ hiện đại trong tình yêu” Nhưng có ý kiến khác lại cho rằng: “Bài thơ thể hiện vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, thủy chung son sắt của người phụ nữ truyền thống.”Ý kiến của anh (chị) về hai quan điểm trên Hãy

phân tích sự vận động của hình tượng “Sóng” trong hai đoạn thơ sau để làm rõ quan điểm của mình:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”

Ngày đăng: 29/04/2020, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Vương Trí Nhàn, Kinh nghiệm viết truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm viết truyện ngắn
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
6. Nguyên Ngọc, Về một truyện ngắn – “Rừng xà nu”, Nxb Giáo dục H. 1996 7. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11 nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục, H. 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một truyện ngắn – “Rừng xà nu”
Tác giả: Nguyên Ngọc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
9. Phan Ngọc Thu, Để hiểu thêm một số tác giả, tác phẩm Văn học hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu thêm một số tác giả, tác phẩm Văn học hiện đại Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
10. Nguyễn Quang Trung, Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12, Nxb Giáo dục, H. 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12
Tác giả: Nguyễn Quang Trung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
1. Lê A (Chủ biên), Thực hành làm văn lớp 12, Nxb Giáo dục, H. 2009 Khác
3. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Phân tích - bình giảng tác phẩm văn học lớp 11 nâng cao, Nxb Giáo dục, H. 2007 Khác
4. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Phân tích - bình giảng tác phẩm văn học lớp 12 nâng cao, Nxb Giáo dục, H. 2010 Khác
8. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 12 nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục, H. 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w