1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Doanh nghiệp việt nam phát triển và hội nhập những vấn đề đặt ra sau khi việt nam gia nhập WTO

43 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 552,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

với chính phủ các nước trong việc tạo ra tiền đề, các điều kiện tốt nhất cho các loại hình doanh nghiệp sản xuất và đầu tư, 2 Khoảng cách giàu nghèo sẽ doãng ra; một số doanh nghiệp lâu

Trang 1

VIỆN NC QUẢN LÝ KINH TẾ TW

TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU

THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM:

PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA SAU KHI VIỆT NAM ĐÃ GIA NHẬP WTO

8

Trang 2

VIỆN NC QUẢN LÝ KINH TẾ TW

TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM:

PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA SAU KHI VIỆT NAM ĐÃ GIA NHẬP WTO

TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU

Tel – Fax: 04 – 7338930 E-mail: tttl@ciem.org.vn

Trang 3

MỤC LỤC

I HỘI NHẬP SÂU HƠN VÀ NHỮNG THÁCH THỨC MỚI

1 Tóm tắt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

2 Tác động của hội nhập đối với doanh nghiệp

2.1 Những cơ hội mới và thách thức mới đối với doanh nghiệp

2.2 Những tác động cụ thể trong gần hai năm qua

2.2.1.Về mở rộng thị trường, thu hút vốn nước ngoài 2.2.2 Về thể chế, chính sách vĩ mô

II THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ CỦA CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

1 Doanh nghiệp nhà nước

1.1.Tình hình chung của doanh nghiệp nhà nước

1.2.Thực trạng và những vấn đề đặt ra

2 Doanh nghiệp dân doanh

2.1.Sự phát triển rất đáng khích lệ

2.2.Thực trạng và những vấn đề đặt ra

3 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

3.1.Bước phát triển đột biến

3.2.Thực trạng và những vấn đề đặt ra

III NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1 Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

2 Phát triển doanh nghiệp

3 Tăng cường quản lý vĩ mô

Trang 4

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA SAU KHI VIỆT NAM ĐÃ GIA NHẬP WTO

Từ đầu năm 2007, nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Doanh nghiệp nước ta (kể cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) bước vào thời kỳ mới: phát triển và hội nhập sâu rộng hơn hẳn trước Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang gặp nhiều khó khăn như lạm phát tăng cao, giá

cả leo thang nhiều vấn đề mới được đặt ra, cần những giải pháp mới để doanh nghiệp nước ta tiếp tục phát triển bền vững, góp phần chủ yếu thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chuyên đề này có mục đích điểm lại thực trạng của doanh nghiệp nước ta; những vấn đề được đặt ra và những giải pháp cần thiết để tiếp tục phát triển doanh nghiệp trong thời kỳ mới

Chuyên đề cố gắng nêu lên thực trạng, phân tích rõ những mặt được – nhất là những mặt chưa được trong quá trình phát triển của mỗi loại hình doanh nghiệp Chỉ có nhìn thẳng vào sự thật, nêu lên đúng sự thật thì mới có thể đề

ra những giải pháp đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và đưa doanh nghiệp tiếp tục phát triển lành mạnh, bền vững Chuyên đề gồm ba phần:

- Hội nhập sâu hơn và những thách thức mới;

- Thực trạng và vấn đề của các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

- Những giải pháp chủ yếu

I HỘI NHẬP SÂU HƠN VÀ NHỮNG THÁCH THỨC MỚI

1 Tóm tắt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của quá trình tái sản xuất xã hội của mỗi nền kinh tế từ phạm vi một quốc gia đến phạm vi toàn cầu; với chúng ta, đó là tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của thế giới, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua từ song phương, khu vực đến đa phương, toàn cầu, từ đầu

tư đến thương mại, dịch vụ đã được coi như một bộ phận rất quan trọng của quá trình đổi mới toàn diện đất nước, không những đã khẳng định giá trị

Trang 5

Việt Nam trên thị trường quốc tế mà còn góp phần mang lại sự phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

Từ những năm 80, nước ta đã có quan hệ thưong mại song phương với nhiều quốc gia: trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đàm phán ký kết hiệp định thương mại song phương với 87 nước, trong đó có 70 nước đã thỏa thuận với Việt Nam dành cho nhau quy chế tối huệ quốc; ký kết hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 46 nước, hiệp định tránh đánh thuế hai lần với hơn 40 nước Hội nhập kinh tế song phương đã mang lại nhiều lợi ích kinh

tế, chính trị, xã hội, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam hội nhập vào thị trường quốc tế

Về hội nhập khu vực và toàn cầu, từ đầu những năm 90, chúng ta đã xúc tiến quá trình đàm phán gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế (ASEAN và WTO) và khôi phục quan hệ bình thường với các tổ chức tài chính, tiền tệ thế giới Cuối năm 1993, IMF và WB đã tài trợ trở lại cho Việt Nam

Tháng 7 năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và bắt đầu thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT/AFTA từ 1-1996, tạo ra một bước ngoặt lớn cho

cả Việt Nam và ASEAN, biến một khu vực từ đối đầu sang đối thoại và mở cửa tự do hóa thương mại và đầu tư Tháng 3-1996, Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn kinh tế Á – Âu (ASEM) Tháng 11-1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Nước ta cũng đã tham gia một loạt hiệp định và khu vực thương mại tự do như ASEAN+1, ASEAN+3, v.v

Việt Nam đã đẩy mạnh đàm phán về Hiệp định thưong mại song phương với Hoa Kỳ; Hiệp định này đã được ký kết ngày 13-7-2000 và có hiệu lực từ 10-12-2001, tạo ra bước đột phá trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước và tác động mạnh đến quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, cũng là một bước quan trọng để Việt Nam gia nhập WTO

Để hội nhập toàn cầu, Việt Nam đã bắt đầu đàm phán gia nhập WTO từ năm

1995, sau đó kéo dài 11 năm cho đến 2006 và ngày 7-11-2006, Việt Nam được chấp nhận là thành viên thứ 150 của WTO – tổ chức kinh tế lớn nhất toàn cầu với 149 thành viên chiếm khoảng 90% dân số thế giới, 95% GDP

và 95% giá trị thưong mại toàn cầu Từ ngày 11-1-2007, tư cách này bắt đầu

có hiệu lực; như vậy, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức, bình đẳng trong các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt của khu vực và toàn cầu

Trang 6

Nhìn lại chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là từ năm 2007, khi nước ta là thành viên chính thức của WTO đến nay, qua gần hai năm, nền kinh tế nước ta đã hội nhập sâu hơn và rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu; hội nhập kinh tế đã tác động đến nền kinh tế nước ta cũng như đối với doanh nghiệp nước ta trên nhiều mặt Đáng quan tâm hơn nữa là từ nửa cuối năm

2007 đến nay, nền kinh tế nước ta có những diễn biến phức tạp, do vậy càng cần có câu trả lời về tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế

2 Tác động của hội nhập đối với doanh nghiệp

2.1 Những cơ hội mới và thách thức mới đối với doanh nghiệp Hội nhập

kinh tế quốc tế vừa tạo ra những cơ hội, vừa đặt ra những thách thức như sau

Về cơ hội, đó là (1) Nhờ cam kết, nhất là cam kết trong WTO, hệ thống pháp luật được hoàn chỉnh, tính công khai, minh bạch rõ ràng hơn, thể chế kinh tế thị trường được khẳng định và môi trường kinh doanh ngày càng thông thoáng hơn Đây là tiền đề rất quan trọng để Nhà nước tiếp tục đổi mới hệ thống thể chế, chính sách; các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh doanh (2) Thị trường được mở rộng, các doanh nghiệp có điều kiện bán hàng hóa và dịch vụ của mình vào các nước tham gia hiệp định đã cam kết với mức thuế đã cắt giảm Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng khả năng sản xuất, mở rộng quy mô đầu tư; (3) Doanh nghiệp không bị phân biệt đối xử trong các vụ tranh chấp thương mại nhờ có cơ chế giải quyết tranh chấp chung (nhất là sau khi nước ta được công nhận là nền kinh tế thị trường)

Theo kết quả khảo sát của một số chuyên gia, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá về các cơ hội mới cho họ sau khi Việt Nam gia nhập WTO như sau: nhiều cơ hội tiếp cận thị trường: 94,7%; nhiều cơ hội để học hỏi: 94%; nhiều cơ hội hợp tác với các bạn hàng nước ngoài: 94%; nhiều cơ hội tiếp cận với công nghệ tốt hơn: 91%; cơ hội để phát triển thương hiệu “Made in Vietnam”: 86%; bảo hộ sở hữu trí tuệ tốt hơn: 84%; đỡ nguy cơ bị áp đặt chống bán phá giá bất công: 82%; được hưởng quy chế MFN&NT: 67%.1

Về thách thức, đó là (1) Cạnh tranh sẽ diễn ra rất gay gắt: ngay trên thị trường nước ta, sẽ xảy ra cạnh tranh giữa sản phẩm của doanh nghiệp nước

ta với sản phẩm của doanh nghiệp nước ngoài, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp nước ngoài Cũng sẽ có cạnh tranh giữa chính phủ nước ta

1 Theo “Đánh giá tác động của gia nhập WTO đến kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh” (Phạm Chi

Lan, Lê Đăng Doanh, Bùi Trung nghĩa - Viện Nghiên cứu phát triển IDS, tháng 4-2008)

Trang 7

với chính phủ các nước trong việc tạo ra tiền đề, các điều kiện tốt nhất cho các loại hình doanh nghiệp sản xuất và đầu tư, (2) Khoảng cách giàu nghèo

sẽ doãng ra; một số doanh nghiệp lâu nay dựa vào sự bao cấp của Nhà nước theo cơ chế cũ nay không chịu nổi sức ép của cạnh tranh, sẽ phá sản; một số công nhân trình độ thấp sẽ mất việc làm; (3) Tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, giữa các nền kinh tế sẽ ngày càng gia tăng; sự biến động của thị trường thế giới sẽ tác động rất mạnh đến thị trường trong nước (điều này đang thể hiện rất rõ trong nền kinh tế nước ta từ cuối năm 2007 đến nay) Cũng theo kết quả khảo sát của các chuyên gia trong tài liệu nói trên, các doanh nghiệp cho rằng đối với họ, có những khó khăn và thách thức mới cụ thể như sau: hạn chế về kết cấu hạ tầng dẫn đến tăng chi phí về thời gian và tiền bạc cho vận tải (đường bộ, cảng biển), thiếu điện ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch; nhân lực chuyên môn thiếu gay gắt, đẩy giá tiền công lên, tình trạng tranh giành nhân lực cấp cao giữa các doanh nghiệp trở nên gay gắt; hiện tượng công nhân bỏ việc tăng lên, làm tăng chi phí đào tạo cho doanh nghiệp; giá bất động sản bị đẩy lên, nhất là ở Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội, đem lại lợi nhuận siêu ngạch cho một số công ty bất động sản, song lại làm tăng chi phí đầu tư cho các doanh nghiệp khác, v.v 2Trong hội nhập kinh tế quốc tế, đã xác định có hai chủ thể, đó là Nhà nước

và doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, Nhà nước làm nhiệm vụ mở đường, không trực tiếp sản xuất, kinh doanh; còn doanh nghiệp đóng vai trò

là lực lượng xung kích, kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp đều phải xây dựng chương trình hành động: trên cơ sở phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu của mình, xác định khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp và từ đó đề ra chiến lược thị trường và chiến lược mặt hàng đúng đắn, lựa chọn công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý phù hợp

2.2 Những tác động cụ thể trong gần hai năm qua Tác động của hội nhập

đối với doanh nghiệp diễn ra một cách toàn diện, bao quát toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, từ triển khai đầu tư đến các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, xuất nhập khẩu, mở thị trường, các vấn đề nhân lực, khoa học kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, v.v Song trong thời gian hiện nay, nhất là từ cuối năm 2007 lại đây, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO lại được triển khai vào thời điểm kinh tế thế giới có diễn biến xấu tác động không lợi đối với nền kinh tế nước ta đang còn non yếu và có nhiều khuyết tật, góp phần gây ra nhiều khó khăn lớn Đương nhiên, không phải vì gia nhập WTO mà nền kinh tế nước ta gặp những khó khăn đó; nếu không gia

Trang 8

nhập WTO thì tác động xấu vẫn không ngăn cản được, mà việc mở rộng thị trường có thể còn gặp khó khăn hơn

Về mặt phương pháp luận, khó có thể phân biệt thật rạch ròi tác động đối với doanh nghiệp do việc gia nhập WTO mang lại với những tác động của các nhân tố khác trong quá trình hợp tác kinh tế song phương và đa phương đã thực hiện thời gian qua và những nỗ lực về đổi mới kinh tế của nước ta; đồng thời, thời gian cũng còn quá ngắn để có thể thấy được đầy đủ các tác động

Vì vậy, trong phần này, chỉ xin điểm qua những nét khái quát

2.2.1.Về mở rộng thị trường, thu hút vốn nước ngoài

- Về thương mại, dịch vụ Lĩnh vực thương mại được mở cửa, hoạt động xuất, nhập khẩu tăng khá nhanh Năm 2007, xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng khá: kim ngạch đạt 48,56 tỷ USD, tăng 21,9% so với năm 2006 (chỉ tiêu Quốc hội đề ra là 17,4%) Xuất khẩu của nước ta tăng nhanh ở hầu hết các châu lục, trong đó, xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt gần 7,83 tỷ USD, tăng 35%., vào thị trường EU tăng 27,3%, vào châu Á tăng 21% Có 10 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên là dầu thô, dệt may, da giày,

thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử vi tính, cà phê, gạo, cao su, than đá (theo Báo

cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và triển khai kế hoạch phát

Nhập khẩu năm 2007 đạt kim ngạch 62,68 tỷ USD, tăng 39,6% so với năm

2006 (chỉ tiêu Quốc hội đề ra là 15,5%) Đáng chú ý là nhập siêu cả năm

2007 lên đến 14,12 tỷ USD, bằng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng gấp

hơn hai lần so với năm 2006 (như trên) Tình hình nhập siêu, thâm hụt

thương mại như vậy là rất nghiêm trọng Nguyên nhân cơ bản là do cơ cấu xuất khẩu chưa được cải thiện, vẫn xuất khẩu nguyên liệu thô là chủ yếu, tỷ

lệ gia công còn lớn, hàng chế biến còn thấp; trong khi đó, nhiều loại nguyên vật liệu phục vụ xuất khẩu, nhiều loại phụ liệu vẫn còn phải nhập từ bên ngoài, v.v

Sang năm 2008, qua tám tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 43,321 tỷ USD, tăng 39,1 % so với cùng kỳ năm 2007 Nhập khẩu đạt 59,286 tỷ USD, tăng 54,1% so với cùng kỳ Mức nhập siêu đã giảm dần: tháng.8-2008 là gần

1 tỷ USD, nhưng tính chung cả tám tháng vẫn là 15,965 tỷ USD

- Về đầu tư nước ngoài (FDI) Năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao nhất từ trước đến nay cả về vốn đăng ký và vốn thực hiện: tổng

số vốn đăng ký 21,3 tỷ USD, tăng 77% so với năm 2006; trong đó lĩnh vực công nghiệp chiếm 54% tổng số vốn đầu tư đăng ký, lĩnh vực dịch vụ chiếm 44%, lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chiếm 2% Vốn đầu tư thực hiện

Trang 9

khoảng 8 tỷ USD., cũng là mức vốn thực hiện cao nhất sau 20 năm thực hiện

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (như trên)

Năm 2008 chứng kiên bước nhảy vọt về thu hút FDI Qua tám tháng, đạt 47,158 tỷ USD (kể cả 833,6 triệu USD vốn tăng thêm) Trong đó, riêng vốn mới đăng ký là 46,3 tỷ USD, tăng 416,4% so với cùng kỳ năm 2007 Vốn đầu tư thực hiện sau tám tháng đạt khoảng 7 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng

kỳ năm 2007 Trong số vốn mới đăng ký, Đài Loan đứng đầu với 112 dự án, với số vốn 8,6 tỷ USD, chiếm 18,6 tổng số vốn đăng ký mới Tiếp đó là Nhật Bản với 78 dự án, 7,2 tỷ USD vốn, chiếm 16,2% Nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho rằng Việt Nam đang có những khó khăn, nhưng đó là ngắn hạn, còn về trung hạn và dài hạn, Việt Nam vẫn là nơi có sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư Dự kiến cả năm 2008 sẽ thu hút được 50 tỷ USD đầu tư nước ngoài

- Về thị trường chứng khoán Sau tám năm hoạt động, thị trường chứng khoán đã qua nhiều bước thăng trầm, chịu ảnh hưởng của những bất ổn trong kinh tế vĩ mô ở trong nước và trên thế giới Đến nay, thị trường chứng khoán

đã có dấu hiệu phục hồi Tác động tích cực cũng thấy rõ: cuối năm 2005 mới

có 41 công ty niêm yết, vốn hóa 1% GDP; đến tháng 6-2008, đã có 295 công

ty niêm yết, tổng vốn hóa chiếm 19% GDP Số nhà đầu tư cũng tăng từ 100.000 (cuối năm 2006) lên 307.000 vào cuối năm 2007, với khoảng 300 nhà đầu tư nước ngoài Khối lượng giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài: năm 2006 là 21%; năm 2007 là 29% Các nhà đầu tư nước ngoài nắm khoảng 25 – 30% vốn hóa

- Về thu hút vốn ODA: Năm 2008, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước cam kết tài trợ 5,426 tỷ USD, tăng gần 1 tỷ USD so với năm 2007, là mức cao nhất từ trước đến nay (năm 2006 mức cam kết là 3,75 tỷ USD, năm

2007 là 4,45 tỷ USD) Mức giải ngân ODA năm 2007 đạt 2,2 tỷ USD, cao hơn mức giải ngân năm 2006, năm 2008 dự kiến có thể đạt 2,5 tỷ USD Tuy vậy, tình hình giải ngân chậm vẫn là vấn đề lớn cần được khắc phục để vốn ODA phát huy tác dụng tích cực và kịp thời đối với nền kinh tế nước ta Qua tình hình và những số liệu dẫn ra trên đây, có thể thấy một đặc điểm nổi

bật là việc Việt Nam hội nhập vào kinh tế quốc tế đã đem lại kết quả tích cực

trong việc tự do hóa thương mại và tự do hóa đầu tư, các hoạt động trao đổi hàng hóa, thu hút nguồn vốn từ bên ngoài qua đầu tư trực tiếp, đầu tư gián

công nghệ hiện đại và kỹ năng quản lý tiên tiến nhất định có tác động tốt đối với kinh tế nước ta, thúc đẩy nền kinh tế nước ta thêm năng động, nâng cao

Trang 10

năng lực cạnh tranh Vấn đề đặt ra cho chúng ta là có những cơ chế, chính sách đúng đắn và kịp thời để khai thác những lợi thế đó, phát huy thuận lợi đồng thời khắc phục những hệ quả không lợi do hội nhập mang lại

Đáng quan tâm nhất hiện nay là tình hình lạm phát Lạm phát đã trở nên trầm trọng, bắt đầu từ hai tháng cuối năm 2007 Trong khi chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2007 chỉ tăng 8,12% so với cùng kỳ năm 2006, bình quân chỉ 0,8%/tháng, thì đến tháng 11-2007, chỉ số giá tăng đột biến lên 1,23% và tháng 12 tăng 2,91%, cũng tức là tăng đến 12,63% so với tháng 12 năm

2006 Nguyên nhân có phần do tác động của giá cả thế giới, nhất là xăng dầu, nguyên vật liệu và lương thực, thực phẩm; có phần do khuyết điểm trong việc điều hành đặc biệt là sai sót trong chính sách tiền tệ (tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng gấp đôi so với tốc độ các năm trước)

Năm 2008, tình hình lạm phát tiếp diễn nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến các ngành kinh tê và đời sống nhân dân Tháng 6 năm 2008 chỉ số giá tiêu dùng tăng 26,8% so với tháng 6 năm 2007 và tăng 18,44% so với tháng 12 năm

2007 So với tháng 6 năm 2007, tăng cao nhất là giá nhóm hàng ăn và dịch

vụ ăn uống: 45,55%; trong đó lương thực tăng 74,29%, thực phẩm tăng 37,54% và ăn uống ngoài gia đình tăng 33,35%

Trước tình hình đó, từ tháng 4-1008, Chính phủ đã đề ra tám nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững Việc thực hiện các giải pháp này đã có kết quả bước đầu, tốc độ tăng của chỉ số giá cả đã chậm lại Nếu như chỉ số tháng 6-2008 tăng 2,14% so với tháng 5-2008, thì tháng 7-2008 tăng 1,13% và tháng 8 tăng 1,56% Giá một số mặt hàng thiết yếu như sắt thép, xăng dầu, gạo, hàng điện lạnh đã giảm dần (trong tháng 8-2008, đã có hai lần – ngày 14/8 và 27/8 giảm mỗi lần 1.000 đồng/ lít xăng dầu Tuy vậy, nhìn chung giá cả vẫn còn quá cao và tình hình còn nhiều diễn biến phức tạp Giá tháng 8-2008 còn tăng tới 21,65% so với tháng 12-2007 và 28,32% so với cùng kỳ năm 2007 Một số chuyên gia dự báo giá năm 2008: ở mức thấp, sẽ tăng 24,12%; ở mức cao sẽ là 24,38% (một số chuyên gia dự báo tăng tới 30%); như vậy có thể thấy việc kiềm chế lạm phát còn đòi hỏi nhiều cố gắng lâu dài

2.2.2 Về thể chế, chính sách vĩ mô

Hội nhập kinh tế quốc tế đã có tác động tích cực đến việc hoàn chỉnh hệ thống thể chế, chính sách kinh tế vĩ mô của nước ta nhằm cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới và những cam kết quốc tế trong hội nhập Chính phủ đã có

Trang 11

chương trình hành động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Đổi mới về thể chế, chính sách đáng kể nhất là Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005, được Quốc hội thông qua vào tháng 11-2005 và có hiệu lực từ ngày 1-7-2006 Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư áp dụng chung cho mọi doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế và quốc tịch, tạo nên một bước phát triển quan trọng trong môi trường pháp lý cho kinh doanh ở nước ta Lần đầu tiên, chủ trương “tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp” được luật hóa, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, vừa đáp ứng những đòi hỏi trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của nước ta

Tiếp theo, nhiều cải cách đã được thực hiện trong các lĩnh vực: đăng ký kinh doanh, cấp phép thành lập doanh nghiệp (cơ chế “một cửa” được thực hiện ở một số địa phương; thời gian đăng ký kinh doanh được rút xuống còn 07 ngày là một tiến bộ lớn), cải cách trong quy trình thủ tục xuất, nhập khẩu, trong hải quan, v.v Các chính sách kinh tế được tổ chức soạn thảo công khai, minh bạch hơn, thu hút rộng rãi hơn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp

Theo Báo cáo “Đánh giá tác động của gia nhập WTO đến kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh” (Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh, Bùi Trung nghĩa - Viện Nghiên cứu phát triển IDS, tháng 4-2008), 99% doanh nghiệp được hỏi

ý kiến cho rằng việc gia nhập WTO đã mang lại những thay đổi quan trọng trong chính sách kinh tế của Việt Nam; 84% doanh nghiệp cho rằng quan hệ giữa Chính phủ với khu vực tư nhân đã có thay đổi tích cực, thể hiện ở chỗ: Chính phủ thừa nhân vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế khi gia nhập WTO (“doanh nghiệp và chính phủ là hai chủ thể trong hội nhập”); chức năng và trách nhiệm của Chính phủ rõ ràng hơn; Chính phủ

đã có nhiều cải cách trong quan hệ với doanh nghiệp; 56% doanh nghiệp đánh giá Chính phủ đã thi hành các chính sách kinh tế hiệu quả hơn

Tuy vậy, cũng theo Báo cáo trên, các doanh nghiệp được hỏi ý kiến đã cho rằng: môi trường kinh doanh chậm được cải thiện, khoảng cách giữa các quy định của luật pháp và thực tế thực hiện của công chức còn xa; khoảng cách thực hiện các chính sách đối với doanh nghiệp giữa các địa phương cũng còn lớn; tính công khai, minh bạch về thông tin kinh tế còn kém; khả năng dự báo trước của các chính sách còn thấp, không ít chính sách hay thay đổi mà không tham khảo ý kiến của doanh nghiệp; có những trường hợp lợi ích nhóm có ảnh hưởng đến quyết định chính sách; vẫn còn những ưu đãi với

Trang 12

các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước chưa phù hợp với nguyên tắc đối xử bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước và đối xử bình đẳng ( gọi là đối

xử quốc gia) với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài v.v

II THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ CỦA CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Dưới đây, sẽ phân tích thực trạng và những vấn đề cũng như giải pháp cần thực hiện đối với các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn nước ngoài) trong thời kỳ mới phát triển và hội nhập, đặc biệt là trong tình hình nền kinh tế có những khó khăn

như hiện nay

1 Doanh nghiệp nhà nước

1.1.Tình hình chung của doanh nghiệp nhà nước

Cho đến cuối năm 2006, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) còn khoảng 3.000 doanh nghiệp, nắm giữ gần 70% tài sản cố định quốc gia, 20% tổng vốn đầu

tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước và 70% tổng lượng vốn vay các ngân hàng nước ngoài Thế nhưng, có nhiều nghiên cứu đã cho thấy DNNN đóng góp cho ngân sách nhà nước không tương xứng với những tài sản họ nắm giữ và những ưu ái mà Nhà nước dành cho họ; không những thế, không ít DNNN hiệu quả kinh doanh kém, thua lỗ kéo dài, đầu tư thiếu tính toán hiệu quả, vốn Nhà nước giao mất dần, v.v

Trước tình hình đó, Nhà nước ta đã đề ra nhiều giải pháp để doanh nghiệp nhà nước hoạt động thực sự trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả kinh doanh Đó là (1) Sắp xếp, đổi mới DNNN, chuyển đổi hình thức sở hữu (cổ phần hóa, giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, v.v ) để huy động vốn của xã hội vào kinh doanh; xác định mọi doanh nghiệp đều phải hoạt động theo luật, “xóa bỏ độc quyền và đặc quyền kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước”3 ; chấm dứt sự can thiệp quá sâu, không đúng luật vào hoạt động kinh doanh của DNNN, thực hiện nguyên tắc

“không phân biệt đối xử” của WTO; (2) Mỗi doanh nghiệp phải tự đánh giá lại bản thân doanh nghiệp, xác định chỗ mạnh, chỗ yếu, từ đó tính toán lại chiến lược kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dưng thương hiệu, nhãn mác sản phẩm trên thị trường, tìm ra những biện pháp phù hợp để tiếp cận thị trường, mở rộng kinh doanh; (3) Cải thiện đầu tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ mới nhằm đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, 2006,

tr 84

Trang 13

lực quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNN; và (4) Thực hiện việc liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp trong ngành, ngoài ngành, trong nước và nựớc ngoài, kể cả với các công ty xuyên quốc gia

1.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Về cổ phần hóa Theo phương án sắp xếp lại DNNN, trong giai đoạn 2007 –

2010 cần sắp xếp 1.553 doanh nghiệp (trong đó cổ phần hóa 950 doanh nghiệp, giao bán 25 doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất 45 doanh nghiệp, giải thể, phá sản 51 doanh nghiệp, chuyển thành đơn vị sự nghiệp hoặc chuyển

cơ quan quản lý 41 doanh nghiệp, chuyển thành công ty TNHH một thành viên 440 doanh nghiệp) Thực hiện các phương án này, đến cuối năm 2010,

cả nước còn 745 doanh nghiệp, trong đó có 517 cty TNHH một thành viên (321 doanh nghiệp độc lập; 196 doanh nghiệp thành viên của 42 tập đoàn, Tổng công ty), 105 công ty nông nghiệp và 125 công ty lâm nghiệp Bên cạnh đó, có khoảng 60 tập đoàn, Tổng công ty do Nhà nước giữ cổ phần chi phối

Theo Báo cáo tại Hội nghị về “Sắp xếp đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước” (tháng 4-2008), cho đến hết năm 2007, cả nước đã sắp xếp lại 5.366 DNNN, trong đó cổ phần hóa 3.756 doanh nghiệp Tổng vốn nhà nước ở các doanh nghiệp cổ phần hóa năm 2007 là 29.766 tỷ đồng, bằng 42% tổng vốn nhà nước của các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, trong đó Nhà nước giữ bình quân 44,17% vốn điều lệ, người lao động trong doanh nghiệp giữ 15,52%, cổ đông bên ngoài giữ trên 40,31% vốn điều lệ Theo báo cáo của 1.616 doanh nghiệp có thời gian hoạt động sau cổ phần hóa trên 1 năm (tính đến năm 2006), phần lớn các doanh nghiệp cổ phần đều kinh doanh có lãi, đời sống người lao động được cải thiện; chỉ có 109 doanh nghiệp thua lỗ (chiếm 7,1%

số doanh nghiệp có báo cáo)

Đến nay, cả nước có 1.720 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (trong đó có 1.099 doanh nghiệp độc lập, 84 TCT với 296 thành viên và 20 tập đoàn, TCT

91 với 222 doanh nghiệp thành viên) chủ yếu thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước, công ích, an ninh, quốc phòng, nông lâm trường, những ngành, lĩnh vực bảo đảm cho cân đối vĩ mô hoặc cung cấp các dịch vụ cho xã hội với tổng số vốn nhà nước khoảng 400.000 tỷ đồng Theo Báo cáo tại Hội nghị nói trên, hầu hết DNNN duy trì được tốc độ tăng trưởng (bình quân 10%/năm); sản xuất, kinh doanh có hiệu quả (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu khoảng 11%) , bù đắp được các khoản lỗ phát sinh trước đây; trong giai đoạn 2000-2007, DNNN đóng góp gần 39% GDP, 40% tổng thu ngân sách Gần

Trang 14

80% DNNN kinh doanh có lãi, 8% doanh nghiệp hòa vốn và 12% doanh nghiệp thua lỗ

Tuy vậy, nếu so kết quả thực hiện năm 2007 với kế hoạch của Chính phủ đề

ra cho giai đoạn 2007 – 2010, thì tiến độ như vậy là chậm: số doanh nghiệp sắp xếp được 271/1.553 doanh nghiệp; số doanh nghiệp cổ phần hóa được 150/950 doanh nghiệp Trong số 3.756 doanh nghiệp đã cổ phần hóa, chủ yếu là doanh nghiệp thuộc các địa phương quản lý (chiếm 58,1%); còn doanh nghiệp thuộc các tập đoàn, tổng công ty chỉ chiếm 11,6% và thuộc các

bộ chiếm 30,3% Số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa so với tổng số vốn nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty và công ty nhà nước độc lập cũng chỉ đạt gần 17,8% (78.070/439.168 tỷ đồng) – theo Báo cáo của Chính phủ trình Úy ban Thường vụ Quốc hội ngày 20-8-2008; tỷ lệ này không cao, mặc dù số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa nhiều, là vì nhiều doanh nghiệp loại lớn chưa được cổ phấn hoá và trong những năm gần đây, vốn nhà nước tại các công ty nhà nước đã tăng lên đáng kể

Nguyên nhân của sự chậm trễ trong cổ phần hóa có nhiều, song có thể nêu một số nguyên nhân chủ yếu như sau

kinh tế nhà nước đối với nền kinh tế, làm thế nào để DNNN thực sự vững mạnh, đảm đương được vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường , v.v chưa được nghiên cứu làm rõ Vẫn còn những chính sách ưu đãi không hợp

lý của nhà nước đối với các tập đoàn, tổng công ty như được thuê đất dễ dàng, vị trí thuận lợi, được vay ngân hàng không có thế chấp, được bảo lãnh vay vốn nước ngoài, cấp tín dụng ưu đãi và được khoanh nợ, xoá nợ khi làm

ăn thua lỗ, v.v Tình hình này càng làm cho việc chỉ đạo cổ phần hóa chưa được thực sự khẩn trương, còn đối với DNNN thì chậm ngày nào hay ngày

ấy, họ còn có thể tiếp tục ỷ lại vào sự ưu ái của Nhà nước, càng thiếu trách nhiệm trong việc kinh doanh vốn nhà nước Tình hình này kéo dài càng không bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các loại doanh nghiệp trong kinh doanh theo cam kết với WTO; các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bị lép vế

các vấn đề nảy sinh trong quá trình sắp xếp lại DNNN, trong việc cổ phân hóa, như giải quyết các tồn đọng về nợ nần, về tài chính, quyết toán thuế trong việc cổ phần hóa, xác định giá trị quyền sử dụng đất, giao đất và cho thuê đất Có thể nêu khá nhiều công việc nếu như được nghiên cứu, giải quyết kịp thời với quyết tâm cao, sự chỉ đạo chặt chẽ, đôn đốc đến nơi đến

Trang 15

chốn, không buông lỏng, nhân nhượng, chắc chắn sẽ đẩy nhanh được tốc độ sắp xếp lại, cổ phần hóa DNNN Hơn thế nữa, trong quá trình cổ phần hóa, cũng đã có những doanh nghiệp đáng ra phải xử lý bằng những hình thức giao, bán, khoán, cho thuê kinh doanh, nhưng những doanh nghiệp này đã trốn chạy bằng cách sáp nhập vào các doanh nghiệp nhà nước, các tổng công

ty, gây thêm gánh nặng về tài chính, về lao động mà khi cổ phần hóa, các doanh nghiệp nhà nước này rất khó giải quyết

Về các tập đoàn kinh tế Một vấn đề đang nổi lên và được dư luận quan tâm,

đó là việc thành lập tập đoàn kinh tế và việc kinh doanh của các tập đoàn Đến nay, nước ta đã có 8 tập đoàn: Dầu khí; Điện lực; Bưu chính, Viễn Thông; Dệt may; Cao su; Công nghiệp tàu thuỷ; Than, Khoáng sản và Bảo Việt, và 96 tổng công ty sở hữu gần 400.000 tỷ đồng, chiếm hầu hết vốn của nhà nước có tại doanh nghiệp nhà nước Đáng quan tâm là hai lĩnh vực công nghiệp và xây dựng mà các tập đoàn, tổng công ty chiếm tỷ trọng cao nhất lại kinh doanh kém hiệu quả nhất Trong thời kỳ 1996-2000, giá trị tổng sản lượng công nghiệp, xây dựng tăng được 1,31% thì tạo ra được 1% giá trị gia tăng, song đến những năm 2001-2005 đã lên đến 1,56, các năm 2006-2007 là 1,63 và 6 tháng đầu năm 2008 lên đến 2,35, tức hiệu quả từ năm 1996 đến tháng 6 năm 2008 đã giảm 45%

Các tập đoàn kinh tế đầu tư ra ngoài lĩnh vực hoạt động chính của họ, không những thế lại dùng tiền vay khá lớn của ngân hàng để đầu tư, một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, đã trở thành vấn đề nghiêm trọng Theo báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị về “Sắp xếp đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước” (tháng 4-2008), tính đến hết năm 2007, tổng giá trị đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp của 70 tập đoàn, tổng công ty là 116.768 tỷ đồng , trong đó có 28/70 tập đoàn, tổng công ty đầu tư 23.444 tỷ đồng (bằng 8,7% vốn chủ sở hữu) vào lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản Riêng Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực nói trên đến 3.323 tỷ đồng, bằng 1,1 lần vốn chủ sở hữu (cũng tức là Tập đoàn này đã

sử dụng vốn vay để đầu tư tài chính) Đến ngày 10-7-2008, tại cuộc họp báo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, tổng số tiến đầu tư vào chứng khoán, ngân hàng, bất động sản chỉ là 7.370 tỷ đồng (nhỏ hơn 3 lần con số 23.344 tỷ đồng do Bộ Tài chính công bố tháng 4 năm 2008 Không những số liệu của cơ quan quản lý đưa ra thiếu thống nhất, mà một số tập đoàn cũng cho rằng họ mở rộng đầu tư như vậy là cần thiết, là “lấy ngắn nuôi dài”, Cần phải kiểm chứng tính chính xác của các số liệu nêu trên,

Trang 16

song thực chất của vấn đề vẫn không thay đổi và những rủi ro là cần nhận biết trước để đề phòng

Việc mở rộng kinh doanh đã kéo theo việc phát triển thêm nhiều công ty con, gây ra nguy cơ không bảo đảm về năng lực quản lý, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài tập đoàn, như cho vay nội bộ, chi phối giá mua, giá bán, nguy hiểm hơn là phân tán tài sản nhà nước về các công ty con, trong đó có trường hợp lãnh đạo tập đoàn nắm giữ một lượng cổ phiếu đáng kể ở những công ty con mới thành lập này Trong năm 2007 so với năm 2006, số lượng công ty con trong tập đoàn tăng 10%

và công ty liên kết tăng 39 %; riêng Tập đoàn Vinashin tăng 43 công ty con

và 111 công ty liên kết, liên doanh mà chủ yếu là góp vốn bằng thương hiệu Việc đầu tư ra bên ngoài một cách nhanh chóng trong một thời gian ngắn và đầy tham vọng của các tập đoàn, tổng công ty trong lúc kinh tế nước ta gặp khó khăn, lạm phát bùng nổ, giá cả leo thang từ cuối năm 2007 đến nay đã gây khó khăn cho quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tập đoàn, gây khó khăn cho Ngân hàng nhà nước trong quản lý lưu thông tiền tệ, nếu không được khắc phục sẽ làm tăng tính đầu cơ trên thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, góp phần làm tăng thêm lạm phát

Để khắc phục tình trạng trên, cần sớm có quy chế quản lý các tập đoàn Đại hội lần thứ X của Đảng đã quyết định: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, , trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối” 4 Thế nhưng, việc thành lập các

tập đoàn kinh tế lại chủ yếu là của các doanh nghiệp nhà nước, là tập đoàn

lập tập đoàn kinh tế này cũng chưa phải do nhu cầu kinh tế, mà chủ yếu là

do biện pháp hành chính Các tập đoàn kinh tế nhà nước này thường là độc quyền, được ưu ái và có khả năng lũng đoạn thị trường rất lớn

Yêu cầu cấp thiết là phải có cơ chế quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Hiện nay, vốn nhà nước đầu tư cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế đang chiếm một tỷ trọng khá lớn, bằng gần 60% tổng vốn kinh doanh của toàn bộ các doanh nghiệp; vốn nhà nước chiếm 100% ở các công

ty TNHH một thành viên là Nhà nước, chiếm trên 50% ở nhiều công ty cổ phần do Nhà nước chi phối và dưới 50% ở nhiều công ty cổ phần, công ty TNHH hai hoặc hơn hai thành viên Cần có quy định pháp lý đối với các

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, 2006,

tr 85

Trang 17

hành vi quản lý và sử dụng vốn nhà nước nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại các công ty này Riêng đối với các tập đoàn, cần cụ thể hóa Điều 149 Luật Doanh nghiệp 2005 về tập đoàn “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn Chính phủ quy định, hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế” Cần có những quy chế về quản lý tài chính của các tập đoàn nhà nước để ràng buộc các tập đoàn huy động vốn phải gắn với phương án kinh doanh có hiệu quả Tập đoàn nhà nước phải dành phần lớn nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh doanh chính, mức đầu tư ra ngoài cần được quy định rõ ràng và phải xin quyết định của cơ quan chủ sở hữu (gần đây, có quy định mức vốn tập đoàn được đầu tư ra ngoài không được quá 30% vốn chủ sở hữu, nhưng quy định này cũng chưa đủ căn cứ thuyết phục và chưa đủ chặt chẽ) Phải tăng cường

sự giám sát của chủ sở hữu nhà nước đối với hoạt động kinh doanh và, kết quả kinh doanh của các công ty mẹ và các công ty thành viên, cũng như các thông tin về danh mục đầu tư, các ngành nghề kinh doanh chính, ngành, nghề kinh doanh có liên quan và hiệu quả kinh doanh của các ngành, nghề

2006, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới tăng 26%, số vốn đăng ký tăng 330% Trong năm 2007, Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội dẫn đầu cả nước

về số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, lần lượt là 18.009 và 10.913 doanh nghiệp Địa phương có số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ít vẫn chủ yếu là các tỉnh miền núi phía Bắc, như Bác Kạn (71 doanh nghiệp), Điện Biên (85 doanh nghiệp), Lai Châu (85 doanh nghiệp) Hà Giang (102 doanh nghiệp)

Cũng trong năm 2007, đã có 38.443 lượt doanh nghiệp bổ sung vốn đăng ký với số vốn tăng thêm là 230.811.081 triệu đồng, tăng 389% so với cùng kỳ năm 2006; riêng Tp Hồ Chí Minh có 27.549 doanh nghiệp bổ sung số vốn tăng thêm là 109.678.261 triệu đồng

Tính đến hết năm 2007, cũng theo nguồn tài liệu trên, cả nước có 307.008 doanh nghiệp đăng ký thành lập Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (tính

Trang 18

đến ngày 31-7-2007) là 182.888 doanh nghiệp6 Số doanh nghiệp đăng ký thành lập và số doanh nghiệp đang hoạt động thường có sự chênh lệch do nhiều nguyên nhân, nhưng chênh nhau bao nhiêu là vừa phải, hiện chưa có

cơ sở để khẳng định

Theo kết quả cuộc Điều tra kinh tế, hành chính sự nghiệp năm 2007 của Tổng cục Thống kê, tổng số cơ sở sản xuất, kinh doanh (thuộc doanh nghiệp,

cơ quan, đoàn thể, hiệp hội và cơ sở cá thể) có tại thời điểm 1-7-2007 rtrên

cả nước là 3.935.078, tăng 44,7%, trong đó số cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc doanh nghiệp và cơ quan đoàn thể, hiệp hội là 183.920, tăng 82,8%; số

cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể là 3.751.158, tăng 43,2%

Có thể nêu lên một số nhận xét như sau: (1) Do tác động của những đổi mới trong thể chế, chính sách, nhất là tác động của Luật Doanh nghiệp, số cơ sở sản xuất kinh doanh dân doanh tăng khá nhanh, riêng năm 2007 nhanh hơn hẳn năm 2006 (tăng 26% về số doanh nghiệp và 330% về vốn đăng ký); số

cơ sở kinh doanh cá thể tăng vọt tới 43,2% Sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp đã kéo theo sự gia tăng về số lượng lao động (trong 5 năm qua, số lương lao động trong các cơ sở sản xuât kinh doanh đã tăng 121,3%) góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho xã hội Song số doanh nghiệp đang hoạt động chiếm tỷ lệ quá thấp so với số đăng ký thành lập là điều rất đáng suy nghĩ (2) Cơ cấu ngành của các cơ sở sản xuất kinh doanh dân doanh đã

có chuyển biến tích cực, số doanh nghiệp kinh doanh các ngành dịch vụ đã tăng lên, năm 2007 chiếm 76% cơ sở (năm 2002 là 72,5%) và 57% lao động (3) Sự phát triển nhanh của doanh nghiệp dân doanh của mỗi tỉnh/thành phố

đã chừng nào phản ánh kết quả cải thiện hoạt động điều hành kinh tế cua chính quyền cấp tỉnh (qua việc khảo sat, đánh giá Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh – PCI do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam tổ chức) Theo kết quả xếp hạng PCI năm 2007, các địa phương được xếp hạng nhóm dẫn đầu là: Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc

2.2.Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Về các khó khăn trong kinh doanh: Mặc dù đã có những đổi mới đáng ghi nhận trong thể chế, chính sách quản lý doanh nghiệp, giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp dân doanh, song đến nay, doanh nghiệp dân doanh, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn là khu vực chịu nhiều thiệt thòi nhất Vẫn là những khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng, trong việc tìm kiếm mặt bằng để mở rộng sản xuất kinh doanh, là việc tiếp cận thị trường nước ngoài, v.v và trong quản lý doanh nghiệp, vẫn còn

6 Như trên, tr 7

Trang 19

những non kém về khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ, về kỹ năng quản lý doanh nghiệp, về quản lý tài chính, quản lý nhân sự, v.v

- Khó khăn lớn nhất là thiếu vốn Trong tình hình nền kinh tế cả nước đang

gặp những khó khăn lớn về lạm phát bùng nổ, giá cả leo thang, vốn thiếu, như hiện nay, thì doanh nghiệp dân doanh lại càng gặp khó khăn hơn, thậm chí khó khăn là rất nghiêm trọng Khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu vốn,

mà khoảng 50% doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thường xuyên vay vốn từ ngân hàng; nay do chủ trương xiết chặt tín dụng, doanh nghiệp nhỏ và vừa càng khó vay vốn Lãi suất vay cũng lên đến 20 – 21%, doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể chịu nổi Đã có những nghiên cứu cho rằng hiện nay, chỉ có khoảng 60% doanh nghiệp cầm cự được, 20% đang thu hẹp sản xuất kinh doanh và 20% chuẩn bị phá sản Sự phá sản của hàng loạt doanh nghiệp sẽ kéo theo những vấn đề dân sinh, xã hội không thể không tính đến Chính vì vậy, rất cần xử lý một cách hợp lý đối với nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp dân doanh, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có phân tích các loại nhu cầu và

xử lý vốn vay cũng như lãi suất cho vay phù hợp với thực tế Dù rằng lãi suất cho vay của một số ngân hàng có giảm chút ít, nhưng lượng khách hàng được xét duyệt cho vay không tăng, do điều kiện cho vay thắt chặt hơn, mục đích sử dụng vốn và khả năng trả nợ được xem xét kỹ hơn để giảm thiểu rủi

ro trong việc thu hồi vốn; ngân hàng chỉ cho vay trong những trường hợp có nhu cầu vay để đáo hạn hoặc những khách hàng có quan hệ tín dụng từ trước, v.v

- Khó khăn về mặt bằng cho sản xuất kinh doanh Đối với các doanh nghiệp

dân doanh, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, quá trình đi tìm mặt bằng sản xuất đang là phức tạp nhất, kéo dài nhất và tốn kém không ít trong các thủ tục hành chính để thành lập doanh nghiệp Theo khảo sát của GTZ, để được Nhà nước giao đất, doanh nghiệp phải trải qua 7 thủ tục với thời gian trung bình khoảng 230 ngày và qua rất nhiều cơ quan liên quan Theo một khảo sát khác, để có được đất trên thị trường thứ cấp chỉ mất chưa đến 07 ngày, nhưng sau đó, thủ tục đăng ký giao dịch và xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại rất phức tạp và tốn nhiều thời gian Vì vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kể cả doanh nghiệp làng nghề vẫn phải sử dụng đất của gia đình hoặc đất đi thuê lại của bà con nông dân trong xã, nhưng nhà xưởng để lẫn trong khu dân cư thường ảnh hưởng đến môi trường sống của dân cư, nhất là các làng nghề lại gây ô nhiễm môi trường Nhiều doanh nghiệp phải thuê lại mặt bằng của doanh nghiệp nhà nước với gía cao, thời hạn ngắn, nhưng cũng không thuận lợi cho việc mở rộng quy mô sản xuất Đất trong khu công

Trang 20

nghiệp có nơi vẫn còn song doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận vì không

đủ năng lực để thuê diện tích lớn theo quy mô của khu công nghiệp; hơn nữa giá thuê cũng quá sức chịu đựng của họ Việc giảm bót thủ tục, giúp đỡ doanh nghiệp có được mặt bằng cần thiết cho sản xuât vẫn là một đòi hỏi cấp thiết mà các cấp chính quyền, nhất là cấp tỉnh và xã cần quan tâm hơn nữa Một số trở ngại trong đăng ký kinh doanh:

- Trước hết đó là tình trạng “Giấy phép con” đang bùng phát, mặc dù đã có

nhiều lần cắt giảm, nhiều lần Chính phủ yêu cầu rà soát, cắt giảm Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Việt Nam có 400 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, thể hiện ở hơn 300 loại giấy phép và gần 100 hình thức khác Trong đó, 84 loại ngành, nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại luật, nghị định nhưng đăng ký kinh doanh lại được quy định ở thông tư, văn bản cấp bộ; 28 loại ngành, nghề kinh doanh, thông tư đã quy định chặt chẽ hơn đăng ký kinh doanh ở luật, pháp lệnh, nghị định7 Trong thực tế, có rất nhiều loại giấy phép biến tướng, chỉ ở dạng chấp thuận bằng văn bản, đã có chứng chỉ hành nghề, chứng nhận đạt tiêu chuẩn, chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng nhận bảo đảm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định

Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định "Các bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và UBND các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh" (khoản 5, Điều 7); cũng có nghĩa là từ nay, chỉ có Quốc hội và Chính phủ mới có quyền này Theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 5-9-2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, thì những giấy phép, điều kiện kinh doanh không được quy định trong luật, không được Chính phủ ban hành trong nghị định như nói trên sẽ đương nhiên hết hiệu lực

từ 1-9-2008 Đây là thời hạn có thể tạo ra bước ngoặt trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân; song việc thực hiện quy định này đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt của các cơ quan nhà nước và các cấp có thẩm quyền, vì như thực tế đã cho thấy, không dễ gì các cơ quan này lại chủ động thực hiện nếu không có sự đôn đốc, kiểm tra chặt chẽ (một ví dụ: năm 2007, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng đã từng đề nghị bãi bỏ

37 loại giấy phép kinh doanh không đủ căn cứ pháp lý, song chưa có trường hợp nào được thực hiện)

Về lâu dài, để hạn chế một cách cơ bản tình trạng ban hành các quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh có thể hạn chế

7 Báo Tuổi trẻ số 237/2008, ra ngày 30-8-2008

Trang 21

quyền kinh doanh của công dân hoặc gây thêm phiền hàm, tốn kém cho họ, cần nghiên cứu ban hành một văn bản ở cấp Chính phủ quy định riêng về các loại giấy phép, những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và những điều kiện kinh doanh tối thiểu cần thiết Đồng thời, việc thi hành các văn bản loại này cũng cần được kiểm tra, giám sát chặt chẽ

- Giải quyết những vướng mắc trong việc thực hiện Luật Đầu tư Luật Đầu tư

2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2006 đã quy định những quyền và nghĩa vụ áp dụng chung cho nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Đã có Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22-9-

2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, nhưng trong thực hiện, vẫn đang có nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho nhà đầu tư Đầu năm 2008, Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2005 đã có bản Báo cáo “Rà soát đánh giá các nội dung không tương thích giữa Luật Đầu tư và các luật khác có liên quan và kiến nghị bổ sung, sửa đổi”, trong đó đã nêu lên những nội dung không tương thích, trùng lặp thậm chí mâu thuẫn giữa Luật Đầu tư và các luật có liên quan (Luật Đất đai, Luật Môi trường, Luật Xây dựng và một số luật khác) và đề xuất 07 kiến nghị về những nội dung cần sửa đổi theo hướng đơn giản hóa, hợp lý hóa và

“liên ngành hóa” thủ tục hành chính về đầu tư Đây là những vấn đề rất quan trọng, cần được nghiên cứu nghiêm túc để giải quyết các vướng mắc mà Báo cáo đã đề ra, tạo thêm thuận lợi cho nhà đầu tư (kể cả nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài) và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nựớc

- Sự phối hợp giữa các cơ quan trong đăng ký kinh doanh cũng đang là một

khó khăn lớn của các cơ quan đăng ký kinh doanh Đã có những văn bản quy định cơ chế phối hợp giữa ba cơ quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính

và Bộ Công an hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng

ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế và đăng ký con dấu đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp; qua đó, rút ngắn thời gian hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp xuống còn 05 ngày Như vậy, mỗi doanh nghiệp có một mã số duy nhất, đồng thời cũng là mã số thuế của doanh nghiệp Cơ quan kế hoạch cũng đang nghiên cứu tiết giảm hơn nữa kinh phí và thời gian cho việc hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh (có thể rút xuống còn 02 ngày) và thiết lập một hệ thống cung cấp thông tin qua mạng bằng việc lưu trữ các báo cáo tài chính hàng năm của các công ty cổ phần Đây sẽ là những bước tiến quan trọng trong thủ tục đăng ký kinh doanh cần được triển khai

Ngày đăng: 23/01/2021, 11:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w