Luật Giáo dục sửa đổi, Luật GDĐH, Chiến lược phát triển GDĐH 2011-2020 cũng như các chương trình cải cách GDĐH trong những năm gần đây đã chuyển trọng tâm vào chất lượng giáo dục, từ đó
Trang 11 Đặt vấn đề
Đảm bảo chất lượng (ĐBCL)
trong giáo dục đại học (GDĐH)
đã phát triển từ rất lâu, và rất thịnh
hành trong hệ thống giáo dục đại
học của Pháp, Ý và Anh Tuy nhiên,
phải đến đầu thập niên 90 của thế
kỷ trước, ĐBCL mới thực sự trở
thành xu hướng tất yếu toàn cầu
Với xu hướng này, hệ thống ĐBCL
GDĐH cấp quốc gia đã hình thành
ở các nền giáo dục tiên tiến Đi
liền với đó là sự ra đời của các tổ
chức, đơn vị ĐBCL và các công cụ
ĐBCL, điển hình là kiểm định chất
lượng (KĐCL - Accreditation),
thẩm định chất lượng (Audit), xếp
hạng đại học (Ranking)
Cùng với xu hướng thế giới
trong ĐBCL GDĐH, từ cuối năm
2005 đầu 2006 VN đã bắt đầu triển khai Kiểm định chất lượng (KĐCL) GDĐH Tuy vậy, sau gần hơn 10 năm (2006-2015), hệ thống KĐCL vẫn chưa hoàn thành và đi vào hoạt động chính thức Hệ thống ĐBCL GDĐH quốc gia về cơ bản vẫn chưa đượchình thành, chủ yếu dựa vào KĐCL và thiếu vắng nhiều công cụ ĐBCL được sử dụng phổ biến ở những nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Anh, Hà Lan, Úc và các nước châu Âu khác Hai trung tâm KĐCL mới được thành lập ở VN, chưa chính thức triển khai hoạt động đánh giá chất lượng Có thể nói giữa nền GDĐH của VN và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới tồn tại những khoảng cách khá lớn về nhiều mặt, trong
đó có công tác ĐBCL
Luật Giáo dục sửa đổi, Luật GDĐH, Chiến lược phát triển GDĐH 2011-2020 cũng như các chương trình cải cách GDĐH trong những năm gần đây đã chuyển trọng tâm vào chất lượng giáo dục,
từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc hoàn thiện và phát triển hệ thống ĐBCL GDĐH quốc gia Bài viết này chỉ ra một số những vấn
đề của hệ thống ĐBCL và KĐCL GDĐH VN, qua đó đưa ra một
số khuyến nghị đối với việc phát triển hệ thống này Một vài trong
số những khuyến nghị này đã từng được các chuyên gia nghiên cứu GDĐH trong nước đề cập, tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, những khuyến nghị này vẫn có giá trị nên vẫn được đưa vào bài viết này
Xây dựng hệ thống đảm bảo
và kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học tại Việt Nam
Bùi VÕ aNH Hào
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM
Nhận bài: 15/10/2015 - Duyệt đăng: 09/12/2015
Sự ra đời của bộ tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học và kế
hoạch kiểm định chất lượng dựa trên các tiêu chuẩn theo quy định tất yếu phải đi kèm một hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý
để đưa bộ tiêu chuẩn này trở thành hiện thực Hiện nay, một hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tương đối hoàn chỉnh đang được hình thành tại VN, với cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục cấp quốc gia là Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, và các bộ phận đảm bảo chất lượng bên trong đã và đang được thiết lập tại các trường
Từ khóa: Đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng, giáo dục đại học.
Trang 22 Một số vấn đề về công tác
ĐBcL trong gDĐH VN
Về hình thức có thể thấy hệ
thống ĐBCL GDĐH của VN còn
rất nhiều hạn hữu Sự thiếu vắng
vai trò của các tổ chức hiệp hội ví
dụ như Hiệp hội ĐBCL hay Hiệp
hội các trường ĐH&CĐ VN trong
hệ thống ĐBCL quốc gia khiến cho
hệ thống ĐBCL GDĐH của VN về
cơ bản chỉ hoạt động theo phương
thức áp đặt “từ trên xuống dưới”,
từ Bộ GD&ĐT xuống các trường
ĐH&CĐ Dù rằng cách tiếp cận
này sẽ có tác dụng tích cực trong
giai đoạn ngắn ban đầu nhưng về
lâu dài, nó sẽ hạn chế sự phát triển
của hoạt động ĐBCL Các chuyên
gia, các nhà nghiên cứu trong lĩnh
vực này đều cho rằng ĐBCL chủ
yếu “nằm trong tay” của các cơ
sở GDĐH (CSGDĐH) và cán bộ,
giảng viên Các tài liệu hướng dẫn
thực hành ĐBCL của INQAAHE1
hay Hiệp hội ĐBCL GDĐH châu
Âu (ENQA) đều nhấn mạnh vai
trò của các trường ĐH&CĐ trong
ĐBCL
Thêm vào đó, cũng không
quá khó khăn để nhận định rằng
các công cụ ĐBCL được sử dụng
trong hệ thống còn rất đơn giản
hoặc quá sơ sài, chỉ có KĐCL,
yêu cầu công khai thông tin và
việc cấp phép mở ngành/CTĐT
hiện đang được sử dụng trong
hệ thống KĐCL thì chưa hoàn
thiện và đi vào hoạt động trong
khi chương trình Ba công khai
còn để ngỏ nhiều câu hỏi về tính
chính xác và độ tin cậy của thông
tin Hệ thống xếp hạng đại học
trong nước chưa hình thành trong
khi xếp hạng đại học thế giới và
khu vực hầu như chưa chạm tới
các trường ĐH&CĐ của VN
Khảo sát ý kiến của người học
1 International Network for Quality Assurance
Agencies in Higher Education
đã được triển khai ở cấp trường nhưng không đồng bộ Hơn nữa,
do phiếu khảo sát của các trường không được xây dựng trên nền tảng cùng một bộ chỉ báo (Indicator Set) nên kết quả khảo sát không đem lại thông tin giá trị đối với hệ thống ĐBCL toàn quốc
Hệ thống ĐBCL nội bộ bên trong các trường ĐH&CĐ hầu như chưa hình thành mặc dù phần lớn các trường đã thành lập
bộ phận/đơn vị phụ trách ĐBCL
Nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị này là thực hiện những yêu cầu ĐBCL của Bộ GD&ĐT, đồng thời kiêm nhiệm các công tác khác như khảo thí và hoặc thanh tra mà nhiều khi các nhiệm vụ này lại chiếm phần lớn các nhiệm
vụ thường xuyên của đơn vị Các công cụ ĐBCL bên trong các trường nhìn chung rất hạn chế
Về thực chất, mặc dù sự ra đời của KĐCL năm 2006 đã tạo ra “cú hích” đáng kể đối với hoạt động ĐBCL của cả hệ thống GDĐH,
có thể nói hoạt động ĐBCL về
cơ bản vẫn mang tính hình thức
và thiếu thực chất KĐCL chưa giúp kiểm soát hay đảm bảo chất lượng giáo dục của các trường ĐH&CĐ hay các CTĐT do các trường cung cấp (phân tích cụ thể ở phần sau về KĐCL) Thậm chí KĐCL còn tạo hiệu ứng ngược khi gây phản ứng tiêu cực
từ các trường do triển khai chậm trễ, cồng kềnh, kém hiệu quả và thiếu nhất quán
Thông tin công khai theo chương trình Ba công khai mặc
dù phần nào giúp tăng tính minh bạch trong hệ thống nhưng không được kiểm chứng, xác minh, do vậy chưa phải là nguồn tin đảm bảo Ở đây có thể tham khảo
tiêu chuẩn ĐBCL của ENQA, theo đó thông tin các CSGDĐH công bố công khai phải được một bên độc lập kiểm chứng và xác nhận2 Đối với việc kiểm soát các điều kiện ĐBCL của CTĐT, Thông tư 08/2011/TT-BGDĐT ban hành năm 2011 về bản chất quy định những điều kiện “kiểm tra nhanh” để “mở và duy trì CTĐT” Chính vì tính chất “kiểm tra nhanh” này mà các tiêu chuẩn đặt ra khá đơn giản và sơ sài, chỉ đơn thuần là các tiêu chuẩn
“cứng”, không tính đến đặc thù của các lĩnh vực đào tạo khác nhau như khoa học tự nhiên, xã hội, văn hoá nghệ thuật, thể thao hay quân sự Việc Bộ GD&ĐT đình chỉ tuyển sinh nhiều CTĐT
do vi phạm những điều kiện này,
dù không thực sự thuyết phục đối với một số trường ĐHCĐ, vẫn
là một động thái cần thiết đánh động ý thức chất lượng trong
hệ thống Tuy vậy việc sử dụng các điều kiện “kiểm tra nhanh”, thuần tuý mang tính thủ tục, làm
“chiếc roi” chất lượng phản ánh thực trạng Bộ GD&ĐT thiếu công cụ hữu hiệu trong quản lý chất lượng GDĐH
Đồng thời, động thái này cũng đặt ra các câu hỏi về việc
sử dụng cấp phép “mở và duy trì CTĐT” này và KĐCL trong
hệ thống ĐBCL quốc gia Liệu
có thể dùng nó thay thế KĐCL CTĐT không? KĐCL nên được dùng như thế nào? Có cần thiết triển khai KĐCL cả cơ sở đào tạo
và CTĐT không? Khi hệ thống KĐCL quốc gia hoàn thiện, việc cấp phép nên được sử dụng thế nào?
2 Hiệp hội ĐBCL GDĐH châu Âu (ENQA, 2005)
Trang 33 giải pháp, đề xuất đối với việc
xây dựng và phát triển hệ thống
ĐBcL trong gDĐH VN
Việc xây dựng và phát triển
hệ thống ĐBCL quốc gia, đặc
biệt là thiết kế của hệ thống từ
việc sử dụng các công cụ ĐBCL,
chức năng và nhiệm vụ của các
tổ chức ĐBCL đến vai trò của
các bên tham gia, phụ thuộc vào
nhiều yếu tố Mô hình ĐBCL khi
áp dụng vào một hệ thống GDĐH
cần tính đến tính thực tiễn, quy
mô của hệ thống, các yếu tố văn
hoá cũng như mức độ tự chủ của
các CSGDĐH Dựa trên hiện
trạng ĐBCL trong GDĐH VN
hiện nay và xu hướng ĐBCL trên
thế giới, người viết xin đưa ra
một số đề xuất đối với việc phát
triển hệ thống ĐBCL quốc gia
dưới đây
Một là, cần khuyến khích
và thường xuyên thúc đẩy vai
trò chủ động, tích cực của các
trường ĐH&CĐ thông qua tăng
cường sự tham gia của các tổ
chức hiệp hội vào hoạt động
ĐBCL ngoài Các hiệp hội có thể
là Hiệp hội các trường ĐH&CĐ
VN (mới thành lập) hoặc Hiệp
hội ĐBCL GDĐH và Hiệp hội
KĐCL GDĐH (chưa tồn tại, cần
thành lập)
Hai là, kết hợp sử dụng đa
dạng nhiều công cụ ĐBCL nhằm
đa dạng hoá hoạt động ĐBCL,
khai thác tối đa các thế mạnh của
các công cụ khác nhau để công
tác ĐBCL toàn diện hơn và đạt
hiệu quả cao hơn Việc sử dụng
kết hợp nhiều công cụ khác nhau
cũng nhằm đảm bảo công tác này
bao trùm được nhiều mặt và khía
cạnh của chất lượng trong GDĐH
Đối với những nền GDĐH kém
phát triển trong đó ĐBCL chủ
yếu chỉ dựa vào KĐCL chất
lượng như VN, ĐBCL chỉ được hiểu một cách hạn chế và nhầm lẫn với KĐCL Việc đa dạng hoá các công cụ còn hỗ trợ thay đổi nhận thức này
Cụ thể về công cụ ĐBCL, cần xem xét giới thiệu sử dụng đối sánh làm công cụ cải tiến chất lượng Phương pháp này đã được
sử dụng phổ biến ở Mỹ, Anh,
Úc, cộng đồng châu Âu và một
số quốc gia khác trên thế giới,
và được cho là công cụ cải tiến chất lượng hữu ích Đặc biệt, tại Anh đối sánh CTĐT theo chuyên ngành đang được sử dụng ở cấp quốc gia, được QAA tổ chức và điều phối thực hiện Đối sánh cũng được sử dụng ở quy mô khu vực, như dự án đối sánh GDĐH châu Âu và dự án đối sánh nhằm thúc đẩy cải cách quản trị đại học trong các trường đại học ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi Sử dụng đối sánh được cho là xu thế tương lai của ĐBCL GDĐH trên thế giới
Bên cạnh đó, rất cần thiết phải thiết lập, phát triển và ban hành các công cụ theo dõi, giám sát và đánh giá hoạt động của
hệ thống GDĐH, ví dụ như hệ thống chỉ số, chỉ báo hiệu quả và hoạt động GDĐH, đơn vị chuyên trách thu thập và theo dõi các chỉ số này3, khung tiêu chuẩn chất lượng GDĐH, khung năng lực quốc gia, Việc phát triển một công cụ khảo sát tương tự như SEQ (Student Experience Questionnaire), bảng hỏi khảo sát trải nghiệm của người học, để các trường ĐH&CĐ sử dụng, dù nguyên bản hay có điều chỉnh, cũng là rất quan trọng trong việc thúc đẩy triển khai khảo sát ý kiến người học một cách khoa
3 Mô hình HESA, Anh
học, hệ thống và thực chất
Ba là, thúc đẩy, hỗ trợ phát
triển hệ thống ĐBCL nội bộ trong các trường ĐH&CĐ Thẩm định nội bộ (Internal Audit), đánh giá đồng cấp và đối sánh là những công cụ ĐBCL nội bộ cần được thúc đẩy sử dụng tại các trường ĐH&CĐ
Bốn là, nâng cao tính thực
chất của các hoạt động và công
cụ ĐBCL Trước hết, nhất thiết phải có cơ chế xác nhận thông tin công khai của các trường ĐH&CĐ, có thể qua một tổ chức độc lập như một cơ quan thống
kê giáo dục, hoặc có thể sử dụng
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN)
Năm là, cần thiết lập cơ chế
quản lý, quy định pháp lý và quy tắc nghề nghiệp phù hợp và chặt chẽ đối với các tổ chức, cá nhân tham gia ĐBCL Do năng lực ĐBCL ở các trường ĐH&CD còn hạn chế, nhu cầu được tư vấn
về công tác này là rất lớn Điều tối quan trọng ở đây là phải có cơ chế quản lý hiệu quả, phù hợp và khung pháp lý thuận lợi để một mặt tạo môi trường lành mạnh
và đảm bảo tính liêm chính trong các hoạt động chuyên môn, mặt khác hạn chế tối đa nguy cơ xảy
ra tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và tiêu cực xảy ra trong đánh giá chất lượng
Sáu là, “cấp phép” cần phải
được sử dụng kết hợp chặt chẽ với KĐCL Nếu cấp phép được dùng để kiểm soát chất lượng ban đầu tại thời điểm mở trường,
mở ngành đào tạo thì KĐCL cần phải tập trung kiểm soát chất lượng trong quá trình đào tạo và phát triển của trường và chương trình Những đề xuất cụ thể đối với KĐCL sẽ được đề cập ở phần
Trang 4sau của bài viết.
Đối với KĐCL, do đây là một
tiểu hệ thống trong ĐBCL và do
vai trò quan trọng của KĐCL
trong GDĐH của VN, những đề
xuất đối với việc hoàn thiện và
phát triển KĐCL sẽ được bàn
riêng ở phần tiếp theo của bài
viết
4 Kiến nghị đối với việc triển
khai KĐcL ở VN
4.1 Áp dụng và thực hiện triển
khai nguyên tắc “tính độc lập”
Đây là nguyên tắc căn bản
làm nền tảng cho KĐCL; do vậy,
nguyên tắc này khuyến nghị nếu
không nói là bắt buộc phải được
đảm bảo dù ở bất cứ hệ thống nào
Mô hình KĐCL của VN cũng xác
lập nguyên tắc quan trọng này
trong thiết kế của hệ thống với
việc thành lập hai cơ quan KĐCL
độc lập trực thuộc hai đại học
quốc gia Độc lập trong trường
hợp này cần phải được hiểu là
hoạt động kiểm định gồm toàn
bộ quá trình đánh giá, ra quyết
định điều chỉnh đối với cơ sở
đào tạo hoặc CTĐT không chịu
tác động, ảnh hưởng, dù chính
trị hay tài chính, của các bên liên
quan bao gồm Chính phủ, Bộ
GD&ĐT, các cơ quan QLNN,
các trường ĐH&CĐ cùng các
đối tượng tham gia vào quá trình
này Nguyên tắc này được thể
hiện ở việc triển khai quy trình
KĐCL trên thực tế chứ không
hẳn nằm ở hình thức của việc cơ
quan KĐCL do ai thành lập4
Xung đột lợi ích giữa các bên
liên quan cũng như can thiệp của
cơ quan QLNN phải được nhận
diện là những nguy cơ hiển hiện
đe doạ nguyên tắc “Độc lập” và
cần có cơ chế ngăn chặn Trong
khi đó, quy chế hoạt động của
4 Tham khảo trường hợp TEQSA
hai trung tâm KĐCL hiện tại thuộc hai đại học quốc gia chưa cho thấy những nguy cơ này được nhận diện và ngăn chặn phù hợp, đồng thời chưa làm rõ hoặc né tránh đề cập đến mối quan hệ giữa hai cơ quan này với cơ quản chủ quản là đại học quốc gia, mức độ và phạm vi can thiệp của giám đốc đại học quốc gia trong quá trình giao nhiệm
vụ cho trung tâm, và mối liên hệ giữa Chính phủ với cơ quan này thông qua giám đốc đại học quốc gia Về mặt pháp lý, Quy định
về tổ chức KĐCL giáo dục do
Bộ GD&ĐT 5 mới chỉ quy định các tổ chức này “hoạt động độc lập với các cơ sở giáo dục” Đối với kiểm định viên (KĐV), quy định trong Thông tư 60/2012/TT-BGDĐT tại điều 13 và 14 đã giúp ngăn chặn một phần xung đột lợi ích giữa KĐV và CSGDĐH, tuy vậy quy định “KĐV không được nhận tiền hay lợi ích nào từ cơ
sở giáo dục đăng ký KĐCL” là không rõ ràng và gây tranh cãi,
do vậy không khả thi
4.2 Tiệm tiến, từng bước cải tổ quy trình tổ chức nhằm giảm tải cho việc KĐCL
KĐCL GDĐH từ khi bắt đầu năm 2006 đến nay đã hơn 10 năm, hệ thống KĐCL chưa hoàn thiện Bộ GD&ĐT chưa dựa được vào công cụ này để kiểm soát chất lượng GDĐH Trong giai đoạn 2007-2009, 40 trường
đã hoàn thành đánh giá ngoài,
và đến năm 2014 đáng lẽ đã là thời điểm triển khai KĐCL chu
kỳ tiếp theo của các trường này
Theo thông báo mới nhất của Bộ GĐ&ĐT, tính đến tháng 04/2014
đã có 369 trường ĐH&CĐ và đến 31/08/2015 có 129 trường
5 Thông tư 61/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012
ĐH&CĐ đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá (TĐG) và gửi
về Bộ Nhiều trường trong số này hoàn thành báo cáo TĐG từ năm 2010 và 2011, đã nhận được nhận xét phản biện với báo cáo TĐG nhưng vẫn chưa được đánh giá ngoài Mức thời gian trễ 2-3 năm có rất nhiều thay đổi khiến các trường phải tự đánh giá lại, tức là lại tập hợp minh chứng và thậm chí viết lại báo cáo Phải nói khối lượng công việc phải xử
lý để hoàn tất KĐCL cho toàn bộ
hệ thống là rất lớn, chưa kể đến những phản ứng tiêu cực từ các trường do sự cồng kềnh, quan liêu giấy tờ trong quy trình triển khai KĐCL và sự chậm trễ trong việc triển khai đánh giá ngoài
Là một hệ thống tụt hậu so với KĐCL của Mỹ và nhiều nước tiên tiến khác, chúng ta cần tận dụng lợi thế của người đi sau, có thể tham khảo những vấn đề họ
đã trải qua, đã xử lý để phát triển KĐCL thay vì trung thành cứng nhắc với bản gốc Cũng cần tính đến các đặc điểm của hệ thống GDĐH để có những giải pháp phù hợp sao cho KĐCL hiệu quả
và thực chất Ví dụ, hệ thống GDĐH của Mỹ có tới hơn 4.000
cơ sở đào tạo, nhưng họ đã có hàng trăm năm phát triển KĐCL với 60 tổ chức KĐCL Hơn thế nữa, do các tổ chức KĐCL là các hiệp hội của các trường ĐH&CĐ
và hiệp hội nghề nghiệp trong một hệ thống GDĐH hàng đầu thế giới, họ huy động được đội ngũ đông đảo các chuyên gia có trình độ và năng lực cao tham gia vào quá trình đánh giá Nhìn sang các hệ thống du nhập mô hình KĐCL của Mỹ như Hà Lan,
Bỉ, Úc, họ có đội ngũ chuyên gia GDĐH giỏi và đông đảo, trong
Trang 5khi số lượng CSĐT ở các hệ
thống này chỉ là ở mức vài chục
Các nước này chỉ mất 2 đến 3
năm để hoàn thành hệ thống
KĐCL và chu kỳ KĐCL đầu tiên
trong toàn hệ thống
Đối với một hệ thống gồm
421 trường ĐH&CĐ (theo thống
kê của Bộ GD&ĐT năm 2013),
số lượng chuyên gia GDĐH còn
hạn chế, và nền tảng GDĐH nói
chung chưa cao, việc giảm tải
khối lượng công việc của tất cả
các bên liên quan như cơ quan
QLNN, cơ quan KĐCL và các
trường trong quá trình KĐCL có
thể là yếu tố mấu chốt quyết định
sự thành công của công cụ này
Việc thay đổi cần tham khảo mô
hình KĐCL của các nước phát
triển, tham vấn các chuyên gia
GDĐH trong và ngoài nước, đặc
biệt cần tham vấn ý kiến của các
trường ĐH&CĐ Việc tự đánh
giá trong quy trình KĐCL từng
được cho là hữu ích, tuy vậy cần
phải đánh giá lại mức độ hiệu quả của quá trình này
4.3 Hướng đến phương pháp tiếp cận “Bắt buộc” dựa trên cơ sở phân cấp
Đối với một nền GDĐH còn phát triển chậm, trong đó thiếu vắng những cơ chế góp phần điều chỉnh chất lượng như trách nhiệm giải trình, dựa theo tính cung-cầu đào tạo và lựa chọn của người học, nhất thiết phải sử dụng KĐCL, cả CSĐT và CTĐT, đối với cả khối công lập và ngoài công lập để “gác cổng” và đảm bảo những điều kiện tối thiểu phải được đáp ứng Tuy nhiên, KĐCL không nhất thiết phải áp dụng với tất cả các trường, đặc biệt các trường theo mô hình hai cấp như đại học quốc gia và đại học vùng có đủ năng lực triển khai tự kiểm định
Trên thực tế, hai đại học quốc gia đều đã triển khai tự kiểm định đối với các trường thành
viên và các CTĐT của họ nhưng những kết quả này không được
Bộ GD&ĐT công nhận, buộc các trường thành viên phải triển khai KĐCL lại Điều này là không cần thiết, lãng phí nhân lực và vật lực của các trường này cũng như của
Bộ GD&ĐT, đồng thời đi ngược với chủ trương tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường ĐH&CĐ
Theo nhận định của nhiều chuyên gia và các nhà quản lý GDĐH, hai trung tâm KĐCL thuộc hai đại học quốc gia VN là chưa đủ cơ sở pháp lý để xử lý
và thực hiện khối lượng KĐCL trong toàn hệ thống Việc mở rộng giao quyền tự kiểm định cho đại học quốc gia và đại học vùng một phần giảm tải cho hệ thống KĐCL quốc gia, mặt khác phù hợp với chủ trương phân tầng đại học và tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường
Về lâu dài, có thể xét giao quyền
Trang 6tự kiểm định cho những trường
đáp ứng được những điều kiện
nhất định thay vì dựa trên cơ sở
phân tầng các trường ĐH&CĐ
4.4 Bộ tiêu chuẩn KĐCL cần
nhấn mạnh về quá trình thực
hiện với những bước tiến bộ
Theo ý kiến của người viết,
những thay đổi trong hệ thống
GDĐH những năm gần đây dẫn
tới sự cần thiết phải thay đổi bộ
tiêu chuẩn KĐCL Như đã trình
bày ở trên, KĐCL cần phải kết
hợp chặt chẽ với các công cụ
khác để tạo hiệu quả cao hơn
trong công tác KĐCL Nếu như
việc cấp phép hoạt động cho
CSĐT và CTĐT được sử dụng
với mục đích kiểm soát các điều
kiện ĐBCL ban đầu thì KĐCL
cần phải tập trung vào quá trình
hoạt động của CSĐT, mức độ
hoàn thành kế hoạch, sứ mạng,
và mục tiêu Như vậy, các tiêu
chuẩn KĐCL cần phải tập trung
đánh giá mức độ tiến bộ, sự thay
đổi theo thời gian trong hoạt động
của CSĐT, cũng như đánh giá
nỗ lực cải tiến chất lượng, hiệu
quả hoạt động và thực hành tại
CSĐT Nói cách khác, các tiêu
chuẩn, tiêu chí cần nhấn mạnh
yếu tố cải tiến chất lượng Điều
này giúp hệ thống KĐCL của VN
có khả năng tiếp cận gần hơn với
xu hướng phát triển của ĐBCL
và KĐCL ở các hệ thống tiên tiến
trên thế giới
Bên cạnh đó, để thúc đẩy một
cách sâu rộng hoạt động ĐBCL
bên trong các trường ĐH&CĐ,
cần bổ sung tiêu chuẩn đánh giá
hệ thống ĐBCL nội bộ của các
CSĐT Việc điều chỉnh này phù
hợp với những hướng dẫn thực
hành ĐBCL của Mạng lưới các
trường đại học khu vực ASEAN
(ASEAN Universities
Network-AUN) và Hiệp hội ĐBCL GDĐH châu Âu (ENQA)
4.5 Triển khai thực hiện
Tuyển chọn, đào tạo kiểm định viên
Nhằm triển khai hệ thống KĐCL, năm 2012, Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về kiểm định viên chất lượng giáo dục kèm theo Thông tư số 60/2012/TT-BGDĐT Thực hiện Thông tư này, tháng 7/2015, Bộ GĐ&ĐT cũng đã ra thông báo tuyển chọn KĐV thông qua kỳ thi sát hạch Như vậy, thông qua Cục KT&KĐCL, Bộ GD&ĐT đang thực hiện vai trò chuyên môn thay
vì chức năng quản lý nhà nước Ở đây có hai điều cần làm rõ Thứ nhất, tuyển chọn KĐV để tiến hành đánh giá ngoài trong quy trình KĐCL là nhiệm vụ của nhà tuyển dụng, tức là của trực tiếp các trung tâm KĐCL Thứ hai, việc sát hạch năng lực và trình độ của KĐV và cấp chứng chỉ hành nghề là nhiệm vụ chuyên môn của tổ chức nghề nghiệp (tương
tự như kiểm toán), ở đây là hiệp hội KĐCL và/hoặc ĐBCL, nếu như kiểm định viên chất lượng giáo dục được coi là một nghề như trong Quy định này
Ngoài ra, các điều kiện tuyển lựa KĐV cần phải bám sát thực tiễn Một đoàn đánh giá ngoài thông thường bao gồm chuyên gia KĐCL/ĐBCL, các chuyên gia giáo dục đại học cùng với những nhà quản lý GDĐH dày dạn kinh nghiệm với sự hỗ trợ hành chính của nhân viên tổ chức KĐCL Ở các hệ thống GDĐH tiên tiến, các chuyên gia này trải qua tập huấn đơn giản về quy trình và các cách thức đánh giá Họ là những người đang hoạt động trong những nền giáo dục phát triển, do vậy họ
cũng sẵn có những hiểu biết khá sâu rộng về giáo dục nói chung
và GDĐH nói riêng (lưu ý rằng đây không phải là đặc điểm của GDĐH VN và khó có thể trang
bị hay nâng cao những hiểu biết này trong phạm vi một khoá tập huấn ngắn hạn) Dù vậy, tiêu chuẩn KĐV vẫn đặt ra những yêu cầu cao về kinh nghiệm, ví dụ tiêu chuẩn bắt buộc để lựa chọn đánh giá viên của Anh là phải có kinh nghiệm quản lý, xây dựng và/hoặc đánh giá các trường đại học và cao đẳng
Đánh giá ngoài không chỉ là xem xét CSĐT hay CTĐT có đạt những tiêu chuẩn đã đề ra hay không mà còn phải chỉ ra những điểm yếu và đề xuất các khuyến nghị Sẽ vô cùng nguy hiểm nếu như các CSĐT và CTĐT bị đánh giá qua nhãn quan hạn chế, cứng nhắc và bó hẹp trong một phạm vi nhỏ Còn nguy hiểm hơn nếu các khuyến nghị cải tiến được đưa ra
từ những lăng kính hạn hẹp, một chiều Do vậy, việc tuyển chọn KĐV phải chú trọng xem xét kinh nghiệm thực tế và trình độ của ứng viên, bằng không kết quả đánh giá sẽ khó thuyết phục đối với các trường
Thành lập ban kiểm soát độc lập, giám sát chất lượng và KĐCL
Cuối cùng, để đảm bảo tính công bằng, minh bạch, khách quan
và liêm chính, yêu cầu cấp thiết phải có một uỷ ban độc lập giám sát, đánh giá hoạt động của các tổ chức KĐCL và ĐBCL cũng như các hoạt động và công cụ khác để
tư vấn cho Nhà nước, Chính phủ, BGDĐT về các vấn đề liên quan đến chất lượng GDĐH
5 Kết luận
Chất lượng giáo dục là một phạm trù đa diện và tương đối
Trang 7phức tạp do bởi có quá nhiều yếu
tố tham gia ảnh hưởng đến quá
trình giáo dục Vì vậy, đảm bảo
chất lượng GDĐH cho dù có thông
qua công cụ và phương tiện nào đi
chăng nữa cũng là một quá trình
lâu dài Không có công cụ ĐBCL
nào có thể ngay lập tức làm thay
đổi chất lượng giáo dục Và, cũng
không có một công cụ nào có thể
độc lập nâng cao được chất lượng
của cả một hệ thống giáo dục mà
không kết hợp với các giải pháp
khác Bản chất của các công cụ
ĐBCL cũng phải được sử dụng kết
hợp với nhau để ĐBCL đạt hiệu
quả cao hơn
ĐBCL và KĐCL trong GDĐH
của VN bắt đầu “thụt lùi” so với
phong trào ĐBCL ở các nước tiên
tiến tới khoảng 15 năm Sau gần
hơn 10 năm, hệ thống ĐBCL và KĐCL trong GDĐH của VN vẫn chưa hoàn thiện trong khi các nước khác đã trải qua 1 đến 2 kỳ đánh giá chính sách và thực hành ĐBCL
và KĐCL để điều chỉnh, cải tiến hệ thống của họ Tính đến thời điểm hiện tại, về ĐBCL, chúng ta đã đi chậm hơn tới 25-30 năm so với các hệ thống GDĐH tiên tiến trên thế giới Đã có rất nhiều bài học từ các nền GDĐH đi trước và rõ ràng chúng ta có thể và nên nghiên cứu cải tiến hệ thống của chúng ta từ những bài học đó Thông thường,
đó là cách khôn ngoan và hiệu quả
để rút ngắn khoảng cách với các nền giáo dục tiên tiến và đẩy nhanh quá trình hội nhập Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện một cách cẩn trọng và chọn lọc Bài viết hy
vọng mở rộng cuộc đối thoại giữa các nhà quản lý, những người làm chính sách và các nhà nghiên cứu trong vấn đề nàyl
TàI lIệu THam kHảo
European Association for Quality Assurance
in Higher Education [ENQA] (2005)
Standards and Guidelines for Quality Assurance in the European Higher Education Area (ESG)
Thông tư 08/2011/TT-BGDĐT ban hành ngày 17/02/2011 về Quy định điều kiện,
hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng.
Thông tư 61/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 ban hành quy định về tổ chức KĐCL giáo dục do Bộ GD&ĐT
TàI lIệu THam kHảo
Jerry H Bergstrand (1985) The Gravity
equation in international trade: Some
microeconomic foundations and
empirical evidence The Review of
Economics and Statistics, 67(3):
474-481.
Konstantinos Kepaptsoglou, Matthew G
Karlaftis and Dimitrios Tsamboulas,
(2013) The gravity model specification
for modeling international trade flows
and free trade agreement effects: a
10-year review of empirical studies The
Open Economics Journal, Vol 3(2010):
1-13
Krugman Obsfeld Melitz (2012)
International economic 9th ed Paul R
Krugman, ed., Addison Wesley Pearson.
Phạm Thị Ngân, Nguyễn Thanh Tú (2015)
Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
thủy sản của VN sang thị trường Âu Mỹ
Tạp chí Khoa học thương mại, Số 80,
trang 10 – 19.
Tổng cục Thống kê (2006) Xuất nhập khẩu
hàng hóa VN 20 năm đổi mới 1986 -
2005 Hà Nội NXB Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2008) Xuất nhập
khẩu hàng VN năm 2006 Hà Nội NXB
Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2009) Xuất nhập khẩu hàng VN năm 2007 Hà Nội NXB Thống kê.
Tổng cục Hải quan (2010) Niên giám thống
kê Hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa
VN năm 2009 Hà Nội NXB Tài chính.
Tổng cục Thống kê (2011) Xuất nhập
khẩu hàng VN năm 2008 Hà Nội NXB
Thống kê.
Tổng cục Hải quan (2011) Niên giám thống
kê Hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa
VN năm 2010 Hà Nội NXB Tài chính.
Tổng cục Hải quan (2012) Niên giám thống
kê Hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa
VN năm 2011 Hà Nội NXB Tài chính.
Tổng cục Hải quan (2013) Niên giám thống
kê Hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa
VN năm 2012 Hà Nội NXB Tài chính.
Tổng cục Hải quan (2014) Niên giám thống
kê Hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa
VN năm 2013 Hà Nội NXB Tài chính.
Tổng cục Hải quan (2014) Niên giám thống
kê Hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa
VN năm 2014 (tóm tắt) Hà Nội NXB
Tài chính.
Trần Nhuận Kiên, Ngô Thị Mỹ (2015) Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nông sản VN: Phân tích bằng mô
hình trọng lực Chuyên đề Kinh tế &
Chính trị thế giới, Số 3, trang 47 - 52
Trần Thanh Long, Phan Thị Quỳnh Hoa
(2015) Phân tích các yếu tố tác động
đến xuất khẩu thủy sản của VN Tạp
chí Kinh tế và Dự báo, Số 13, trang 32
– 34.
(Tiếp theo trang 52)
Tác động của tỷ giá