I. LỜI MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Ngày nay toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đã và đang trở thành những xu thế chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra những quan hệ, gắn bó, sự tuỳ thuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế. Thông qua quá trình tự do hoá, toàn cầu hoá tạo ra những lợi thế mới, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh giao lưu kinh tế giữa các nước, góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh của các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Hoà nhập vào trong bối cảnh đó với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ” và “là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển”. Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng. Hơn lúc nào hết, quá trình toàn cầu hoá không chỉ là sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức mà còn đối với mỗi cá nhân chúng ta.
Trang 1I LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Ngày nay toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đã và đang trở thành những xu thế chủ yếu củaquan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra những quan hệ, gắn bó, sự tuỳthuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế Thôngqua quá trình tự do hoá, toàn cầu hoá tạo ra những lợi thế mới, thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển, đẩy mạnh giao lưu kinh tế giữa các nước, góp phần khai thác tối đa lợi thế sosánh của các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Hoà nhập vào trong bối cảnh đó vớiphương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ” và “là bạn của tất cả các nước trongcộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển” Việt Nam đã thiết lập đượcquan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng.Hơn lúc nào hết, quá trình toàn cầu hoá không chỉ là sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi tổchức mà còn đối với mỗi cá nhân chúng ta
Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan và đã trở thành môi trường củacác cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới Tuy thế, giữa các nước
và các bộ phận xã hội ở mỗi nước vẫn đang tồn tại sự khác biệt đáng kể về nhận thức cũngnhư trong hành động trước toàn cầu hóa Những nước và các nhóm xã hội yếu thế thường bịthua thiệt do tác động từ những mặt trái của toàn cầu hóa và luôn phản đối nó hoặc trongtâm thế thích ứng bị động Trong khi đó, những nước và những người có sức mạnh chi phốitoàn cầu hóa lại coi nó là cơ hội mang lại sự tiến bộ cho mình và ra sức tận dụng những mặttích cực của nó Cho dù vậy, toàn cầu hóa vẫn đã và sẽ diễn ra, chi phối dưới hình thức nàyhay khác, với các mức độ khác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội của hầu hếtcác nước, nếu nhìn về dài hạn
Qua việc tham khảo tài liệu cùng với những kiến thức đã được lĩnh hội trong nhà trường,
bản thân tôi chọn nghiên cứu về đề tài: “Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế của Việt Nam trong thời đại ngày nay” Do năng lực và thời lượng bài viết có hạn nên rất mong
nhận được sự góp ý của cô để bài viết hoàn thiện hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Giúp chúng ta hiểu thêm về vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam trong thời đại ngày nay
Đi sâu phân tích về những hệ quả tích cực ,tiêu cực của vấn đề toàn cầu hoá-những thời cơ
và thách thức của Việt Nam với toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế-quốc tế trong thời đại ngàynay
Trang 23 Phương pháp nghiên cứu:
Tập trung một số tư tưởng lớn của C Mác – Lênin, là sinh viên đang ngồi trên ghế nhàtrường việc học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩaMác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo trong học tập cũng như thực tiễn
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp diễn dịch
4 Phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và hộinhập kinh tế của Việt Nam trong thời đại từ năm 1995 đến nay Qua bài viết, người học cầnnắm và vận dụng trong giai đoạn hiện nay những quan điểm đó được vận dụng và phát huymối quan hệ giữa kinh tế - xã hội Việt Nam với thế giới
5 Kết cấu tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì kết cấu của tiểu luận gồm có hai chương, mỗi chương
2 tiết
Trang 4II NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC VỀ TOÀN CẦU HOÁ KINH HỘI NHẬP KINH
TẾ-THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC.
1.1 Toàn cầu hoá kinh tế:
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, toàn cầu hoá nói chung bắt nguồn từnhững giao lưu văn hóa, buôn bán, di dân; từ sự mở rộng các tôn giáo ra ngoài biên giới cácquốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia, các ngân hàng, các
tổ chức quốc tế, sự trao đổi công nghệ, sự phát triển gắn với hiện đại hoá… Toàn cầu hoákinh tế là kết quả của sự quốc tế hoá sản xuất cao độ và phân công quốc tế, nó xuất hiện và
phát triển cùng với thị trường thế giới.
Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất phát triển thấp, giao thông kém pháttriển, quy mô sản xuất và trao đổi nhỏ bé, thị trường khép kín, không có thị trường mang ýnghĩa hiện đại
Khi nền sản xuất tư bản phát triển, thị trường thế giới mở rộng, C.Mác vàPh.Ăngghen đã viết: “Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩmtrong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩmđưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địaphương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụthuộc phổ biến giữa các dân tộc”
Luận điểm này của C.Mác và Ph.Ăngghen cho thấy, sự quốc tế hoá, toàn cầu hoá đờisống kinh tế đã được bắt đầu từ khi chủ nghĩa tư bản mở rộng thị trường thế giới, khi pháthiện ra châu Mỹ cách đây hơn 500 năm Sự phát triển của quốc tế hoá đời sống kinh tế lúcđầu còn theo ngành dọc, theo hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc thực dân, trên cơ sở
sự phân công quốc tế và xuất khẩu tư bản xuất phát từ các chính quốc đến các nước thuộcđịa, thông qua bạo lực và bóc lột kinh tế Khi chủ nghĩa đế quốc xuất hiện, trong điều kiệncạnh tranh gay gắt giữa các thế lực đế quốc trong phân chia thuộc địa và thị trường thế giới,
sự quốc tế hoá đời sống kinh tế đã mở rộng cả theo chiều ngang Rồi các cuộc chiến tranhthế giới lần thứ nhất và lần thứ hai nổ ra, quan hệ chính trị và kinh tế thế giới đảo lộn, khủnghoảng và biến động, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế bị đẩy lùi
Sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới vào năm 1917 và hệthống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành sau chiến tranh thế giới lần thứ hai tạo nên mộtkiểu quan hệ mới giữa các quốc gia dân tộc Kiểu quan hệ mới này bước đầu mở ra kiểuquốc tế hoá đời sống kinh tế mới, dựa trên tính ưu việt của hệ thống chính trị xã hội chủ
Trang 5nghĩa, nhằm khắc phục sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế của chủ nghĩa tư bản, đặt nềnmóng cho sự quốc tế hoá chân chính Song, do những thăng trầm của lịch sử, trong nhữngnăm 90 của thế kỷ XX, Liên Xô sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, kiểu quan hệ kinh
tế quốc tế này đã kết thúc
Tuy nhiên, lực lượng sản xuất vẫn ngày càng phát triển Cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức hình thành, đời sống kinh tế quốc tếhoá, toàn cầu hoá; các trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển và trở thành lực lượng chi phốithế giới Có thể nói, từ sau chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá kinh tế dường như chủ yếu gắnliền với chủ nghĩa tư bản
Mặc dù vậy, trên thực tế hiện nay vẫn tồn tại một số nước xã hội chủ nghĩa và nhữngnước này đang phát triển Do vậy, nghiên cứu toàn cầu hoá kinh tế không thể bác bỏ mộtthực tiễn lịch sử là toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra trong bối cảnh hình thành cục diện kinh
tế đa cực, hình thành một trật tự kinh tế, chính trị quốc tế mới, trong đó có hình thức pháttriển, hợp tác, cạnh tranh và cùng nhau phồn vinh của các quốc gia dân tộc Và khái niệmtoàn cầu hoá hiện đại muốn bàn ở đây là nói đến xu thế khách quan đang diễn ra trong thờiđại hiện nay
Tất nhiên, lịch sử có cái lôgic phát triển của nó Theo quy luật, chủ nghĩa tư bản sẽđược thay thế bởi hình thái kinh tế xã hội vượt nó Song, sự thay thế đó như thế nào, khoahọc và thực tiễn sẽ chỉ ra Thời điểm hiện nay đặt ra và cho phép chúng ta tính đến khía cạnhtoàn cầu hoá kinh tế hiện đại và tác động của nó đến các mặt chính trị, xã hội, văn hóa toàncầu, để từ vị trí một nước đang phát triển, tính đến sự chủ động hội nhập, thúc đẩy hợp tác,phát triển và cạnh tranh, tạo nên sự phồn vinh của chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thế cùngtồn tại trong hoà bình, phồn vinh và phát triển của thế giới đương đại
1.1.1 Những thuộc tính cơ bản của quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đại:
Lịch sử của quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế rất lâu dài, và phải thấy rằng,
cơ cấu của toàn cầu hoá bắt đầu từ sự hình thành nhà nước, quốc gia dân tộc và tư nhân hoá
- những cỗ xe đi đến hiện đại Kết quả tất yếu là sự mở rộng thị trường thế giới Mở rộng thịtrường thế giới gắn với việc phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản và cả quan
hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản Sự hiện đại hoá lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấtcủa chủ nghĩa tư bản dẫn tới toàn cầu hoá Nó đi trước và quyết định quá trình toàn cầu hoá.Song, cho đến nay, toàn cầu hoá lại là một trong những điều kiện để hiện đại hoá thế giới,bất chấp ý muốn của ai Sự phát triển của phương Tây thúc đẩy hiện đại hoá, toàn cầu hoá.Bởi vậy, việc hiện đại hoá của thế giới, trong đó có các nước đang phát triển ở phương Đông
Trang 6không thể bỏ qua một thực tế là phải hiện đại hoá theo những kinh nghiệm của phương Tâytrên nền văn hóa của phương Đông Tiếp thu văn hóa, văn minh phương Tây, Việt Nam cócách tiếp cận và phương pháp luận của chúng ta.
1.1.1.2 Những cốt lõi của quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đại.
1.1.1.2.1 Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nền kinh tế gia tăng:
Các nền kinh tế của các quốc gia gắn bó và tuỳ thuộc vào nhau, dần dần hình thànhmột thể thống nhất, xoá dần đi những ngăn trở và khoảng cách về nhiều phương diện
- Nền sản xuất thế giới mang tính toàn cầu Phân công lao động quốc tế đã đạt tớitrình độ rất cao, không chỉ giới hạn ở chuyên môn hoá sản phẩm mà đã là chuyên môn hóacác chi tiết sản phẩm Với phương châm kinh doanh lấy thế giới làm nhà máy của mình, lấycác nước làm phân xưởng của mình, các nước có thể lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn, sứclao động và thị trường của nước khác, từ đó thúc đẩy quốc tế hoá sản xuất phát triển nhanhchóng Ví dụ, một loại xe của hãng Toyota sản xuất tại Mỹ có 25% linh kiện được sản xuất ởngoài nước Mỹ Một loại xe ô tô của công ty Ford có 27% linh kiện do nước khác sản xuất
- Các công ty xuyên quốc gia phát triển chưa từng có trong lịch sử và đóng vai trò hếtsức quan trọng, nó thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá và khu vực hóa Theo thống kê của Liênhợp quốc, năm 1996, thế giới có 44.000 công ty xuyên quốc gia, trong đó 28.000 công tycon có tổng giá trị sản xuất chiếm 40% GDP thế giới, chiếm 50% giá trị thương mại của thếgiới Tổng kim ngạch tài sản năm 1996 của các công ty xuyên quốc gia này lên tới 3.200 tỷUSD Hàng năm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của chúng chiếm 90% đầu tư trực tiếp củathế giới
Năm 1998, các vụ sáp nhập đã lên đến 2.500 tỷ USD
Năm 1999, riêng 10 vụ sáp nhập các công ty lớn trên thế giới đã lên tới 1.500 tỷUSD Vụ sáp nhập 3 ngân hàng lớn ở Nhật Bản vào tháng 8/1999 với 1.200 tỷ USD, đãbằng tổng giá trị 7.700 vụ sáp nhập năm 1998
Năm 2000, các cuộc cạnh tranh và sáp nhập các tập đoàn lớn lại diễn ra gay gắt,quyết liệt với quy mô lớn chưa từng thấy
- Trong quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế, dẫnđến sự ra đời các tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực Đó là Tổ chứcThương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liênminh Châu Âu (EU), Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên minh các nướcĐông Nam á (ASEAN), Thị trường tự do Nam Mỹ Mercosur, Khối cộng đồng kinh tế TâyPhi, và hàng chục tổ chức kinh tế khác ở khắp các châu lục
Trang 7Thông qua các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế này, quy mô lưu thôngvốn quốc tế lớn chưa từng thấy, tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc độ tăngtrưởng kinh tế; các lĩnh vực hợp tác trong toàn cầu hoá kinh tế không ngừng phát triển.
- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đại tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực chính trị,dẫn đến sự hình thành các tổ chức chính trị quốc tế mà lớn nhất là Liên hợp quốc Liên hợpquốc cùng với các tổ chức của nó như Chương trình phát triển LHQ (UNDP), Quỹ LHQ vềcác hoạt động dân số (UNFPA), Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của LHQ(UNESCO), Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Hội nghị liên hợp quốc tế về phát triển(UNCTAD), Tổ chức lương thực và nông nghiệp của LHQ (FAO)… đang tác động mạnhđến tất cả các khu vực, các nước trên phạm vi toàn cầu Cùng với sự phát triển của các tổchức này, luật pháp quốc tế cũng hình thành Thí dụ: Công ước quốc tế về luật biển (1982),Công ước quốc tế về quyền trẻ em… Do vậy, có thể nói rằng, toàn cầu hoá kinh tế hiện đạithúc đẩy sự thẩm thấu lẫn nhau chẳng những của các nền kinh tế mà còn lan toả ra tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội và tất cả các quốc gia trên thế giới
1.1.1.2.2 Nền kinh tế mới trong toàn cầu hoá là nền kinh tế công nghệ cao – nền kinh tế tri thức:
Cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều phát minh khoa học, một cuộc cách mạng thực sự đãdiễn ra trong vật lý học: phát hiện ra tia Rơn-ghen (1895), hiện tượng phóng xạ (1896), điện
tử (1897), radium (1898) , rồi đến những phát minh mới trong thế giới vi mô (nguyên tử)
và vĩ mô (vũ trụ) Khoa học đã thu thập được một khối lượng khổng lồ những tri thức về thếgiới tự nhiên, tổng hợp lại ở các thuyết cơ bản như thuyết Lượng tử và thuyết Tương đối…,tạo nền móng cho khoa học hiện nay Theo tính toán của nhiều nhà khoa học, toàn bộ lượngthông tin, tri thức trong thế kỷ XX tăng gấp 1.000 lần so với hồi đầu thế kỷ, và vượt trội sovới tổng tri thức mà loài người tích luỹ được trong suốt 19 thế kỷ đã qua
Khoa học hiện đại ngày càng phát triển, tiến vào lĩnh vực vi mô và vĩ mô, đòi hỏi sựphát triển trí tuệ ngày càng cao
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đầu thế kỷ XX là cái nguồn tất yếu của cuộcCách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, mở đầu từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Nền kinh tế toàn thế giới bắt đầu cơ cấu lại, trang bị lại và đòi hỏi phải cơ cấu lại,trang bị lại Bên cạnh những ngành kinh tế gắn với nền đại công nghiệp, như các ngànhluyện kim, điện lực, sản xuất ô tô, xi măng, sắt thép… còn có các ngành kinh tế mới pháttriển cực nhanh (điện tử – bán dẫn, máy tính, viễn thông…), trong đó các dịch vụ liên quan
Trang 8đến thông tin (ngân hàng, tư vấn, thiết kế, bảo hiểm…) phát triển mạnh, thậm chí ở một sốnước, lĩnh vực này chiếm tới trên 70% thu nhập của nền kinh tế quốc dân.
Các ngành công nghệ cao được hình thành và trở thành những mũi nhọn kinh tế củacác quốc gia Trước hết, phải kể đến công nghệ thông tin vì công nghệ thông tin đang là cốtlõi của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Nó phản ánh giai đoạn mới về chấtcủa sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm Trong cuộcCách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, máy móc có thể thay thế một phần trí tuệ conngười, làm cho tốc độ tư duy và năng lực tư duy phức tạp mở rộng Công nghệ thông tin baogồm cả phần cứng, như chế tạo các mạch vi điện tử, máy vi tính, mạng máy tính… và cácphần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng Ngoài ra, phải kể đến các loại thiết bị viễn thông,điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng, điện tử y tế, điện tử quốc phòng… Đó đều là những
bộ phận quan trọng của công nghệ thông tin Nền kinh tế mới sẽ được trang bị lại chủ yếunhờ áp dụng công nghệ thông tin, tạo ra các bộ não – thần kinh để tích hợp ngày càng rộngtrong toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, công nghệ thông tin là yếu tố khoa học, là công nghệ cốtlõi tạo ra điều kiện kỹ thuật của toàn cầu hoá nhờ hệ thống thông tin toàn cầu, bao gồm hệInternet
Thứ hai, công nghệ sinh học là bước đột phá vào thế giới đầy bí hiểm của sự sống Khoa học hiện đại đã khám phá ra gen dưới dạng các phân tử hình xoắn kép (ADN),hiểu rõ được mật mã của sự sống…, đã tạo ra một tiềm năng vô tận cho việc sản xuất các vậtphẩm phục vụ cho nhu cầu của con người như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh vàcác vật liệu công nghiệp để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người Sự phát triểncủa công nghệ sinh học, việc tạo ra những sinh vật và nhân giống chúng một cách tối ưu đã
mở ra những triển vọng vô cùng to lớn trong việc tăng năng suất lao động, giải đáp nhữngvấn đề nhu cầu cuộc sống mà loài người trước đây chưa từng biết đến
Thứ ba, nhiều công nghệ mới quan trọng khác như công nghệ vật liệu mới, côngnghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ… ra đời, mở ra những tiềm năng mới,triển vọng mới Ngày nay, việc sử dụng nguồn điện nguyên tử, thuỷ điện và điện mặt trờingày càng nhiều trong đời sống xã hội Các vật liệu mới như chất dẻo đặc biệt, vật liệu tổnghợp, sợi quang học… thay thế ngày càng nhiều những nguyên liệu truyền thống
Thứ tư, tự động hoá trong sản xuất Tự động hoá trong sản xuất giải phóng con ngườikhỏi những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, mở ra triểnvọng mới trong sự phát triển
Trang 9Nhờ có công nghệ cao và sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế thế giới, sự tăngtrưởng kinh tế thế giới sẽ làm đảo lộn những dự đoán thông thường của con người.
1.1.1.2.3 Nền kinh tế toàn cầu hiện nay chủ yếu là nền kinh tế của tư bản toàn cầu, do
ba trung tâm kinh tế lớn trên thế giới và các công ty xuyên quốc gia chi phối:
Chúng ta không lấy làm lạ khi đọc luận điểm sau đây của nhà kinh tế hàng đầu củaĐức, ngài Hécbơ Giécsơ, viện trưởng lâu năm của Viện Kinh tế thế giới Côlônhơ, rằng toàncầu hoá chỉ là một khái niệm mới của một quá trình đang tiếp diễn từ lâu: sự mở rộng vềkhông gian của phương thức kinh tế tư bản cho đến tận cùng thế giới
Điều này có thể được minh chứng qua các lý do sau đây:
Một là, đứng về mặt gia tăng các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư, vốn,công nghệ, dịch vụ, nhân công, v.v., thì hiện nay các trung tâm tư bản lớn như Bắc Mỹ, EU
Graham Thompson, trong bài Xác định vị trí toàn cầu hoá, đã có lý khi phân biệt toàncầu hoá kinh tế hiện đại với quốc tế hoá ở chỗ coi nó là một nền kinh tế “ở bên trên”, độclập với các nền kinh tế và các tác nhân quốc gia; nó chi phối, áp đặt một hình thức và mộttính chất đặc biệt cho chúng Và ở đây là hình ảnh của một thứ chủ nghĩa tư bản không bịtrói buộc, đang đi tìm kiếm lợi thế cạnh tranh trên khắp địa cầu Trong vấn đề quản lý hệthống kinh tế toàn cầu, Graham Thompson cũng có lý khi chỉ ra thực chất của nó, rằng quản
lý quá trình toàn cầu hoá kinh tế chính là những hình thức tổ chức đa phương như GATT, vàbây giờ là WTO, WB, IMF…, trong đó Mỹ, EU, Nhật Bản đóng vai trò trung tâm, quantrọng đến mức “một hình thức quản lý như thế sẽ cho thấy khả năng tương hợp cơ bản giữachủ nghĩa ba phương với chủ nghĩa đa phương
1.2 Sự hội nhập của các nước đang phát triển – Thời cơ và thách thức:
1.2.1 Hệ quả tích cực và tiêu cực của toàn cầu hoá:
Như trên đã phân tích, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, có tác độngtương hỗ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội, cả về chính trị, văn hóa và xã hội… Do đó,
có thể nêu lên những hệ quả tích cực và tiêu cực của toàn cầu hoá như sau:
Trang 101.2.1.1 Hệ quả tích cực:
1.2.1.1.1 Toàn cầu hoá thúc đẩy sự phát triển và xã hội hoá các lực lượng sản xuất, đem lại
sự tăng trưởng kinh tế cao:
- Toàn cầu hoá làm tăng nhanh tổng sản phẩm của thế giới, với giá trị hiện nay ướctính khoảng 30.000 tỷ USD, gấp 23 lần giá trị tổng sản phẩm thế giới vào cuối những năm
50 của thế kỷ XX (1.300 tỷ USD)
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu có những thay đổi cơ bản Nếu năm 1960,nông, lâm, thuỷ sản chiếm 10,4%; cây công nghiệp chiếm 28,1% và dịch vụ chiếm 50,4%thì đến năm 1990, cơ cấu GDP của thế giới tương ứng đã là 4,4%; 21,4% và 62,4%
- Sự liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống ngày càng tăng, với tốc độ tăngtrưởng cao hơn nhiều lần tốc độ tăng trưởng sản xuất
- Hệ thống thông tin toàn cầu phát triển nhanh chóng, kết nối các vùng địa lý trên tráiđất vào một hệ thống, góp phần tác động có hiệu quả vào các quá trình kinh tế – chính trị –
xã hội – quân sự – văn hóa toàn cầu…
1.2.1.2 Toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại:
- Toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại sẽ làm giảm hoặc huỷ bỏcác hàng rào ngăn cách, làm cho hàng hoá của mỗi nước có thị trường tiêu thụ rộng hơn, do
đó kích thích sản xuất phát triển Nhờ đó sẽ thúc đẩy phân công lao động quốc tế theo hướngchuyên môn hoá, làm cho các nguồn lực ở mỗi nước được sử dụng hợp lý và có hiệu quảhơn
- Tự do hoá thương mại đặt ra cho các doanh nghiệp phải tiến hành những cải cáchsâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, phát huy lợi thế của mình và hạnchế những rủi ro, thách thức trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt
- Tuy vậy, tự do hoá thương mại không đưa lại những kết quả như nhau đối với cácnước Nhìn chung, các nước phát triển có lợi thế là nền kinh tế của họ đã phát triển cao, khảnăng cạnh tranh lớn, nắm giữ các công nghệ cao, tư bản, đội ngũ lao động có trình độ cao vàcông nhân lành nghề đông Do đó, hàng hoá của họ có chất lượng cao, hoạt động thươngmại nhạy bén, năng động hơn và có sức cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường lớn hơn Các nướcđang phát triển ở vào vị trí khó khăn hơn, vì nền kinh tế kém phát triển, khả năng cạnh tranhyếu, trình độ công nghệ thấp, thiếu vốn, đội ngũ lao động có trình độ và công nhân lànhnghề nhỏ bé Song, các nước này nếu biết lợi dụng những ưu thế của mình, biết phát huy nộilực, tranh thủ kỹ thuật cao, đi tắt đón đầu thì vẫn đạt được những tốc độ tăng trưởng kinh tếcao Các nước NICs và những con rồng châu á là những thí dụ Có thời kỳ dài, các nước này
Trang 11đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 – 7%/năm, chủ yếu do tận dụng được tự do hoáthương mại và thực hiện chiến lược hướng vào xuất khẩu.
1.2.1.3 Toàn cầu hoá làm gia tăng các luồng chuyển giao vốn và công nghệ:
- Toàn cầu hoá làm gia tăng các hoạt động đầu tư quốc tế, chủ yếu là FDI, với nhữngđặc điểm chính là nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng; chủ thể đầu tư và chủ thể thu hút đầu tưngày càng đa dạng; lượng lưu động vốn cho vay tăng rất nhanh; tự do hoá đầu tư trở thànhmục tiêu, chính sách đầu tư quốc tế của tất cả các nước
- Toàn cầu hoá thực hiện chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành tựucủa khoa học công nghệ, tổ chức, quản lý, kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất cho các nướcđược đầu tư phát triển
1.2.1.4 Toàn cầu hoá củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc:
- Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hoá, các thể chế quốc tế ngày càngđược tăng cường để đảm bảo điều tiết và quản lý các quan hệ quốc tế Tính đến nay, đã cókhoảng 120 thể chế khu vực và toàn cầu Hàng trăm tổ chức quốc tế các loại, bao gồm các tổchức liên chính phủ, phi chính phủ… đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội Đó là những sản phẩm của toàn cầu hoá, đồng thời chúng có tác động làm cho quá trìnhtoàn cầu hoá được tăng cường
- Chính nhờ toàn cầu hoá liên kết các nước lại với nhau, làm tăng sự phụ thuộc lẫnnhau giữa các nước về nhiều mặt, nên lợi ích của mỗi quốc gia gắn với lợi ích của nhiềuquốc gia Hơn nữa, các thể chế quốc tế cũng ràng buộc lợi ích và nghĩa vụ của các quốc gia.Tất cả những điều nói trên giúp hạn chế những hành vi dễ gây xung đột giữa các nước, gópphần duy trì hoà bình và an ninh quốc tế
- Qua quá trình giao lưu quốc tế, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc thuộc cácchâu lục, giữa con người với con người càng được tăng cường; thông tin cập nhật khắpvùng, góp phần tác động đến mọi sự kiện trên thế giới
Trang 12kinh tế, khoa học công nghệ giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển, làm trầmtrọng thêm sự bất công trong xã hội; đào sâu hố ngăn cách giàu – nghèo trong từng nước Vềnhiều mặt, dân chúng ở 85 nước đang phát triển hiện có mức sống thấp hơn so với cách đây
10 năm Hiện nay, trên toàn thế giới vẫn còn hơn 1 tỷ người nghèo Chênh lệch giữa thunhập của 20% dân số thuộc tầng lớp người giàu nhất và của 20% dân số thuộc tầng lớpnghèo nhất trên thế giới trong năm 1960 là 30 lần, đến năm 1990 lên tới 60 lần và năm 1997
là 74 lần Các nước phát triển với 1/5 dân số thế giới chiếm tới 86% GDP toàn cầu, 4/5 thịtrường xuất khẩu, 1/3 vốn đầu tư nước ngoài; trong khi đó, các nước nghèo nhất với 1/5 dân
số thế giới chỉ tạo ra được 1% GDP thế giới
1.2.2.2 Toàn cầu hoá tạo nên sự thách thức mới đối với nền độc lập, chủ quyền quốc gia,
làm xói mòn quyền lực của nhà nước dân tộc:
- Toàn cầu hoá làm thay đổi khái niệm độc lập và chủ quyền quốc gia, đặc biệt tronglĩnh vực kinh tế Toàn cầu hoá làm suy yếu chức năng kinh tế của nhà nước dân tộc
- Chủ quyền quốc gia bị hạn chế một cách tương đối, tính độc lập của các quốc gia bịgiảm dần; nhiều quyền lực của nhà nước bị xói mòn, các chính phủ không còn quyền độclập tuyệt đối trong việc hoạch định chính sách, vì có nhiều vấn đề vượt khỏi tầm kiểm soátcủa nhà nước (các luồng di chuyển vốn, các luồng thông tin, các tập đoàn xuyên quốc gia,môi trường sinh thái…)
1.2.2.3 Toàn cầu hoá làm cho nhiều mặt hoạt động và đời sống của con người trở nên kém
an toàn, từ an toàn kinh tế, tài chính đến an toàn văn hóa, xã hội, môi trường:
- Cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông á (1997 – 1998) đã ảnh hưởng nghiêm trọng,kéo dài và toàn diện đến các nước này Tính không an toàn trong đời sống kinh tế gia tăng:
sự đổ vỡ nhiều ngành sản xuất và phá sản hàng loạt xí nghiệp; lạm phát và thất nghiệp giatăng; nền sản xuất phải cơ cấu lại, những thể chế bảo hộ xã hội bị phá bỏ; tệ nạn xã hội giatăng Đặc biệt là khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, các tệ nạn ma tuý, mại dâm và HIVlan tràn
- Toàn cầu hoá làm gia tăng giao lưu quốc tế trong đời sống văn hóa tinh thần, nhiềutinh hoa văn hóa của các dân tộc được truyền bá, sự thâm nhập lẫn nhau của các nền vănminh thúc đẩy tiến bộ xã hội Song, do lợi thế của các nước có nền kinh tế mạnh nên ảnhhưởng của các nước này đối với các nước đang phát triển rất lớn Vì vậy, nhiều giá trị riêngcủa các dân tộc, đặc biệt là của các nước đang phát triển bị xói mòn; nhiều truyền thống dântộc bị huỷ hoại, các quan hệ gia đình bị phá vỡ… Khuynh hướng đồng nhất ở một góc độnào đó, cả về văn hóa, đã và đang diễn ra ngày một rõ hơn… Bởi vậy, vấn đề đặt ra là hội
Trang 13nhập nhưng không để bị hoà tan, không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, nếu
đề cao văn hóa dân tộc một cách thái quá sẽ có nguy cơ đi đến bài ngoại, đóng cửa và sẽ bịtụt hậu
- Rõ ràng, toàn cầu hoá không chỉ có tác động thuận lợi mà còn có tác động tiêu cựcđối với các nước đang phát triển Do đó, các nước đang phát triển phải có chiến lược hộinhập phù hợp với thực tiễn nước mình, để tranh thủ được mặt thuận lợi, và khắc phục, hạnchế được các mặt tiêu cực
1.2.2.4 Các nước đang phát triển và những vấn đề đặt ra cho các nước đó trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập:
Do không đồng nhất về trình độ phát triển, do những điều kiện đặc thù về chính trị,kinh tế, xã hội, về mục tiêu định hướng và chiến lược phát triển, cho nên các nước đang pháttriển khác nhau cũng có những nhận thức và áp dụng các phương thức hội nhập khác nhau.Tuy nhiên, qua thực tiễn cho đến nay, các nước đang phát triển cũng đang từng bước rút rađược nhiều kết luận từ những bài học thành công và thất bại của mình
Có thể nêu lên một số điểm sau đây:
1.2.2.4.1.Về nhận thức:
Một là, toàn cầu hoá và hội nhập là một xu thế khách quan, trọng tâm của nó là mởcửa kinh tế, tạo điều kiện mở rộng không gian để phát triển và tìm kiếm vị trí thích hợp chomình trong khung cảnh chung của toàn cầu hoá, thực hiện việc kết hợp nội lực với sức mạnhquốc tế
Hai là, hội nhập thực chất là tham gia cạnh tranh trên trường quốc tế và trên thịtrường nội địa Điều quan trọng nhất là phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước và phảicải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh cơ chế chính sách, luật lệ, tập quán kinh doanh chophù hợp với thể chế (luật chơi) của quốc tế, phải gắn chặt với chiến lược phát triển của đấtnước mình Phải giải phóng khỏi tư tưởng cho rằng hội nhập là bị ép buộc, áp đặt Cần phảinhận thức cải cách, đổi mới, chủ động hội nhập chính là vì sự nghiệp phát triển của bản thânnước mình Từ bỏ hội nhập, hoặc thực hiện chiến lược hội nhập sai lầm sẽ làm cho đất nước
bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, hoặc tụt hậu ngày càng xa hơn, và ngày càng bần cùng.Hậu quả đó không phải do các nước này tham gia hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá, màđiều căn bản là do các nước ấy không cải biến được, không chuyển đổi được cơ cấu kinh tếtiền tư bản lạc hậu của mình và thiếu hẳn những cải cách trong bộ máy nhà nước, để đấtnước chìm đắm trong tệ nạn tham nhũng của bộ máy quyền lực đặc quyền đặc lợi Kết quả
Trang 14là tài nguyên của đất nước và viện trợ của nước ngoài bị sử dụng lãng phí, đất nước rơi vào
nợ nần, dẫn tới khủng hoảng kinh tế – chính trị và bị nước ngoài chi phối
1.2.2.4.2 Về thực tiễn:
1.2.2.4.2.1 Các nước đang phát triển bước vào quá trình hội nhập phải thực hiện chuyển đổi
cơ cấu kinh tế:
Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm thích ứng và đứng vững được trong cạnh tranhtoàn cầu Nếu không chuyển đổi được cơ cấu kinh tế có khả năng thích ứng trong cạnhtranh, linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp với những đổi mới trong công nghệ và những biếnđộng trên thị trường thế giới thì không khai thác được lợi thế so sánh và phải hứng chịunhững tác động tiêu cực của quá trình hội nhập Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhiềunước đã biết lựa chọn những ngành có thế mạnh để mở cửa, tham gia cạnh tranh; biết dùngnhững biện pháp bảo vệ hợp pháp và hạn chế tạm thời đối với những ngành chưa có khảnăng cạnh tranh; biết chuẩn bị cho tương lai bằng cách lựa chọn những ngành có lợi thế cầntập trung phát triển Sự tính toán thận trọng và nhìn xa trông rộng bảo đảm cho sự chủ độnghội nhập: mở cửa lĩnh vực nào, vào thời điểm nào, với mức độ và quy mô nào thì có lợi nhấtcho nền kinh tế của đất nước
1.2.2.4.2.2 Phải thực hiện cải cách hành chính sâu rộng:
Trước hết, nhà nước phải cải cách hệ thống kinh tế vĩ mô và có những chính sáchthích hợp để tận dụng những ưu đãi mà thể chế hội nhập quy định Sự cải cách này nhằmbảo đảm sự hài hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ của nước mình trong thể chế hội nhập, giữamục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước với những yêu cầu và đòi hỏi của bên ngoài; giữa cácvấn đề kinh tế và thương mại với các lĩnh vực khác; đồng thời, phải cải cách luật pháp, quychế, quy định cho phù hợp và bảo đảm để các chính sách đó được thực hiện
Hai là, phải cải cách và hoàn thiện cơ chế quản lý điều hành quá trình hội nhập đểgiữ ổn định chính trị trong sự phát triển, kịp thời điều chỉnh và giải quyết những vấn đề phátsinh, những biến động bất thường gây mất ổn định kinh tế – xã hội
1.2.2.4.2.3 Phải xây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc hộinhập:
Đây là đòi hỏi cấp bách, vì các lĩnh vực hội nhập rất phong phú, nảy sinh nhiều vấn
đề mới và phức tạp, từ kinh tế thương mại, dịch vụ, đầu tư đến khoa học công nghệ, môitrường, sở hữu trí tuệ… Do đó, phải hiểu được những khác biệt về cơ chế chính sách, luật lệ
và thực tiễn kinh doanh giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển
Trang 15Những điều đó đòi hỏi chúng ta phải nâng cao trình độ cán bộ, tranh thủ sự giúp đỡcủa các nước phát triển, của các tổ chức quốc tế để đào tạo, bồi dưỡng cho được một đội ngũcán bộ phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, xây dựng nền kinh tế mới; một độingũ cán bộ kinh doanh giỏi, quản lý giỏi, vừa có năng lực tổ chức thực tiễn, nhạy bén với cáimới, đáp ứng sự phát triển của đất nước trước những biến động của thế giới.
1.3 Chính sách chủ động hội nhập của Việt Nam:
Sự nghiệp đổi mới đất nước trong hơn 16 năm qua đã tạo thế và lực mới cho nước tatrong quá trình hội nhập, bảo đảm điều kiện để nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Song, trên thực tế phải thấy rằng nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, sứccạnh tranh còn rất thấp; lực lượng lao động tuy dồi dào, song trình độ kỹ thuật và kỹ năngcòn thấp; hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập; hệ thống tài chính, ngân hàng còn yếu kémnên khả năng đương đầu với xu hướng tự do hoá kinh tế, tài chính toàn cầu rất khó khăn;chưa đuổi kịp sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thông tin – viễn thông toàn cầu
Quá trình toàn cầu hoá, phát triển sự hợp tác đa phương và song phương với cácnước tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá sang cácnước Tất nhiên, vấn đề này còn gắn với cuộc cạnh tranh, vừa hợp tác vừa đấu tranh rất phứctạp Chúng ta cần tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, nhập khẩu kỹ thuật cao, tranh thủ kinhnghiệm quản lý của thế giới, mở rộng thị trường để nhanh chóng đi tắt, đón đầu, xây dựngnền kinh tế mới phù hợp với sự phát triển chung và thực tiễn nền kinh tế Việt Nam
Những khó khăn, thách thức rất to lớn đang đặt ra trước chúng ta Bởi vậy, chúng taphải trên cơ sở kinh nghiệm của mình trong những năm đổi mới và kinh nghiệm của cácnước đang phát triển mà thúc đẩy sự hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của nước ta Chiếnlược hội nhập quốc tế của nước ta là chiến lược chủ động hội nhập, nhằm tranh thủ điều kiệnquốc tế thuận lợi, khai thác tốt nhất nội lực của ta để phát triển đất nước, xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội Chiến lược chủ động hội nhập của nước ta xuất phát từ việc thừanhận lợi ích to lớn của hội nhập; đồng thời ý thức rằng sự hội nhập đó cũng đưa lại nhữngthách thức to lớn, những nguy cơ không thể xem thường
Thời cơ và nguy cơ thường đan xen với nhau, do đó phải hết sức tỉnh táo để bảo đảmhội nhập và giữ được bản sắc văn hóa dân tộc; hội nhập và giữ vững độc lập tự chủ; hộinhập và bảo vệ được lợi ích dân tộc; hội nhập và góp phần vào cuộc đấu tranh vì hoà bình,độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của nhân loại Chúng ta chủ động hội nhập quốc tế để pháttriển bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh