+ Thuộc phế, liên lạc với đại trường, đi ra ngoài chỗ xương đòn, thuộc huyệt trung phủ vòng ra mặt ngoài chi trên đi xuống dưới, dừng ở mé ngón tay cái nơi huyệt thiếu thương rồi liên ti
Trang 1Kinh lạc (meridian) là đường liên tục thông suốt của khí huyết, kinh là đường thẳng đi khắp cơ thể, lạc là đường liên lạc giữa các kinh, tạo thành màng lưới thấu suốt trong ngoài, quán triệt trên dưới, liên hệ với các cơ quan tạng phủ với các tổ chức của cơ thể (không đâu mà không tới)
Trong kinh lạc có kinh khí vận hành: khí là cơ sở vật chất, là kết quả của quá trình chuyển hóa các chất đạm, đường, mỡ; khi khí hoá cho ra năng lượng thúc đẩy hoạt động của các tạng phủ; khí quan hệ chặt chẽ với huyết (là cơ sở vật chất) vì vậy chức năng của kinh lạc là vận chuyển khí huyết dinh dưỡng, duy trì hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể sống
Sự hoạt động của hệ kinh lạc có tính quy luật tuỳ theo bệnh lý từ trong
ra hay từ ngoài vào, đều có biểu hiện bất thường của hệ kinh lạc Thầy thuốc phải nắm vững quy luật chuyển hóa của kinh lạc để phục vụ cho chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh tật
2 Sơ bộ cấu tạo của hệ thống kinh lạc
- Mười hai kinh mạch chính:
+ 12 khu da bì bộ
- Tám mạch kỳ kinh (kỳ kinh bát mạch)
Trang 23 Cách gọi tên của 12 kinh mạch chính
- Ba kinh âm ở tay
Thủ thái âm phế kinh, gọi tắt là kinh phế
Thủ thiếu âm tâm kinh, gọi tắt là kinh tâm
Thủ quyết âm tâm bào lạc kinh, gọi tắt là kinh tâm bào
- Ba kinh dương ở tay
Thủ dương minh đại trường kinh, gọi tắt là kinh đại trường
Thủ thái dương tiểu trường kinh, gọi tắt là kinh tiểu trường
Thủ thiếu dương tam tiêu kinh, gọi tắt là kinh tam tiêu
- Ba kinh âm ở chân
Túc thái âm tỳ kinh, gọi tắt là kinh tỳ
Túc thiếu âm thận kinh, gọi tắt là kinh thận
Túc quyết âm can kinh, gọi tắt là kinh can
- Ba kinh dương ở chân
Túc dương minh vị kinh, gọi tắt là kinh vị
Túc thiếu dương đởm kinh, gọi tắt là kinh đởm
Túc thái dương bàng quang, gọi tắt là kinh bàng quang
4 Sự vận hành và chủ trị của kinh lạc
4.1 Khái quát chung
- Mười bốn kinh mạch đều có vị trí tuần hành nhất định Trừ haii kinh nhâm và đốc mạch, còn 12 kinh lạc phân bố đối xứng nhau hai bên chi thể và
có sự liên tiếp theo thứ tự nhất định
Trang 3Đại trường kinh (LI)
Phế kinh (LU)
Đởm kinh (GB) Can kinh (LR) Tỳ kinh (Sp) Vị kinh(St)
+ Ba kinh âm ở tay
Bắt đầu từ ngực đi lên trên xuất ra mặt trước trong tay và liên tiếp với 3 kinh dương ở tay Các chứng bệnh ở vùng ngực có thể lấy huyệt của ba âm kinh ở tay để điều trị
- Thủ thái âm phế kinh
+ Thuộc phế, liên lạc với đại trường, đi ra ngoài chỗ xương đòn, thuộc huyệt trung phủ vòng ra mặt ngoài chi trên đi xuống dưới, dừng ở mé ngón tay cái nơi huyệt thiếu thương rồi liên tiếp v
ới kinh thủ dương minh đại trường
+ Chủ trị: các chứng bệnh ở vùng phế, ngực, hầu, họng, chứng sốt cao, tự hãn, tiêu khát, có thể chỉ định các huyệt mà kinh đi qua
- Thủ quyết âm tâm bào kinh
Trang 4+ Thuộc tâm bào, liên lạc với tam tiêu, ra ngoài nơi đầu vú (nơi huyệt thiên trì) đi chính giữa mặt trong chi trên và xuống dưới dừng ở đầu ngón tay giữa (nơi huyệt trung xung) và liên tiếp với kinh thủ thiếu dương tam tiêu kinh
+ Chủ trị: các bệnh thuộc vùng tâm, vị, ngực, các bệnh thần chí, suy nhược thần kinh, nhược não, hen suyễn, sốt rét và điều trị các chứng bệnh theo vùng kinh
đi qua
- Thủ thiếu âm tâm kinh
+ Thuộc tâm, liên hệ với tiểu trường, đi ra ngoài nơi hõm nách (huyệt cực tuyền) theo mặt trước ngoài chi trên xuống dưới, dừng ở huyệt thiếu xung, mé ngoài ngón tay áp út, tiếp nối với kinh thủ thái dương tiểu trường
+ Chủ trị: các chứng bệnh ở phần tâm và ngực, bệnh thần chí, phát dục chậm, thần kinh suy nhược, trúng phong, thất ngôn và điều trị các chứng bệnh theo vùng
mà kinh đi qua
- Ba kinh dương ở tay
+ Ba kinh dương ở tay đều bắt đầu từ tay đi lên trên hành ở phía dưới chi trên và liên tiếp với ba kinh dương ở trên Nói chung khi điều trị các chứng bệnh ở đầu, trán, mặt, mắt, tai, mũi, hầu, họng và sốt cao đều lấy huyệt ở ba kinh dương tay
- Thủ dương minh đại trường kinh
+ Thuộc đại trường, liên lạc với phế, bắt đầu từ ngón tay trỏ (nơi huyệt thương dương) men theo phía sau ngoài của chi trên, lên bả vai, cổ và phần xương hàm bắt chéo ở huyệt nhân trung, dừng ở cánh mũi bên đối diện (nơi huyệt nghinh hương) và liên tiếp với kinh dương minh vị ở huyệt thừa khấp
+ Chủ trị: các chứng bệnh vùng trước đầu, mặt, răng, mắt, tai, mũi, hầu, họng, các bệnh vùng ngực, bệnh phát sốt, phong chẩn, cao huyết áp và điều trị các chứng bệnh nơi mà đường kinh đi qua
- Thủ thiếu dương tam tiêu kinh
+ Thuộc tam tiêu liên lạc với tâm bào Bên ngoài kinh bắt đầu từ ngón tay vô danh nơi huyệt quan xung đi lên trên chính giữa phần dưới mặt sau chi trên đến vai, phía ngoài cổ vào tai, qua thái dương và dừng ở đuôi mắt nơi huyệt ty trúc không, tiếp nối với kinh túc thiếu dương đởm nơi huyệt đồng tử liêu
+ Chủ trị: các bệnh vùng đầu, tai, mắt, hầu, các chứng bệnh nhực sườn, sốt cao, phong chẩn, tiện bế và điều trị các chứng bệnh ở vùng kinh đi qua
- Thủ thái dương tiểu trường kinh
Trang 5+ Kinh thuộc tiểu trường, liên lạc với tâm bên ngoài kinh bắt đầu từ ngón tay út nơi huyệt thiếu trạch, đi lên theo mặt duỗi thành trụ lên trên vai, cổ đến hàm, dừng ở trước tai, nơi huyệt thính cung và liên tiếp với kinh túc thái dương bàng quang
+ Chủ trị: các chứng bệnh vùng bả vai, cổ, đầu, mắt, tai, hầu, họng, bệnh thần chí, phát sốt, đau lưng và điều trị các chứng bệnh theo vùng mà kinh đi qua
- Ba kinh âm ở chân: đều bắt đầu từ chân đi lên trên theo mặt trong chi dưới, lên bụng, ngực, nói tiếp với 3 kinh âm ở tay Nói chung các chứng bệnh ở vùng tiết niệu, sinh dục và phần bụng có thể lấy huyệt ở 3 kinh âm ở chân để điều trị
- Túc thái âm tỳ kinh: thuộc tỳ, liên lạc với vị Bên ngoài kinh bắt đầu từ ngón chân cái, nơi huyệt ẩn bạch theo mặt trong chân đến mé trong sau xương đùi lên tiểu khung vào tủy cùng và tủy sống rồi lên trước ngoài ngực và bụng, dừng lại
ở dưới nách nơi huyệt đại bao (gian sườn 6 trên đường giữa nách) liên tiếp với thủ thiếu âm tâm kinh
+ Chủ trị: bệnh vị trường, bệnh tiết niệu, sinh dục và các vị trí bị bệnh mà kinh đi qua, ngoài ra kinh còn có tác dụng điều trị chảy máu, thiếu máu, mất ngủ, phù…
- Túc quyết am can kinh: thuộc can liên hệ với đởm, tuần hành ở mặt ngoài
cơ thể bắt đầu từ mé ngoài ngón cái (huyệt đại đôn) theo mặt trong chân vaò thành trong tiểu khung và thành bụng, dừng lại ở gian sườn sáu dưới vú, nơi huyệt kỳ môn, liên tiếp với kinh thủ thái âm phế
+ Chủ trị: các chứng bệnh thuộc can đởm bao gồm; bệnh cao huyết áp, đau đầu, mất ngủ, hay mê… các bệnh thuộc hệ thống sinh dục, tiết niệu và các chứng bệnh ở nơi mà kinh đi qua
- Túc thiếu âm thận kinh: thuộc thận, liên hệ với bàng quang, bên ngoài kinh bắt đầu từ giữa lòng bàn chân nơi huyệt dũng tuyền, theo mé sau trong cổ chân lên thành trong đùi vào bụng ngực, hai bên của đường trắng giữa dừng lại ở giữa dưới xương đòn (huyệt
du phủ) liên tiếp với kinh thủ quyết âm tâm bào
+ Chủ trị: các bệnh thuộc hệ thống nội tiết và hệ thống sinh dục, tiết niệu, thần kinh suy nhược, bệnh ở hầu, ngực, vùng lưng và điều trị các chứng bệnh theo vùng mà kinh đi qua
- Ba kinh dương ở chân: đều xuất phát từ vùng đầu xuống ngực bụng và đi xuống mặt trước ngoài chân liên tiếp với 3 kinh âm ở chân Nói chung các chứng bệnh ở đầu, mặt, phát sốt và bệnh thần chí đều dùng các huyệt ở 3 kinh dương ở chân để điều trị
- Túc dương minh vị kinh: kinh thuộc vị, liên lạc với tỳ, bên ngoài từ dưới mi mắt, nơi huyệt thừa khấp theo gò má đến quanh môi, mồm, vào xương hàm dưới tới góc hàm
Trang 6ra phía ngoài xương hàm đi xuống dưới hố thượng đòn xuống trước ngực bụng và trước chi dưới, dừng lại ở mé ngoài ngón chân thứ hai nơi huyệt lệ đoài
+ Chủ trị: các chứng bệnh thuộc vùng hầu, họng, răng, mồm, mặt, đầu, bệnh
ở vị trường, thần chí, cao huyết áp, thiếu máu, chứng bạch cầu giảm và điều trị bệnh
ở các cơ quan mà kinh đi qua
- Túc thiếu dương đởm kinh: thuộc đởm, liên lạc với can, bên ngoài bắt đầu
từ ngoài đuôi mắt (nơi huyệt đồng tử liêu) quanh phía trước tai vòng lên thái dương, sau đó tới thành ngoài ngực bụng, mạn sườn và hạ chi, dừng lại ở mé ngoài đầu ngón chân thứ tư, nơi huyệt túc khiếu âm tiếp nối với kinh quyết âm can
+ Chủ trị: các chứng bệnh vùng đầu, mắt, tai, ngực, sườn, bệnh thuộc can đởm, bệnh thần chí, sốt cao, các chứng tiện bế, phù thiếu B1 (cước khí) ngoài ra kinh còn có tác dụng điều trị bệnh tật theo vùng mà kinh đi qua
- Túc thái dương bàng quang kinh: kinh thuộc bàng quang, liên lạc với thận, bên ngoài bắt đầu từ khoé mắt trong nơi huyệt tình minh đi lên đỉnh đầu và vùng chẩm, xuống phía sau cổ, đi 2 bên cột sống xuống mặt sau chi dưới và phía sau ngoài cổ chân theo mé ngoài, dừng lại ở ngón út bàn chân nơi huyệt chí âm rồi liên tiếp với kinh túc thiếu âm thận
+ Chủ trị: các chứng bệnh vùng thắt lưng, cột sống lưng, vùng sau cổ, chẩm, mắt… ngoài ra còn điều trị các chứng bệnh theo vùng mà kinh lạc đi qua
Tóm lại: - Thủ tam âm liên tiếp thủ tam dương
- Thủ tam dương liên tiếp túc tam dương
- Túc tam dương liên tiếp túc tam âm
- Túc tam âm liên tiếp với thủ tam âm
- Nhâm mạch
Bắt đầu từ giữa tầng sinh môn (giữa hậu môn và cơ quan sinh dục – nơi huyệt hội âm) đi lên phía trước giữa bụng, dừng lại ở giữa rãnh môi hàm dưới nơi huyệt thừa tương, tương giao với kinh đốc mạch Nhâm mạch có tác dụng tổng quản các kinh âm của cơ thể là: “âm kinh chi hải”
+ Chủ trị: bệnh hệ thống sinh dục, tiết niệu, các chứng bệnh vị trường, phế hầu, họng, bệnh về thần chí, thân thể hư nhược, ngoài ra còn điều trị bệnh ở các cơ quan thuộc kinh lạc chi phối
- Đốc mạch
+ Bắt đầu từ xương cùng nơi huyệt trường cường, đi lên chính giữa lưng, qua gáy tới trước đầu mũi và dừng lại ở huyệt nhân trung, liên kết với kinh nhâm mạch
Trang 7đốc mạch có tác dụng tổng đốc các kinh dương của toàn thân “đốc mạch vi dương kinh chi hải”
+ Chủ trị: các bệnh vùng đầu, mặt, hầu, họng, bệnh thuộc tâm, phế, vị trường, bệnh sinh dục, tiết niệu, sốt cao, bệnh thần chí “não phát dục bất toàn”, giảm bạch cầu, toàn thân hư nhược, suy nhược thần kinh, ngoài ra còn điều trị các chứng bệnh ở vùng mà kinh đi qua
4.3 Quy luật phân bố 12 kinh ở ngoài cơ thể
- Phần đầu mặt:
+ Ba kinh dương tay, chân, đều phân bố ở đầu, mặt Người xưa cho rằng
”Thủ vi giả dương chi hội” Thủ túc dương minh kinh ở mặt trước và ở trước đầu Thủ túc thiếu dương kinh ở mặt bên thủ thái dương kinh phân bố mặt bên thái dương, túc thái dương kinh phân bố ở sau đầu, trước trán và đỉnh chẩm
- Phần thân người
+ Ba kinh âm ở tay, chân đều phân bố ở mặt trước, ba kinh âm chân phân bố
ở ngực, bụng; ba kinh âm tay phân bố ở ngực Trong ba kinh dương chân, kinh túc dương minh phân bố ở ngực bụng, túc thiếu dương kinh phân bố ở mặt bên thân người, kinh túc thái dương phân bố ở măt lưng
+ Chi trên: ba kinh âm phân bố ở mặt gấp, kinh thái âm ở trước, kinh thiếu
âm ở sau, kinh quyết âm ở giữa Ba kinh dương ở tay phân bố mặt duỗi, kinh dương minh ở trước, kinh thái dương ở sau, kinh thiếu dương ở giữa
+ Chi dưới: ba kinh âm phân bố ở mặt trong, thứ tự phân bố giống như chi trên, chỉ là giao hoán vị trí của huyết âm và thái âm, túc dương minh phân bố ở trước, kinh túc thiếu dương phân bố ở ngoài, kinh túc thái dương phân bố ở sau Lưu ý vị trí các kinh không nói theo giải phẫu mà nói theo hình người ở tư thế đứng hai tay giơ cao, lòng bàn tay theo hướng trước trong
Cần phải nắm vững qui luật phân bố của kinh lạc vì nó có ý nghĩa trong việc chẩn đoán và bệnh tật
4.4 Qui luật biểu lý của 12 kinh
Mười hai kinh mạch phân bố ở tạng phủ, kinh âm thuộc tạng (liên lạc với phủ) là lý, kinh dương thuộc phủ (liên lạc với tạng) là biểu Do mối liên hệ của kinh lạc tuần hành bên trong cơ thể mà tạo nên quan hệ biểu lý, âm dương của kinh lạc
và tạng phủ Hai kinh biểu và lý liên tiếp thông nhau qua lạc mạch tương hỗ, vì vậy
vì phương diện sinh lý và bệnh lý của hai kinh biểu lý đều là mối quan hệ tương hỗ
và ảnh hưởng tương hỗ Nắm vững qui luật này, trong điều trị thường vận dụng cách lấy huyệt trên các kinh có liên quan biểu lý để phối hợp nhằm làm tăng hiệu
Trang 85 Huyệt là vị trí chuyển hóa của khí (Vital energy) thường ở phần da của cơ thể
- Tác dụng sinh lý của huyệt là chuyển hóa năng lượng (khí) cũng là nơi xâm nhập của tà khí, vì vậy huyệt có tác dụng chẩn đoán, dự phòng và điều trị bệnh tật
5.1 Các loại huyệt
Học thuyết kinh lạc chia 3 loại huyệt
- Kinh huyệt: các huyệt nằm trên 12 kinh chính và mạch nhâm, mạch đốc Kinh huyệt còn chia ra: huyệt nguyên, huyệt lạc, huyệt du, huyệt mộ, huyệt ngũ du (tỉnh, huỳnh, du, kinh, nguyên, hợp), huyệt Khích, 8 huyệt hội, huyệt giao hội…
- Huyệt ngoài kinh, gọi là kinh ngoại kỳ huyệt: là huyệt không nằm trên đường kinh chính (14 đường kinh) và cũng có thể nằm trên đường đi của kinh nhưng không phải huyệt của kinh đó Một số nhà châm cứu hậu sinh đã phát hiện khoảng 200 huyệt ngoài kinh mặc dù theo tổ chức y tế thế giới (Malina, 1991) xác định có 48 huyệt ngoài kinh
- Huyệt ở chỗ đau, gọi là a thị huyệt Số lượng huyệt là tùy theo nhiều hay ít chỗ đau
5.2 Qui luật chủ trị của huyệt ở 14 kinh
- “ Kinh lạc sở quá chủ trị sở tại” tức là kinh lạc tuần hành qua đâu thì có tác dụng điều trị bệnh ở nơi đó Nói chung các huyệt vùng mặt phần lớn có tác dụng điều trị cục bộ, nhưng cũng có một số huyệt có tác dụng điều trị bệnh toàn thân: bách hội, nhân trung, tố liêu, phong phủ
- Các huyệt hợp ở vùng thân người: không những có tác dụng điều trị tại chỗ
mà còn có tác dụng điều trị các tạng phủ trong cơ thể Ví dụ: huyệt vị vùng bụng, ngực đều có tác dụng điều trị bệnh tại chỗ, bệnh nội tạng cấp tính Huyệt phần lưng điều trị bệnh tại chỗ, bệnh nội tạng, bệnh mãn tính như huyệt đản trung, quan nguyên, khí hải, đại chùy, mệnh môn, thận du đều có thể điều trị bệnh toàn thân
+ Ba kinh dương tay chân: huyệt ở tay hoặc ở chân lên đều có tác dụng điều trị bệnh ở đầu, mặt, ngũ quan, phát sốt, bệnh thần chí Huyệt ở trên và thành trước tiểu khung đều điều trị bệnh ở tạng phủ bao gồm ngực, bụng, lưng, thắt lưng Còn
ba kinh dương tay đa số điều trị các chứng bệnh đầu, mặt, cổ, lưng, vai
+ Ba kinh âm tay chân: phân bố ở tay và chân, điều trị bệnh ở phế ngực, hầu, họng và bệnh thần chí; riêng phần huyệt ba kinh âm ở chân có thể điều trị bệnh hệ thống sinh dục, tiết niệu và bệnh can, tỳ, thận Huyệt ba kinh âm ở tay chủ trị thuộc bệnh tâm phế, tâm bào là chính Huyệt ba kinh âm ở chân trị bệnh can, tỳ, thận là chủ, còn lại phần lớn điều trị cục bộ
- Ngoài việc điều trị bệnh cho tạng hoặc phủ mà kinh chi phối, kinh lạc còn điều trị các chứng và bệnh ở các tạng phủ có liên quan biểu lý với nó
Trang 96 Sinh lý và bệnh lý của kinh lạc
- Tác dụng sinh lý của kinh lạc là: hành khí huyết, dưỡng (doanh) âm dương, nhu cân cốt và lợi khớp xương (lợi quan tiết) Kinh lạc liên hệ khắp toàn thân, từ trong tạng phủ đến các cơ khớp và chi thể, thấu suốt trong ngoài để vận hành khí tiết, duy trì mọi chức năng sinh lý bình thường của các tổ chức, cơ quan trong cơ thể Mọi cơ quan, tổ chức của ngũ quan, của khiếu, da, cơ, cân cốt, tứ chi, lục phủ, ngũ tạng của cơ thể đều phải dựa vào sự nhu dưỡng của khí huyết và sự liên hệ của kinh lạc Luôn phát huy chức năng sẵn có và hiệp đồng tương hỗ, kinh lạc tạo thành một thể hữu cơ hoàn chỉnh
- Khi bệnh lý: kinh lạc có liên quan chặt chẽ tới phát sinh và phát triển (chuyển biến) của bệnh tật
- Nếu như tà khí xâm phạm vào cơ thể mà tác dụng bảo vệ của kinh lạc (kinh khí bên ngoài thất thường thì thông qua kinh lạc bệnh tà chuyển vào tạng phủ Ví dụ: phong tà xâm phạm cơ biểu rồi chuyển vào trong cơ thể xuất hiện triệu chứng của phế, khái thấu; khạc đàm, ngực tức, ngực đau; do phế và đại trường tương quan biểu lý nên có khi còn xuất hiện triệu chứng của đại trường; đau bụng, ỉa lỏng hoặc tiện bế
- Ngược lại, khi có bệnh ở tạng phủ cũng thông qua kinh lạc có liên quan sẽ phản ảnh qua các vùng da, cơ tương ứng Ví dụ: bệnh ở can thường xuất hiện đau sườn, bệnh ở thận thường đau lưng, bệnh ở phế thường đau vai lưng (kiên bối) vùng liên bả Nhưng nói chung chỉ là tương đối, quan trọng là xem bệnh tà (tính chất mạnh yếu) so với sự thịnh suy của chính khí, của cơ thể để quyết định điều trị được tốt
7 ứng dụng học thuyết kinh lạc trên lâm sàng
7.1 ứng dụng trong chẩn đoán: (Kinh lạc chẩn)
- Dựa trên đường đi của kinh lạc ta có thể đoán biết được vị trí khi tạng phủ
bị bệnh hoặc khi kinh khí tụ lại, thường xuất hiện các phản ứng cảm giác đau khi ấn hoặc co cứng ở dưới tay khi sờ nắn, vì vậy có thể hỗ trợ thêm cho chẩn đoán bệnh ở tạng phủ và ở kinh lạc
- Ví dụ: phế có bệnh có điểm đau ở phế du hoặc trung phủ Vị có bệnh thì tỳ
du hoặc vị du ấn đau, khi viêm ruột thừa thấy đau khi ấn huyệt lan vĩ, khi viêm túi mật ấn huyệt điểm túi mật thấy đau
+ Căn cứ vào sự phân bố của kinh lạc có thể chẩn đoán bệnh trên đường kinh, ví dụ: kinh đởm phân bố ở ngoài cơ thể, khi kinh đởm hoặc đởm bị bệnh thì thường bệnh nhân có triệu chứng đau sườn, miệng khô, mắt hoa, tai điếc Người xưa còn dựa vào sự phân bố của 14 đường kinh để chẩn đoán: ví dụ đau đầu trước trán liên quan đến kinh dương minh, đau thành bên liên quan đến kinh thiếu dương, đau vùng chẩm gáy liên quan đến kinh dương minh, thái dương, đau vùng đỉnh đầu liên quan đến kinh túc quyết
Trang 10+ Ứng dụng kinh lạc để lựa chọn tác dụng của thuốc
Một số thuốc đối với tạng phủ kinh lạc có tác dụng chọn lọc (tác dụng ưu tiên) Vì thế việc nghiên cứu lý luận qui kinh của dược vật sẽ có tác dụng chỉ đạo nhất định trong việc dùng thuốc trên lâm sàng
Ví dụ: cùng là thuốc trị đau đầu, nhưng cảo bản vào kinh thái dương trị đau đầu do bệnh của kinh thái dương Bạch chỉ vào kinh dương minh trị bệnh đau đầu do bệnh của kinh dương minh, tử hồ vào kinh thiếu dương trị đau đầu do bệnh của kinh thiếu dương
Ngoài ra một số thuốc không những chỉ ưu tiên để vào kinh nào đó mà nó còn có tác dụng hướng dẫn các thuốc khác đi vào các kinh khác nhau Ví dụ: khương hoạt là thuốc dẫn vào kinh thái dương bàng quang…
7.2 ứng dụng kinh lạc trong điều trị
Trong những năm gần đây dựa trên cơ sở kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền, lý luận châm cứu và kinh lạc được phát triển hoàn thiện hơn, vì vậy việc ứng dụng các thủ thuật, thủ pháp tác động trên huyệt ngày càng phong phú và
đa dạng: thủy châm, điện châm, chôn chỉ, châm lase, châm sóng ngắn, gài viên từ sẽ lần lượt được giới thiệu các phương pháp này trong thực hành điều trị
Một số tư liệu nghiên cứu hiện đại liên quan đến kinh lạc huyệt vị
7.3 Những nghiên cứu thực chất về hệ kinh lạc
Khi châm đắc khí có thông điện thấy tê chướng nặng thường thường lan theo đường kinh gọi là hiện tượng kinh lạc vận hành, vậy cơ sở vật chất của kinh lạc là
gì ? Thực chất kinh lạc là thế nào ? Hiện nay còn chưa được giải thích rõ ràng nhưng sơ bộ có 3 hướng giải thích về kinh lạc
- Hướng thứ nhất: người ta cho rằng thực chất của hệ kinh lạc là hệ thần kinh, những ý kiến về mặt này đều thông qua nghiên cứu về giải phẫu học của huyệt
vị thấy rõ phân bố của huyệt ở tứ chi rất gần với đường đi của thần kinh nên khi kích thích kim châm vào huyệt làm biến đổi chức năng của các cơ quan thuộc thần kinh chi phối nhưng nói chung chưa được rõ ràng
Từ kích thích tiếp nhận truyền vào và truyền ra đều có sự tham gia của thần kinh (bao gồm dây thần kinh và mặt đoạn thần kinh thành huyết quản) quá trình này
có liên quan mật thiết với thần kinh trung ương
Thực nghiệm đã chứng minh: hiện tượng kinh lạc có thể bị cắt đứt (dập tắt) hoặc hiện tượng tê biến mất hoặc giảm yếu khi dẫn truyền thần kinh bị cản trở Ví dụ: châm huyệt túc tam lý của thỏ có thể dẫn đến tăng nhu động của ruột non, nhưng nếu cắt đứt thần kinh hông to và thần kinh đùi thì phản ứng tăng nhu động ruột của ruột non không có nữa, điều này chứng tỏ kích thích truyền vào và dây thần kinh có quan hệ khăng khít Hoặc giả sau khi phá hủy hoàn toàn tủy sống cũng lại cho châm huyệt túc tam lý phản ứng trên ở ruột non cũng không có, rõ ràng phản
Trang 11ứng này còn có vai trò tham gia của tủy sống Khi gây tê thắt lưng rồi châm túc tam
lý không thấy có cảm giác tê tức, sau khi lưng hết tê cảm giác tê tức lại hồi phục, sau khi phóng bế thần kinh giao cảm, rồi châm các huyệt vùng mặt không thấy cảm ứng kích thích Sau khi gây mê vỏ đại não, châm huyệt đài trùy thấy hiệu ứng hạ sốt
rõ ràng, nếu như lại phong bế thần kinh giao cảm và phó giao cảm thấy hiệu ứng hạ sốt không xuất hiện lại
Những năm gần đây khi nghiên cứu châm tê, các tác giả quan sát huyệt hợp cốc có thể làm cho mức đau của toàn cơ thể nâng cao, sau khi dùng novocain phóng
bế cả lớp nông và lớp sâu của huyệt hoặc chỉ phóng bế tổ chức ở lớp sâu thì mức đau không chỉ tăng cao trở lại huyệt hợp cốc (phần tổ chức sâu) của vùng huyệt do dây thần kinh trụ chi phối, nếu như kích thích điện riêng huyệt hợp cốc có thể ghi được sự biến đổi thông điện ở phía trên khớp khuỷu vì kích điện truyền theo vùng
da thuộc thần kinh trụ chi phối, cùng thấy sự biến đổi điện độ tương tự khi châm kích thích tam âm giao, túc tam lý ở chân sau của mèo
Tóm lại: căn cứ vào kết quả quan sát trên động vật thực nghiệm và lâm sàng cho phép ta suy đoán thực chất của kinh lạc là thần kinh
- Hướng thứ hai: các tác giả cho rằng thực chất của kinh lạc là công năng điều tiết tổng hợp tứ thần kinh đến thể dịch Kinh lạc được lưu thông, ngoài nhờ đường thần kinh ra còn có sự điều tiết dịch thể nội tại, có khi ngừng kích thích điện lâu hiệu ứng điện thế vẫn duy trì trong một thời gian dài Thực nghiệm cũng chứng minh khi viêm ruột thừa cấp, châm có thể làm cho hàm lượng kích tố bì chất trong huyết dịch tăng cao Châm còn có thể súc tiến thùy trước tuyến yên tiết kích thích tố noãn bào và sinh thành tố thể vàng, ảnh hưởng đến bài noãn
- Hướng thứ ba: nhóm này cho rằng thực chất của kinh lạc có thể là hiện tượng điện sinh vật Các tác giả thông qua nghiên cứu thông điện và điện trở đã phát hiện nhiều điểm dẫn điện, điểm dẫn điện và huyệt vị của kinh lạc rất gần nhau
Kết quả nghiên cứu của cả ba hướng đều đã chứng minh khách quan sự tồn tại của hệ kinh lạc, tuy nhiên kết quả nghiên cứu của các tác giả vẫn chưa được thống nhất
Nghiên cứu về hệ kinh lạc có nhiều tài liệu rất phong phú và các tác giả đều thống nhất; kinh lạc có cơ sở vật chất Kinh lạc và hệ thống thần kinh có liên quan tương đối mật thiết, kinh lạc thông qua hệ thống nội tiết điều tiết công năng hoạt động của toàn cơ thể, đó là vai trò của hệ thần kinh và thần kinh thể dịch Châm các huyệt có tác dụng tới hoạt động của hệ thống nội tiết, hệ thống huyết quản Quy luật hoạt động của hệ thống thần kinh cho tới nay còn nhiều điều chưa rõ, do vậy dựa theo lý luận về thần kinh không thể giải thích hoàn toàn hoạt động của hệ kinh lạc
Trang 12Học thuyết kinh lạc một trong những lý luận cơ bản của y học cổ truyền, nó
có ý nghĩa chỉ đạo các khoa châm cứu lâm sàng Ngày nay trên thực tế đã khẳng định hiệu quả của phương pháp châm cứu chữa bệnh Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh tác dụng giảm đau, chống viêm và điều hòa cơ thể của phương pháp châm cứu chữa bệnh cho nên châm cứu ngày càng được khẳng định là
có tác dụng điều trị tốt được nhiều chứng và bệnh thường gặp trên lâm sàng
Có nhiều thuyết giải thích về hiệu quả của châm cứu: những thuyết về thần kinh (Neurological theories), những thuyết về thần kinh thể dịch (thuyết dẫn truyền thần kinh) - Humoral theories - Neurotransmitter theories Đáng chú ý thuyết giải phóng Endorphin của Bruce Pomeranz, 1976, tại Đại học Toronto (Canada), thuyết này cho rằng: dưới tác dụng của châm điện, châm tê kích thích tuyến yên sản xuất
ra Endorphin là một proteine có nhiều axit amin ghép lại do tuyến yên tiết ra để có thể tự bảo vệ để chống lại sự đau đớn Chất này có tác dụng ức chế các nơrol nhận tín hiệu đau (Guillemin đã tách ra được 3 loại Endorphin là 3 lạoi proteine: Endorphin có 16 a.m, Endorphin 31 a.m, Endorphin có 17 a.m trong đó E có tác dụng chấn đau mạnh nhất)
Thí nghiệm được tiến hành thứ tự: tiêm lượng nhỏ E cho chuột không có cảm giác đau, tiêm liều cao gây trạng thái hưng phấn khẩn trương (Catatonique) kéo dài trong 3 giờ (sau khi bị co giật trong vài giây chuột cứng đờ như gỗ)
Dùng chất Naxolon tiêm cho chuột có trạng thái (catatonique) chuột trở về trạng thái bình thường nhanh Theo Guillemin thì ba chất Endorphin là ba khúc của
lypôtroopin (một protein lớn) chất lypôptrôpin này bình thường không có tác dụng chấn đau nhưng khi bị kích thích bởi các men thích hợp lypôtroopin phân cắt thành các chất Endorphin có hoạt tính chấn đau lypôtroopin là chất dự trữ sẵn
ở não người, có thể huy động nó khi cần
Pomeranz cho rằng: khi kim châm kích thích thần kinh, xung động truyền đến tuyến yên, kích thích tuyến yên sản xuất (giải phóng) chất Endorphin, chất này có tác dụng ức chế tế bào não dạng đáp ứng lại kích thích đau
Pomenranz đã thí nghiệm: ghi lại hoạt động điện của các tế bào thần kinh đáp ứng đau Sau đó châm huyệt gây tê để ức chế và dập tắt hoạt động điện não của nơrol kia Pomenranz cắt bỏ tuyến yên con vật và làm thí nghiệm châm thấy không còn tác dụng với các loại tế bào tiếp nhận đau đớn Mặt khác tiêm Naxolon cũng làm mất hiệu lực chấn đau của Endorphin
Bác sỹ Pavid JMayer (Đức) cũng làm xét nghiệm tương tự: khi kích thích tủy răng gây đau, trái lại khi làm ám thị thôi miên để loại trừ đau đớn thấy hiệu lực chấm đau không hề bị Naxolon thủ tiêu giảm thấp Cuối cùng Pomeranz đã chứng
Trang 13minh chặt chẽ cơ chế chấn đau của Endorphin trong máu trước, trong và sau khi châm tê
7.4 Nghiên cứu giải phẫu học liên quan đến huyệt vị
Chủ yếu là liên quan huyệt vị với thần kinh và mạch máu
Từ quan sát trên giải phẫu đến các huyệt châm của 12 kinh mạch, số nửa phân bố gần thần kinh lớn và trên thần kinh, ngoài ra nằm gần thần kinh hoặc thông qua thần kinh Dưới kính hiển vi thấy trong vùng huyệt các mạt đoạn thần kinh rất phong phú ngoài ra còn có các thụ cảm thể thần kinh và các cấu kết khác của huyệt
Phân bố huyệt có liên quan mật thiết với thần kinh ở da và tổ chức dưới da, không ít huyệt nằm trên thần kinh bì hoặc chỗ phân nhánh giao nhau của thần kinh
Do đó châm có quan hệ với bì thần kinh và kinh lạc tuần hành ở tứ chi Phế kinh hướng đi theo thần kinh giữa, kinh bàng quang hướng theo thần kinh hông to, trên
cơ bản là thống nhất Huyệt lạc (lạc mạch) nơi tiếp giữa hai đường kinh đều có sự tiếp nối giữa hai nhánh của thần kinhVí dụ: giữa kinh phế và kinh đại trường huyệt lạc
là liệt khuyết nơi tiếp nối giữa thần kinh quay và thần kinh cơ bì cẳng tay Huyệt công tôn tiếp nối giữa kinh vị và kinh tỳ (huyệt lạc) liên quan thần kinh hiển và thần kinh mác trước
Phân bố huyệt vị cũng liên quan với các mạch máu rất mật thiết Một số ít huyệt nằm ngay trên các mạch máu, khoảng 50% huyệt nằm cạnh các huyết quản Qua động vật thực nghiệm người ta thấy rằng xung động thần kinh do kích thích huyệt được truyền tới trung khu thông qua thần kinh ở thành các huyết quản
8 Qui định của tổ chức Y tế thế giới về mã số các đường kinh, huyệt vị và một
số huyệt thường dùng giảng dạy
Tổ chức y tế thế giới (Manila - Philippines, 1991) qui định mã số tên gọi của các đường kinh mạch, các huyệt và qui định một số huyệt thường dùng trong giảng dạy như sau:
8.1 Thuật ngữ tiêu chuẩn của các đường kinh và các huyệt trên kinh:
Thuật ngữ tiêu chuẩn của các đường kinh:
STT Alphabetical code Name of meridian
Trang 146 SI Small intestine Meridian (kinh Tiểu trường)
10 TE (SJ) Triple energizer Meridian (kinh Tam tiêu)
14 CV (Ren) Concepption Vessel (kinh Nhâm mạch)
- Cách ghi huyệt theo mã số: mã số huyệt được ghi sau kí hiệu đường kinh, ghi bằng số ấn độ theo thứ tự từ đầu đến cuối đường kinh Ví dụ:
- LU1 là huyệt thứ nhất trên đường kinh Phế tức là huyệt Trung phủ
- BL 67 là huyệt cuối cùng trê đường kinh Bàng quang, tức là huyệt Chí âm
8.2 Thuật ngữ tiêu chuẩn của các huyệt ngoài kinh (Standard nomenclature of extra points):
Tổ chức y tế thế giới đã công nhận 48 huyệt ngoài kinh (Malina, Philippines, 1991) Mã số của các huyệt được ghi theo vùng thân thể:
Vị trí huỵêt theo vùng thân thể Ký hiệu
Huyệt vùng đầu và cổ (Points of head and neck) HN
Huyệt vùng ngực bụng (Points of chest and abdomen) CA
Huyệt vùng chi trên (Points of upper extremities) UE
Huyệt vùng chi dưới (Points of lower extremities) LE
8.3 Một số huyệt thường dùng theo qui định của tổ chức y tế thế giới
(Standard Acupuncture nomenclature)
- Các huyệt thường dùng trên kinh phế ( LU)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
Trang 15Liệt khuyết LU 7 Thiếu thương LU 11
- Các huyệt thường dùng của thủ dương minh đại trường kinh ( LI)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt thường dùng của túc dương minh vị kinh ( ST)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt thường dùng của túc thái âm tỳ kinh ( SP)
Trang 16Ẩn bạch SP 1 Địa cơ SP 8
- Một số huyệt thường dùng của thủ thiếu âm tâm kinh ( HT)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt thường dùng của thủ thái dương tiểu trường kinh ( SI)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt thường dùng của túc dương bàng quang ( BL)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
Trang 17- Một số huyệt thường dùng của kinh thận (KI)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt thường dùng trên kinh tâm bào (PC)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt thường dùng trên kinh đởm (GB)
Trang 18- Một số huyệt thường dùng trên kinh can (LR)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt thường dùng trên đốc mạch (GV)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
Trang 19- Một số huyệt thường dùng trên nhâm mạch (CV)
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
- Một số huyệt ngoài kinh thường dùng
Tên huyệt Mã số Tên huyệt Mã số
Tứ thần thông EX - HN 1 Nội tất nhãn EX - LE 4
PHÂN LOẠI NGŨ DU HUYỆT
1 Khái niệm
Trang 20Huyệt ngũ du là 5 huyệt du từ khuỷu tay và gối trở xuống đến ngón chi, y học cổ truyền cho rằng kinh khí vận hành trong kinh lạc như dòng nước chảy, chỗ đi xa là tỉnh, trôi chảy là huỳnh, dồn lại là du, đi qua là kinh, nhập vào là hợp
2 Vị trí tên gọi
- Tỉnh (như cái giếng), huỳnh (là dòng chảy), du (dồn tới nơi sâu hơn), kinh (là xuyên qua), hợp (là dồn lại đi sâu vào tạng phủ) Khích huyệt phần nhiều dùng
để điều trị các bệnh cấp tính (khám ấn các điểm khích huyệt đau hay không đau)
Huyệt ngũ du liên quan đến ngũ hành
Huyệt ngũ Kinh âm Kinh dương
- Tỉnh → huỳnh du → kinh → hợp (theo quy luật tương sinh của ngũ hành)
- Huyệt nguyên: nơi tập trung nguyên khí điều trị bệnh của đường kinh và tạng phủ tương ứng
- Huyệt bản: tên gọi huyệt có cùng hành với tạng phủ tương ứng
3 Vận dụng các huyệt ngũ du trong điều trị lâm sàng
Dựa vào triệu chứng của bệnh để chọn huyệt ngũ du
- Huyệt tỉnh: dùng để điều trị các chứng; căng, nặng, đau tức vùng tim, trạng thái hôn mê và sốt cao
- Huyệt huỳnh: điều trị bệnh nhiệt ôn và sốt cao
- Huyệt du: điều trị tạng phủ tương ứng khi có bệnh
- Huyệt kinh: điều trị ho, hen suyễn, nóng lạnh, hàn nhiệt vãng lai
- Huyệt hợp: điều trị các triệu chứng khí nghịch, nôn, nấc, ợ hơi, ỉa chảy
3 Dựa theo kinh bị bệnh và tạng phủ tương ứng sử dụng huyệt bản của kinh có bệnh
Trang 21Bổ Tả (ngũ du cùng hành)
5 Cách vận dụng huyệt ngũ du
“Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con” theo quy luật ngũ hành tương sinh chọn huyệt ngũ du theo quan hệ mẹ con trên cùng một đường kinh Ví dụ: phế thực (kim), tả con (kim sinh thủy), tả xích trạch (xích trạch thuộc thủy), phế hư bổ mẹ,
bổ thái uyên (thái uyên thuộc thổ), không hư không thực dùng huyệt nguyên của kinh phế, huyệt thái uyên bình bổ, bình tả
Chọn huyệt ngũ du ở đường kinh khác có quan hệ biểu lý với đường kinh bị bệnh, theo nguyên tắc sinh khắc, nếu bệnh ở kinh âm chọn huyệt ngũ du kinh dương
có quan hệ biểu lý với nó, nếu kinh dương có bệnh chọn huyệt ngũ du ở kinh âm có quan hệ biểu lý với nó
Chọn huyệt ngũ du ở đường kinh mẹ đối với đường kinh con có bệnh phế hư
bổ tỳ, phế thực tả thận
Chọn huyệt nơi đường kinh trên và đường kinh dưới của kinh có bệnh
Ví dụ: trung quản - túc tam lý - công tôn
Trang 22Hồn môn - y xá - cách quan - chi thấn (II)
Bệnh phế: chương môn, phế du, tình minh, thái uyên, cao hoang, đồng tử liêu, thiên lịch, phế du, trung phủ
Bàng quang: bàng quang du, trung cực, dạ dày, tỳ du, vị du, trung quản
Chọn huyệt theo nhóm huyệt: có một số huyệt liên kết các kinh âm với kinh dương gọi là huyệt nhóm Có bốn huyệt nhóm
- Giản sử (thủ tham âm) - Tam dương lạc (thủ tam dương)
- Huyền chung (túc tam dương) - Tam âm giao (túc tam âm)
Một số huyệt có tác dụng đặc hiệu
+ Khu phong: phong trì, phong môn, phong thị, trung phong, phong thủ, á môn, liêm tuyền, thiên đột
+ Chảy máu cam, viêm nhiễm: hợp cốc, khúc trì (hạ sốt, chống dị ứng)
+ Chống dị ứng: khúc trì, huyết hải, bát phong, bát toàn, giải khê, dương trì + Dong kinh, dong huyết: ẩn bạch, đại đôn Trừ đàm dùng huyệt phong long, huyệt huyền chung điều trị vẹo cổ cơ năng ở bên đau, điêu khẩu, điều trị liệt khớp vai bên đau, cao huyết áp, tiền đình, đau mắt đỏ cấp tính, dùng huyệt thái xung, dương lăng tuyền, thiếu dương, tình minh, hợp cốc…
Huyệt lạc và ý nghĩa lâm sàng 15 lạc mạch
Thủ tam âm: liệt khuyết, nội quan, thông lý
Thủ tam dương: thiên lịch, ngoại quan, chi chính
Túc tam âm: công tôn, lãi câu, đại chung
Túc tam dương: phong long, quang minh, phi dương
Nhâm mạch - cưu vĩ
Đốc mạch - trường cường
Đại lạc mạch tỳ - đại bao (tổng lạc)
Dùng huyệt lạc vừa có tác dụng điều trị của kinh có huyệt đó lại vừa có thể điều trị các bệnh của kinh có quan hệ biểu lý với kinh có huyệt
Tám hội huyệt
- Hội của tạng: chương môn - Hội của phủ: trung quản
- Hội của khí: chiên trung - Hội của huyết: cách du
- Hội của cân: dương lăng tuyền - Hội của mạch: thái khê
- Hội của tủy: huyền chung (tuyệt cốt) - Hội của cốt: đại trữ
Trang 23Khi một loại tổ chức nào đó trong cơ thể bị bệnh, có thể dùng huyệt hội của
nó để điều trị
- Bát mạch kỳ kinh giao huyệt hội
+ Tổng huyệt: có 6 huyệt
- Hợp cốc - ủy trung - Liệt khuyết - túc tam lý
- Nội quan - tam âm giao
- Huyệt hội có ý nghĩa lâm sàng, châm một huyệt nhưng có tác dụng trên nhiều kinh Ngoài ra còn có huyệt ngoài kinh (kinh ngoại kỳ huyệt) Huyệt ngoài kinh là huyệt không nằm trên đường kinh chính (14 đường kinh) và cũng có thể nằm trên đường đi của kinh nhưng không phải huyệt của kinh đó Một số nhà châm cứu hậu sinh đã phát hiện khoảng 200 huyệt ngoài kinh mặc dù theo tổ chức y tế thế giới (Malina, 1991) xác định có 48 huyệt ngoài kinh
- A thị huyệt, người xưa còn thường lấy chỗ đau làm huyệt gọi là thống điểm hoặc thiên ứng điểm A thị huyệt có tác dụng giảm đau tại chỗ tốt do lưu thông khí huyết
- Chú ý: cách vận dụng các huyệt ngũ du theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc (xem bảng phụ lục 3 và 4 Cách vận dụng các huyệt mộ, huyệt khích, huyệt lạc, huyệt nguyên theo thứ tự tuần hành của kinh khí và thời gian khí thịnh (xem bảng phụ lục 4 và 5)
Chương II
MƯỜI BỐN KINH MẠCH, KINH CÂN VÀ HUYỆT
THƯỜNG DÙNG
KINH PHẾ , KINH ĐẠI TRƯỜNG, KINH TỲ, KINH VỊ
1 Kinh thủ thái âm phế (LU)
1.1 Đường đi
Trang 24Từ huyệt trung phủ (khoang liên sườn II cắt rãnh đen ta ngực), xuống mặt trước ngoài cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay, qua cổ tay và ô mô cái gan tay, tận cùng ở góc ngoài chân móng ngón tay cái
1.2 Liên quan
- Tương quan biểu lý với đại trường,
liên quan đến mũi họng
- Đại trường và phế cùng liên quan tiết
đoạn C6 → C7 cùng mé đầu ngón tay
1.3 Chỉ định điều trị
Đau thần kinh liên sườn, đau các khớp cổ
tay, khớp khuỷu, khớp vai, đau thần kinh quay,
đau đám rối thần kinh cánh tay…
Ho tắc ngạt mũi, ho hen khó thở, viêm
mũi dị ứng, cảm mạo có sốt, đầy chướng
bụng, rối loạn tiểu tiện
1.4 Các huyệt thường dùng
1.4.1 Xích trạch (LU 5 ):
- Vị trí: nằm trên lằn chỉ khuỷu tay, sát
bờ ngoài gân cơ nhị đầu
- Huyệt vừa có tác dụng tại chỗ, vừa có tác
dụng toàn thân (như tác dụng của kinh phế)
Kinh thủ thái âm phế
1 Trung phủ 2 Vân môn
3 Xích trạch 4 Liệt khuyết
5 Thái uyên 6 Ngư tế
7 Thiếu thương
1.4.2 Liệt khuyết (LU 7 )
- Vị trí: trên lằn chỉ cổ tay 1,5 thốn, huyệt ở bờ ngoài gân cơ ngửa dài
- Ngoài tác dụng tại chỗ và toàn thân, huyệt còn được dùng nhiều trong châm
tê phẫu thuật, nhất là trong phẫu thuật mổ tuyến ức và bướu cổ
1.4.3 Thái uyên (LU 9 )
- Vị trí: nằm trên lằn chỉ cổ tay, nơi tiếp giáp giữa đầu dưới xương trụ và xương thuyền
- Huyệt có tác dụng tại chỗ vừa có tác dụng toàn thân
1.4.4 Thiếu thương (LU 11 )
- Vị trí: cách góc ngoài nền móng tay ngón cái 2 ly
- Ngoài tác dụng chung huyệt còn có tác dụng chữa sốt cao, choáng, truỵ mạch (cảm gió), say nắng, say nóng
2 Kinh thủ dương minh Đại trường - LI
Trang 252.1 Đường đi
Từ góc ngoài chân móng ngón tay trỏ, qua khe giữa xương bàn tay 1 - 2, vào
hố lào, rồi lên dọc phía sau ngoài cẳng tay, khuỷu tay, cánh tay, lên trước mỏm cùng vai, tới gáy hội với các kinh dương tại huyệt đại chùy, rồi vòng ra trước hõm vai, tới cổ - mặt, vòng môi trên Hai kinh phải trái bắt chéo ở huyệt nhân trung và tận cùng ở cạnh cánh mũi bên đối diện
2.2 Liên quan
- Liên quan biểu lý với kinh phế, cùng tiết đoạn C6
- Là kinh đa khí, đa huyết, hai đường kinh giao chéo nhau ở huyệt nhân trung (đốc mạch) nên các huyệt trên kinh vị được sử dụng để chữa các bệnh bên đối diện
2.3 Chỉ định điều trị
- Tại chỗ: đau khớp cổ tay, bàn tay, khuỷu, vai, thần kinh quay; liệt chi trên
và các chứng đau thuộc mũi, răng, hàm, miệng
- Toàn thân: hạ sốt, mắt mờ, thị lực giảm
3 Huyệt vị thường dùng
3.1 Thương dương (L I 2 )
- Vị trí: nằm cách góc ngoài nền móng tay ngón trỏ 2 ly
- Tác dụng: điều trị tại chỗ theo kinh; tác dụng toàn thân hạ sốt, trúng gió, hôn mê, cấm khẩu
3.1.1 Hợp cốc (L I 4 )
- Vị trí: nằm giữa hai xương bàn tay 1 và 2, ngang chỗ tiếp nối giữa đầu và thân xương bàn tay ngón 2
Trang 26- Tác dụng tại chỗ: là tác dụng theo kinh
- Tác dụng toàn thân: trúng gió, sốt cao
không ra mồ hôi, đau đầu, bế kinh Hợp cốc
thường được phối hợp với liệt khuyết trong
châm tê phẫu thuật; phối hợp với đại truỳ,
khúc trì trong điều trị hạ sốt cao, dị ứng mề
đay
3.1.2 Dương khê (LI 5 )
- Vị trí: nằm trên hố lào giữa hai gân cơ
duỗi ngắn và dạng ngón cái
- Tác dụng điều trị: hạ sốt cao, đau răng,
đau mắt đỏ, tai ù, tai điếc, khó thở, đầy tức
ngực, đau đầu
3.1.3 Thủ tam lý (LI 10 )
- Vị trí: dưới huyệt khúc trì 2 thốn trên
đường từ khúc trì đến dương khê
Điều trị tại chỗ theo kinh: liệt vận động cảm
giác của thần kinh quay, liệt chi trên; tác dụng
toàn thân: hạ sốt, hội chứng cổ vai cánh tay, đầy
chướng bụng, buồn nôn
3.1.4 Khúc trì (LI 11 )
- Vị trí: nằm tận cùng phía ngoài lằn chỉ
khuỷu tay (khi cẳng tay vuông góc với cánh tay)
Kinh thủ dương minh Đại trường
3.1.5 Kiên ngung (LI 15 )
- Vị trí: chính giữa cơ đen ta, giáp mỏm cùng vai và mấu động lớn trên xương cánh tay
Chữa đau khớp vai, viêm quanh khớp vai, liệt thần kinh mũ; phối hợp huyệt kiên tỉnh phục hồi động tác giang và giơ cánh tay lên cao
Trang 27
3.1.6 Nghênh hương (LI 20 )
- Vị trí: ở giao điểm giữa đường ngang qua chân cánh mũi và rãnh mũi mồm
- Điều trị liệt thần kinh VII ngoại vi, viêm mũi dị ứng, đau thần kinh V
4 Kinh túc dương minh vị - ST
bẹn, đùi, dọc theo cơ thẳng trước đùi,
xuống cẳng chân dọc phía ngoài xương
chày, xuống cổ chân, dọc mu bàn chân,
tận cùng ở góc ngoài chân móng ngón
chân 2
4.2 Liên quan
- Ở mặt liên quan thần kinh V,
VII; cổ liên quan tiết đoạn C4; ngực
bụng liên quan D1 - D12; đùi liên
quan tiết đoạn L1 - L3; cẳng chân,
mu chân liên quan đến L5
- Quan hệ biểu lý với kinh tỳ,
luôn luôn liên quan đến tiêu hóa
4.3 Chỉ định điều trị
- Tại chỗ: liệt thần kinh VII,
đau thần kinh V, thần kinh liên
sườn, thần kinh đùi, thần kinh hông
to, đau các khớp thái dương hàm,
khớp háng, khớp đầu gối, cổ chân,
bàn chân, chắp lẹo mắt, viêm màng
tiếp hợp, viêm tuyến vú, viêm cơ
đáy chậu, chảy máu cam, chảy máu
Kinh túc dương minh vị
Trang 28- Toàn thân: hạ sốt, các bệnh về tiêu hóa, bổ dưỡng kiện tỳ nâng cao sức đề kháng
4.4 Huyệt vị thường dùng
4.4.1 Thừa khấp (ST 1 ): huyệt hội của kinh dương minh ở chân với mạch
dương kiểu và mạch nhâm
- Vị trí: điểm gặp nhau ở bờ dưới của hố mắt và đường thẳng từ con ngươi xuống (dưới con ngươi 0,7 thốn)
- Điều trị các bệnh về mắt: đau mắt đỏ, sưng mắt, chảy nước mắt, quáng gà, liệt mặt, giật mi mắt
- Cách châm (không cứu): dùng một ngón tay đặt lên mi dưới, đẩy nhãn cầu lên trên, châm mũi kim chếch xuống dưới dựa theo bờ dưới mắt, châm sâu 0,2 - 0,3 thốn, không vê kim
- Chú ý: tránh châm vào nhãn cầu hoặc vào mạch máu khu mi dưới vì dễ gây
tụ máu dưới da
4.4.2 Tứ bạch (ST 2 )
- Vị trí: thẳng từ đồng tử xuống 1 thốn, tại chỗ lõm của xương gò má
- Điều trị: đau mắt đỏ, máy mắt, hoa mắt, liệt mặt
- Cách châm: châm sâu 0,2 - 0,3 thốn Không nên cứu, khi cần có thể cứu 5 -
10 phút tránh gây bỏng
4.4.3 Địa thương (ST 4 ): hội của kinh dương minh ở chân, tay, mạch dương kiểu -Vị trí: cách mép 0,4 thốn ở điểm gặp nhau của rãnh mũi mép và đường ngang qua hai mép
- Điều trị liệt mặt, chảy rớt dãi, môi run; đau thần kinh sinh ba, viêm lợi, chốc mép
- Cách châm cứu: chữa liệt mặt thì châm luồn kim dưới da hướng mũi kim về phía huyệt Giáp xa, châm sâu 0,7 thốn Chữa bệnh khác thì châm thẳng, sâu 0,2 - 0,3 thốn Cứu 10 - 20 phút (tránh gây bỏng)
4.4.4 Giáp xa (ST 6 )
- Vị trí: cách trước góc hàm dưới khoảng chiều ngang 1 ngón tay
- Điều trị: liệt mặt, cứng hàm, đau răng, quai bị
- Cách châm: chữa liệt mặt, châm luồn kim dưới da, mũi kim hướng về phía huyệt địa thương Chữa đau răng, mũi kim hướng về phía răng đau Chữa bệnh khác: châm thẳng sâu 0,3 - 0,4 thốn Cứu 10 - 20 phút Ôn châm cùng với huyệt địa thương và tình minh bên bệnh để chữa liệt mặt ngoại biên
Trang 294.4.5 Hạ quan (ST 7 ): huyệt hội của kinh dương minh và thiếu dương ở chân
- Vị trí: Trước bình tai chiều ngang một ngón tay, chỗ lõm giữa bờ dưới xương gò má và bờ trước lồi cầu xương hàm dưới
- Điều trị: ù tai, viêm tai giữa, miệng méo, mắt lệch, đau răng, viêm lợi, trật khớp hàm, đau cứng khớp hàm
- Cách châm cứu: châm thẳng 0,2 - 0,3 thốn Cứu 5 - 10 phút
4.4.6 Nhũ căn (ST 18 )
- Vị trí: bờ trên xương sườn VI, thẳng đầu núm vú xuống (đẩy vú lên để lấy huyệt)
- Điều trị: vú căng đau tức ngực, thiếu sữa, tắc tia sữa, ho, hen suyễn
- Cách châm cứu: châm sâu 0,2 - 0,3 thốn (không châm sâu) vì có thể vào tim và phổi gây tai biến nguy hiểm) Cứu 5 - 10 phút
4.4.7 Thiên khu (ST 25 ): huyệt mộ của đại tràng
4.4.8 Túc tam lý (ST 36 ): huyệt hợp thuộc thổ
- Vị trí: ở bờ dưới xương bánh chè đo xuống 3 thốn, cách mào chày chiều ngang 1 ngón tay
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 1 thốn Cứu 5 - 10 phút
4.4.9 Giải khê (ST 41 ): huyệt kinh thuộc hỏa
- Vị trí: giữa nếp gấp cổ chân, giữa gân cơ cẳng chân trước và gân cơ duỗi
Trang 30- Điều trị: đau cổ chân, teo cơ cẳng chân, đầy bụng, đau đầu, đau mắt, mặt sưng nề, đau răng, tắc tia sữa, viêm tuyến vú, đại tiện khó, điên cuồng
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 0,8 thốn Cứu 5 - 10 phút
4.4.10 Xung dương (ST 42 ): huyệt nguyên
- Vị trí: nối hai huyệt giải khê và nội đình; huyệt ở chỗ xương nổi cao nhất ở
mu chân, sờ thấy mạch đập, trước huyệt giải khê 1,5 thốn
- Điều trị: bàn chân sưng đau, đau bụng, đau răng, liệt mặt, điên cuồng
- Cách châm cứu: châm sâu 0,2 - 0,3 thốn (tránh châm vào động mạch mu chân - Y học dân tộc gọi là mạch xung dương) Cứu 5 - 10 phút
4.4.11 Nội đình (ST 44 ): huyệt huỳnh thuộc thủy
- Vị trí: kẽ ngón chân 2 và 3 phía mu chân ngang chỗ nối thân xương và đầu sau xương đốt 1 ngón chân
- Điều trị: đau bụng, đau sưng hàm trên, đau họng, liệt mặt, đau sưng bàn chân, chảy máu cam Lỵ, ỉa chảy, sốt không có mồ hôi; không muốn ăn, bí trung tiện (kết hợp với túc tam lý)
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 - 0,5 thốn Cứu 5 - 10 phút
4.4.12 Lệ đoài (ST 45 ): huyệt tỉnh thuộc kim
- Vị trí: ở phía ngoài góc móng chân ngón 2 (cách gốc móng 0,2 thốn), trên đường tiếp giáp da gan chân và mu chân)
- Điều trị:
+ Đầy bụng, đau bụng, đau răng, chảy máu cam, liệt mặt, chân lạnh
+ Không muốn ăn, mộng mị, sốt không có mồ hôi, điên cuồng
- Cách châm cứu: châm sâu 0,1 thốn Cứu 5 - 6 phút
Trang 31KINH TÚC THÁI ÂM TỲ - SP
1 Đường đi
Từ góc trong chân móng ngón chân cái, dọc theo đường tiếp giáp da gan và mu chân, tới đầu sau xương bàn chân I, qua bờ trước mắt cá trong, lên cẳng chân chạy dọc phía sau trong xương chày, qua gối, chạy dọc phía trước trong đùi, qua bẹn
Lên dọc bụng cách mạch nhâm 4 thốn, đi chếch
ra ngoài lên dọc ngực cách mạch nhâm 6 thốn, tới bờ
trên xương sườn IV, thì quặt xuống dưới nách, tận cùng
ở bờ trên xương sườn VII (huyệt đại bao)
2 Liên quan
- Liên quan tiết đoạn L3 - L4 - L5
- Tương quan biểu lý với kinh vị và liên quan
chặt chẽ với kinh đởm
3 Chỉ định điều trị
- Điều trị chung: các chứng bệnh ở dạ dày,
ruột, sinh dục tiết niệu
- Ngoài ra còn điều trị đau khớp ngón cái, cổ
chân, gối, liệt chi dưới, thống phong (Goutte), đau
thần kinh chày sau, dị ứng, ngứa, nổi mề đay
4 Huyệt vị thường dùng
4.1 ẩn bạch (SP 1 ): huyệt tỉnh thuộc mộc
- Vị trí: cách gốc móng ngón chân cái về phía trong
0,2 thốn, trên đường tiếp giáp da gan và mu bàn chân
- Điều trị:
+ Liệt do di chứng trúng phong, đầy bụng, chân
lạnh
Không muốn ăn, nôn, ỉa chảy, băng lậu, điên
cuồng, mạn kinh phong Kết hợp với huyết hải, khí
hải, tam âm giao chữa kinh nguyệt quá nhiều
- Cách châm cứu: châm sâu 0,1 - 0,2 thốn Cứu
4 Tam âm giao
5 Âm lăng tuyền
6 Huyết hải
7 Đại bao
Trang 324.2 Thái bạch (SP 3 ): huyệt nguyên, huyệt du thuộc thổ
- Vị trí: ở chỗ lõm trên đường tiếp giáp da gan chân và da mu chân, ngang chỗ tiếp nối thân xương và đầu trước xương bàn chân 1
- Điều trị:
+ Đau bụng, đầy bụng, ăn không tiêu, nôn, kiết lỵ, táo bón, thổ tả
+ Người nặng nề khó chịu, sốt không có mồ hôi, đau sưng bàn chân
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 - 0,5 thốn, luồn kim dưới xương mũi kim hướng vào lòng bàn chân Cứu 5 - 10 phút
4.3 Công tôn (SP 4 ): huyệt lạc với kinh vị
- Vị trí: trên đường tiếp giáp da gan chân và mu chân, ngang chỗ tiếp nối thân xương và đầu sau xương bàn chân 1
- Điều trị:
+ Đau hoặc nóng gan bàn chân đau bụng dưới, đau dạ dày
+ Không muốn ăn, nôn, động kinh Kết hợp với túc tam lý, nội quan, nội đình để chữa chảy máu đường tiêu hóa
- Châm sâu 0,5 - 0,8 thốn, luồn dưới xương Cứu 5 - 10 phút
4.4 Thương khâu (SP 5 ): huyệt kinh thuộc kim
- Vị trí: chỗ lõm sát khe khớp xương sên và xương thuyền, thẳng dưới bờ trước mắt cá trong
- Điều trị
+ Đau mặt trong đùi: đau sưng mắt cá trong, cứng lưỡi
+ Lách to, đầy bụng, đau bụng, ăn không tiêu, nôn, ỉa lỏng, táo bón, hoàng đản, trẻ em bị kinh phong
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 1 thốn Cứu 5 - 10 phút
4.5 Tam âm giao (SP 6 ): huyệt hội của ba kinh âm ở chân
- Vị trí: từ đỉnh mắt cá trong đo thẳng lên 3 thốn, nằm giữa bờ sau xương chày và gân gót Acill
- Điều trị: đau do thoát vị, sưng đau cẳng chân, bàn chân đau nhức nặng nề, mất ngủ
- Tiêu hóa kém, đầy bụng không muốn ăn, nôn, ỉa chảy; rối loạn kinh nguyệt,
bế kinh, di tinh, đau dương vật, đái khó
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 1 thốn Cứu 5 - 10 phút
Trang 33
4.6 Âm lăng tuyền (SP 9 ): huyệt hợp thuộc thủy
- Vị trí: điểm gặp nhau tại chỗ lõm ở bờ sau trong đầu trên xương chày với đường ngang qua chỗ lồi cao nhất của củ cơ cẳng chân trước xương chày
- Điều trị: đau chân, đau sưng khớp gối; sườn căng, ngực tức
- Lạnh trong bụng, không muốn ăn, cổ chướng, di tinh, đau dương vật, đái không tự chủ, đái khó, đái dầm
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 1 thốn Cứu 5 - 10 phút
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 1 thốn Cứu 5 - 10 phút
4.8 Đại hoành (SP 15 ): huyệt hội của kinh thái âm ở chân và mạch âm duy
- Từ rốn ngang ra 4 thốn, phía ngoài cơ thẳng bụng
- Điều trị: đau bụng dưới, rối loạn tiêu hóa, táo bón, kiết lỵ
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 1 thốn (có thai nhiều tháng không châm sâu) Cứu 5 - 10 phút
4.9 Đại bao (SP 21 ): huyệt đại lạc của kinh tỳ
- Vị trí: giao điểm của đường nách giữa và bờ trên xương sườn 7
- Điều trị: đau tức ngực sườn, hen suyễn, khó thở, đau mỏi, nặng nề khắp người, đau các khớp tay chân, yếu sức
- Cách châm cứu: châm sâu 0,2 - 0,3 thốn (không châm sâu vì dễ gây tổn thương phổi) Cứu 5 - 10 phút
Trang 34KINH TÂM, TIỂU TRƯỜNG, BÀNG QUANG, THẬN
KINH THỦ THIẾU ÂM TÂM - HT
1 Đường đi
Từ đỉnh hõm nách xuống dọc
phía trong cánh tay, khuỷu tay,
cẳng tay, qua ô mô út gan tay, dọc
mé trước ngoài ngón út, tận cùng
góc ngoài chân móng ngón tay út
2 Liên quan
- Tương quan biểu lý với kinh
tiểu trường, cùng chung tiết đoạn
C8
- Kinh tâm chi phối họng, mắt
“Tâm nhiệt thiệt can”: tâm nhiệt
họng khô, mắt đỏ, “Tâm di nhiệt
vu Tiểu trường”: tâm nhiệt thì
nước tiểu đỏ
3 Chỉ định điều trị chung của
đường kinh
Đau thần kinh, đau khớp chi
trên (cổ tay, bàn tay, khuỷu, vai),
rối loạn chức năng thần kinh tim,
thiểu năng tuần hoàn vành, mất
ngủ (an thần, hạ sốt)
4 Huyệt thường dùng
4.1 Cực tuyền (HT 1 )
- Vị trí: huyệt ở đỉnh hõm nách,
sau gân cơ Nhị đầu và cơ qua cánh
tay, trước động mạch nách (bảo bệnh
nhân giơ ngang cánh tay để lấy
huyệt)
Kinh thủ thiếu âm tâm
1 Cực tuyền 2 Thiếu hải
3 Thông lý 4 Thần môn
5 Thiếu xung
Trang 35
- Điều trị: đau ngực sườn, đau tim, tay lạnh đau, cánh tay không giơ được, lao hạch
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 - 0,5 thốn (không vê kim để tránh tổn thương
bó mạch thần kinh nách) Cứu 5 - 10 phút
4.2 Thiếu hải (HT 3 )
- Vị trí: cách khúc trạch 1 thốn, ở chỗ lõm trước mỏm ròng rọc xương cánh tay
- Điều trị:
+ Đau nhức khuỷu tay, đau thần kinh trụ, tay bị tê liệt, ngón tay co
+ Đầu váng, mắt hoa, hay quên, chứng cuồng, bệnh tràng nhạc
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 - 0,7 thốn Cứu 5 - 10 phút (không cứu ở người có tổn thương dây thần kinh trụ vì dễ gây bỏng)
4.3 Thần môn (HT 7 ): huyệt du thuộc thổ, huyệt nguyên
-Vị trí: ở đầu mút lằn chỉ cố tay phía ngón út, chỗ lõm sát ngoài xương đậu
- Điều trị: đau vùng tim, tim đập mạnh, hồi hộp, lòng bàn tay nóng Mất ngủ hay quên, ngớ ngẩn, động kinh
Kết hợp huyệt tâm du, nội quan, dương lăng tuyền chữa nhịp tim không đều Kết hợp thần môn, nội quan, tam âm giao chữa mất ngủ
- Cách châm cứu: châm sâu 0,2 - 0,3 thốn Cứu 5 - 10 phút
4.4 Thiếu xung (HT 9 ): huyệt tỉnh thuộc mộc
Trang 36KINH THỦ THÁI DƯƠNG TIỂU TRƯỜNG - SI
1 Đường đi
Từ góc trong chân móng ngón tay út, dọc theo đường tiếp giáp da gan và da mu của
bờ trong ngón út và bàn tay, qua cổ tay, cẳng tay, khuỷu tay, đi dọc phía sau trong cánh
tay, lên sau khớp vai, đi ngoằn ngoèo sau vai, rồi lên cổ, đi chếch ra trước góc hàm, lên
mặt gò má, và tận cùng tại huyệt thính cung trước bình nhĩ
2 Liên quan
Chủ yếu tiết đoạn C8 và D1,
tương quan biểu lý với kinh Tâm
3 Chỉ định điều trị chung
Đau khớp thái dương hàm, sốt,
đau liệt chi trên, đau các khớp chi
trên, đau thần kinh trụ, rối loạn
chức năng thần kinh tim Là kinh
đa khí đa huyết chịu trách nhiệm về
tân dịch nên còn điều trị sốt cao,
viêm tuyến vú và các chứng thiếu
- Điều trị: cứng gáy, cứng lưỡi,
đau họng, đau mắt, đau đầu, chảy
máu mũi Cấp cứu ngất, hôn mê,
sốt cao không ra mồ hôi, sốt rét,
viêm tuyến vú, thúc sữa
- Cách châm cứu: châm sâu 0,1
thốn (khi cấp cứu châm nặn ra một
giọt máu) Cứu 5 - 10 phút
Kinh thủ thái dương tiểu trường
1 Thiếu trạch 2 Hậu khê
3 Uyển cốt 4 Thiên tông
5 Quyền liêu 6 Thính cung
Trang 37- Chỗ lõm trên lằn chỉ cổ tay, nơi tiếp giáp đầu dưới xương trụ và xương móc
4.2 Dương cốc (SI 5 ): huyệt kinh thuộc hoả
- Điều trị: đau cổ tay, đau phía sau trong cánh tay, đau cổ gáy, ù tai, điếc tai
- Sốt không ra mồ hôi, điên cuồng, trẻ em bại liệt, cứng lưỡi, trẻ không bú được
- Cách châm cứu: châm sâu 0,2 - 0,3 thốn Cứu 5 - 15 phút
4.3 Thiên tông (SI 11 )
- Vị trí: chính giữa xương bả vai (vạch một đường thẳng xuyên qua điểm cao nhất gai sống vai và một đường qua D4, chỗ gặp nhau là huyệt
- Điều trị: đau nhức vai, đau nhức mặt sau cánh tay
- Cách châm cứu: châm sâu 0,2 - 0,5 thốn Cứu 5 - 15 phút
4.4 Quyền liêu (SI 18 ): hội của các kinh thái dương, thiếu dương ở tay
- Vị trí: ở chỗ lõm dưới góc trước dưới của xương gò má (sờ tìm chỗ thấp nhất của vòng cung xương gò má)
- Điều trị: liệt thần kinh VII ngoại biên, giật mi mắt, đau răng, đau mắt
- Cách châm cứu: châm sâu 0,2 - 0,3 thốn Khi cứu tránh gây bỏng
4.5 Thính cung (SI 19 ): hội của các kinh thái dương ở tay, thiếu dương ở tay
và chân
- Vị trí: ở điểm chính giữa chân bình tai, sau lồi cầu xương hàm dưới (bảo bệnh nhân há miệng để sờ rõ chỗ lõm mà lấy huyệt, ấn vào huyệt trong tai có tiếng động)
- Điều trị: ù tai, điếc tai, nặng tai, đau tai Kết hợp ế phong, hợp cốc để điều trị viêm tai giữa
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 - 0,7 thốn Khi cứu tránh gây bỏng
Trang 38KINH TÚC THÁI DƯƠNG BÀNG QUANG
Cẳng chân liên quan S1
Tương quan biểu lý với kinh thận
3 Chủ trị
3.1 Tại chỗ và theo đường kinh
- Đau dây thần kinh hông to, đau khớp gối, khớp cổ chân, bàn chân
- Liệt dây VII, bệnh về mắt, đau vai gáy, đau lưng
- Các du huyệt chữa bệnh các tạng phủ tương ứng
3.2 Toàn thân: chữa cảm mạo, hạ sốt; chữa đau cứng gáy nhức đầu
Trang 394.2 Toản trúc (BL 2 )
- Vị trí: chỗ lõm đầu trong lông mày
- Điều trị: nhức đầu hoa mắt, viêm
tuyến lệ, chảy nước mắt, giật mi, đau xoang
trán
- Cách châm cứu: châm sâu 0,5 thốn, luồn
kim dưới da
4.4 Đại trữ (BL 11 ): huyệt hội của
xương (cốt), biệt lạc của mạch đốc, huyệt
hội của các kinh thái dương ở chân tay,
thiếu dương ở chân tay
- Vị trí: giữa khe liên gai sau C7 - D1
đo ra 1,5 thốn
- Điều trị: đau đầu Đau cứng vai
gáy Cảm sốt, ho, sốt không có mồ hôi,
nhức xương
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 - 0,5
thốn Cứu 5 - 15 phút
4.5 Phong môn (BL 12 ): nhiệt phủ:
huyệt hội của kinh thái dương ở chân, mạch
- Vị trí: gai sau D3 đo ra 1,5 thốn
- Điều trị: đau lưng, cứng gáy, vẹo cổ,
ho, khó thở, hen suyễn, chắp, lẹo
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 - 0,5
Trang 404.7 Đốc du (BL 16 )
- Vị trí: mỏm gai sau D6 đo ra 1,5 thốn
- Điều trị: đau lưng, cứng gáy, vẹo cổ, khó thở, tức ngực
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 – 0,5 thốn Cứu 5 – 15 phút
4.8 Cách du (BL 17 ): huyệt hội của huyết
- Vị trí: gai sau D8 đo ra 1,5 thốn
- Điều trị: đau lưng, đau thắt lưng Nôn, nấc, ăn không tiêu, khó thở, triều nhiệt, sốt không có mồ hôi, huyết hư, huyết nhiệt
- Cách châm cứu: châm sâu 0,3 - 0,5 thốn Cứu 5 - 15 phút
4.9 Can du (BL 18 ): huyệt du của can
- Vị trí: ngang sau D9 đo ra 1,5 thốn