chuyên đề chuyên sâu, chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi quốc gia. Rèn luyện kĩ năng phản biện trong bài văn nghị luận xã hội. Đây là tài liệu cần thiết cho học sinh và giáo viên. Tài liệu có kèm theo đề ôn tập và có hướng dẫn giải chi tiết
Trang 1CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong bối cảnh sự phát triển năng động, phức tạp của xã hội hôm nay, giáo
dục đã và đang đổi mới theo hướng phát huy năng lực người học nhằm đào tạo ranhững lứa công dân có thể linh hoạt thích nghi, làm chủ cuộc sống Một trongnhững năng lực quan trọng đó là năng lực tư duy phản biện Kĩ năng tư duy phảnbiện giúp mỗi học sinh tiếp nhận, xử lí kiến thức, vấn đề từ nhiều góc độ và phươngdiện khác nhau, biết hoài nghi, phủ nhận, bác bỏ cái sai để tìm ra cái đúng, tiệm cậnvới chân lí Ý thức phản biện làm cho các em không còn thụ động như những convẹt nhìn – đọc – chép kiến thức một cách máy móc, lối mòn mà trở thành nhữngngười học có tính chủ động, sáng tạo Nhân thức được tầm quan trọng của việc rènluyện tư duy phản biện cho học sinh nên trong quy định về tiêu chuẩn đánh giátrường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiềucấp học do bộ trưởng GD-ĐT ban hành kèm theo thông tư số 13/2012/TT- BGDĐTngày 06/4/2012, chương II, điều 7, mục 2c đã nói đến tiêu chí: “Hướng dẫn họcsinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện ” như một yêu cầu bắtbuộc đối với giáo viên, nhà trường ở mọi cấp học
1 2 Nhiều năm trở lại đây, hòa trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học nói
chung, môn Ngữ Văn nói riêng cũng có những chuyển biến tích cực về đổi mớiphương pháp dạy, ra đề, kiểm tra, đánh giá theo hướng mở nhằm phát huy năng lựcngười học, bao gồm trong đó cả năng lực tư duy phản biện Qua đó, giúp hạn chế,giảm thiểu đáng kể tình trạng phổ biến lâu nay là nhiều học sinh chán Văn, khôngthích học môn văn bởi các em bị giáo viên gò ép theo một hướng nghĩ, hướng cảmnhận duy nhất của chính người dạy, không được thể hiện chính kiến riêng, lâu dầndẫn đến căn bệnh lười động não, đạo văn, chép văn mẫu Việc rèn luyện tư duyphản biện cho học sinh vừa giúp các em tich cực, chủ động , sáng tạo trong việc
Trang 2tiếp nhận kiến thức, bày tỏ cách nhìn, cách nghĩ mới của bản thân vừa tác độngngược trở lại người dạy Văn, khiến giáo viên đổi mới tư duy, cách dạy, không độctôn quan điểm cá nhân, không duy ý chí, từ đó khiến sức hút của môn học đượctăng lên đáng kể.
1.3 Kiểu bài nghị luận xã hội tuy mới xuất hiện trong chương trình dạy – học
Ngữ Văn độ chục năm trở lại đây song nó đã thực sự tạo nên nguồn cảm hứngkhông nhỏ với học sinh nói chung, học sinh giỏi Văn nói riêng Nguyên nhânkhông chỉ nằm ở nội dung hướng vào các vấn đề thực tiễn đời sống mà còn bởikiểu bài nghị luận này đã giúp học sinh độc lập dần với lối học vẹt, học thuộc lòngkiến thức sách vở đơn thuần, tạo cơ hội để các em được thể hiện suy nghĩ, quanđiểm cá nhân bẳng chính vốn sống, vốn hiểu biết của các em Với đặc trưng đó,kiểu bài này rất cần người học có tư duy phản biện để có những luận điểm sâu sắc,những ý tưởng độc đáo, thuyết phục, nâng cao thêm chất lượng bài viết
Từ những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Rèn luyện tư duy phản biệncho học sinh trong bài văn nghị luận xã hội”
2 Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm đưa ra những biện pháp để rèn luyện, phát huy tối đa năng lựcphản biện của học sinh khi làm văn nghị luận xã hội Từ đó khiến cho khả năng làmvăn nghị luận xã hội của học sinh được nâng cao, đạt hiệu quả, đặc biệt là đối vớihọc sinh giỏi, tạo nên bầu không khí dạy học dân chủ, khơi gợi hứng thú của họcsinh đối với kiểu bài nghị luận xã hội nói riêng và môn Ngữ Văn nói chung
II NỘI DUNG
Trang 3Mục đích của phản biện nói chung là mang lại nhận thức đúng đắn, sâu sắc
về đối tượng và từ đó có giải pháp tác động lên đối tượng một cách hiệu quả Năng lực phản biện là năng lực nắm bắt chân lí, chỉ ra các ngụy biện/ ngộnhận về vấn đề Nó làm xuất hiện nhu cầu phản tỉnh, thôi thúc sự nhận thức lại cácđối tượng, vấn đề trong chuyên môn Năng lực phản biện là năng lực phát hiện ranhững bất cập, bất hợp lí để có thể nhìn nhận lại đối tượng một cách đúng đắn,toàn diện hơn
Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích đánh giámột thông tin đã có theo cách nhìn khác cho vấn đề đặt ra nhằm làm sáng tỏ vàkhẳng định lại tính chính xác của vấn đề Nhìn chung, tư duy phản biện là khi conngười không tiếp nhận thông tin một cách thụ động, cả tin dễ dãi mà luôn có xuhướng chủ động xoay vấn đề ở nhiều góc độ, liên tục đặt ra câu hỏi để đi tìm chân
lí, có khi lật ngược hoặc phủ nhận, phản bác hoàn toàn vấn đề đã có, cốt đem lại kếtquả là những nhận thức chuẩn xác, đúng đắn về đối tượng
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa
1.1.2.1 Trong dạy học nói chung
Tư duy phản biện có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống, đặc biệt làtrong dạy – học Hiện nay, việc rèn luyện năng lực tư duy phản biện cho học sinh lànhiệm vụ cơ bản của dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng bởi những ýnghĩa, ích lợi sau đây:
- Rèn luyện tư duy phản biện là rèn luyện cách suy nghĩ, nhận thức vượt rakhỏi lối mòn quen thuộc Với tư duy phản biện, học sinh sẽ có được những cáchtiếp cận mới, đề xuất được vấn đề mới hoặc có quan điểm, lí giải mới về những vấn
đề tưởng như đã cũ mèm, nhàm chán Trên cơ sở đó, các em thu được những kếtquả học tập, nghiên cứu mới mẻ, hiệu quả, có giá trị Việc học tập cũng trở nên thú
vị và vô cùng hấp dẫn
- Rèn luyện tư duy phản biện là rèn luyện cách tư duy linh hoạt, biết suy nghĩ
và giải quyết vấn đề theo nhiều chiều hướng khác nhau, đa diện chứ không phảiphiến diện một chiều Trên cơ sở đó, các em quyết định được phương án tối ưu, hạn
Trang 4chế ở mức thấp nhất nguy cơ thất bại, sai lầm Bởi thế, xét về đường dài, tư duyphản biện còn giúp mỗi học sinh có thái độ chủ động, bình tĩnh, tự tin, sáng suốtkhi các em trưởng thành, phải ứng xử trước muôn vàn tình huống thực tế phức tạp,tránh được thái độ tự tin, buồn rầu, chán nản, thất vọng khi gặp thất bại, những điềukhông như ý muốn, dự định Các em sẽ có được sự cân nhắc thấu đáo và hành độngđạt hiệu quả trong nhiều tình huống.
- Tư duy phản biện rèn luyện cho học sinh phương pháp đi đến chân lí bằngquá trình tìm tòi, xem xét vấn đề một cách kĩ lưỡng, tỉ mỉ, nghiêm túc trong đó baogồm cả việc sẵn sàng đối thoại, lắng nghe và trao đổi với người khác, với nhữngluồng quan điểm khác Ý thức được sự quan trọng của tư duy phản biện, các emkhông còn cảm thấy tự ái, khó chịu nếu bị góp ý, sẵn sàng, cởi mở trong việc lắngnghe ý kiến người khác, các em tự nhìn thấy được những ưu, nhược điểm của mình
để có hướng phát huy hay khắc phục Tư duy phản biện giúp học sinh phát triển kĩnăng chung sống, cùng hợp tác để tìm ra chân lí
- Rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh còn giúp giáo viên thu đượcnhững phản hồi hữu ích để từ đó điều chỉnh về phương pháp dạy học Thông quaviệc phản biện của học trò, giáo viên có thể đánh giá được năng lực, vốn kiến thứccủa các em, lấy đó làm cơ sở phân loại đối tượng dạy học cho phù hợp, thậm chíkhi học sinh có ý kiến phản biện hợp lí, giáo viên còn có thể phát hiện ra chỗ sai,chỗ khuyết thiếu trong chính sự truyền giảng kiến thức của mình
1.1.2.2 Trong dạy học Ngữ Văn nói riêng
Ở bộ môn Ngữ Văn, căn bệnh học sinh lười nghĩ, lười sáng tạo, chỉ quen saochép, nói lại y nguyên lời người khác, dùng văn mẫu trong khi phân tích, cảm thụvốn đã không phải hiện tượng cá biệt Bởi thế, việc rèn luyện cho học sinh tư duyphản biện sẽ giúp các em thể hiện được cá tính, kích thích sự sáng tạo Các em sẽtìm tòi và đề xuất được những quan điểm riêng mới mẻ, có giá trị, bài viết trở nênsâu sắc, có chính kiến cá nhân độc lập, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe,khắc phục bệnh chép văn, đạo văn Qua quá trình phản biện, học sinh không chỉ cónhững đề xuất mới mà còn rèn luyện được cả năng lực lập luận sắc bén để bảo vệ
Trang 5quan điểm của mình Khả năng nghĩ – nói – viết của các em được nâng lên đáng kể
và đạt hiệu quả cao
1.2 Tư duy phản biện trong kiểu bài nghị luận xã hội
1.2.1 Kiểu bài nghị luận xã hội
1.2.1.1 Vị trí của kiểu bài nghị luận xã hội
Môn Ngữ văn THPT được chia thành ba phân môn: Đọc văn, tiếng Việt vàLàm văn Ở nội dung làm văn thì so với kiểu bài tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyếtminh thì kiểu bài nghị luận có vị trí quan trọng nhất, có dung lượng dạy – học nhiềunhất đối với học sinh THPT nói chung và học sinh giỏi Ngữ Văn nói riêng Bài vănnghị luận đòi hỏi học sinh phải trình bày quan điểm, nhận xét, đánh giá, suy nghĩcủa bản thân về các vấn đề văn học hoặc vấn đề đời sống xã hội
Kiểu bài nghị luận gồm: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Nếu nghịluận văn học yêu cầu học sinh phải nhận định, đánh giá, phân tích,…các vấn đề vănhọc (tác giả, tác phẩm, trào lưu/ giai đoạn văn học,…) thì kiểu bài nghị luận xã hộilại mong muốn người viết bày tỏ suy ngẫm cá nhân về các vấn đề của thực tiễn đờisống xã hội Trong chương trình học văn và thi văn của học sinh THPT xưa nay,tuy sinh sau đẻ muộn so với kiểu bài nghị luận văn học nhưng nhờ tính thiết thực
mà kiểu bài nghị luận xã hội càng ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và sựtất yếu phải có mặt của nó Qua việc làm văn nghị luận xã hội, học sinh được bámsát, có những hiểu biết, nhận thức về đời sống xã hội, rèn luyện năng lực tư duy,năng lực phản biện,…về các vấn đề đời sống, từ đó giúp định hướng, điều chỉnhđạo đức, nhân cách, kĩ năng sống cho những công dân tương lai Nghị luận xã hộicùng với nghị luận văn học trở thành hai dạng bài chính yếu trong các kì thi về mônNgữ văn
Ở đề thi Ngữ văn THPT Quốc gia: kiểu bài nghị luận xã hội xuất hiện ở câu
2 và rải rác ở câu 1 (với câu hỏi vận dụng thấp), chiếm 2-3 điểm thành phần/ 10điểm toàn bài thi
Ở đề thi HSG Ngữ Văn các cấp, đặc biệt là đề thi HSG Quốc gia: kiểu bàinghị luận xã hội xuất hiện ở câu 1, chiếm 8 điểm thành phần/ 20 điểm toàn bài thi
Trang 61.2.1.2 Yêu cầu của kiểu bài nghị luận xã hội
* Các dạng đề
Đề bài nghị luận xã hội gồm 3 dạng chủ yếu
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí: Đề bài đưa ra một hoặc nhiều tư tưởng, đạo
lí, triết lí, kinh nghiệm sống và yêu cầu học sinh nghị luận Nội hàm những tưtưởng đạo lí này thường không được trình bày trực tiếp mà ẩn chứa trong nhữngcâu danh ngôn, châm ngôn, tục ngữ, lời bài hát, bài thơ, câu chuyện, Học sinhphải giải mã được nội dung của câu danh ngôn, châm ngôn, tục ngữ, lời bài hát, bàithơ, câu chuyện, đó để nắm được tư tưởng đạo lí cần nghị luận
Ví dụ:
Suy nghĩ của anh/ chị về câu nói sau ““Một cái đầu thông minh và một tráitim ấm áp luôn là một sự kết hợp có sức mạnh kinh hoàng.” (NelsonMandela)
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp từ câu chuyện sau :
Một cậu bé nhìn thấy cái kén cùa con bướm Một hôm cái kén hở ra một cái khe nhỏ, cậu bé ngồi và lặng lẽ quan sát con bướm trong vòng vài giờ khi nó gắng sức để chui qua khe hở ấy Nhưng có vẻ nó không đạt được gì cả.
Do đó cậu bé quyết định giúp con bướm bằng cách cắt khe hở cho to hẳn ra Con bướm chui ra được ngay nhưng cơ thể nó bị phồng rộp và bé xíu, cánh của nó
co lại Cậu bé tiếp tục quan sát con bướm, hi vọng rồi cái cánh sẽ đủ lớn để đỡ được cơ thể nó Những chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
Thực tế, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thể sưng phồng Nó không bao giờ bay được.
Cậu bé không hiểu được rằng chính cái kén bó buộc làm cho con bướm phải
cố gắng thoát ra là điều kiện tự nhiên để chất lưu trong cơ thể nó chuyển vào cánh,
để nó có thể bay được khi nó thoát ra ngoài kén.
(Hạt giống tâm hồn, First New, NXB TP HCM, Tr 123)
- Nghị luận về hiện tượng đời sống: Đề bài đưa ra những sự việc, hiện tượng cóthật xảy ra trong thực tiễn đời sống và yêu cầu học sinh nghị luận Những hiện
Trang 7tượng, sự việc này thường đang nóng hổi tính thời sự, có tính bức thiết, đang trởthành trào lưu phổ biến,…nhất là trong giới trẻ
Ví dụ:
Suy nghĩ của anh (chị) về trào lưu Like là làm
Suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng có nhiều bậc phụ huynh quá coi trọngkết quả học tập của con cái
- Nghị luận về một vấn đề xã hội được rút ra từ các tác phẩm văn học: Đề bài yêucầu học sinh nghị luận về những vấn đề của thực tiễn xã hội trên cơ sở khai tháckhía cạnh nội dung, thông điệp nào đó của tác phẩm văn học Trong trường hợpnày, học sinh không được sa đà vào việc nghị luận về tác phẩm văn học mà chỉ lấy
đó làm nền tảng, chỗ dựa để triển khai phần nội dung trọng tâm: nghị luận về vấn
* Nội dung kiến thức
Khác với kiểu bài nghị luận văn học đòi hỏi học sinh phải có vốn hiểu biết vềvăn học (tác giả, tác phẩm, trào lưu, giai đoạn văn học, lí luận văn học,…), kiểu bàinghị luận xã hội lại yêu cầu học sinh phải có vốn sống, vốn hiểu biết thực tế sâurộng, chín chắn, những quan sát, chiêm nghiệm, đúc rút của cá nhân về các vấn đềthực tiễn Trong bài văn nghị luận xã hội, các em phải thể hiện được vốn kiến thức
đó chứ không chỉ là kiến thức sách vở lý thuyết đơn thuần
Sẽ không có một khung giới hạn hay đề cương những nội dung kiến thức chohọc sinh khi các em làm kiểu bài nghị luận xã hội Nếu ở kiểu bài nghị luận vănhọc, học sinh có thể đặt trọng tâm ôn luyện vào một vài nội dung kiến thức thì ởkiểu bài nghị luận xã hội, đề bài có thể động chạm tới những vấn đề mà chính các
Trang 8em cũng không lường tới được, không thể ôn luyện trước Nội dung kiến thức đềcập trong kiểu bài nghị luận xã hội rất rộng, đa dạng và phong phú Khi làm bài,các em cũng phải huy động sự hiểu biết của mình về muôn mặt cuộc sống Đây làkiểu bài có thể khắc phục được tình trạng học vẹt, học tủ của học sinh.
* Thao tác lập luận
Kiểu bài nghị luận xã hội đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp nhiềuthao tác lập luận khi làm bài như:
- Giải thích: Học sinh xác định tư tưởng đạo lí cần nghị luận là gì? bản chất của
sự việc, hiện tượng? những biểu hiện,…
- Phân tích: đánh giá tư tưởng đạo lý, sự việc hiện tượng cần nghị luận đúng/ sai,tích cực/ hạn chế, chỉ ra và phân tích các mặt/ các phương diện khác nhau của tưtưởng đạo lý hay sự việc hiện tượng cần nghị luận,…
- Chứng minh: làm sáng rõ vấn đề nghị luận bằng các dẫn chứng xác đáng, thuyếtphục, toàn diện,…
- Bình luận: nhận xét, khái quát về vấn đề nghị luận, liên hệ, mở rộng,…
1.2.2 Vai trò của tư duy phản biện trong bài văn nghị luận xã hội
Như đã nói, đặc trưng của kiểu bài nghị luận xã hội là đòi hỏi học sinh phải cóchủ kiến, những quan điểm riêng về các vấn đề xã hội, vận dụng tổng hợp các thaotác lập luận để nhận thức và trình bày vấn đề Như vậy, ngay từ đặc trưng của kiểubài đã quy định mỗi người viết, đặc biệt là học sinh giỏi cần phải có tư duy phảnbiện – lối tư duy độc lập với những kiến giải riêng của cá nhân, không theo khuônmẫu, lối mòn, công thức
Với tư duy phản biện, học sinh không chi nhận thức đúng về vấn đề xã hội cầnnghị luận mà các em còn lí giải, phân tích vấn đề một cách cặn kẽ, sâu sắc, thuyếtphục, có sự sáng tạo, lật đi lật lại vấn đề để em xét nó một cách toàn diện, nhiềuchiều, đưa ra được những phát hiện riêng với những lập luận khoa học, chặt chẽ.Điều này là mấu chốt góp phần mang lại một bài viết chất lượng, nhất là đối vớihọc sinh giỏi
Trang 92 Một số biện pháp rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh giỏi trong bài văn nghị luận xã hội
2.1 Ra đề
Ra đề theo hướng mở là xu thế tất yếu của việc đổi mới dạy học Ngữ Văn nóichung trong nhiều năm trở lại đây, trong đó bao hàm cả việc ra đề mở đối với kiểubài nghị luận xã hội Ra đề mở khác với kiểu ra đề truyền thống Đề văn truyềnthống còn gọi là đề “đóng”, đề “khép kín” (chữ của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống) Nócung cấp sẵn cho người viết rất nhiều dữ kiện, thông tin, có những mệnh lệnh vàgiới hạn rõ ràng về nội dung kiến thức, về thao tác lập luận (hãy chứng minh, hãygiải thích, ), về phạm vi tư liệu cần có trong bài làm Trong khi đó, đề mở "là loại
đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận hoặc chỉ nêu đề tài để viết văn tự
sự, miêu tả không nêu mệnh lệnh gì về thao tác lập luận kiểu như hãy chứngminh, hãy giải thích, hãy phân tích, hoặc phương thức biểu đạt như hãy kể, hãyphát biểu cảm nghĩ, "Đề mở" khác với loại đề có đầy đủ các yếu tố, từ lời dẫn đếnyêu cầu về thao tác cụ thể (trước gọi là kiểu bài)” (Đỗ Ngọc Thống, Tài liệuChuyên Văn tập 2- NXB GD, 2012, tr 102) Đề văn truyền thống vẫn kiểm tra đượchiểu biết, nhận thức của hcọ sinh song hạn chế của nó là đơn điệu, hay lặp lại nên
dễ gây nhàm chán, học sinh bị gò bó, phải viết theo những yêu cầu nhất định, theonhững định hướng có sẵn của người ra đề nên tính chủ động, sức sáng tạo, quanđiểm cá nhân,…chưa được phát huy tối đa Những hạn chế của đề văn truyền thốnglại là ưu điểm nổi bật của đề văn theo hướng mở Đề mở cởi trói cho sức sáng tạocủa học sinh, đặc biệt là kích thích tư duy phản biện của các em về những vấn đềngười ra đề đặt ra, các em có thể thoải mái liên tưởng, đồng tình hay “cãi lại”, tự dobày tỏ quan điểm cá nhân, sử dụng các thao tác lập luận đa dạng,…khác hẳn vớiviệc nhất nhất tuân theo, phục tùng một vài mệnh lệnh hay yêu cầu có sẵn nhưtrong đề văn truyền thống
Với kiểu bài nghị luận xã hội, tưởng như là rất dề dàng để ra đề mở hơn sovới kiểu bài nghị luận văn học bởi bản thân nội dung nghị luận ở đây là những vấn
đề thực tiễn xã hội – những vấn đề vốn đã có tính chất “mở”, không có sẵn trong
Trang 10sách vở lý thuyết, muôn màu muôn vẻ, đa dạng, phong phú Tuy vậy, nhiều giáoviên hiện nay vẫn lúng túng trong khâu ra đề để đảm bảo tính chất mở, đôi khi vẫnlạc sang kiểu ra đề văn truyền thống Trong khi đó, để thực sự phát huy tư duy phảnbiện của học sinh, tạo cơ hội để học sinh đối thoại, tranh luận, bày tỏ ý kiến cá nhântrong bài văn nghị luận xã hội, tất yếu phải có những đề văn mở
Vậy có cách thức nào để có thể tạo ra những đề văn nghị luận xã hội theohướng mở? Từ kinh nghiệm giảng dạy, bồi dưỡng học sinh, chúng tôi đã rút rađược một số cách thức ra đề mở như sau:
- Trong đề văn giáo viên chỉ đưa duy nhất vấn đề/ chủ đề nghị luận thông quamột từ, cụm từ (mệnh đề), hình ảnh, biểu tượng hay tranh vẽ, câu chuyện đãnghĩa….mà không diễn giải, chú thích gì thêm về ý nghĩa nội hàm của chúng Giáoviên yêu cầu học sinh trình bày suy ngẫm cá nhân về những thông điệp/ vấn đề xãhội mà các em nhận thấy/ rút ra / liên tưởng được từ mệnh đề, hình ảnh, tranh vẽ,câu chuyện…đó
Anh (chị) nghĩ như thế nào?
Đề văn nghị luận xã hội đưa một bức tranh:
Suy nghĩ của anh (chị) về bức tranh sau
Trang 11Thủ tướng Mark Rutte (Hà Lan) đi xe đạp hàng ngày
đến nơi làm việc
Với dạng đề này, sẽ có rất nhiều luồng đáp án, suy nghĩ, quan điểm đượcđưa ra tùy theo nhận thức, trường liên tưởng, vốn sống, …của mỗi học sinh Với đềbài gồm từ khó duy nhất “Nụ cười”, học sinh có rất nhiều liên tưởng: nụ cười làbiểu hiện của niềm vui, nụ cười là phương tiện giao tiếp một cách thân mật, nụ cười
là biểu hiện của sự chia sẻ với mọi người, …Với đề bài “Tuổi trẻ cần sống có đẳngcấp” Nếu hiểu khái niệm “đẳng cấp” thiên về ý nghĩa là chỉ lối sống ăn chơi sànhđiệu để chứng tỏ cái “tôi”, có học sinh sẽ đồng tình nhưng cũng sẽ có học sinh phảnđối với ý kiến đề bài đưa ra Mặt khác, lại có những học sinh sẽ đưa ra cách hiểukhác về khái niệm “đẳng cấp” và triển khai bài viết theo hướng khẳng định sự đẳngcấp của tuổi trẻ nằm ở việc nỗ lực học hành, tích cực trau đồi kĩ năng sống, cốnghiến nhiệt tình, làm những việc tử tế, có ích cho xã hội…Tương tự như thế với đềbài liên quan tới bức tranh, có học sinh sẽ rút ra thông điệp về đức tính giản dị của
vị thủ tướng Hà Lan, từ đó bài viết tập trung làm rõ khái niệm, những biểu hiện, vaitrò ý nghĩa,…của lối sống giản dị ở con người nói chung Những ngược lại, cũng sẽ
có những em thấy được bài học về ý thức bảo vệ môi trường từ bức tranh và triểnkhai bài viết xoay quanh vấn đề này
Trang 12Có thể thấy, đề văn càng”kiệm lời”, chỉ cần đưa vấn đề/ chủ đề mà khôngdiễn giải cụ thể sẽ càng kích thích được tư duy phản biện phong phú cùng sức sángtạo vô biên của học sinh Các em tha hồ suy ngẫm, xâu chuỗi, liên hệ, tưởng tượng,rồi bàn bạc, đánh giá, trình bày những quan điểm riêng mang bản sắc cá nhân vềvấn đề được nêu Qúa trình ấy chính là quá trình học sinh đang được rèn luyện, thểhiện và mài sắc tư duy phản biện bằng hình thức đề mở.
- Đề văn đưa ra những ý kiến, quan điểm khác nhau/ trái ngược nhau về cùngmột vấn đề nghị luận và yêu cầu học sinh trình bày suy nghĩ cá nhân về những ýkiến hay quan điểm đó
Chẳng hạn:
Có người cho rằng: Ta hãy học theo cách của dòng sông nhìn thấy núi thì đi đường vòng, nhưng lại có ý kiến khác: Trong rừng có rất nhiều lối đi, ta chọn lối đi chưa có dấu chân người.
Suy nghĩ của anh (chị) về những ý kiến trên
(Đề thi HSG môn Ngữ Văn lớp 12 tỉnh Quảng Bình năm học 2016 – 2017)
Pythagos từng nói: “Im lặng là cấp độ cao nhất của sự khôn ngoan Ai không biết im lặng là không biết nói” Còn Martin Luther King Jr lại phát biểu: “Cuộc sống chúng ta bắt đầu chấm dứt ngay trong cái ngày mà chúng
ta giữ im lặng trước những vấn đề hệ trọng.”
(Đề thi HSG môn Ngữ Văn lớp 12 tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2014 – 2015)
Với những kiểu đề văn này, học sinh phải thể hiện sự đánh giá của cá nhân vềmỗi một quan điểm, ý kiến (ý kiến nói về vấn đề gì, làm sáng tỏ ý kiến đúng/ sai,tích cực/ tiêu cực ở chỗ nào ? Đã hợp lí, thuyết phục chưa hay cần chỉnh sửa, bổsung; mối quan hệ giữa hai quan điểm, ý kiến, chúng phủ nhận hay bổ sung chonhau,…) Như thế là các em đã thực hiện quá trình “phản biện”, đối thoại, tranhluận đối với từng ý kiến/ quan điểm đồng thời bày tỏ quan điểm bản thân về vấn đềnghị luận
Giáo viên cần ra đề mở thường xuyên, đều đặn, tránh việc ra đề dễ dãi, cẩu
Trang 13nhắc, bám sát mục đích hình thành tri thức, nhân cách, đạo đức, lối sống tốt đẹpcho học sinh, chạm được vào những vấn đề bức thiết, quan trọng trong cuộc sốnghiện nay, đặc biệt là đối với giới trẻ Đề văn cũng cần vừa sức, không ôm đồmnhững vấn đề lí luận trừu tượng quá to tát, cao siêu Mỗi đề văn tốt theo hướng mởkhông chỉ khắc phục được căn bệnh chép văn mẫu, máy móc, dập khuôn, nhai lại ý,lời người khác mà còn thực sự tạo được sự hưng phấn, kích thích tư duy phản biện,tính chủ động, sáng tạo của học sinh.
2.2 Các thao tác hướng dẫn học sinh làm bài
Trong bài văn nghị luận xã hội, bản chất và mục đích của việc phát huy tư duy
phản biện cho học sinh là nhằm để các em có nhận thức đúng và sâu sắc, toàn diện
về vấn đề nghị luận (tư tưởng đạo lí hay hiện tượng xã hội) Ở phần này, chúng tôimuốn đề cập đến một số biện pháp mà giáo viên có thể vận dụng để giúp học sinhđạt được hai mức độ yêu cầu đó trong bài viết:
2 2.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi tìm ý
Trên cơ sở nắm vững vấn đề nghị luận được nêu ở đề bài, giáo viên gợi ý hayhướng dẫn học sinh đặt hệ thống câu hỏi xoay quanh vấn đề nghị luận đó Mục đíchcủa việc đặt câu hỏi là để học sinh xác định đúng nội hàm, trọng tâm vấn đề, tránh
đi lạc hướng, tìm được ý làm khung xương cơ bản cho bài viết Hệ thống câu hỏi
khiến các em tư duy, nhận thức đúng và triển khai các luận điểm đi đúng vào vấn
đề nghị luận được nêu ra Trước tiên, giáo viên làm mẫu việc đặt câu hỏi tìm ý vớimột đề bài cụ thể rồi sau đó, hướng dẫn học sinh tự áp dụng với những đề bài nghịluận xã hội khác Biết đặt câu hỏi xoay quanh vấn đề nghị luận là học sinh đã hìnhthành thao tác phản biện khi làm bài
Hệ thống câu hỏi cơ bản với bài nghị luận xã hội có thể triển khai như sau:
* Dạng 1: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
- Câu hỏi giải thích nội hàm tư tưởng, đạo lí:
+ Khái niệm/ thuật ngữ/ hình ảnh/ sự việc/ chi tiết/ hiện tượng,… được nêu
ra nghĩa là gì?
Trang 14+ Tư tưởng, đạo lí đó biểu hiện cụ thể trong đời sống như thế nào?
- Câu hỏi phân tích, bàn luận tư tưởng, đạo lí:
+ Tư tưởng đạo lí đúng/ chưa đúng/ vừa đúng vừa chưa đúng?
+ Tư tưởng đạo lí đúng/ chưa đúng như thế nào? Lí giải nguyên nhân? + Có thể minh chứng việc đúng/ chưa đúng của tư tưởng đạo lí bằng những
ví dụ thực tiễn nào?
- Câu hỏi liên hệ bản thân:
+ Tư tưởng đạo lí để lại cho bản thân bài học nhận thức gì?
+ Tư tưởng đạo lí giúp bản thân xác định hướng hành động cụ thể ra sao?
* Dạng 2: Nghị luận về một hiện tượng sự việc đời sống
- Câu hỏi giải thích sự việc, hiện tượng:
+ Bản chất của sự việc, hiện tượng là gì?
+ Sự việc, hiện tượng đó biểu hiện cụ thể trong đời sống như thế nào?
- Câu hỏi phân tích, bàn luận sự việc, hiện tượng:
+ Thực trạng hiện nay của sự việc, hiện tượng diễn ra như thế nào? ở mức
độ nào?
+ Nguyên nhân dẫn tới sự việc, hiện tượng đó là gì?
+ Sự việc, hiện tượng đó có những ưu điểm/ tác động tích cực hay hạn chế/hậu quả tiêu cực nào?
+ Có những giải pháp nào để phát huy, khuyến khích hay ngăn chặn sựviệc, hiện tượng đó?
- Câu hỏi liên hệ bản thân:
+ Sự việc, hiện tượng để lại cho bản thân bài học nhận thức gì?
+ Sự việc, hiện tượng giúp bản thân xác định hướng hành động cụ thể rasao?
* Dạng 3: Nghị luận về một vấn đề xã hội được rút ra từ tác phẩm văn học
- Câu hỏi giải thích nội hàm vấn đề nghị luận:
Trang 15+ Thông điệp được rút ra từ tác phẩm văn học là gì?
+ Trong đời sống hiện nay, vấn đề đó biểu hiện như thế nào?
- Câu hỏi phân tích, bàn luận vấn đề:
+ Thực trạng hiện nay của vấn đề diễn ra như thế nào? ở mức độ nào?
+ Vấn đề đó có những ưu điểm/ tác động tích cực hay hạn chế/ hậu quả tiêucực nào? Lí giải nguyên nhân
+ Có những giải pháp nào để phát huy, khuyến khích hay ngăn chặn vấn đềđó?
- Câu hỏi liên hệ bản thân:
+ Vấn đề nghị luận để lại cho bản thân bài học nhận thức gì?
+ Vấn đề nghị luận giúp bản thân xác định hướng hành động cụ thể ra sao?
bài viết thực sự sâu sắc, toàn diện, hợp lí hợp tình thì rất cần thiết ở học sinh cách
tư duy phản đề, lập luận phản đề Nêu và phân tích phản đề chính là một biểu hiệnđồng thời cũng là cách thức mài sắc tư duy phản biện trong bài văn nghị luận xãhội cho học sinh
Trong bài văn, nội dung phản đề nằm trong phần phân tích, bàn luận, liên hệ,
mở rộng vấn đề nghị luận.Giáo viên gợi mở học sinh sau khi phân tích vấn đề theochiều thuận cần liên hệ, mở rộng, đặt ra những hiện tượng, sự việc ngược với tưduy thông thường về vấn đề để tiếp tục phân tích Để tìm được phản đề, cũng cầnbắt đầu bằng việc đặt câu hỏi
Chẳng hạn với đề bài: Chợ quê và siêu thị, bên cạnh hệ thống câu hỏi xác
định luận điểm cơ bản của bài viết như: chợ quê là gì? siêu thị là gì? ưu điểm, hạn
Trang 16chế của chợ quê và siêu thị trong tương quan so sánh?, giáo viên còn gợi ý học sinhtìm và viết phản đề bằng việc nêu câu hỏi chứa đựng tình huống nghịch lí: tại saochợ quê xuất hiện sớm hơn nhưng hiện nay siêu thị lại đang ngày càng lấn át? Vậychợ quê hay siêu thị mới là quan trọng và cần thiết Suy nghĩ của bản thân về hiệntượng này.
Tương tự, với đề bài: Sự rỗng tuếch của con người, sau khi xác định các nội
dung chính phải triển khai như: khái niệm “rỗng tuếch”, biểu hiện của sự rỗngtuếch (rỗng tuếch về tri thức, hiểu biết; rỗng tuếch về tâm hồn đạo đức), nhữngnguy hại của sự rỗng tuếch, giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi tìm nội dungphản đề, ví dụ: Nếu con người biết bù lấp vào sự rỗng tuếch thì thật đáng quý, tuynhiên có rất nhiều người hiện nay tuy rỗng tuếch nhưng tỏ ra kiêu ngạo, biết tuốt,
“thùng rỗng kêu to”, anh chị suy ngẫm như thế nào về hiện tượng này?
Phương pháp nêu phản đề là cách giúp bài viết có độ sâu, rộng trong việctrình bày quan điểm cá nhân, qua đó giúp nâng cao tư duy phản biện của học sinh,bài viết trở nên mới mẻ, sáng tạo, hấp dẫn, toàn diện Đa số các phản đề đều đượcgợi ý tưởng từ những tình huống phi lí có thực trong cuộc sống nên phản đề còn cógiá trị giúp bài viết mang tính chân thực Giáo viên thực hiện mẫu việc nêu phản đề
ở một vài đề cụ thể, bắt đầu từ việc đặt ra những tình huống giả định, chứa đựngnhững nghịch lí như trên rồi kích thích học sinh suy nghĩ, giải đáp theo chủ kiếncủa mình Lâu dần, giáo viên cần yêu cầu học sinh tìm và viết phản đề như một nộidung bắt buộc trong bài văn nghị luận xã hội Thao tác này sẽ khiến cho tư duyphản biện của học sinh được kích hoạt và ngày một sắc bén
Để trở nên nhanh nhạy trong việc tìm phản đề, giáo viên lưu ý học sinhnăng tích lũy vốn sống, bám sát cuộc sống hiện tại, sự chuyển mình của xã hội hiệnnay để kịp thời phát hiện ra những hiện tượng, sự việc nghịch lí, trái ngược với tưduy thuận chiều thông thường
Trên cơ sở tư duy phản biện thông qua việc đặt câu hỏi tìm ý, tìm và giảiquyết phản đề, học sinh sắp xếp lại các ý theo một tình tự hợp lí để có một dàn bàihoàn chỉnh Khi công đoạn lên ý tưởng đã “êm đẹp” thì giai đoạn thi công – tức
Trang 17viết bài cũng sẽ trở nên “thuận buồm xuôi gió” Bài viết của học sinh không chỉđúng mà còn sâu và hấp dẫn Về cơ bản, các biện pháp giúp học sinh hình thành,phát triển tư duy phản biện phần lớn chỉ nằm ở khâu hướng dẫn học sinh phân tích
đề, tìm ý, lập dàn ý còn khâu học sinh viết bài thực chất cũng chỉ là sự trình bày lạinhững ý tưởng học sinh vừa có được nhờ tư duy phản biện mà thôi
2.3 Kiểm tra, đánh giá
Để học sinh tự tin phát huy tư duy phản biện, không ngại sáng tạo vì sợkhác với đáp án của giáo viên thì khâu kiểm tra, đánh giá bài viết cũng cần theohướng mở giống như khâu ra đề và hướng dẫn học sinh làm bài với những lưu ýsau đây:
- Trong chấm văn, việc sử dụng barem điểm sẽ hạn chế được thói quen chấm bàitheo cảm tính của giáo viên, hướng tới tính khách quan, công bằng Tuy nhiên,không nên quá lệ thuộc vào barem theo kiểu nhặt ý cho điểm, số điểm bài viết chỉtính dựa trên số lượng ý mà học sinh nói được đúng như trong đáp án Barem điểmtất yếu phải có mức điểm tương xứng cho sự sáng tạo, những lập luận, ý kiến, quanđiểm riêng sắc bén, đầy sức thuyết phục của học sinh Mức điểm này có tác dụngkhích lệ các em chủ động, nỗ lực phát huy tư duy phản biện nhằm đưa ra nhữngkiến giải mới mẻ, giúp bài viết trở nên sâu sắc, có cá tính, đạt điểm cao
- Giáo viên hãy nên coi đáp án mình đưa ra chỉ là sự tham khảo, một cách lí giải,bình luận, bàn bạc về vấn đề nghị luận Vì thế đáp án không được quá tiểu tiết, vụnvặt, nên chỉ là những sự định hướng khái quát Tuyết đối tránh thói quen bắt buộc,
gò bó học sinh phải duy nhất theo đáp án mà giáo viên đưa ra, cần sẵn sàng “dungnạp”, công nhận những đáp án, những biện luận tuy khác nhưng hợp lí, thuyết phụccủa học sinh
- Giáo viên nên tạo không gian mở có tính chất đối thoại, trao đổi dân chủ trongquá trình đánh giá bài viết của học sinh Giáo viên có thể đọc mẫu một vài bài vănbất kì trước học sinh cả lớp, cho các em tự đưa ra ý kiến nhận xét về những ưuđiểm/ hạn chế/ sự sáng tạo, quan điểm riêng,… của bài viết đó giáo viên đưa câu
Trang 18hỏi gợi ý, kích thích tư duy phản biện của các em với tư tưởng của “tác giả”, chẳnghạn:
Em thấy bài viết đã hiểu vấn đề nghị luận như thế nào? Cách hiểu đó hợp líhay chưa, giải thích?
Em có đồng tình với phân tích, lập luận của bài viết về vấn đề nghị luậnkhông? (Nếu học sinh chưa đồng tình thì giáo viên gợi ý các em chỉ ra điểmchưa đồng tình, lí giải, đưa ra ý kiến cá nhân và giải thích)
Theo em, bài viết cần bổ sung thêm những yếu tố nào?
…………
Sau khi các em nhận xét, giáo viên tạo cơ hội để tác giả bài viết giải đáp thắcmắc, cùng “người chất vấn” trao đổi tìm tiếng nói chung một cách ổn thỏa Qúatrình này là học sinh đang phản biện lẫn nhau để tìm chân lí, huy động được nhiềuluồng quan điểm và sự đối thoại giữa các luồng quan điểm Giáo viên đóng vai tròđiều tiết việc tranh luận và chốt lại kết quả tranh luận
Sau khi thực hiện việc đối thoại, tranh luận, phản biện lẫn nhau giữa học sinhvới học sinh ở một vài bài mẫu, giáo viên trả bài, cho các em tự đánh giá, chấmđiểm bài viết của chính mình Cuối cùng giáo viên thu lại rồi đánh giá, chấm điểmcho bài viết của học sinh Cách thức tiến hành như vậy khiến mỗi học sinh đềuthoải mái, không có cảm giác bị gò ép về quan điểm, đáp án bởi kết quả cuối cùng
là kết quả nhận được sự đồng thuận của số đông, đã được sống đông chấp nhận
3 Giới thiệu một số đề và dàn ý hướng dẫn học sinh thực hành
Trang 19mọc, bạn nên bắt đầu chạy.”(Theo Frederman – Thế giới phẳng)
Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý nghĩa từ câu chuyện trên
I Phân tích đề:
- Kiểu đề: + Nghị luận vấn đề xã hội từ một văn bản văn học chưa học.
+ Vấn đề nghị luận là một tư tưởng đạo lí, chưa được nêu trên đề bài
- Yêu cầu:
+ Nội dung: Khả năng sáng tạo của con người.
+ Thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận
+ Phạm vi tư liệu: Thực tế xã hội
II Lập dàn ý:
A Mở bài: Dẫn dắt, nêu văn bản được vấn đề cần nghị luận
B Thân bài:
1 Khái quát nội dung và ý nghĩa câu chuyện:
- Có thể đặt nhan đề cho văn bản trên là Chạy
- Con linh dương – con mồi, sư tử - săn mồi phải chạy vì bản năng sinh tồn của loài,nếu không chạy chúng sẽ bị ăn thịt hoặc bị chết đói
- Con người cũng phải “chạy” - tích cực vận động: học tập mở mang tri thức, phát
triển năng lực, rèn luyện nâng cao bản thân, để theo kịp thời đại
- Vấn đề nghị luận: Con người phải luôn nỗ lực vận động, phấn đấu vươn lên để bắt
kịp và thích ứng với cuộc sống Đó là vấn đề sống còn trong thời đại ngày nay
2 Nghị luận về sự nỗ lực vận động, phấn đấu vươn lên để bắt kịp và thích ứng với cuộc sống
- Giải thích: Chạỵ là hoạt động dời chỗ với tốc độ cao, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực hết
sức Người ta thường chạy khi có sự hối thúc gấp gáp nào đó: thời gian, hoàn cảnh;sức khỏe, sự sống còn …
- Bình luận:
Trang 20+ Văn bản trên nêu lên một vấn đề sống còn với con người hiện đại nếu muốn
tồn tại và phát triển Xã hội không ngừng phát triển, cuộc sống thay đổi từng giờ, con
người không thể đứng yên mà phải chạy – mở mang tri thức, học tập thường xuyên để
không ngừng nâng cao, hoàn thiện bản thân đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, theo kịpthời đại Nếu không con người sẽ bị tụt hậu, bị đào thải khỏi xã hội
+ Việc chạy diễn ra thường xuyên "mỗi ngày"; với tất cả mọi người: mạnh - yếu,
giàu – nghèo; sang – hèn… tùy theo hoàn cảnh, điều kiện, lí tưởng sống, mỗi người có
điểm đến khác nhau " không phải bạn là linh dương hay sư tử"; hơn nữa phải chạy một cách nỗ lực, quyết tâm cao ngay từ đầu " khi mặt trời mọc".
+ Để sống, linh dương, sư tử phải chạy; sư tử phải ăn thịt linh dương - bản năng
sinh tồn của loài Con người chạy, trước hết để sống, tồn tại nhưng không thể vì hạnh
phúc, quyền lợi bản thân mà giẫm đạp lên sự sống, hạnh phúc của người khác Con
người chạy còn để theo đuổi mục tiêu cao đẹp: phát triển năng lực, hoàn thiện bản
thân; thực hiện mơ ước, hoài bão cao cả, xây dựng cuộc sống tươi đẹp, thúc đẩy sựphát triển của xã hội …
+ Dù chạy để theo kịp thời đại, song đôi khi con người cũng phải biết “dừng lại”, để lắng nghe bản thân; cảm nhận và hưởng thụ hạnh phúc mình đang có Chạy chính là để sống tốt hơn.
3 Bài học liên hệ:
+ Định hướng mục đích sống cao đẹp, đích đến rõ ràng, đúng mong muốn, phùhợp với năng lực bản thân; chuẩn mực đạo đức; lí tưởng chung của cộng đồng
+ Chuẩn bị hành trang: tri thức, sức khỏe, bản lĩnh, quyết tâm để sẵn sàng chạy
đua trong thế giới phẳng Biết chạy và cùng chạy với mọi người
C Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa quan trọng vấn đề.
Trang 21sáng tạo ”.
Đại bàng nói: “ Hãy trao nó cho ta, ta sẽ đem nó lên mặt trăng”.
Thượng đế đáp: “ Không được, sẽ có một ngày loài người cũng lên đến đó và tìm thấy nó thôi !”.
Cá hồi nói: “Ta sẽ chôn nó ở đáy đại dương”.
Ngài lắc đầu: “ Không đâu, họ cũng sẽ tìm đến đó dễ dàng”.
Trâu nói: “ Ta sẽ chôn nó trong đồng bằng mênh mông”.
Thượng đế vẫn chưa bằng lòng: “ Họ sẽ khoan sâu vào lòng đất, dù là ở đâu họ cũng nhanh chóng tìm ra nó!”.
Mẹ Đất lúc đó mới nhẹ nhàng chỉ ra một chỗ: “ Hãy đem khả năng sáng tạo giấu vào bên trong mỗi con người.”
Và thượng đế đồng ý.
Thụy Khanh – ( từ intenet)
Suy nghĩ của anh (chị) khi đọc mẩu chuyện trên
I Phân tích đề:
- Kiểu đề:
+ Nghị luận vấn đề xã hội từ một văn bản văn học chưa học.
+ Vấn đề nghị luận là một tư tưởng đạo lí, chưa được nêu trong đề
- Yêu cầu:
+ Nội dung: Khả năng sáng tạo của con người.
+ Thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận
+ Phạm vi tư liệu: Thực tế xã hội
Trang 22- Truyện kể về cuộc đối thoại giữa Thượng đế và muôn loài Người muốn tặng choloài người một món quà là khả năng sáng tạo nhưng phân vân không biết đặt nó vàochỗ nào Sau vài lời đề nghị, Thượng đế quyết định giấu khả năng sáng tạo vào bêntrong mỗi con người.
- Câu chuyện ngắn gọn, giản dị nhưng lại đặt ra vấn đề rất lớn đối với con người: ẩntrong mỗi chúng ta đều có khả năng sáng tạo Đó là một món quà vô giá, phải biết trântrọng và khơi dậy nó
2 Nghị luận về khả năng sáng tạo của con người:
- Giải thích: Sáng tạo là năng lực trong con người đưa ra những ý tưởng, phát kiến mới
- Phân tích, chứng minh: khả năng sáng tạo trong con người trong suốt chiều dài lịch
sử tồn tại và phát triển của mình (lấy dẫn chứng cụ thể để phân tích)
- Bàn luận:
+ Khả năng sáng tạo có vai trò rất quan trong trọng sự tồn tại, phát triển củacon người Nó có trong mỗi con người nhưng không phải ai cũng biết cách khơi dậy đểphục vụ cho cuộc sống của mình
+ Làm thế nào để khơi dậy sáng tạo? Cần không ngừng học hỏi để có tiền đềcho sự sáng tạo, luôn lao động chăm chỉ và tích cực ngẫm nghĩ, dành thời gian cho sựsáng tạo, tìm đến những không gian sáng tạo và người giàu tính sáng tạo…
+ Chỉ ra một số quan điểm sai lầm về khả năng sáng tạo: sáng tạo là chuyện dễdàng, sáng tạo chỉ có ở tuổi trẻ, chỉ cần sáng tạo là có thể thành công, phê phán nhữngngười sống ỷ lại, máy móc, trì trệ, hay viển vông, sáo rỗng…
C Kết bài: Khẳng định ý nghĩa vấn đề, liên hệ bản thân.
Đề 3 Từ truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao, anh (chị) hãy trình bày quan điểm của mình về tình trạng sống thừa của con người trong xã hội.
I Phân tích đề:
Trang 23- Yêu cầu về nội dung: đối tượng nghị luận là một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm
văn học: hiện tượng sống thừa của con người.
- Yêu cầu về thao tác lập luận: sử dụng kết hợp các thao tác giải thích, bình luận, phân
tích, chứng minh, bác bỏ…
II Lập dàn bài
A Mở bài
- Giới thiệu tác phẩm Đời thừa của nhà văn Nam Cao.
- Giới thiệu vấn đề cần bàn luận: tình trạng sống thừa của con người trong xã hội.
B Thân bài
1 Khái quát bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong “Đời thừa” (Nam Cao).
- Bi kịch ở đây hiểu theo nghĩa những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm con người, nó
căng thẳng, không có cách nào giải quyết.
- Bi kịch của Hộ được xây dựng trên mâu thuẫn: giữa một bên là khát vọng được sống
có ích, có ý nghĩa, muốn xác định sự tồn tại cá nhân bằng một sự nghiệp lao động sángtạo có ích cho xã hội với một bên là sự ngăn cản của xã hội Nêu khái quát hai bi kịchtinh thần của nhân vật Hộ trong tác phẩm (bi kịch vỡ mộng văn chương và bi kịch tìnhthương)
2 Tình trạng sống thừa của con người trong xã hội.
* Giải thích: Thế nào là sống thừa ? - Sống thừa: sống vô ích, vô nghĩa, không có tác
Trang 24- Hậu quả: Đó là những kẻ không chỉ sống một cuộc sống vô nghĩa, vô ích mà còn làmảnh hưởng đến những người xung quanh, trở thành gánh nặng cho gia đình, bạn bè và
xã hội; là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, cản trở sự phát triển của đấtnước
- Nguyên nhân:
+ Chủ quan: Bản thân chưa có mục đích sống cao đẹp, sống không có lýtưởng, không có ước mơ, bị cám dỗ bởi những dục vọng tầm thường; thiếu bảnlĩnh, ý chí và nghị lực
+ Khách quan: Gia đình, xã hội thiếu sự quan tâm, giáo dục sát sao, khôngđịnh hướng đúng đắn cho họ…
- Biện pháp khắc phục:
+ Bản thân: cần xác định mục đích, lí tưởng sống đúng đắn, cao đẹp Phải có ýchí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống; cần có lập trường, bản lĩnh vững vàng trướcnhững cám dỗ tầm thường của cuộc sống
+ Gia đình, xã hội: quan tâm sát sao, uốn nắn những lệch lạc trong suy nghĩ, hànhđộng của con cái
+ Nhà trường, xã hội: giáo dục lí tưởng sống, tạo công ăn việc làm cho ngườithất nghiệp, kiên quyết bài trừ các tệ nạn xã hội, giúp những kẻ sống thừa trở thànhnhững người sống có ích, có ý nghĩa…
C Kết bài
- Nhấn mạnh, khẳng định: sự sống là quý giá nhất đối với mỗi con người
- Song, mỗi người cần phải làm cho cuộc sống ấy có ý nghĩa, có ích không chỉ đối vớibản thân mà còn đối với gia đình, nhà trường và xã hội
- Liên hệ bản thân
Đề 4 “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình trong những gian khổ, hi sinh Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những giới hạn, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để vượt qua những ranh giới” (Mùa lạc - Nguyễn
Trang 25mình bằng một bài văn nghị luận.
- Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình trong những gian khổ, hi sinh:
+ Ý tưởng của nhà văn Nguyễn Khải xuất phát từ quan niệm của nhà Phật về thuyết luân hồi, tái sinh Nhà Phật cho rằng, khi kết thúc sinh mệnh, linh hồn con người sẽ được đầu thai sang kiếp khác, “ sống gửi thác về” Con người sốngchỉ là sự gửi thân, chỉ khi mất đi, linh hồn mới trở thành bất tử cùng đất trời, vũ trụ Đó là cách nhà Phật động viên Khích lệ con người vượt qua những khó khăn trong cuộc đời
+ Từ quan niệm của nhà Phật, Nguyễn Khải nhấn mạnh những giá trị cao đẹp
mà con người có được sau một quá trình hi sinh gian khổ Gian khổ, hi sinh càng lớn, hạnh phúc càng êm ngọt
- Ở đời nay không có con đường cùng, chỉ có những giới hạn, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để vượt qua những ranh giới ấy
Nguyễn Khải đi đến tổng hợp, khái quát Nhà văn cho rằng: yếu tố cơ bản, then chốt hóa giải mọi vấn đề chính là sức mạnh tinh thân của con người
=> Câu nói muốn khẳng định: Muốn có được thành công, hạnh phúc thì phải trải qua quá trình gian khổ, vượt qua những giới hạn Đường cùng chỉ là ranh giới, là thử thách
mà con người cần phải vượt qua
2 Bàn luận:
- Khẳng định ý kiến của Nguyễn Khải là một quan niệm sống đúng đắn
- Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình trong đau khổ:
Trang 26+ Xuất phát từ qui luật của cuộc sống Không có gì tự nhiên mà có Nếu không cố gắng, nỗ lực, con người sẽ không nắm được thứ gì cả.
+ Con đường dẫn tới thành công không bao giờ dễ dàng, chỉ khác nhau ở khoảng cách và thời gian
- Dẫn chứng:
Trong truyện “ Mùa lạc”
+ Sự hồi sinh của mảnh đất Điện Biên
+ Sự hồi sinh của nhân vật Đào về tâm hồn
Đất nước Việt Nam trỗi dậy trong cuộc đấu tranh kiên cường 30 năm
- Cuộc đời này không có những giới hạn, chỉ có những ranh giới:
+ Cuộc sống không giới hạn bởi con người có thể làm nên những điều kì diệu, chinh phục được những đỉnh cao khoa học, vũ trụ, bằng ý chí, nghị lực của bản thân
+ Chỉ có những ranh giới do con người hoặc hoàn cảnh tạo ta Đó là những mặc cảm, khó khăn, bế tắc trong cuộc sống Tâm lí chán nản, buông xuôi chỉ sinh ra khi lí chí chùn bước, bản thân yếu đuối
Dẫn chứng:
+ Nick Vujic, thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí
+ Hành trình bôn ba tìm đường cứu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 27+ phải gây dựng cho mình ý chí, nghị lực kiên cường để vựt qua những ranh giới, nhất là ranh giới sinh ra từ bẩn thân con người.
C Kết luận: Nâng cao, mở rộng vấn đề.
Đề 5 Frank A Clark có ý kiến cho rằng: “Ai cũng muốn làm điều gì đó rất lớn lao, nhưng lại không nhận ra rằng cuộc sống được tạo thành từ những điều nhỏ nhất” Anh ( chị) có suy nghĩ gì về ý kiến trên?
- “ Không nhận ra cuộc sống được ta thành từ những điều nhỏ nhất” : đó cũng là tâm
lí thương thấy Vì hướng về cái cao cả, lớn lao mà con người coi nhẹ, thậm chí không quan tâm đến những cái tầm thường, nhỏ bé Nhưng trên thực tế, cuộc sống được tạo nên từ những cái nhỏ bé, đơn lẻ,
=> Câu nói muốn khẳng định, con người luôn hướng tới những điều lớn lao cao cả mà đôi khi quên mất rằng phải bắt đầu từ những việc nhỏ bé nhất, bình thường nhất
2 Bàn luận:
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến trên
- Trong cuộc sống cần phải biết mơ ước tới những điều lớn lao:
- Khát vọng đẹp đẽ là khát vọng chính đáng, cần thiết, đáng được hoan nghênh, khích lệ