1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

My học Thư pháp

3 427 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề My học Thư pháp
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử và nghệ thuật thư pháp
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 1997
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 74,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THƯ PHÁP VÀ MỸ HỌC THƯ PHÁPTHỌ NHÂN Tạp chí Hán Nôm số 3/1997 Thư pháp chỉ cách thức dùng bút lông viết chữ Hán, một nghệ thuật truyền thống nổi tiếng của Trung Quốc và nhiều nước phương

Trang 1

THƯ PHÁP VÀ MỸ HỌC THƯ PHÁP

THỌ NHÂN Tạp chí Hán Nôm số 3/1997

Thư pháp chỉ cách thức dùng bút lông viết chữ Hán, một nghệ thuật truyền thống nổi tiếng của Trung Quốc và nhiều nước phương Đông có sử dụng chữ Hán

Về mặt kỹ thuật, thư pháp chú trọng cách cầm bút, cách điều khiển ngọn bút, cũng như cách điểm hoạch, kết cấu, bố cục và vấn đề thần vận Như về cách cầm bút (chấp bút), năm ngón tay phải chắc, cùng hiệp sức, nhưng bàn tay thì hoàn toàn để tự nhiên, tức "chỉ thực, chưởng hư" Về cách điều khiển ngọn bút (vận bút), phải có nét chính để làm cốt lõi, nét lệch để tạo thần thái, nét kín để giữ khí thế, nét hở để phát tinh thần Ngoài ra còn có nét xuôi, nét ngược, nét vuông, nét tròn, mỗi loại nét như thế đều có ý nghĩa riêng của nó ở đây còn chú ý cả đến phương hướng và các động tác khi điều khiển ngọn bút Về điểm hoạch, thường nói đến tròn, chìm lắng, cứng cáp, già giặn Về kết cấu (kết thể, kết tự), thường nói đến sự ngay thẳng, thăng bằng, cân đối, biến hóa, sinh động, thống nhất, nghiêm cẩn, chênh vênh Về phân bố (chương pháp), thường nói đến bố cục của một tác phẩm thư pháp, trong đó có mối quan hệ giữa chữ này với chữ kia, dòng này với dòng nọ Về thần vận, thường nói đến linh hồn của một tác phẩm thư pháp được tạo nên

bởi phong độ, thần thái, khí vận, tinh thần của nó

- Các thể thư pháp gồm Minh văn đời Ân, Tiểu triện đời Tần, Lệ thư đời Lưỡng Hán, Thảo thư đời Đông Tấn, Khải thư và Cuồng thảo đời Đường, Hành thảo các đời Tống - Nguyên

- Minh - Thanh, trong đó, đáng chú ý nhất là Khải thư, Lệ thư, Hành thư và Tiểu triện

Khải thư còn gọi là "Chân thư" hay "Chính thư", do Lệ thư và Chương thảo diễn biến mà thành, còn được gọi là "Khải lệ" hoặc "Kim lệ" Tương truyền Khải thư do Vương Thứ Trọng đời Đông Hán sáng tạo ra, bằng cách sửa đổi cách viết chữ Lệ ra cách viết chữ Khải Khải thư tuy ra đời vào cuối thời Hán, nhưng phải sang đến đời Đường mới thoát khỏi

mọi ảnh hưởng và tàn tích của Lệ thư để chính thức trở thành một thể thư pháp độc lập, với tất cả các đặc điểm riêng của nó

Lệ thư xuất hiện sớm nhất vào đời Tần, giữa lúc Triện thư đang độ cực thịnh Nhưng hồi này Lệ thư còn thô kệch và mang nhiều dấu vết của Triện thư Lệ thư sở dĩ ra đời là do

nhu cầu viết nhanh và tiện lợi khi sử dụng, không nhiêu khê như Tiểu triện Quá trình Tiểu triện chuyển hóa thành Lệ thư có thể phác ra như sau:

Tiểu Triện -> Thảo Tiểu triện -> Thảo lệ

"Thảo lệ" là do các viên thư lại đời Tần tạo ra, cốt xử lý kịp thời đống công văn bề bộn viết bằng chữ Triện hồi bấy giờ mà họ có trách nhiệm giải quyết, và đây là tiền thân của Lệ

thư chính thức được nhìn nhận vào đời Lưỡng Hán sau đó

Hành thư xuất hiện sớm nhất vào đời Đông Hán, cũng là do nhu cầu viết sao cho nhanh chóng, tiện lợi Một mặt, Hành thư giảm bớt nét so với Khải thư và như vậy là thoát khỏi

sự gò bó của Khải thư; mặt khác, nó tiếp thu cách viết bay bướm của Thảo thư, nhưng không quá phóng túng đến nỗi khó đọc, khó nhận diện như Thảo thư Nghĩa là nó vừa giản

dị, vừa năng động Nếu ví Khải thư như người đang đứng, Thảo thư như người đang chạy, thì Hành thư như người đang đi vậy Tương truyền kiểu chữ này do Lưu Đức Thăng tạo

ra, đến thời Đông Tấn đã có người sử dụng thành thạo, trở nên nổi tiếng như hai cha con Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi, và Từ Tống, Nguyên về sau, cách viết Thảo thư ngày

càng phổ biến

Tiểu triện có nguồn gốc từ Đại triệu (chỉ các lối chữ xuất hiện trước Tiểu triện, gồm Kim văn, Thạch cổ văn v.v.), nhưng nét bút từ chỗ cong queo của Đại triện đã được cải tiến thành thông thoáng, uyển chuyển, lại có nhiều nét thẳng thớm, thanh mảnh Văn bản Tiểu triện được viết thành hàng dọc từ phải sang trái, không còn viết tùy tiện, thiếu cố định như ở Giáp cốt văn hay Kim văn Từ Giáp cốt văn, Kim văn đến Tiểu triện, cũng tức là từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 2 TCN, trong khoảng 1200 năm ấy, hình thức thư pháp đều thuộc hệ thống Triệu thư, cho nên gọi đây là thời đại Triệu thư Tiểu triện được coi như sự phát triển tột đỉnh của Triện thư, và đến đây trở nên định hình

l Mỹ học thư pháp cũng tức là cái đẹp thể hiện trong nghệ thuật thư pháp Giống với nhiều loại hình nghệ thuật khác, bản chất cái đẹp của thư pháp là ở chỗ phản ánh được cái

đẹp của khách thể (sự vật khách quan) cùng với cái đẹp tinh thần của chủ thể (nhà thư pháp)

Về nội dung cái đẹp của thư pháp, có thể xem bảng Sơ đồ cấu thành mỹ học thư pháp của nhà nghiên cứu thư pháp Trung Quốc Thiên Bạch sau đây:

Trang 2

l Một số nhà thư pháp nổi tiếng của Trung Quốc.

1 Vương Hy Chi (303-361): tên chữ là Dật Thiếu, làm quan tới chức Hữu quân Tướng quân, nên còn được gọi là Vương Hữu quân Người Lang Nha (nay là Lâm Nghi, Sơn Đông)

Hầu hết các thể chữ đều giỏi, nhưng nổi tiếng nhất là Chính, Hành và Thảo Tác phẩm nổi tiếng có Lan Đình tự thiếp và Thập thất thiếp

2 Vương Hiến Chi (344-386): tên chữ là Tử Kính, làm quan đến Trung thư lệnh, nên còn được gọi là Vương Đại lệnh Ông là con thứ bảy của Vương Hy Chi, cùng nổi tiếng về thư

pháp với cha, đời bấy giờ gọi hai cha con là Nhị Vương Sở trường của ông là Hành và Thảo

3 Ngu Thế Nam (558- 638): tên chữ là Bá Thi, do được phong làm Vĩnh Hưng huyện tử, nên còn được gọi là Ngu Vĩnh Hưng Người Dư Diêu, Việt Châu (nay là Dư Diêu, Chiết

Giang) Nổi tiếng về chữ khắc bia Tác phẩm truyền lại, được nhiều người nhắc tới, là Khổng Tử miếu đường bi

4 Âu Dương Tuân (557-641): tên chữ là Tín Bản, làm quan đến chức Thái tử Suất canh lệnh, nên còn được gọi là Âu Dương Suất canh Người Lâm Tượng, Đàm Châu (nay là

Trường Sa, Hồ Nam) Một trong số 4 nhà Khải thư lớn của Trung Quốc

5 Chử Toại Lương (596 - 658 ?): tên chữ là Đăng Thiện, do được phong Hà Nam Quận công, nên còn được gọi là Chử Hà Nam Nổi tiếng về Khải thư

6 Lý Ung (678 - 747): tên chữ là Thái Hòa Vì có làm Thái thú Bắc Hải, nên còn được gọi là Lý Bắc Hải Người Giang Đô, Dương Châu (nay thuộc Giang Tô) Thành tích chính ở

Hành thư

7 Tôn Quá Đình (? - ?): không rõ quê quán Ông nổi tiếng về Thảo thư, đồng thời là nhà lý luận về thư pháp đời Sơ Đường

8 Trương Húc (? - ?): tên chữ là Bá Cao Vì làm quan đến Kim ngô Trưởng sử, nên còn được gọi là Trương Trưởng sử Lại vì cuồng ngông, thích rượu, nên có tên là Trương Điên

Người Tô Châu, Giang Tô Nổi tiếng về Cuồng thảo, từng được gọi là Thảo thánh

9 Nhan Chân Khanh (709 - 785): tên chữ là Thanh Thần, từng làm Thái thú ở Bình Nguyên nên còn được gọi là Nhan Bình Nguyên Là một trong số 4 nhà Khải thư lớn của Trung

Quốc

10 Hoài Tố (725 - 785): tên chữ là Tàng Châu, còn được gọi là Tuý Tăng hay Túy Tố Ông đi tu từ nhỏ Người Trường Sa (thuộc Hồ Nam) Nổi tiếng về Cuồng thảo

Trang 3

11 Liễu Công Quyền (778 - 865): tên chữ là Thành Huyền, người Hoa Nguyên, Kinh Triệu (nay là Diệu Huyện, Thiểm Tây) Là một trong số 4 nhà Khải thư lớn của Trung Quốc.

12 Dương Ngưng Thức (873 -954): tên chữ là Cảnh Độ, hiệu Hư Bạch, người đời gọi ông là Dương Phong Tử Người Hoa Âm (Thiểm Tây) Có thành tựu lớn về thư pháp

13 Sái Tương (1012 - 1067): tên chữ là Quân Mạc, từng làm Đoan Minh điện Học sĩ, thụy hiệu là Trung Huệ, nên còn được gọi là Thái Trung Huệ Ông là một trong số 4 nhà thư

pháp lớn đời Tống Giỏi về Chính, Hành, Thảo

14 Tô Thức (1037 - 1101): tên chữ là Tử Chiêm, hiệu Đông Pha Cư Sĩ Do có tên thụy là Văn Trung, nên người ta còn gọi ông là Tô Văn Trung Người My Sơn, My Châu (nay

thuộc Tứ Xuyên) Tác phẩm thư pháp nổi tiếng của ông, có Phong lạc đình ký

15 Hoàng Đình Kiên (1045 - 1105): tên chữ là Lỗ Trực, hiệu Bồi Ông, hoặc Sơn Cốc Đạo Nhân, Sơn Cốc Lão Nhân Người Phân Ninh, Hồng Châu (nay là Tu thuỷ, Giang Tây) Nổi

tiếng về Hành thư và Cuồng thảo Tác phẩm thư pháp nổi tiếng có U lan phú

16 Mễ Phất (1051 - 1107): tên chữ là Nguyên Chương, hiệu Hải Nhạc Ngoại Sử, Lộc Môn Cư Sĩ v.v Tính cuồng phóng, nên ông cũng được gọi là Mễ Điên Người Thái Nguyên,

Sơn Tây, sau dời đến Tương Dương nên còn được gọi là Mễ Tương Dương Các thể thư pháp đều giỏi, đặc biệt là Hành thảo

17 Triệu Cát (1082-1135), tức Tống Huy Tông, tự xưng là Giáo Chủ Đạo Quân Hoàng Đế Giỏi cả thư lẫn hoa, đặc biệt là Chính, Hành, Thảo

18 Triệu Mạnh Phủ (1254-1322): tên chữ là Tử Ngang, hiệu Tùng Tuyết Đạo Nhân v.v Người Hồ Châu (nay là Ngô Hưng, Chiết Giang) Giỏi cả các thể thư pháp, nhất là Chính

khải, Hành thư và Tiểu khải Tác phẩm thư pháp nổi tiếng, có Diệu Nghiêm tự ký

19 Tiên Vu Khu (1256 - 1301): tên chữ là Bá Cơ, hiệu Khốn Học Sơn dân Người Ngư Dương, Đại Đô (nay là Bắc Kinh) Giỏi về Chính, Hành, Thảo, đặc biệt là Hành và Thảo

20 Khang Lý Quỳ Quỳ (1295 -1345): tên chữ là Tử Sơn, hiệu Thứ Tẩu, người Mông Cổ, sinh ra ở Khang Lý (Tân Cương) Giỏi về các thể Chính, Hành, Thảo, đặc biệt là Thảo thư

21 Chúc Doãn Minh (1460-1526): tên chữ là Hy Triết, hiệu Chi Sơn Người Trường Châu (nay là Tô Châu, Giang Tô) Nổi tiếng về Cuồng thảo

22.Văn Trưng Minh(1470-1559): tên chữ là Trưng Minh, sau đổi là Trưng Trọng, hiệu Hành Sơn Cư Sĩ Từng giữ chức Hàn lâm viện Đãi chiếu, nên còn được gọi là Văn Đãi chiếu

Người Trường Châu (nay là Tô Châu, Giang Tô) Nổi tiếng về Tiểu khải và Hành thảo

23 Đổng Kỳ Xương (1555 -1636): tên chữ là Huyền Tể, hiệu Tư Bạch hoặc Hương Quang Cư Sĩ Người Hoa Đình, Tùng Giang (nay là Tùng Giang, Thượng Hải) Nổi tiếng về Hành

thảo

24 Trương Thụy Đồ (? - 1644): tên chữ là Trường Công, hiệu Nhị Thủy Người Tấn Giang (nay là Tuyền Châu, Phúc Kiến) Giỏi về Hành thảo

25 Vương Đạc (1592 - 1652): tên chữ là Giác Tư, hiệu Tung Tiều Người Mạnh Tân (nay thuộc Hồ Nam) Là nhà thư pháp có nhiều ảnh hưởng vào giai đoạn cuối Minh đầu

Thanh Giỏi cả các thể chữ, đặc biệt là Hành và Thảo

26 Trịnh Nhiếp (1693 - 1765): tên chữ là Khắc Nhu, hiệu Bản Kiều Người Hưng Hóa, Giang Tô (nay thuộc Dương Châu) Là một trong "Bát quái" (8 nhân vật, quái kiệt về thư pháp) của Dương Châu Nổi tiếng cả về Khải, Lệ, Hành viết lẫn lộn cùng nhau Có người đương thời từng bình luận: "Trịnh Bản Kiều đem Triện, Lệ, Hành, Thảo đúc chung trong

một lò, thật không thể giải thích được":

27 Lưu Dung (1719 - 1804): tên chữ là Sùng Như, hiệu Thạch Âm (gần đây, trong một bộ phim nhiều tập của Trung Quốc, ông được gọi bằng Lưu La Oa, ta dịch là Lưu Gù)

Người Chư Thành, Sơn Đông Ông nổi tiếng về Hành thư

28 Hà Thiệu Cơ (1799 - 1873): tên chữ là Tử Trinh, hiệu Đông Châu Người Đạo Châu (nay là Đạo Huyện, Hồ Nam) Là nhà thư pháp nổi tiếng về Hành thư vào cuối đời nhà

Thanh

SÁCH THAM KHẢO CHÍNH

1 Thiên Bạch: Thư pháp mỹ Ninh Hạ Nhân dân xuất bản xã 1990

2 Chu Nhân Phu: Trung Quốc cổ đại thư pháp sử Bắc Kinh Đại học xuất bản xã 1992

3 Nhiều tác giả: Tứ thể thư pháp khái luận Giang Tô cổ tịch xuất bản xã 1992

Ngày đăng: 20/09/2013, 07:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w