1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THỜI TRANG ANH-VIỆT

166 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư liệu nghiên cứu Dựa trên các tiêu chuẩn thuật ngữ, 1162 thuật ngữ thời trang tiếng Anh và 1190 thuật ngữ thời trang tiếng Việt đã được chúng tôi nhận diện và lựa chọn từ các từ điển

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ HUỆ

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THỜI TRANG ANH-VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ HUỆ

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THỜI TRANG ANH-VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9 22 20 24

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Đối chiếu thuật ngữ thời trang

Anh-Việt là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu được trình bày

trong luận án một cách trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Hoàng Thị Huệ

Trang 4

cô, đặc biệt là những gợi ý về hướng giải quyết vấn đề trong suốt quá trình nghiên cứu, thực sự là những bài học vô cùng quý giá đối với tôi không chỉ trong quá trình viết luận án mà cả trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn sau này

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Văn hóa, Thể thao & Du lịch Thanh Hóa- nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và viết luận án

Tôi cũng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Khoa Ngôn ngữ học - Học viện khoa học xã hội, Viện Ngôn ngữ học, các nhà khoa học, gia đình và các bạn đồng nghiệp đã chia sẻ, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện Luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Hoàng Thị Huệ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ thời trang trên thế giới và ở Việt Nam 19

1.2 Một số cơ sở lý thuyết về thuật ngữ 22

1.2.1 Khái niệm thuật ngữ 22

1.2.2 Tiêu chuẩn thuật ngữ 25

1.2.3 Phân biệt thuật ngữ và một số khái niệm khác 29

1.2.4 Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt 34

1.2.5 Yếu tố cấu tạo thuật ngữ thời trang 36

1.2.6 Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt 38

1.3 Một số cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu 40

1.3.1 Khái niệm về ngôn ngữ học đối chiếu 40

1.3.2 Phương pháp so sánh đối chiếu 40

1.3.3 Nguyên tắc so sánh đối chiếu 41

1.4 Thời trang và thuật ngữ thời trang 42

1.4.1 Khái niệm thời trang 42

1.4.2 Khái niệm thuật ngữ thời trang 43

Chương 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ THỜI TRANG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 46

2.1 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt xét từ số lượng ngữ tố cấu tạo 46

2.1.1 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh xét từ số lượng ngữ tố cấu tạo 46

2.1.2 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Việt xét từ số lượng ngữ tố cấu tạo 49

Trang 6

2.1.3 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng

Việt xét từ số lượng ngữ tố cấu tạo 50

2.2 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt xét từ phương thức cấu tạo và đặc điểm từ loại 51

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh xét từ phương thức cấu tạo và đặc điểm từ loại 51

2.2.2 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Việt xét từ phương thức cấu tạo và đặc điểm từ loại 54

2.2.3 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt xét từ phương thức cấu tạo và đặc điểm từ loại 56

2.3 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt xét từ nguồn gốc của yếu tố cấu tạo 59

2.3.1 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh xét từ nguồn gốc của yếu tố cấu tạo 59

2.3.2 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Việt xét từ nguồn gốc của yếu tố cấu tạo 61

2.3.3 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt xét từ nguồn gốc của yếu tố cấu tạo 63

2.4 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt xét từ mô hình cấu tạo 64

2.4.1 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh xét từ mô hình cấu tạo 65

2.4.2 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Việt xét từ mô hình cấu tạo 70

2.5 Điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 75

2.5.1 Về số lượng ngữ tố cấu tạo 75

2.5.2 Về phương thức cấu tạo và đặc điểm từ loại 76

2.5.3 Về nguồn gốc của yếu tố cấu tạo 77

2.5.4 Về mô hình cấu tạo 78

2.6 So sánh đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thời trang tiếng Việt với thuật ngữ tiếng Việt của một số lĩnh vực khoa học khác 78

Trang 7

2.6.1 Về số lượng ngữ tố cấu tạo 79

2.6.2 Về đặc điểm từ loại 79

2.6.3 Về nguồn gốc cấu tạo 80

Chương 3: ĐỐI CHIẾU CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CỦA

THUẬT NGỮ THỜI TRANG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 83

3.1 Con đường hình thành thuật ngữ là gì? 83

3.2 Con đường hình thành thuật ngữ thời trang tiếng Anh 83

3.2.1 Thuật ngữ hoá từ thông thường 84

3.2.2 Tạo thuật ngữ mới dựa trên cơ sở ngữ liệu vốn có 87

3.2.3 Vay mượn thuật ngữ tiếng nước ngoài 92

3.2.4 Vay mượn thuật ngữ khoa học liên ngành 93

3.3 Con đường hình thành thuật ngữ thời trang tiếng Việt 94

3.3.1 Thuật ngữ hoá từ thông thường 95

3.3.2 Tạo thuật ngữ mới trên cơ sở ngữ liệu vốn có 97

3.3.3 Vay mượn thuật ngữ tiếng nước ngoài 98

3.3.4 Vay mượn thuật ngữ khoa học liên ngành 104

3.4 Điểm tương đồng và khác biệt về con đường hình thành thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 106

3.5 So sánh con đường hình thành của thuật ngữ thời trang tiếng Việt với thuật ngữ tiếng Việt của một số lĩnh vực khoa học khác 107

Chương 4: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA THUẬT NGỮ THỜI TRANG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 111

4.1 Cơ sở lý thuyết định danh 111

4.1.1 Khái niệm định danh 111

4.1.2 Các nguyên tắc định danh 112

4.1.3 Các đơn vị định danh trong thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 112

4.2 Các phạm trù định danh của thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 113

4.2.1 Cơ sở phân loại 113

4.2.2 Các phạm trù ngữ nghĩa 114

Trang 8

4.3 Các mô hình định danh thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 115

4.3.1 Thuật ngữ chỉ con người tham gia hoạt động thời trang 115

4.3.2 Mô hình định danh các thuật ngữ chỉ trang phục 117

4.3.3 Mô hình định danh các thuật ngữ chỉ các phụ kiện và đồ trang sức 121

4.3.4 Mô hình định danh của thuật ngữ chỉ chất liệu 123

4.3.5 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ các chi tiết và kết cấu trang trí 125

4.3.6 Mô hình định danh của thuật ngữ chỉ phong cách, thiết kế và xu hướng 126

4.3.7 Mô hình định danh thuật ngữ các sự vật, sự kiện và phương tiện tham gia lĩnh vực thời trang 129

4.3.8 Mô hình định danh của thuật ngữ chỉ hoạt động thời trang 131

4.4 Điểm tương đồng và khác biệt về các đặc trưng định danh trong thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 132

4.5 Đặc điểm văn hóa dân tộc qua các đặc trưng định danh của thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 137

KẾT LUẬN 141

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 146

TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

ĐH KHXHNV Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn

ĐHQG Đại học Quốc gia

ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

ĐHSP Đại học Sư phạm

KHXH Khoa học Xã hội

NXB Nhà xuất bản

THCN Trung học chuyên nghiệp

TNAN Thuật ngữ âm nhạc

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa thuật ngữ và từ thông thường 31

Bảng 1.2: Sự khác biệt giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp 34

Bảng 2.1: Số lượng ngữ tố cấu tạo của thuật ngữ tiếng Anh là từ phái sinh 47

Bảng 2.2: Số lượng ngữ tố cấu tạo của thuật ngữ tiếng Anh là từ ghép 47

Bảng 2.3: Số lượng ngữ tố cấu tạo của thuật ngữ tiếng Anh là cụm từ định danh 48

Bảng 2.4: Số lượng ngữ tố cấu tạo của thuật ngữ tiếng Việt là cụm từ định danh 49

Bảng 2.5: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ tiếng Anh là từ đơn 52

Bảng 2.6: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ tiếng Anh là từ ghép 52

Bảng 2.7: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ tiếng Anh là từ phái sinh 53

Bảng 2.8: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ tiếng Anh là cụm từ định danh 54

Bảng 2.9: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ tiếng Việt là từ đơn 55

Bảng 2.10: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ tiếng Việt là từ ghép 55

Bảng 2.11: Đặc điểm từ loại của thuật ngữ tiếng Việt là cụm từ định danh 56

Bảng 2.12: Nguồn gốc cấu tạo của thuật ngữ thời trang tiếng Anh 60

Bảng 2.13: Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt là từ đơn 61

Bảng 2.14: Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt là từ ghép 62

Bảng 2.15: Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt là cụm từ định danh 63

Bảng 2.16: So sánh số lượng ngữ tố cấu tạo của thuật ngữ thời trang tiếng Việt với thuật ngữ tiếng Việt của một số lĩnh vực khoa học khác 79

Bảng 2.17: So sánh đặc điểm từ loại của thuật ngữ thời trang tiếng Việt với thuật ngữ tiếng Việt của một số lĩnh vực khoa học khác 79

Bảng 3.1: Thuật ngữ thời trang tiếng Anh được cấu tạo từ phương thức thêm tiền tố 88

Bảng 3.2: Thuật ngữ thời trang tiếng Anh được cấu tạo từ phương thức thêm hậu tố 88

Bảng 3.3: Thuật ngữ thời trang tiếng Anh được cấu tạo từ phương thức ghép 90

Bảng 3.4: Thuật ngữ thời trang tiếng Anh được cấu tạo từ phương thức viết tắt 91

Bảng 3.5: Thuật ngữ thời trang tiếng Anh có nguồn gốc vay mượn 92

Bảng 3.6: Thuật ngữ thời trang tiếng Anh vay mượn thuật ngữ khoa học liên ngành 93

Trang 11

Bảng 3.7: Con đường hình thành thuật ngữ thời trang tiếng Anh 94 Bảng 3.8: Thuật ngữ thời trang tiếng Việt vay mượn theo hình thức phiên âm 100 Bảng 3.9: Thuật ngữ thời trang Tiếng Việt vay mượn theo hình thức sao phỏng

cấu tạo từ 102 Bảng 3.10: Thuật ngữ thời trang tiếng Việt vay mượn theo hình thức sao phỏng ngữ nghĩa 102 Bảng 3.11: Thuật ngữ thời trang tiếng Việt vay mượn theo hình thức giữ nguyên dạng 104 Bảng 3.12: Thuật ngữ thời trang tiếng Việt vay mượn thuật ngữ khoa học liên ngành 105 Bảng 3.13: Con đường hình thành thuật ngữ thời trang tiếng Việt 105 Bảng 3.14: So sánh con đường hình thành của thuật ngữ thời trang tiếng Việt

với thuật ngữ tiếng Việt của một số lĩnh vực khoa học khác 108 Bảng 4.1: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ con

người (chủ thể) tham gia hoạt động thời trang 116 Bảng 4.2: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ trang phục 120 Bảng 4.3: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ phụ kiện

và đồ trang sức 123 Bảng 4.4: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ chất liệu 125 Bảng 4.5: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ chi tiết

và kết cấu trang trí 126 Bảng 4.6: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ phong

cách, thiết kế và xu hướng thời trang 128 Bảng 4.7: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ các sự

vật, sự kiện và phương tiện tham gia lĩnh vực thời trang 131 Bảng 4.8: Các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thuật ngữ chỉ hoạt

động thời trang 132 Bảng 4.9: So sánh đặc trưng định danh thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt 133

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thuật ngữ đóng vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu và xây dựng các lĩnh vực khoa học chuyên môn Ngày nay, mặc dù thuật ngữ học không còn là một lĩnh vực nghiên cứu mới nhưng công tác nghiên cứu thuật ngữ khoa học vẫn thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trên toàn cầu Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ - kỹ thuật hiện nay cũng đặt ra những yêu cầu thiết thực đối với ngành thuật ngữ học, đó là: xây dựng, chuẩn hóa và thống nhất các khái niệm khoa học Cùng với việc bàn luận các vấn đề lý thuyết của thuật ngữ học, các vấn đề liên quan đến thuật ngữ học ứng dụng cũng đang được các nhà khoa học dành sự quan tâm sâu sắc

Cùng với xu hướng hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, thời trang không chỉ trở thành một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ mà còn là một lĩnh vực chuyên môn Từ lâu, con người đã xem thời trang như một biểu tượng thời thượng của xã hội hiện đại Người ta cho rằng thời trang là một nghệ thuật sáng tạo trên các loại chất liệu như vải vóc, da động vật … và thời trang được đặt cạnh những ngành nghề thuộc lĩnh vực thiết kế như kiến trúc, đồ họa hay tạo dáng… nằm trong ngành

mỹ thuật ứng dụng Khái niệm về thời trang đã xuất hiện từ lâu và có tầm ảnh hưởng to lớn đến tất cả các mặt của xã hội Và giống như nhiều lĩnh vực chuyên môn khác, lĩnh vực thời trang cũng chứa đựng những khái niệm và phạm trù riêng biệt Và những khái niệm, phạm trù đó được biểu thị bằng các thuật ngữ Do vậy, thuật ngữ của lĩnh vực thời trang chính là những từ, ngữ biểu thị khái niệm, phạm trù đã được đúc kết, tích hợp từ các hoạt động của lĩnh vực này Cho nên, việc nghiên cứu và tìm hiểu về thuật ngữ thời trang có ý nghĩa thiết thực đối với khoa học và thực tiễn đời sống xã hội ngày nay

Hiện nay, các công trình nghiên cứu về thuật ngữ thời trang chưa nhiều, đặc biệt là chưa có những công trình khoa học nghiên cứu đối chiếu với thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh và tiếng Việt Qua khảo sát ban đầu, chúng tôi nhận thấy rằng: có nhiều thuật ngữ thời trang trong tiếng Việt còn chưa mang tính hệ thống

cao, còn mang sắc thái miêu tả chứ chưa có tính chất định danh, ví dụ : áo vest vạt

Trang 13

cánh sen, chân váy đuôi cá …; một số thuật ngữ xuất hiện trong tiếng Anh nhưng

không xuất hiện trong tiếng Việt và ngược lại, ví dụ: balloon-sleeve dress, bucket

hat,…hiện diện trong tiếng Anh nhưng không có nghĩa tương đương trong tiếng

Việt, hoặc cổ cánh sen, áo cánh dơi, chỉ có mặt trong tiếng Việt và không có

nghĩa tiếng Anh tương đương Do vậy, chúng tôi cho rằng việc bổ sung, xây dựng

và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ thời trang là một công việc cần thiết hiện nay Đây

chính là lý do chúng tôi chọn đề tài: Đối chiếu thuật ngữ thời trang Anh-Việt

Luận án sẽ tập trung khảo sát, nghiên cứu và so sánh đối chiếu các thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh và tiếng Việt về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của thuật ngữ thời trang trong hai ngôn ngữ Chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu của luận

án sẽ làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đề dịch thuật và chuẩn hoá thuật ngữ thời trang trong tiếng Việt

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ làm cơ sở cho công tác dịch thuật, xây dựng và chuẩn hóa hệ thuật ngữ thời trang tiếng Việt ngày nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, đề tài cần phải giải quyết được những vấn đề sau:

(1) Hệ thống hóa các quan điểm lý luận khoa học trong và ngoài nước về nghiên cứu thuật ngữ, thuật ngữ thời trang và so sánh đối chiếu ngôn ngữ Từ đó, xác lập các cơ sở lý luận cho các vấn đề nghiên cứu của luận án

(2) Mô tả và đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh

và tiếng Việt trên các phương diện: các đơn vị cấu tạo thuật ngữ; số lượng ngữ tố cấu tạo thuật ngữ; phương thức cấu tạo, đặc điểm từ loại; nguồn gốc yếu tố cấu tạo

và mô hình cấu tạo thuật ngữ

Trang 14

(3) Mô tả và đối chiếu con đường hình thành thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh

và tiếng Việt trên phương diện các phương thức cấu tạo

(4) Mô tả và đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh và tiếng Việt trên các phương diện: các phạm trù ngữ nghĩa; các mô hình định danh và đặc trưng định danh của thuật ngữ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Qua nghiên cứu các khái niệm về thời trang và thuật ngữ thời trang, chúng tôi nhận thấy hệ thuật ngữ thời trang bao gồm tất cả các thuật ngữ thuộc về các lĩnh vực: trang phục, giày dép, phụ kiện, trang sức, trang điểm, tóc Tuy nhiên, do sự hạn chế về dung lượng của luận án, nên chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt, cụ thể là các từ ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực thời trang bao gồm: con người tham gia hoạt động thời trang; hoạt động thời trang; trang, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động thời trang; trang phục (quần áo mặc ngoài); giày dép; phụ kiện

và trang sức; chất liệu; chi tiết, kết cấu thời trang; xu hướng và phong cách thời trang

Dưới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học và theo hướng nghiên cứu đối chiếu tổng thể, chúng tôi chỉ tập trung so sánh đối chiếu các thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt về các phương diện: đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và

đặc điểm định danh

4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Tư liệu nghiên cứu

Dựa trên các tiêu chuẩn thuật ngữ, 1162 thuật ngữ thời trang tiếng Anh và 1190 thuật ngữ thời trang tiếng Việt đã được chúng tôi nhận diện và lựa chọn từ các từ điển, giáo trình chuyên ngành, sách báo, tạp chí về thời trang bằng tiếng Anh và tiếng Việt để làm tư liệu nghiên cứu của luận án Trong suốt quá trình thực hiện luận án, chúng tôi đã khảo sát và nhận thấy chưa có từ điển thuật ngữ thời trang nào được xuất bản và lưu hành Do vậy, sự lựa chọn nguồn tư liệu của luận án tương đối

đa dạng (xem phụ lục 1)

Trang 15

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát, so sánh và đối chiếu về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh và tiếng Việt là các vấn đề trọng tâm của luận án Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở phương

pháp luận của ngôn ngữ học và ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Để giải quyết các

nhiệm vụ của luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

(1) Phương pháp miêu tả được sử dụng nhằm miêu tả các đặc điểm về cấu trúc

hình thức, con đường hình thành và các đặc trưng định danh của hệ thuật ngữ thời trang trong hai ngôn ngữ Phương pháp miêu tả bao gồm hai thủ pháp quan trọng được sử dụng trong luận án, đó là: thủ pháp phân tích ngữ nghĩa và thủ pháp phân

tích theo thành tố trực tiếp Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa được áp dụng để nghiên

cứu ngữ nghĩa của các thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó luận án đưa ra các mô hình định danh thuật ngữ, các nét đặc trưng khu biệt làm cơ sở định

danh của hệ thuật ngữ thời trang trong hai ngôn ngữ Thủ pháp phân tích theo thành

tố trực tiếp được luận án sử dụng để xác định và phân tích yếu tố cấu tạo thuật ngữ

(2) Phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng để chỉ ra những điểm tương

đồng và khác biệt giữa các thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành, đặc điểm định danh Trong luận án này, thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt được đối chiếu song song

(3) Thủ pháp thống kê được sử dụng để hệ thống hóa các số liệu thuật ngữ thời

trang tiếng Anh và tiếng Việt: thống kê từ loại, tính tỉ lệ % các yếu tố tạo thành thuật ngữ, các mô hình cấu tạo thuật ngữ, các đặc trưng định danh thuật ngữ… Các bảng biểu thống kê sẽ tổng hợp các dữ liệu đã khảo sát được, nhằm thể hiện rõ nét hơn các đặc trưng cơ bản của thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt trên các phương diện: đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh Những số liệu khảo sát sẽ được phân tích và đánh giá để làm cơ sở cho những kết luận và kiến giải về các kết quả so sánh đối chiếu của luận án

Trang 16

Ngoài các phương pháp và thủ pháp như đã nêu trên, luận án còn sử dụng một

số phương pháp khác như mô hình hoá và lập bảng biểu để minh họa cho các kết quả nghiên cứu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án có thể được xem là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành

và đặc điểm định danh của thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh và tiếng Việt

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghiên cứu thuật

ngữ, thuật ngữ thời trang và so sánh đối chiếu ngôn ngữ; đồng thời đóng góp vai trò cung cấp tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu thuật ngữ nói chung và thuật ngữ thời trang nói riêng

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu đạt được của luận án sẽ làm cơ sở ngữ liệu

thiết thực cho công tác dịch thuật, chuẩn hóa và biên soạn từ điển chuyên ngành thời trang đáp ứng sự phát triển ngày càng lớn mạnh của ngành thời trang trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án cũng đóng góp vào phần tư liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, biên soạn tài liệu chuyên ngành thời trang cho giảng viên và sinh viên khối các trường đại học, cao đẳng và trung cấp nghề có đào tạo chuyên ngành thời trang hoặc thiết kế thời trang

7 Cấu trúc của luận án

Bên cạnh các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội

dung chính của luận án được chia thành bốn chương như sau:

Chương 1-Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Trong chương

này, chúng tôi đánh giá công tác nghiên cứu, phát triển thuật ngữ nói chung và thuật ngữ thời trang nói riêng trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đồng thời, một số cơ sở

lý thuyết về thuật ngữ và so sánh đối chiếu ngôn ngữ cũng được đề cập và phân tích

Trang 17

trên các phương diện: số lượng yếu tố cấu tạo, phương thức cấu tạo, đặc điểm từ loại, nguồn gốc yếu tố cấu tạo và các mô hình cấu tạo Từ đó, luận án chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo giữa thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3 - Đối chiếu con đường hình thành của thuật ngữ thời trang tiếng Anh và tiếng Việt Dựa trên các kết quả nghiên cứu ở chương 1 và chương 2, nội

dung chính của chương 3 nhằm miêu tả và so sánh đối chiếu các con đường hình thành thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó, luận án chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của con đường hình thành thuật ngữ thời trang trong hai ngôn ngữ

Chương 4 - Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ thời trang tiếng Anh

và tiếng Việt Nội dung chính của chương này nhằm phân tích đặc điểm định danh

của thuật ngữ thời trang trong tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó, chúng tôi chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm định danh của thuật ngữ thời trang trong hai ngôn ngữ

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Nội dung của chương 1 giới thiệu một bức tranh tổng thể về tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ thời trang trên thế giới cũng như ở Việt Nam Chúng tôi cũng phân tích một số cơ sở lý thuyết về thuật ngữ như: khái niệm thuật ngữ và thuật ngữ thời trang, tiêu chuẩn thuật ngữ, phương thức cấu tạo thuật ngữ, phân biệt thuật ngữ với một số khái niệm khác… Đồng thời, một số cơ sở lý thuyết về so sánh đối chiếu ngôn ngữ cũng được đề cập trong chương này

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1.1 Các nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới

Công tác nghiên cứu thuật ngữ được bắt đầu vào thế kỷ XVIII với sự đóng góp của một số tác giả như: Carlvon Linné (1736), Beckmann (1780), Lavoisier A.L., G.de Morveau, Berthellot M và A.F.de Fourcoy (1789), Wlliam Wehwell (1840) Đây là các nhà khoa học tên tuổi gắn liền với công tác nghiên cứu ban đầu về định danh thuật ngữ ở giai đoạn này, trong số đó có thể kể đến vai trò của hai nhà khoa học Lavoisier A.L.và Berthellot M trong việc nghiên cứu sự định danh của các thuật ngữ trong lĩnh vực hóa học Bên cạnh đó, các lĩnh vực khác cũng được các nhà khoa học chuyên môn đặt mối quan tâm lớn để nghiên cứu xây dựng hệ thuật ngữ chuyên ngành phục vụ nhu cầu phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên toàn thế giới Tuy nhiên, công tác nghiên cứu thuật ngữ giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở những kết quả nghiên cứu nhỏ lẻ, chưa có tính đồng bộ và chưa tạo được

dấu ấn trong lĩnh vực ngôn ngữ học

Sau khi nghiên cứu, chúng tôi chấp nhận quan điểm của Auger [dẫn theo 88]

về bốn giai đoạn phát triển chính của quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới,

đó là:

1930-1960 (Giai đoạn khởi đầu)

Đây là thời kỳ hình thành công tác nghiên cứu thuật ngữ và đánh dấu những

bước phát triển đầu tiên đáng chú ý Trước hết phải kể đến thành tựu của Wuster

E (Wieselburg 1898 – Vienna 1977), một kỹ sư và cũng là một Tiến sĩ chuyên

Trang 19

ngành kỹ thuật điện của trường Đại học Stuttgart (Đức) Wuster đã được xem như

là một người đặt nền móng cho sự phát triển của ngành thuật ngữ học cũng như

có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình nghiên cứu thuật ngữ của các học giả khác sau

này Trong tác phẩm “Lí luận chung về thuật ngữ” (1931), Wuster đã phân tích

những khía cạnh ngôn ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ, trình bày những vấn đề chính trong phương pháp xử lí dữ liệu thuật ngữ và đề xuất các phương pháp hệ thống hóa thuật ngữ Ông cũng đã nhìn nhận thuật ngữ là một nhánh nghiên cứu của thuật ngữ ứng dụng Công trình nghiên cứu này của Wuster đã được dịch sang tiếng Nga và thực

sự thu hút mối quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới Năm

1931, trong luận án tiến sĩ có tên tiêu đề “Tiêu chuẩn quốc tế về thuật ngữ kỹ

thuật” (International Standardisation of Technical Terminology), ông trình bày

các lập luận cho việc hệ thống hóa công tác nghiên cứu thuật ngữ, thiết lập một số nguyên tắc xử lý thuật ngữ, đồng thời xây dựng phương pháp xử lý dữ liệu thuật ngữ Từ đây, hệ thống thuật ngữ đã được Wuster định hướng phát triển dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu về thuật ngữ chuyên ngành kỹ thuật máy cơ khí Cũng chính công trình nghiên cứu của ông đã đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của ngành thuật ngữ học cũng như xây dựng hướng nghiên cứu thuật ngữ thực sự mang tính khoa học Những mục tiêu chính mà Wuster đã quyết tâm đạt được trong nghiên cứu thuật ngữ [dẫn theo 89; tr.165] là: (1) Loại bỏ sự mơ hồ từ các ngôn ngữ kỹ thuật bằng cách chuẩn hóa thuật ngữ để chúng trở thành các công cụ giao tiếp có hiệu quả; (2) Thuyết phục tất cả người dùng ngôn ngữ kỹ thuật về tính ưu việt của thuật ngữ chuẩn; (3) Xây dựng tính nguyên tắc khoa học trong thuật ngữ ứng dụng Tiếp nối nghiên cứu về lý thuyết thuật ngữ của Wuster, còn

có bốn học giả ngôn ngữ khác, đó là: A Schloman, người Đức, nghiên cứu về bản chất mang tính hệ thống của thuật ngữ chuyên ngành; F de Saussure, người Thuỵ

Sĩ, người xây dựng tính hệ thống của ngôn ngữ; E Dresen, người Nga, người đã chú trọng đến tầm quan trọng của việc tiêu chuẩn hoá thuật ngữ; và J E Holmstrom, người Anh, người đã định hướng phát triển nghiên cứu thuật ngữ trên quy mô quốc tế và cũng là học giả đầu tiên kêu gọi tổ chức quốc tế UNESCO tham gia giải quyết các vấn đề về thuật ngữ

Trang 20

Cũng trong thế kỷ XX, một số nước châu Âu (Áo, Liên Xô, Tiệp Khắc) cũng bắt tay vào việc nghiên cứu thuật ngữ Tiếp đó đến các nước phương Tây (Pháp, Canada) và các nước Bắc Âu (Bỉ, Scandinavia) Thời kỳ này cũng đã đánh dấu sự hình thành ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ tại Áo, Liên Xô và Tiệp Khắc

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo: Đây là trường phái do Wuster E sáng

lập với sự góp mặt của các nhà khoa học nhiều kinh nghiệm, đa số là các nhà ngôn ngữ thuộc các quốc gia châu Âu như Áo, Đức, Na Uy, Thuỵ Điển và Đan Mạch Các phương pháp nghiên cứu được trường phái này áp dụng đều phải tuân theo

nguyên tắc mà Wuster đã đề cập trong tác phẩm của ông, đó là “coi khái niệm là

điểm xuất phát của mọi nghiên cứu về thuật ngữ” Đồng thời, việc nghiên cứu thuật

ngữ tập trung vào các khái niệm và hướng tới việc chuẩn hoá thuật ngữ và khái niệm Điều này xuất phát từ nhu cầu của các nhà khoa học cần chuẩn hóa hệ thuật ngữ trong lĩnh vực chuyên môn của họ nhằm đạt hiệu quả tối đa trong giao tiếp và

có khả năng truyền tải kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ Tiệp Khắc: Trường phái này tập trung

dành mối quan tâm lớn đến vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và các hệ thuật ngữ Các nhà nghiên cứu thuật ngữ của trường phái Tiệp Khắc chú trọng đến việc miêu

tả cấu trúc và chức năng của các loại ngôn ngữ chuyên ngành, mà trong đó, thuật ngữ đóng vai trò thể hiện quan trọng Drodz L được xem là đại diện tiêu biểu của trường phái này Ông là người tiên phong và phát triển hướng nghiên cứu thuật ngữ theo quan điểm nghiên cứu ngôn ngữ chức năng của trường phái ngôn ngữ học Praha (Prague) Theo trường phái này, các ngôn ngữ chuyên ngành phải mang tính văn phong nghề nghiệp và song hành cùng với các văn phong khác như văn học, báo chí và hội thoại Các nhà nghiên cứu xem thuật ngữ như những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô viết: Trường phái này hội tụ các công

trình nghiên cứu thuật ngữ của các nhà khoa học có tên tuổi như Lotte, Drezen,

Capelygin Trong đó, Lotte D S (1898-1950) được xem là người có vai trò to lớn

trong việc phát triển công tác nghiên cứu lý thuyết về thuật ngữ ở Liên Xô Do ảnh hưởng của tư tưởng nghiên cứu của Wuster E nên trong giai đoạn đầu, các nhà

Trang 21

khoa học Xô viết nghiên cứu thuật ngữ theo hướng chuẩn hoá khái niệm và chuẩn hóa thuật ngữ dựa trên quan điểm và xu thế của các vấn đề đa ngôn ngữ tại Liên Xô lúc bấy giờ Công tác nghiên cứu thuật ngữ tại Liên Xô đã thu hút rất nhiều các nhà khoa học ngôn ngữ bắt tay nghiên cứu từ rất sớm Các công trình nghiên cứu của họ đã tạo dựng nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ công tác nghiên cứu thuật ngữ sau này

Có thể nói, ba trường phái nghiên cứu này được xem như những chiếc nôi khởi nguồn và tạo dựng nên một nền nghiên cứu khoa học thực sự về vấn đề thuật ngữ trên toàn thế giới Các nhà khoa học Áo, Tiệp Khắc và Xô viết đều thể hiện quan điểm nghiên cứu thuật ngữ từ góc độ ngôn ngữ học Do vậy, họ coi thuật ngữ

là phương tiện truyền đạt và thực hiện giao tiếp Từ đó, ba trường phái nghiên cứu

đã tạo lập nên các cơ sở lý thuyết cơ bản về thuật ngữ và các nguyên lý mang tính phương pháp chi phối tính ứng dụng của thuật ngữ Những đóng góp nghiên cứu lớn ban đầu của ba trường phái này đã góp phần phát triển khuynh hướng nghiên cứu thuật ngữ theo nguyên tắc dịch thuật và kế hoạch hoá ngôn ngữ sau này

1960 – 1975 (Giai đoạn cấu trúc)

Thế kỷ XX chính thức đánh dấu sự phát vượt bậc của khoa học kỹ thuật và

công nghệ Công tác nghiên cứu thuật ngữ phát triển nhất trong lĩnh vực máy vi tính và kỹ thuật văn bản Các hệ thuật ngữ bắt đầu được thiết lập và xử lý trên máy tính, đồng thời các phương pháp chuẩn hoá thuật ngữ cũng được đề xuất Kho xử lý dữ liệu thuật ngữ được xây dựng và lưu trữ trong máy tính Sự kết hợp các nguyên tắc mang tính quốc tế trong việc xử lý dữ liệu thuật ngữ bắt đầu được chú ý Định hướng chuẩn hoá thuật ngữ đã được nghiên cứu trong phạm vi của một ngôn ngữ Từ đây, vấn đề xây dựng và chuẩn hoá và thống nhất các khái niệm thuật ngữ lại được đặt ra [dẫn theo 88]

1975 – 1985 (Giai đoạn bùng nổ)

Giai đoạn 1975-1985 được đánh giá là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của công tác nghiên cứu thuật ngữ với các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Xô viết như Reformatskij A.A.,Vinogradov ,Vinokur G.O… Các hội nghị, hội thảo

về thuật ngữ lần lượt được tổ chức tại Liên Xô đã tạo nên những diễn đàn khoa học cho các học giả trình bày những nội dung nghiên cứu mới Trong đó, các nhà ngôn

Trang 22

ngữ Xô viết đã tập trung thảo luận về khái niệm, tiêu chuẩn và các chức năng của thuật ngữ; phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp, thuật ngữ với danh pháp; và chuẩn hoá thuật ngữ Bên cạnh đó, thuật ngữ cũng trở thành chủ đề nghiên cứu chính của nhiều công trình khoa học lớn; đồng thời, hàng nghìn cuốn từ điển được

ra đời, hàng chục tuyển tập các bài báo được xuất bản và hàng trăm luận án phó tiến

sỹ và tiến sỹ được bảo vệ thành công [dẫn theo 60]

Thời kỳ này cũng đánh dấu sự ra đời của những chính sách kế hoạch hoá ngôn ngữ Liên Xô và Israel là hai quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các chính sách này Vai trò của thuật ngữ trong việc hiện đại hoá ngôn ngữ được thể hiện rõ nét Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ máy tính đã tạo ra bước tiến nhảy vọt trong việc hỗ trợ công tác xử lý dữ liệu thuật ngữ

1985- nay (Giai đoạn mở rộng)

Từ sau năm 1985, song hành cùng với sự phát triển của khoa học-kỹ thuật- công nghệ trên toàn thế giới, nghiên cứu về thuật ngữ tiếp tục được mở rộng và phát triển đến đỉnh cao Ở giai đoạn này, các nhà ngôn ngữ đã đạt được những thành công trong việc nghiên cứu vấn đề ứng dụng thuật ngữ Sự phát triển của khoa học máy tính tại thời điểm này đã tạo sự hỗ trợ mạnh mẽ cho sự phát triển của ngành thuật ngữ học Sự hợp tác và kết nối mang tính quốc tế về nghiên cứu thuật ngữ học được củng cố và mở rộng

Năm 1990, Sager J.C xuất bản công trình nghiên cứu đầu tiên có tựa đề

“Ứng dụng xử lý thuật ngữ” (Practical Course in Terminology Processing), trong

đó ông phân tích khái niệm thuật ngữ từ khía cạnh ngôn ngữ học và giao tiếp

Năm 1992, trong cuốn “Thuật ngữ học: Lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và

ứng dụng” (Terminology: Theory, methods and applications), tác giả Cabre đã

giới thiệu và phân tích tổng quan về thuật ngữ học từ góc độ chính trị, xã hội với

các nội dung chính: Một là, thuật ngữ cần được phân biệt với từ vựng học và ngôn ngữ chuyên ngành thông qua các tiêu chí xây dựng thuật ngữ Hai là, thuật ngữ

được xem như một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành, trong đó thuật ngữ có mối quan hệ giao thoa ngôn ngữ học lý thuyết và ứng dụng, khoa học tri nhận, khoa

Trang 23

học giao tiếp, khoa học máy tính Ba là, thuật ngữ cần được chuẩn hóa và ứng

dụng với các mô hình chuẩn hóa và phương thức ứng dụng thuật ngữ

Đến năm 2000, Antia B.E., một giáo sư ngôn ngữ của trường Đại học Western Cape, Nam Phi đã cho ra đời hàng loạt các công trình nghiên cứu về

thuật ngữ Trong đó, đáng chú ý nhất là cuốn sách “Terminology and language

planning” (Thuật ngữ và vấn đề kế hoạch hoá ngôn ngữ) Trong khuôn khổ

nghiên cứu sự ra đời, phát triển và ứng dụng thuật ngữ tại Châu Phi, tác giả đã xây dựng một chiến lược mới trong việc quản lý thuật ngữ và hướng tới việc kế

hoạch hoá ngôn ngữ với một số nội dung cơ bản như sau: Một là, nguồn thuật ngữ

được đánh giá bằng việc xác định thuật ngữ, phân loại thuật ngữ và sắp xếp thuật

ngữ Hai là, thuật ngữ cần được ứng dụng trong các mối quan hệ giữa các yếu tố:

động lực, tác nhân, thách thức, phương pháp thực hiện; việc quản lý thuật ngữ phải được thực hiện thông qua chiến lược ngôn ngữ, hệ thống giao tiếp, vấn đề lô gic xã hội, giao tiếp và kiến thức; đồng thời việc chuyển dịch từ điển thuật ngữ

chuyên ngành sang ngôn ngữ khác vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Ba

là, sự chuyển dịch thuật ngữ là một vấn đề thách thức đối với phương thức biểu

hiện thuật ngữ Bốn là, thuật ngữ cần được kế hoạch hóa thông qua các mô hình

và chính phủ cần quản lý các mô hình này Năm là, công tác nghiên cứu thuật ngữ

được phát triển thông qua nghiên cứu ngôn ngữ văn bản, nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành, nghiên cứu ngôn ngữ học

Công tác nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới đã trải qua một chặng đường dài kể từ khi Wüster E thực hiện công trình nghiên cứu đầu tiên của ông Chúng tôi đồng ý với Cabre rằng: thuật ngữ học đã và đang phát triển như một lĩnh vực nghiên cứu khoa học Để thực hiện được nhiều nghiên cứu thành công hơn nữa, các hội nghị, hội thảo và diễn đàn khoa học về ngôn ngữ đa ngành cần được tổ chức thường xuyên để các nhà nghiên cứu thuật ngữ và các nhà khoa học ở các lĩnh vực chuyên ngành khác có cơ hội được chia sẻ và trao đổi kiến thức đa ngành Sự nghiên cứu giao thoa giữa các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực không chỉ làm phong phú các quan điểm lý thuyết về thuật ngữ mà còn tạo ra các nguồn thuật ngữ hữu ích và có tính ứng dụng rộng rãi [theo 88; tr.182]

Trang 24

1.1.1.2 Các nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam

Chúng tôi tiếp thu quan điểm nghiên cứu của tác giả Hà Quang Năng [theo 60; tr.120] và thống nhất đánh giá sự phát triển của công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam qua bốn giai đoạn cơ bản như sau:

Giai đoạn đầu thế kỷ XX

Công tác nghiên cứu về thuật ngữ ở nước ta phát triển khá muộn Do vậy, ở

giai đoạn này, tiếng Việt mới chỉ phát triển về từ vựng và cú pháp và nguồn thuật ngữ khoa học đầu tiên mới chỉ bắt đầu được xây dựng khi có sự song hành của việc truyền bá rộng rãi của chữ Quốc ngữ trong toàn dân

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, hầu như chỉ có một số nghiên cứu nhỏ lẻ

về thuật ngữ tiếng Việt trong một số lĩnh vực hẹp, chủ yếu là nghiên cứu về dạng

phiên âm một số thuật ngữ tiếng Hán và tiếng Pháp Sự ra đời của cuốn sách “Danh

từ khoa học” (1942) của tác giả Hoàng Xuân Hãn đã đánh dấu sự hình thành thuật

ngữ tiếng Việt với chữ quốc ngữ Latin hóa Trong cuốn sách này, tác giả đưa ra 8 tiêu chuẩn để xác định thuật ngữ (danh từ) khoa học chuẩn, đó là : (1) Mỗi một ý phải có một danh từ để gọi; (2) Danh từ ấy phải riêng về ý ấy; (3) Một ý đừng có nhiều danh từ; (4) Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý; (5) Danh từ trong các môn phải thành một toàn thể duy nhất và liên lạc; (6) Danh từ phải gọn; (7) Danh từ phải

có âm hưởng Việt âm; (8) Danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếng thường và phải có tính cách quốc gia Đồng thời, tác giả Hoàng Xuân Hãn cũng đề xuất 3 phương sách đặt danh từ khoa học: (1) Phương sách dùng tiếng thông thường; (2) Phương sách

phiên âm; (3) Phương sách lấy gốc chữ Nho Như vậy, cuốn "Danh từ khoa học" là

công trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học, đánh dấu bước phát triển trong công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam Với công trình này, tác giả Hoàng Xuân Hãn không chỉ tạo dấu mốc cho sự phát triển vốn từ vựng tiếng Việt mà còn đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học và biên soạn các từ điển thuật ngữ chuyên ngành ở nước ta

Giai đoạn 1945 - 1960

Sau năm 1945, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, đất nước ta chuyển mình sang một nước cộng hoà dân chủ độc lập Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ dân

Trang 25

tộc, đồng thời toàn dân phải học và dùng chữ viết một cách bắt buộc Công trình

nghiên cứu có ý nghĩa nhất ở thời kỳ này là cuốn sách "Danh từ khoa học-Vạn vật

học " ra đời vào năm 1950 của tác giả Đào Văn Tiến Nội dung cuốn sách bàn về sự

chuyển đổi các danh từ vạn vật học từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, nhằm mục đích giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thức khoa học bằng tiếng mẹ đẻ

Năm 1959, Uỷ ban Khoa học Nhà nước được thành lập ở miền Bắc Việt Nam Cùng đó là sự ra đời của Tổ thuật ngữ- Từ điển học trực thuộc Uỷ ban gắn với tên

tuổi của các nhà khoa học tiêu biểu thời kỳ bấy giờ như: Lê Khả Kế, Hoàng Phê, Lưu Vân Lăng, Hồ Anh Dũng,… Việc thành lập các tổ chức nghiên cứu này đã đánh dấu sự trưởng thành của ngành khoa học-kỹ thuật tại nước ta

Giai đoạn những năm 1960

Giai đoạn này gắn với sự nghiệp xây dựng con đường chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam Tất cả các ngành khoa học và giáo dục phát triển mạnh mẽ cùng với các hoạt động giao lưu quốc tế Quá trình hiện đại hoá và dân chủ hoá tiếng Việt đã hoàn thành Công tác nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt đã có những bước phát triển vượt bậc Đáng chú ý ở thời kỳ này là sự ra đời của hàng loạt các từ điển đối dịch thuật ngữ khoa học dành cho nhiều ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật Các từ điển này do Tổ thuật ngữ thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước biên soạn đã tạo một không khí sôi nổi của các hoạt động nghiên cứu thuật ngữ và chuẩn hoá tiếng Việt ở Việt Nam Bên cạnh đó, năm 1964, Hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học được tiến hành trên quy mô lớn đã góp phần xây dựng công tác nghiên cứu thuật ngữ khoa phát triển lớn mạnh ở nước ta

Người nghiên cứu nhiều nhất về thuật ngữ phải kể đến tác giả Lưu Vân Lăng

với những công trình tiêu biểu, đó là: Qui tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài

ra tiếng Việt (đồng tác giả, 1966); Về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học nước ngoài

(1968); Chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ khoa học trong cả nước (1976),… Các

nghiên cứu của tác giả Lưu Vân Lăng đã đề cập và phân tích tương đối đầy đủ và toàn diện về các vấn đề xây dựng, chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ khoa học trên một phạm vi rộng lớn Tiếp đến là công trình nghiên cứu của tác giả Lê Khả Kế:

Thống nhất và chuẩn hoá thuật ngữ khoa học tiếng Việt (in trong tiếng Việt và dạy

Trang 26

đại học bằng tiếng Việt) xuất bản năm 1967 Với công trình này, tác giả hướng hoạt

động nghiên cứu cơ bản vào nhu cầu xây dựng một hệ thống thuật ngữ nhằm đáp

ứng các yêu cầu của sự phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ

Sự phát triển của công tác nghiên cứu thuật ngữ trên cả nước được đánh dấu

bằng sự ra đời của Uỷ ban soạn thảo danh từ chuyên môn năm 1967 ở miền Nam

Việt Nam do Lê Văn Thới làm Chủ tịch Ở giai đoạn này, tác giả Lê Văn Thới là

người đặc biệt quan tâm đến việc đặt nền móng cho hệ thống thuật ngữ Việt

Nam.Với cuốn sách "Nguyên tắc soạn thảo danh từ chuyên khoa " (1970), ông đã

xác định các tiêu chuẩn về thuật ngữ khoa học, đồng thời đề ra các nguyên tắc soạn

thảo thuật ngữ chuyên môn

Giai đoạn từ 1985 đến nay

Đây là thời kỳ phát triển đỉnh cao của công tác nghiên cứu thuật ngữ tại Việt

Nam Có thể kể tên một số tác giả tiêu biểu đã có nhiều đóng góp cho công tác

nghiên cứu thuật ngữ như: Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Tu,

Nguyễn Thiện Giáp, Vương Toàn, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang

Năng… Trong giai đoạn này, các vấn đề trọng tâm được các tác giả bàn đến là: các

tiêu chuẩn của thuật ngữ; các phương thức đặt thuật ngữ; đặc điểm cấu tạo, ngữ

nghĩa và định danh của thuật ngữ; cách chuyển dịch thuật ngữ; chuẩn hoá thuật ngữ

Thuật ngữ học-Những vấn đề lý luận và thực tiễn là một trong những công

trình nghiên cứu nổi bật của thế kỷ XXI do tác giả Hà Quang Năng chủ biên, được

xuất bản năm 2012 Trong cuốn chuyên khảo này, nhóm tác giả đã đưa ra những

quan điểm, đánh giá nhìn nhận một cách toàn diện về vấn đề thuật ngữ học với các

nội dung cơ bản sau: khái quát tình hình ra đời và phát triển công tác nghiên cứu

thuật ngữ cùng những kinh nghiệm xây dựng hệ thuật ngữ tại các nước Nga, Đức và

Việt Nam; trình bày cụ thể các vấn đề cơ bản của thuật ngữ như: khái niệm thuật

ngữ, bản chất thuật ngữ, cấu trúc hình thức thuật ngữ, xây dựng thuật ngữ mới,

nhiệm vụ của thuật ngữ học, xác định từ tương đương trong các hệ thuật ngữ Từ

đó, vấn đề dịch thuật và thống nhất, chuẩn hoá hệ thuật ngữ tiếng Việt đã được các

tác giả quan tâm sâu sắc Bên cạnh đó, cùng với việc giới thiệu chi tiết về cuốn sách

“Danh từ khoa học”của tác giả Hoàng Xuân Hãn và sự ứng dụng cơ sở lý thuyết

Trang 27

trong công tác biên soạn từ điển thuật ngữ chuyên ngành, các tác giả còn tập trung phân tích và thảo luận các nội dung về phương pháp biên soạn từ điển thuật ngữ cũng như các cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển đối chiếu thuật ngữ

Đề tài cấp Bộ "Nghiên cứu, khảo sát thuật ngữ Tiếng Việt phục vụ cho việc

xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Đức Tồn được Viện Ngôn

ngữ học nghiệm thu vào tháng 12 năm 2012 cũng là một công trình nghiên cứu tiêu biểu về thuật ngữ khoa học tiếng Việt Để thực hiện thành công đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu và khảo sát các vấn đề liên quan đến hệ thuật ngữ tiếng Việt: định danh thuật ngữ, xây dựng thuật ngữ, vay mượn thuật ngữ nước ngoài và chuẩn hoá thuật ngữ Những lý luận truyền thống về thuật ngữ và cách áp dụng lý thuyết vào vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ tiếng Việt đã được đề cập đến trong phần nội dung chính của đề tài, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng các hệ thuật ngữ khoa học của thời kỳ hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay

Gần đây nhất, vào năm 2016, cuốn sách chuyên khảo "Thuật ngữ học tiếng

Việt hiện đại " do tác giả Nguyễn Đức Tồn chủ biên đã được Nhà xuất bản Khoa

học xã hội ấn hành Nội dung chuyên khảo tập trung bàn về các vấn đề: Một là, khái quát tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ trên thế giới, đặc biệt là ở Việt

Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay; đưa ra những kiến giải về khái niệm thuật ngữ và các tiêu chuẩn của nó trong sự phân biệt với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ; xây dựng và chuẩn hóa các hệ thuật ngữ tiếng Việt thuộc các chuyên ngành khoa học và chuyên môn trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa; khái quát lịch sử ra đời, nội dung cơ bản của Lí thuyết điển mẫu và ứng dụng vào việc chuẩn hóa từ ngữ thông

thường và thuật ngữ tiếng Việt ; Hai là, bàn về vấn đề xây dựng và chuẩn hóa của

một số hệ thuật ngữ trong tiếng Việt và rút ra một số đặc điểm về thực trạng xây

dựng và sử dụng thuật ngữ tiếng Việt hiện nay; Ba là, đề xuất, kiến nghị xây dựng

và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước để làm cơ sở xây dựng Luật Ngôn ngữ Như vậy, với cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lí luận và khảo sát tình hình thực tế để đưa ra những đánh giá về việc xây dựng và sử dụng thuật ngữ ở nước ta hiện nay,

Trang 28

nhằm thực hiện các giải pháp xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ, góp thêm cơ sở cho việc xây dựng Luật Ngôn ngữ ở Việt Nam

Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các học giả, đã có nhiều nghiên cứu

về thuật ngữ tiếp tục được phát triển trong những năm qua, đó là các luận văn thạc

sĩ, luận án Tiến sĩ ngành ngôn ngữ học và ngôn ngữ học so sánh đối chiếu được bảo

vệ thành công

Có thể kể đến một số luận án tiến sĩ ngành ngôn ngữ học tiêu biểu, đó là: ''Hệ

thuật ngữ quân sự Tiếng Việt, đặc điểm cấu tạo thuật ngữ quân sự '' (Vũ Quang

Hào, 1991); ''Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông Tiếng Việt '' (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005); ''Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ

tiếng Việt''(Mai Thị Loan, 2012); '' Thuật ngữ khoa học kỹ thuật xây dựng trong tiếng Việt '' (Vũ Thị Thu Huyền, 2013); ''Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt''

(Quách Thị Gấm, 2014); ''Đặc điểm cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học hình sự tiếng

Việt'' (Nguyễn Quang Hùng, 2016) ; "Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ

Mĩ thuật tiếng Việt" (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2019),… Chúng tôi nhận thấy các Luận án

Tiến sĩ nghiên cứu thuật ngữ kể trên đều đã góp đóng góp cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn cho công tác xây dựng, phát triển và hướng tới việc thống nhất, chuẩn hoá

hệ thuật ngữ tiếng Việt Các tác giả luận án đã tập trung làm rõ các đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và mô hình định danh của các hệ thuật ngữ chuyên ngành khoa học cụ thể, đồng thời đề xuất các giải pháp chuyển dịch cũng như chuẩn hoá

hệ thuật ngữ tiếng Việt của chuyên ngành đó

Bên cạnh đó, các luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề so sánh đối chiếu thuật ngữ cũng đã góp phần đáng kể vào sự phát triển công tác nghiên cứu thuật ngữ ở

nước ta hiện nay Có thể kể đến một số công trình nổi bật như: ''So sánh cách cấu

tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại'' (Nguyễn

Thị Bích Hà, năm 2000); ''Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển

sang Tiếng Việt '' (Vương Thị Thu Minh, năm 2005); ''So sánh đặc điểm cấu tạo hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ tài chính - kế toán - ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt'' (Nguyễn Thị Tuyết, năm 2011); ''Cách dịch thuật ngữ Anh – Việt chuyên ngành cảnh sát'' (Nguyễn Thị Bích Hường, năm 2014); ''Đối chiếu thuật ngữ du lịch

Trang 29

Việt – Anh'' (Lê Thanh Hà, năm 2015); ''Đối chiếu thuật ngữ phụ sản trong tiếng Anh và tiếng Việt'' (Phí Thị Việt Hà, năm 2017); ''Đối chiếu thuật ngữ âm nhạc Việt- Anh'' (Nguyễn Thanh Dung, năm 2017); "Đối chiếu thuật ngữ dầu khí Anh-Việt"

(Nguyễn Thị Thu Hà, năm 2019),….Các công trình kể trên đã thực hiện nghiên cứu

so sánh đối chiếu hệ thuật ngữ khoa học chuyên ngành cụ thể của hai ngôn ngữ Các tác giả đã khảo sát, so sánh đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành khoa học cụ thể trong tiếng Anh và tiếng Việt về các phương diện: đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh

Về đặc điểm cấu tạo, các luận án đều có kết quả phân tích rằng các thuật ngữ khoa học tiếng Việt và tiếng Anh đều có dạng danh từ và danh ngữ, thuật ngữ là động từ/động ngữ, tính từ/tính ngữ chiếm số lượng rất ít; thuật ngữ khoa học trong tiếng Anh có dạng từ đơn, từ ghép, từ phái sinh và từ viết tắt, còn thuật ngữ khoa học trong tiếng Việt chủ yếu có dạng từ đơn và ngữ ghép chính phụ; thuật ngữ khoa học trong tiếng Anh có mức tối đa 4 ngữ tố /thành tố/thuật tố, còn thuật ngữ khoa học trong tiếng Việt có đến 7 ngữ tố /thành tố/thuật tố

Về con đường hình thành, các luận án đều dựa trên nguyên tắc xây dựng thuật ngữ chung của tất cả ngôn ngữ trên thế giới để xác định các con đường hình thành của hai hệ thuật ngữ khoa học trong tiếng Anh và tiếng Việt chủ yếu là: thuật ngữ hóa từ thông thường, tạo thuật ngữ mới trên cơ sở ngữ liệu vốn có, vay mượn thuật ngữ nước ngoài

Về đặc điểm định danh, các luận án xác định thuật ngữ khoa học trong hai hệ ngôn ngữ có hai loại: thuật ngữ sơ cấp chỉ gồm một yếu tố cấu tạo và mang ý nghĩa khái quát, chỉ loại; thuật ngữ thứ cấp bao gồm hai yếu tố trở lên, được tạo ra do sự kết hợp của thuật ngữ loại một với từ ngữ mô tả tính chất, đặc tính, đặc trưng của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị Từ đó, các mô hình định danh thuật ngữ khoa học trong tiếng Anh và tiếng Việt được xác định gắn với các đặc trưng chuyên ngành ở các thuật ngữ thứ cấp

Các luận án Tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề so sánh đối chiếu trên đã phân tích, đưa ra những nguyên tắc và phương pháp về chuyển dịch thuật ngữ khoa học trong ngôn ngữ nước ngoài sang tiếng Việt; đề xuất những phương hướng, cách thức xây

Trang 30

dựng, cũng như những định hướng chuẩn hóa các hệ thuật ngữ chuyên ngành khoa học trong tiếng Việt; đồng thời đưa ra các giải pháp định hướng cho việc biên soạn các giáo trình ngoại ngữ chuyên ngành, xây dựng từ điển thuật ngữ chuyên ngành phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập…

Bên cạnh những luận án Tiến sĩ đã được bảo vệ thành công, còn có rất nhiều luận văn thạc sĩ và các bài báo khoa học nghiên cứu về thuật ngữ cũng đã được công bố Một số các công trình của các tác giả nghiên cứu đi trước đã được chúng tôi sử dụng làm tư liệu tham khảo cho luận án này

Đánh giá chung về về tình hình nghiên cứu thuật ngữ trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy rằng: tính đến nay, công tác nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới cũng như

ở Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao Thuật ngữ học đã trở thành một ngành khoa học độc lập, đã và đang phát triển song hành cùng với sự tiến bộ mọi mặt của xã hội hiện đại Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước vẫn tiếp tục dành rất nhiều tâm huyết nghiên cứu đóng góp cho sự phát triển của ngành thuật ngữ học

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ thời trang trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Những nghiên cứu của các học giả trên thế giới

Theo sự nghiên cứu và khảo sát của chúng tôi, công tác nghiên cứu về thuật ngữ thời trang trên thế giới tính đến nay mới chỉ xuất hiện một số công trình nhỏ lẻ

Năm 1960, C.Willett Cunnington đã cho ra đời cuốn sách có tựa đề "A

Dictionary of English Costume " Đây được xem như là một bước đột phá đầu tiên

trong việc nghiên cứu một cách toàn diện về các thuật ngữ thời trang Cuốn sách đã

sử dụng các thuật ngữ để miêu tả chi tiết các loại trang phục của người Anh giai đoạn từ năm 900 – năm 1900 sau Công nguyên Gần 1500 thuật ngữ đã thể hiện chi tiết các mốt thời trang đương đại, giới tính sử dụng thời trang, bản chất và chức năng của từng loại trang phục thời trang, loại trang phục thời trang được các tầng lớp giai cấp trong xã hội Anh thời bấy giờ rất ưa chuộng Cuốn sách này được tái bản và cập nhật nhiều lần, lần cuối cùng tái bản vào năm 1976

Sau đó, đến năm 2002, một tác giả người Anh khác tên là Lou Taylor đã thể hiện một hướng nghiên cứu tiếp cận đa ngành về thuật ngữ thời trang từ bình diện

văn hóa trong cuốn sách The Study of Dress History (Studies in Design) Trải qua

Trang 31

nhiều năm, cuốn sách này đã được đánh giá cao về mặt tư liệu Trong tài liệu này, tác giả đã nghiên cứu lịch sử ra đời của các loại trang phục và trình bày các dữ liệu

mô tả về trang phục thông qua hơn 20.000 thuật ngữ từ hướng tiếp cận nghiên cứu

đa ngành: nhân chủng học và văn hoá học Công trình đã đánh dấu bước phát triển trong công tác nghiên cứu về thời trang và thuật ngữ thời trang trên thế giới

Cũng năm 2002, ấn bản lần thứ 3 của The Fairchild Dictionary of Fashion

(3rd Edition), do các tác giả người Mỹ là Charlotte Mankey Calasibetta, Phyllis G

Tortora và Bina Abling biên soạn, đã được xem như là một công trình nổi bật về

thuật ngữ thời trang Với cuốn từ điển này, chúng tôi tìm kiếm được các định nghĩa cho lĩnh vực này với hơn 15.000 thuật ngữ chỉ quần áo, phụ kiện, trong đó có đề cập đến lịch sử của thời trang, đặc điểm của thời trang hiện đại và cả vấn đề liên quan đến ngôn ngữ kinh doanh thời trang

Sau này, vào năm 2008, ấn bản lần thứ 2 của The Thames & Hudson

Dictionary of fashion designers của tác giả người Anh là Georgina O’Hara Callan

đã cung cấp cho bạn đọc hơn 1200 thuật ngữ thời trang, chỉ các loại mốt từ năm

1840 đến nay Đó là các ngữ liệu về giày, mũ, quần áo, đồ trang sức, tóc kèm theo

400 hình ảnh minh hoạ và 85 sắc màu sản phẩm Cuốn từ điển được xem như một

tư liệu mô tả đầy đủ về chất liệu, kiểu dáng, kết cấu của sản phẩm thời trang Công trình nghiên cứu liên tục được cập nhật và bổ sung các thuật ngữ thời trang mới theo xu thế phát triển của thời đại Đây là một nguồn tài liệu bổ ích cho các nhà thiết kế và những người yêu thích thời trang

Năm 2010, nhóm tác giả bao gồm Cumming V., Cunnington C.W.,

Cunnington P.E đã cho xuất bản cuốn từ điển The Dictionary of Fashion History

Với hơn 6.000 thuật ngữ được đề cập tới trong cuốn từ điển này, các nhà khoa học người Anh đã cung cấp một nghiên cứu toàn diện về danh từ khoa học chỉ tên gọi trang phục kèm theo phần chú giải, mô phỏng cho từng thuật ngữ Đi kèm theo đó

là các hình ảnh minh hoạ một cách chi tiết, cụ thể nhằm mang tới cho người đọc nguồn tư liệu hữu ích về ngôn ngữ thời trang Công trình này đã được mở rộng, bổ

sung và hoàn thiện các thuật ngữ tỉ mỉ và chi tiết, trở thành một tài liệu đáng tin cậy

cho những người yêu thích và nghiên cứu về thuật ngữ thời trang

Trang 32

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy: tính đến nay, nếu như công tác nghiên cứu thuật ngữ đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ nhất cả về mặt lý thuyết lẫn mặt ứng dụng thực tiễn thì vấn đề nghiên cứu về thuật ngữ thời trang vẫn còn khá mới mẻ Lý do có thể xuất phát từ chính sự phát triển của ngành thời trang Bởi lẽ, thuật ngữ khoa học của bất kì ngành nào đều phát triển song hành cùng với ngành khoa học đó Do ngành thời trang trên thế giới ra đời và phát triển sau tất các ngành khoa học - công nghệ -

kỹ thuật khác nên công tác nghiên cứu thuật ngữ thời trang cũng xuất hiện sau và cũng mới chỉ được khai thác ứng dụng ở những cuốn từ điển giải thích thuật ngữ bằng hình ảnh kèm theo các chú thích minh hoạ

1.1.2.2 Những nghiên cứu của các học giả trong nước

Cho đến nay, tại Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào

về thuật ngữ thời trang tạo được dấu ấn nổi bật Theo khảo sát của chúng tôi, tại Việt Nam vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về việc xây dựng một hệ thuật ngữ thời trang thống nhất hoàn chỉnh, mà mới chỉ đề cập đến từ ngữ chỉ trang phục Có thể kể tên một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và đề tài nghiên cứu khoa học các cấp như sau:

“Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca

Việt Nam” (Nguyễn Thị Ngân Hoa, Luận án Tiến sĩ, năm 2005)

“Tìm hiểu săc thái văn hóa của các từ ngữ chỉ trang phục (Đối chiếu

Nga-Việt)” (Phạm Thị Hồng, Đề tài cấp Bộ, năm 2007)

“Những từ ngữ chỉ y phục của người Nga và người Việt từ góc độ đối chiếu”

(Phạm Thị Hồng, Luận án Tiến sĩ, năm 2008)

“Tìm hiểu các từ chỉ trang phục truyền thống của người Dao đỏ” (Hoàng Thị

Hiền, Luận văn thạc sĩ, năm 2012)

“Hoa văn trang trí trên vải của dân tộc H’mông dưới góc nhìn ký hiệu học"

(Nguyễn Thị Bích Hạnh, Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội, năm 2016)

"Đặc điểm trường từ vựng-ngữ nghĩa chỉ trang phục (trên tư liệu tiếng Việt và

tiếng Anh)" (Bùi Thị Oanh, Luận án Tiến sĩ, năm 2019)

Các công trình nghiên cứu này hướng mục đích vào các nội dung: xây dựng

cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ trang phục; so sánh và chỉ ra các đặc thù văn hoá dân

Trang 33

tộc thể hiện qua từ ngữ trang phục; xác định sự chuyển hoá từ bình diện văn hoá vào các từ ngữ chỉ trang phục; phân tích mối quan hệ giữa biểu tượng trang phục và các biểu tượng văn hoá của con người được thể hiện qua các từ ngữ chỉ trang phục Khảo sát nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy, hiện nay ở Việt Nam đã có một số từ điển về chuyên ngành kỹ thuật dệt may thời trang được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp này, đó là:

“Từ điển Dệt may Anh -Việt” (Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, 2008) xuất

bản lần thứ nhất với số lượng hơn 40.000 thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành dệt may, nhằm đáp ứng nhu cầu của người đọc sử dụng những tài liệu thuộc lĩnh vực vật liệu, sợi, dệt, nhuộm, xử lý hoá học, cắt, may…cũng như các lĩnh vực khác có liên quan

“Từ điển thuật ngữ Anh-Việt, Việt-Anh chuyên ngành dệt may thời trang”

(Nguyễn Phước Sơn chủ biên, Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, 2014) có số lượng khoảng hơn 5000 thuật ngữ, từ vựng chuyên ngành dệt may thời trang, thông tin sản phẩm, thuật ngữ tin học chuyên ngành công nghệ may… Các thuật ngữ được dịch và diễn giải một cách súc tích, lô gic và dễ hiểu

Như vậy, tính đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu

về thuật ngữ thời trang cũng như đối chiếu thuật ngữ thời trang Anh-Việt Những khoảng trống nghiên cứu đã chỉ ra ở trên cho thấy: chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ thời trang Anh – Việt là vấn đề mới, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

1.2 Một số cơ sở lý thuyết về thuật ngữ

1.2.1 Khái niệm thuật ngữ

Thuật ngữ được hình thành và phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của các ngành khoa học và các lĩnh vực chuyên môn Công tác nghiên cứu thuật ngữ đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu đã xây dựng một kho tàng đồ sộ về thuật ngữ học, đồng thời họ cũng đưa ra rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ Xuất phát từ những quan điểm nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ đưa ra những quan niệm khác nhau về thuật ngữ Sau khi nghiên cứu các quan niệm truyền

Trang 34

thống về thuật ngữ của các nhà khoa học trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy

có hai xu hướng định nghĩa thuật ngữ: định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm và định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng

1.2.1.1 Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm

Xu hướng nghiên cứu này trước hết gắn liền với quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Xô viết

Akhmannova O.S (1966) định nghĩa rằng: “ Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của

ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thuật, …) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn, …) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [dẫn theo 72; tr.474] Cùng với quan

điểm này, nhà thuật ngữ học Kapanadze L.A (1978) khẳng định : “Thuật ngữ không

gọi tên khái niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó dường như

là gắn kèm theo nó cùng với định nghĩa” [43; tr.4]

Kế thừa các nghiên cứu của các nhà khoa học Xô viết, các nhà nghiên cứu Âu

Mỹ cũng đưa ra các quan điểm cho rằng: thuật ngữ luôn gắn liền với khái niệm mà

nó biểu đạt

Sager J.C (1990) quan niệm: “định nghĩa về thuật ngữ gắn với sự xác định một

khái niệm mà khái niệm này phản ánh một hệ thống mang tính khái niệm hình thành nên nó và phân biệt khái niệm đó với hệ thống” [109; tr.39] Còn Cabre M.T (1992)

cho rằng: “Điểm khác biệt rõ nhất để phân biệt thuật ngữ với từ của ngôn ngữ chung là

thuật ngữ được sử dụng để chỉ các khái niệm trong chuyên môn cụ thể” [88; tr.81]

Tương đồng với các quan điểm trên, Oeser E (1992) định nghĩa một thuật ngữ là: “một

tập hợp các khái niệm của một lĩnh vực chuyên môn” [102; tr.24]

Ở Việt Nam, ngay từ thập kỷ 30-40 của thế kỷ XX, tác giả Hoàng Xuân Hãn

đã cho rằng thuật ngữ là “danh từ khoa học” Sau này, quan điểm thuật ngữ gắn với

khái niệm đã được các nhà Việt ngữ như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành …tiếp tục kế thừa Theo đó, khái niệm thuật ngữ đã được tác giả Đỗ Hữu

Châu (1998) giải thích rõ ràng, đó là: “Thuật ngữ là từ chuyên môn được sử dụng

trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp, hoặc một ngành kỹ thuật nào

đó … Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một

Trang 35

khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kỹ thuật nhất định.”

[7; tr.167]

Như vậy, các tác giả nghiên cứu thuật ngữ theo xu hướng này đều có chung nhận định rằng: về mặt hình thức, thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ; về mặt nội dung, thuật ngữ biểu đạt khái niệm của ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nào đó

1.2.1.2 Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng

Bên cạnh xu hướng định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm, còn có xu hướng định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng mà chúng đảm nhiệm Các nhà ngôn ngữ học Xô viết cũng là những người tiên phong đưa ra quan niệm này

Theo Vinokur G.O (1939): “Thuật ngữ - đấy không phải là những từ đặc biệt,

mà chỉ là những từ có chức năng đặc biệt” [dẫn theo 43; tr.4]

Còn Moixeev A.I (1978) cho rằng thuật ngữ gắn với chức năng gọi tên: “Có

thể xác định chức năng ngôn ngữ của thuật ngữ như là một chức năng gọi tên, định danh Thuật ngữ định danh sự vật, hiện tượng trong hiện thực và định danh những khái niệm về chúng” [57; tr 21]

Ở Việt Nam, có một số nhà ngôn ngữ cũng kế thừa xu hướng quan niệm này

và xây dựng khái niệm thuật ngữ gắn với hai chức năng: định nghĩa và định danh Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp (1998): Thuật ngữ là những từ và ngữ cố định, có chức năng gọi tên chính xác các loại khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người [theo 14]

Còn tác giả Nguyễn Đức Tồn (2012) thì nêu những đặc trưng bản chất của

thuật ngữ: “Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong

một phạm vi, một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn” [73; tr.13]

Với những quan điểm nêu trên của của các nhà Việt ngữ, khái niệm thuật ngữ luôn gắn với chức năng mà chúng đảm nhiệm

Có thể nhận thấy, các quan niệm khác nhau về khái niệm thuật ngữ đã đưa ra những góc nhìn toàn diện về công tác nghiên cứu thuật ngữ trong và ngoài nước Hiện nay, công tác nghiên cứu thuật ngữ được chú trọng và quan tâm nhiều hơn với nhiều quan điểm mới về thuật ngữ được đưa ra Các quan điểm đều tập trung nghiên

Trang 36

cứu xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học và ứng dụng thuật ngữ vào thực tiễn Trong luận án này, chúng tôi thống nhất với các nhà khoa học Xô viết và Âu Mỹ về

xu hướng định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm Như vậy, chúng ta có thể hiểu

một cách ngắn gọn như sau: thuật ngữ là những từ hoặc ngữ biểu thị khái niệm về

sự vật, hiện tượng của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nào đó

1.2.2 Tiêu chuẩn thuật ngữ

Để xây dựng một hệ thuật ngữ chuẩn, trước hết phải đặt ra các tiêu chuẩn của thuật ngữ

Theo Ray (1963) thì thuật ngữ phải có 2 tiêu chí: (1) ngắn gọn, (2) gọi tên

một khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn ; và Tauli (1968) thì cho rằng thuật ngữ

là một từ có 3 tiêu chuẩn: (1) mang nghĩa chuyên môn chính xác, (2) ngắn gọn cả về nghĩa và âm tiết, (3) hài âm [dẫn theo 82; tr.11]

Tài liệu ISO 704 (2000) của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế về "Công tác nghiên

cứu thuật ngữ - các nguyên tắc và phương pháp" (Terminology work — Principles

and methods) đã đưa ra 7 tiêu chuẩn bắt buộc về đặt thuật ngữ như sau: (1) rõ ràng, (2) nhất quán, (3) hợp lý, (4) ngắn gọn, (5) mang nghĩa gốc, (6) chính xác, và (7) mang đặc trưng dân tộc [theo 98; tr.25-26]

Ở Việt Nam, có lẽ phải kể đến tác giả Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên

nghiên cứu xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếng Việt Trong cuốn Danh từ khoa học

xuất bản năm 1940, tác giả đã đúc kết tính cách của danh từ khoa học (thuật ngữ

khoa học), đó là: đủ rành mạch, dễ nhớ, gọn Các tính cách này được xem như là

các tiêu chí cơ bản cần có của một thuật ngữ và đã được các nhà khoa học khác tiếp tục kế thừa và phát triển nghiên cứu trong những công trình khoa học sau này Theo tác giả Lưu Vân Lăng (1968), thuật ngữ tiếng Việt phải đảm bảo những tiêu chuẩn: (1) Tính chính xác, (2) Tính hệ thống, (3) Tính bản ngữ, (4) Tính ngắn gọn, (5) Tính dễ dùng [theo 48]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (1998) cho rằng thuật ngữ phải đáp ứng những tiêu chuẩn sau: (1) Tính chính xác, (2) Tính hệ thống, (3) Tính đơn nghĩa, (4) Tính quốc

tế, (5) Không mang sắc thái tu từ biểu cảm [theo 14; tr.221]

Trang 37

Việc xây dựng, thống nhất thuật ngữ khoa học liên quan chặt chẽ tới việc xác định các tiêu chuẩn của thuật ngữ Từ việc đánh giá các quan niệm khác nhau của các nhà khoa học về vấn đề xây dựng tiêu chuẩn thuật ngữ, chúng tôi nhận định: việc xây dựng thuật ngữ đảm bảo tất cả các tiêu chí trên sẽ thực sự là vấn đề cần thiết phải hướng tới Thực tế cho thấy: không phải tất cả các hệ thuật ngữ khoa học của các ngành đều đảm bảo tất cả các tiêu chí đã được nêu như trên Tiêu chuẩn thuật ngữ của các ngành khoa học sẽ có sự khác nhau do đặc thù chuyên môn khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn các tiêu chuẩn phù hợp cho việc xây dựng thuật ngữ của ngành khoa học nào cũng cần phải dựa vào đặc thù chuyên môn của ngành khoa học đó

Như vậy, thuật ngữ cần đảm bảo các tiêu chuẩn bắt buộc: tính khoa học (tính chính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn), tính quốc tế và tính dân tộc

Các tiêu chuẩn của thuật ngữ được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu của luận án

sẽ được phân tích cụ thể sau đây

a) Tính khoa học

Thuật ngữ có tính khoa học, nghĩa là thuật ngữ phải mang tính chính xác, tính

hệ thống, tính ngắn gọn

Tính chính xác được các học giả ngôn ngữ xem là tiêu chuẩn hàng đầu đối với

thuật ngữ Tính chính xác của thuật ngữ được thể hiện cả trên phương diện hình thức lẫn ngữ nghĩa Xét về mặt hình thức, thuật ngữ gắn với một khái niệm khoa học nên hình thức thuật ngữ có sự chặt chẽ và ngắn gọn Xét về mặt ngữ nghĩa, tác

giả Lê Khả Kế (1979) phân tích rõ: "lí tưởng nhất là thuật ngữ phản ánh được

những đặc trưng cơ bản, nội dung cơ bản nhất của khái niệm" [44, tr.33] Như vậy,

tính chính xác yêu cầu thuật ngữ phải thể hiện đúng một khái niệm khoa học, đảm bảo cho người nghe hiểu đúng về khái niệm khoa học đó, đồng thời phản ánh được những đặc trưng mang tính bản chất rõ nét nhất của khái niệm khoa học Nhằm tránh sự nhầm lẫn, khái niệm được biểu thị bởi thuật ngữ phải phù hợp tối đa với số lượng đơn vị cấu tạo thuật ngữ Bởi lẽ, sự dư thừa về đơn vị cấu tạo thuật ngữ rất dễ dẫn đến sự hiểu nhầm về khái niệm khoa học của thuật ngữ

Trang 38

Tính hệ thống cũng là một trong những tiêu chuẩn cần thiết của thuật ngữ

Theo đó, hệ thống khái niệm của một ngành khoa học hoặc lĩnh vực chuyên môn nào đó phải được thể hiện bằng hệ thống thuật ngữ Mỗi thuật ngữ sẽ đóng vai trò là một yếu tố và chiếm một vị trí nhất định trong hệ thống thuật ngữ Bàn về hệ thống

khái niệm, tác giả Lưu Vân Lăng (1977) chỉ rõ "các khái niệm được tổ chức thành

hệ thống, có tầng, có lớp, có bậc hẳn hoi, có khái niệm hạt nhân làm trung tâm tập hợp nhiều khái niệm khác thành từng trường khái niệm, thành từng nhóm, từng cụm Mỗi trường khái niệm có thể là một hệ thống con Mỗi hệ thống nhỏ có một khái niệm hạt nhân" [49, tr.5-6] Theo đó, hệ thống khái niệm được phân tích trước

hết từ các khái niệm khái quát, tiếp đến các tầng lớp khái niệm chi tiết và chuyên sâu của một ngành khoa học Như vậy, một hệ thuật ngữ luôn mang bản chất hệ thống Và có nhiều hệ thống nhỏ sẽ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ Trong những hệ thống nhỏ có chứa đựng những hệ thống nhỏ hơn Và hệ thống nhỏ nhất

của thuật ngữ sẽ thể hiện tính một nghĩa (đơn nghĩa) tuyệt đối Tính ngắn gọn có

mối quan hệ gắn liền với tính chính xác và tính hệ thống Theo tác giả Đỗ Hữu Châu (1962), tính ngắn gọn được xem như mặt hình thức của tính chính xác [theo 5; tr.242-243] Như vậy, có thể hiểu: hình thức thuật ngữ phải đảm bảo sự ngắn gọn và chặt chẽ Đồng thời, không có sự dư thừa về số lượng của yếu tố cấu tạo thuật ngữ, nhằm đảm bảo tính chính xác của khái niệm Bên cạnh đó, thuật ngữ còn có tính chất định danh, cho nên thuật ngữ cần phải được ngắn gọn Thuật ngữ càng ngắn gọn và chính xác thì tốc độ truyền tải thông tin tới người nghe càng nhanh, đồng thời nguyên tắc tiết kiệm ngôn ngữ cũng được thực hiện theo Những thuật ngữ dài dòng sẽ tạo ra sự lỏng lẻo về mặt cấu tạo và làm giảm độ chính xác về mặt định danh của thuật ngữ Khái niệm về độ dài tối ưu của thuật ngữ cũng được

nhiều nhà nghiên cứu bàn đến Theo tác giả Nguyễn Văn Lợi (2012) thì "độ dài tối

ưu của thuật ngữ được trình bày theo công thức: n+1, ở đó, n là số lượng các tiêu chí khu biệt của khái niệm chuyên ngành tương ứng do thuật ngữ phản ánh" [60 ;

tr.21] Còn tác giả Reformaxki A.A (1978) cho rằng chỉ nên có từ 2 đến 4 thành tố cấu tạo trong một thuật ngữ khoa học là từ ghép hoặc ngữ [theo 77; tr.253-271]

Trang 39

Để thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo của luận án, chúng tôi tiếp thu quan điểm của các tác giả Reformaxki và Nguyễn Văn Lợi về tính ngắn gọn của thuật ngữ Chúng tôi nhận thấy rằng, để đánh giá tính ngắn gọn của một thuật ngữ khoa học, chúng ta cần căn cứ vào hai tiêu chí: số lượng đơn vị cấu tạo và sự phù hợp của cấu trúc hình thức với đặc trưng khái niệm mà thuật ngữ biểu thị Như vậy, tính ngắn gọn có vai trò làm tăng thêm độ chính xác của thuật ngữ khoa học và góp phần làm giảm tải các thuật ngữ dài dòng mang tính miêu tả Tính ngắn gọn của thuật ngữ rất cần thiết được đặt ra trong quá trình xây dựng thuật ngữ

b) Tính quốc tế

Thuật ngữ có tính quốc tế, bởi vì thuật ngữ là những từ, ngữ biểu thị các khái

niệm khoa học được coi là thành tựu chung của trí tuệ, trí thức nhân loại

Tính quốc tế của thuật ngữ thể hiện ở chỗ, một khái niệm khoa học được hiểu

như nhau trong các thứ tiếng khác nhau trên thế giới Ví dụ: khái niệm "thời trang" (tiếng Việt) được viết là "fashion" (tiếng Anh), "la mode" (tiếng Pháp), "mode" (tiếng Đức), "moda" (tiếng Tây Ban Nha),… Có thể nhận thấy: thuật ngữ thời trang

mang tính quốc tế, bởi vì: xét về mặt hình thức, thuật ngữ này thể hiện trong các thứ tiếng khác nhau có sự tương đồng; xét về mặt nội dung, khái niệm của thuật ngữ được biểu hiện giống nhau trong các ngôn ngữ Có thể nói, tính quốc tế của thuật ngữ khoa học góp phần tạo nên tính thuận lợi trong giao tiếp chuyên môn, tránh được sự hiểu nhầm về khái niệm khoa học

c) Tính dân tộc

Thuật ngữ có tính dân tộc, có nghĩa là thuật ngữ phải được xây dựng từ chất

liệu ngôn ngữ dân tộc, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ dân tộc đó đang sử dụng Mỗi quốc gia xây dựng hệ thuật ngữ khoa học đều dựa trên ngữ liệu ngôn ngữ dân tộc của họ Do vậy, vốn từ dân tộc sẽ được sử dụng trong quá trình xây dựng hệ thuật ngữ Tính dân tộc thể hiện trong hệ thuật ngữ khoa học sẽ góp phần gìn giữ và

phát triển ngôn ngữ dân tộc.Theo tác giả Lưu Vân Lăng (1968): “Thuật ngữ, dù là

thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào, cũng nhất thiết là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó thuật ngữ phải có tính chất dân tộc và phải mang mầu sắc ngôn ngữ dân tộc” [48; tr.58]

Trang 40

Chúng tôi cho rằng, để xây dựng một hệ thuật ngữ khoa học của một ngành nào đó, trước khi vay mượn tiếng nước ngoài với các hình thức khác nhau, chúng ta cần sử dụng tối đa vốn ngữ liệu tiếng Việt Việc vay mượn các thuật ngữ nước ngoài cũng cần có một sự thống nhất trong cách viết và phiên âm, nhằm góp phần làm phong phú kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt Theo đó, chúng ta cần đưa ra một nguyên tắc chung trong cách đọc và cách viết các thuật ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài Đặc biệt, với những thuật ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài nhằm biểu thị các khái niệm không thể tìm thấy thuật ngữ tương đương trong tiếng Việt cần được giữ nguyên dạng cả cách viết và cách phiên âm Điều này nhằm hướng tới việc xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt đảm bảo tính quốc tế cả về nội dung và hình thức biểu hiện

Như vậy, các tiêu chuẩn của thuật ngữ khoa học bao gồm: tính chính xác, tính

hệ thống, tính ngắn gọn, tính quốc tế và tính dân tộc đã được chúng tôi phân tích cụ thể, nhằm hướng tới việc xây dựng hệ thuật ngữ khoa học của các ngành đều đảm bảo tất cả các tiêu chí trên Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy: việc đánh giá và xây dựng các thuật ngữ thời trang cần được dựa trên năm tiêu chuẩn này với

lí do sau: Thứ nhất, hiện nay, xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ

trên toàn thế giới Theo đó, sự trao đổi và giao lưu quốc tế cũng ngày càng phát triển sâu rộng trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội Điều này đặt ra yêu cầu đối với công tác xây dựng thuật ngữ thời trang, cũng như thuật ngữ của các ngành khoa học khác, phải đảm bảo tính khoa học (tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn)

và tính quốc tế Thứ hai, thời trang là một ngành công nghiệp mang đậm tính sáng

tạo nghệ thuật và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của các nền văn hoá khác nhau Thời trang của quốc gia nào sẽ mang dấu ấn bản sắc văn hoá dân tộc của quốc gia đó Do vậy, thuật ngữ thời trang sẽ mang tính dân tộc

1.2.3 Phân biệt thuật ngữ và một số khái niệm khác

1.2.3.1 Phân biệt thuật ngữ và từ thông thường

Thuật ngữ và từ thông thường (còn gọi là từ toàn dân) đều là bộ phận của từ vựng Do vậy, trước hết, chúng có những điểm giống nhau như sau:

Thứ nhất, tác giả Hồ Lê (2003) cho rằng: thuật ngữ và từ thông thường đều phải tuân theo quy luật chung về ngữ âm cũng như quy luật chung về cấu tạo ngữ pháp [theo 52; tr.8]

Ngày đăng: 28/03/2020, 07:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w