Sau khi được phân công dạy môn Địa lí tôi thật sự băn khoăn làm thế nào để học sinh yêu thích, hứng thú môn Địa lí và nhận thấy được tầm quan trọng của môn học đó là cơ sở học tập ở các
Trang 1MỘT SỐ KINH NGHIỆM
ĐỂ DẠY TỐT MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4
Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn vấn đề.
Môn Địa lí lớp 4 là môn học mới đối với học sinh Vì ở lớp 3 các em chưa được làm quen với môn học này Bên cạnh đó, học sinh và phụ huynh học sinh chưa dành nhiều thời gian cho môn học Mà chủ yếu đầu tư nhiều thời gian cho môn Toán và môn Tiếng Việt, xem môn Địa lí là môn học phụ Sau khi được phân công dạy môn Địa lí tôi thật sự băn khoăn làm thế nào để học sinh yêu thích, hứng thú môn Địa lí và nhận thấy được tầm quan trọng của môn học đó là cơ sở học tập
ở các lớp trên Đặc biệt là những em yêu thích khối C
Vậy xuất phát từ thực tế và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, sự yêu thích môn học, đáp ứng được mục của tiêu Giáo dục & Đào tạo, tạo ra con người mới, phục vụ cho bản thân, gia đình và xã
hội Với những lý do nêu trên, bản sáng kiến này tôi xin nêu: “Một số kinh
nghiệm để dạy tốt môn Địa lí lớp 4” Một đề tài có thể nhiều giáo viên đề cập tới
song với nhiều giáo viên chưa thật sự quan tâm làm thể nào để dạy tốt môn Địa lí lớp 4 thì rất đa dạng Để môn Địa lí không xa lạ, chán nản với học sinh và làm cho các bậc phụ huynh học sinh đầu tư thời gian cho môn Địa lí nhiều hơn Bản thân tôi muốn góp phần nhỏ bé xây dựng một nền móng vững chắc cho đất nước từ những lớp học sinh hoàn thiện về mặt tri thức và nhân cách Vì có thể biết nhiều,
có quan tâm thì các em mới yêu mến quê hương đất nước, yêu những gì mà thiên nhiên ban tặng cho con người Từ các em sẽ tích cực tự nguyện tham gia góp phần bảo vệ môi trường và trân trọng giữ gìn những thành tựu kinh tế đất nước
Để tự hào rạng danh nước Việt, sánh vai với các cường quốc năm châu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra các biện pháp tối ưu nhất giúp cho học sinh học tốt môn Địa Lí lớp 4
Bổ sung nguồn tư liệu quý báu cho các thầy cô có đủ các kiến thức bổ sung cho hành trang dạy học của mình
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Một số kinh nghiệm để dạy tốt môn Địa lí lớp 4
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện có hiệu quả kinh nghiệm trên chúng tôi đã sử dụng các
phương pháp như:
- Phương pháp nghiên cứu
Trang 2- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp đối chứng , thực nghiệm
- Phương pháp tổng hợp
Phần II NỘI DUNG
1 Thực trạng tình hình
Trường TH Chúng tôi là trường đóng tại trung tâm thành phố Một số gia đình tất bận với công việc hàng ngày, bận rộn với công việc nên đã vô tình chỉ chú trọng đến các môn học Toán và Tiếng Việt, ít có thời gian và xem môn Địa lí là môn học phụ
- Qua một thời gian giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng chất lượng học sinh không đồng đều Một số học sinh ít được tiếp xúc về thế giới bên ngoài nên các em phân tích bảng số liệu, đọc và chỉ bản đồ, lược đồ còn lúng túng, thậm chí
có học sinh chưa biết chỉ đúng bản đồ, lược đồ
- Học sinh lớp 4 lần đầu tiên được tiếp thu kiến thúc mới đối với môn Địa lí,
- Học sinh lần đầu tiên được làm việc nhiều với bản đồ, lược đồ, tranh ảnh
để tìm hiểu nội dung của bài
- Việc quan sát các sự vật, hiện tượng địa lí, tìm tòi tư liệu, cách trình bày kết quả bằng lời nói, cách diễn đạt còn hạn chế và sơ sài
- Việc quan sát, phân tích số liệu trên bản đồ, lược đồ, kỉ năng chỉ bản đồ còn rất lúng túng
- Chất lượng của mỗi lớp không đồng đều, một số học sinh nhận thức chưa cao nên việc tiếp thu bài còn chậm
- Một số giáo viên chưa thật mặn mà và yêu thích môn học, việc đổi mới các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh còn hạn chế và chưa mạnh dạn, chưa tuyên truyền sâu rộng đến tận các bậc phụ huynh và các em học sinh nên chưa làm cho các em thật sự yêu thích môn Địa lí
- Sự hiểu biết, cập nhật các thông tin về dân số, kinh tế, chính trị xã hội cũng
là một vấn đề mà mỗi giáo viên giảng dạy Địa lí cần phải qua tâm
2 Nhận thức mới
Xuất phát từ thực trạng trên thì việc đầu tiên người giáo viên cũng phải nhận thức được tầm quan trọng của môn Địa lí, để giúp học sinh cũng như các bậc phụ huynh thật sự nhận thức được môn Địa lí nó không kém phần quan trọng so với môn Toán và môn Tiếng Việt Cụ thể giáo viên cần:
Trang 3- Xác định môn Địa lí có những nội dung kế thừa của môn TNXH lớp 1,
2, 3
- GV cần tìm hiểu nội dung chương trình TNXH lớp 1, 2, 3 Qua đó, nắm nội dung nào các em đã học để giảng dạy không trùng lặp
- Từ những nội dung đã học giáo viên truyền thụ sâu hơn tránh nhàm chán cho học sinh
- Lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, tìm ra những điểm học sinh còn hạn chế để có thể giúp học sinh học tốt
- Việc hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích số liệu trên bản đồ, lược đồ,
kỉ năng chỉ bản đồ cũng là phần vô cùng quan trọng đối với học sinh.Vì nếu quan sát, phân tích bản đồ, lược đồ, phân tích số liệu không chính xác thì dẫn đến không hiểu gì về các yếu tố địa lí
3 Một số giải pháp thực hiện:
3.1 Xác định đầy đủ mục tiêu từng bài.
Vì sao chúng tôi đề cập tới vấn đề đơn giản này Tuy trong SGV đã có những mục tiêu cụ thể nhưng giáo viên rất dễ dạy thiếu mục tiêu hoặc chưa biết phải dạy
như thế nào Ở đây, tôi đề cập hai vấn đề trong mục tiêu khi dạy Địa lí:
a) Mục tiêu về mối quan hệ giữa các yếu tố địa lí, giữa tự nhiên với hoạt
động sản xuất, giữa tự nhiên với sinh hoạt của con người.
Khi nói tới Địa lí, chúng ta phải nghĩ đến điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh
tế xã hội Điều kiện tự nhiên chính là vị trí giới hạn, sông ngòi, khí hậu, địa hình
… Điều kiện kinh tế xã hội là nói tới con người Hai điều kiện này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Ngoài ra, ở điều kiện tự nhiên còn có mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau Và mối quan hệ này được thể hiện rất nhiều trong chương trình Địa lí lớp 4 Vậy làm thế nào để nói được mối quan hệ này ?
Thực ra, để dạy về mối quan hệ này không khó vì chương trình lớp 4 chỉ yêu cầu xác định mối quan hệ Địa lí đơn giản, không giải thích nhiều, học sinh chỉ cần hiểu, phân tích được vài yếu tố tự nhiên ảnh hưởng lẫn nhau còn mức độ cao hơn các em sẽ được học ở chương trình Địa lí cấp II
Ví dụ
+ Mối quan hệ giữa vị trí với khí hậu
- Vị trí địa lí sẽ ảnh hưởng tới khí hậu như vị trí nước Việt Nam kéo dài từ Bắc xuống Nam, nằm trong vòng đai nhiệt đới, phía Đông giáp biển Đông vì vậy
sẽ có khí hậu nhiệt đới gió mùa
+ Mối quan hệ giữa vị trí, khí hậu, thực vật, động vật
- Miền bắc có bốn mùa, Miền nam có 2 mùa …
Trang 4- Hoặc vì sao Đồng bằng Bắc Bộ không có nước mặn xâm nhập, đồng bằng Nam bộ thường có nước mặn xâm nhập
- Vị trí của thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên nên có khí hậu lạnh, mát
mẻ hơn thành phố Huế và nó trồng những loại cây phù hợp với khí hậu lạnh đó mà những vùng khác, thành phố khác không trồng được
+ Mối quan hệ giữa sông ngòi với địa hình :
- Địa hình miền Trung nhỏ, hẹp nên đa số sông miền Trung ngắn, dốc
+ Mối quan hệ giữa tự nhiên với kinh tế
- Nước ta có khí hậu nhiệt đới phù hợp phát triển các loại cây ăn qủa
* Như vậy qua những ví dụ cụ thể trên giáo viên có thể hình dung được các mối quan hệ Địa lí đơn giản Tùy theo mục tiêu từng bài, giáo viên sẽ chốt
kĩ những mối quan hệ này Nếu những bài dạy đầu tiên giáo viên giúp các em xác định những mối quan hệ Địa lí đơn giản thì những bài sau sẽ rất nhẹ nhàng vì học sinh đã quen đã hiểu và các em tự phân tích được ngay.
b Khắc sâu, mở rộng kiến thức sau mỗi họat động dạy
Nếu giáo viên chỉ dạy những gì trong SGK và SGV thể hiện thì chưa đủ Vì chỉ dạy những gì trong sách thì chưa thấy được vai trò của giáo viên Trong sách có sẵn câu hỏi, phần trả lời, học sinh chỉ cần xem là làm được Vậy vai trò giáo viên phải làm gì ?
Trước hết, chúng ta cần xác định dạy môn TNXH nói chung và Địa lí nói riêng là cung cấp thêm cho các em một số vốn sống phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của các em Trẻ nhỏ thì mau quên nhưng cũng rất “ tò mò”, thích khám phá
Vì vậy, trong qúa trình giảng dạy giáo viên chốt sâu kiến thức sẽ giúp các em hứng thú tìm tòi, yêu thích môn học hơn Để làm được điều này, trước tiên giáo viên cần tham khảo sách, báo tư liệu, tranh ảnh … liên quan đến nhiều môn chứ không riêng môn Địa lí Cập nhật kiến thức thường xuyên như một thói quen thì lúc đó chúng ta sẽ nhớ lâu hơn Tuy nhiên khi khắc sâu hay mở rộng kiến thức phải có sự lựa chọn, đảm bảo tính chính xác, bám sát vào nội dung bài đang dạy tránh sa đà đi quá mục tiêu bài
Ví dụ :
- Bài Hoạt động sản xuất của người dân ở Hoàng Liên Sơn (tr.76 / Sách
LS-ĐL lớp 4) Trong bài cho biết người dân xẻ sườn núi san thành những bậc phẳng gọi là ruộng bậc thang, như vậy chỉ cho thấy người dân làm ruộng bậc thang GV cần chốt kĩ hơn, vì sao phải làm ruộng bậc thang mà không làm như ruộng ở đồng bằng vì địa hình ở đây dốc nếu làm như ở đồng bằng khi tưới nước sẽ chảy xuống thấp hết, lúa sẽ chết, còn ruộng bậc thang, từng bậc phẳng sẽ giữ lại nước cho cây
- Bài thành phố Đà Nẵng ( tr.147 /SGK lớp 4 ) Trong sách cho biết Đà Nẵng
là trung tâm công nghiệp có một số hàng đưa đi nơi khác như vật liệu xây dựng, đá
Trang 5mĩ nghệ, vải may quần áo, hải sản ( đông lạnh, khô ) Nếu chỉ như thế thì học sinh rất khó hình dung trung tâm công nghiệp Sau này khi học về một vùng một miền nào đó cũng có những sản phẩm như thế các em sẽ cho đó là trung tâm công nghiệp Muốn vậy, giáo viên cần nêu thêm tại Đà Nẵng có rất nhiều nhà máy chế biến, đưa thêm số liệu cụ thể để tăng sức thuyết phục là trung tâm công nghiệp hơn
3.2 Nắm vững kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ, bảng số liệu.
Đồ dùng dạy học không thể thiếu trong giảng dạy môn Địa lí là bản đồ, lược
đồ, tranh ảnh, báng số liệu … Vì bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào các phương pháp toán học, phương pháp biểu hiện bằng kí hiệu để thể hiện các thông tin về Địa lí
Do đó, giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ cần chính xác và hiệu qủa để khai thác kiến thức mới Có lẽ, giáo viên cũng đã nắm được trình tự sử dụng bản đồ nhưng tôi cũng xin nhắc lại các bước :
Bước 1 : Nắm được mục đích làm việc với bản đồ
Tức là đọc tên bản đồ, để biết nội dung sử dụng cung cấp kiến thức gì cho bài học Bước này không khó, giáo viên cần lưu ý khi tự vẽ thêm bản đồ thì phải có tên bản đồ ( có thể viết trên hoặc viết ở dưới )
Bước 2 : Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Đọc bảng chú giải, kí hiệu nào cho biết thông tin gì Ví dụ : đường đứt khúc chỉ ranh giới giữa các tỉnh, cây dù chỉ bãi biển, chấm tròn chỉ thành phố …
Bước 3 : Tìm vị trí Địa lí của đối tượng trên bản đồ.
Đây chính là bước kĩ năng chỉ bản đồ Ở bước này giáo viên cũng như học sinh thường chỉ không chính xác do không thường xuyên chỉ bản đồ nên dễ lúng túng Chỉ bản đồ có các cách chỉ sau :
• chỉ điểm ( thành phố , khoáng sản, … )
• chỉ đường ( sông, dãy núi, … )
• chỉ vùng ( chỉ vị trí giới hạn của tỉnh, thành phố, …)
+ Một số thao tác khi chỉ các biểu tượng địa lí :
- Chỉ về một địa danh, một thành phố, một tỉnh… Nếu là bản đồ hành chính thì sẽ có ranh giới giữa các nước, các thành phố, tỉnh GV chỉ theo đường ranh giới , bắt đầu ở điểm nào thì kết thúc ở điểm đó của một châu lục, một nước, một thành phố, một tỉnh muốn chỉ Nếu là bản đồ tự nhiên thì thường một thành phố được kí hiệu bằng dấu chấm tròn, GV chỉ ngay vào chấm tròn là thành phố, hoặc chỉ các phương tiện đi lại của các vùng miền ( Xem chú giải trên bản dồ, lược đồ)
Trang 6- Chỉ về biển , sông ngòi, Đại dương khi chỉ kéo rộng trong giới hạn của nó không lấn vào đất liền Biển, sông, dãy núi chỉ theo hướng từ thượng lưu đổ xuống
hạ lưu, từ nơi cao ( độ cao của địa hình ) xuống nơi thấp
Bước 4 : Quan sát đối tượng trên bản đồ, nhận xét và nêu đặc điểm
đơn giản của đối tượng ( khai thác một phần kiến thức mới )
- Ví dụ : Khi chỉ vị trí của nước Việt Nam, nhận xét vị trí nước ta kéo dài từ
Bắc xuống Nam, nằm phía cực Nam
- Bài Đồng bằng Nam Bộ, quan sát và chỉ lược đồ xong, học sinh có thể nhận xét ngay là hệ thống sông ngòi nhiều, chằng chịt
- Bài địa hình nước ta, dựa vào màu sắc học sinh nhận xét được ngay đồi núi nhiều hơn đồng bằng
- Bài Người dân ở đồng bằng Nam Bộ, quan sát, nhận xét trang phục của người dân ở dồng bằng Nam Bộ…
Bước 5 : Xác lập mối quan hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố tự nhiên
- Ví dụ: Khi học sinh chỉ được vị trí nước ta, phía Đông giáp biển Đông,
đường bờ biển kéo dài như thế thì sẽ thuận lợi để phát triển ngành nào? (đánh bắt thủy hải sản ) Đó chính là mối quan hệ giữa vị trí địa lí và hoạt động sản xuất
* Một số lưu ý :
- Tư thế khi thao tác là mặt quay xuống phía học sinh, có thể đứng bên trái hay bên phải tùy thuộc GV thuận tay nào
- Sử dụng dụng cụ chỉ bản đồ, không dùng tay thao tác
- Giới thiệu biểu tượng muốn chỉ rồi thao tác, hoặc thao tác trước rồi giới thiệu biểu tượng, tránh vừa thao tác vừa giới thiệu rất dễ sai
- Bản đồ, lược đồ khi treo trên bảng cần đủ lớn để tất cả học sinh có thể quan sát được( trường hợp nhỏ phát về nhóm cho các em tự quan sát )
- Giáo viên và học sinh nên thường xuyên thao tác trên bản đồ để giúp học sinh nhuần nhuyễn khi lên học lớp trên
4 Những kết quả đạt được
Qua thời gian áp dụng của đề tài tại trường tôi đang dạy thì kết quả kiểm chúng như sau:
Trang 71 KẾT QUẢ CỦA CÁC LỚP SAU KHI TÔI THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP DẠY
HỌC ÁP DỤNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ NHƯ SAU.
LỚP 4/1, 4/4, 4/6 NĂM HỌC 2017-2018
Bảng 1(Trang sau):
TT Họ tên học sinh
Nhóm Thực Nghiệm (Lớp 4A năm học 2012-2013)
Họ tên học sinh
Nhóm Đối Chứng (lớp 4A năm học2011-2012) KT
đầu năm
KT trước tác động
KT sau tác động
KT đầu năm
KT trước tác động
KT sau tác động
2 Cao Phương Dung 5 10 10 Vi Đình Công 8 9 10
5 Lương Trung Hiếu 5 8 10 Nguyễn Bá Hải 4 6 6
6 Vi Thị Thùy Lân 10 6 10 Lô Thị Mỹ Hạnh 6 7 9
8 Ng Thị Ánh Ngân 7 7 10 Phan Đăng Hiền 5 4 6
13 Vi Xuân Quỳnh 7 8 10 Nguyễn Đình Lộc 7 8 6
14 Vi Thị Diệu Thúy 7 7 10 Vi Hồng Nhung 4 5 4
15 Lô Thanh Tú 7 7 10 Ng Xuân Nghĩa 8 8 10
16 Vi Ngọc Trung 8 9 10 Trần Thu Nguyệt 10 9 10
18 Vi Thị Ngọc Uyên 8 8 10 Trương Thị Quỳnh 10 9 10
22 Nguyễn Thành Đạt 9 10 10 Ng Minh Cảnh 8 9 7
23 Lê Thị Thu Hiền 7 9 10 Trương Văn Cường 9 9 7
24 Phạm Thúy Hoài 6 8 8 Cao Thị Mỹ Duyên 9 9 7
27 Lê Thị Khuyên 7 8 10 Nguyễn Thị Huyền 8 8 9
Trang 8Giá trị trung
bình(average) 7.00 7.48 9.33 6.90 7.28 7.69
Độ lệch
Giá trị p(ttest) độc
lập 0.815 0.613 0.0003
Giá trị p(ttest) phụ
Mức độ ảnh
Bảng 2
TT Họ tên học sinh
Nhóm Thực Nghiệm (Lớp 4B năm học 2012-2013)
Họ tên học sinh
Nhóm Đối Chứng(lớp 4A năm học 2011-2012) KT
đầu năm
KT trước tác động
KT sau tác động
KT đầu năm
KT trước tác động
KT sau tác động
1 Vi Thị Bích 10 10 10 Đinh Xuân Chung 7 7 7
8 Vi T Khánh Huyền 7 8 10 Phan Đăng Hiền 5 4 6
10 Tr Khánh Nguyên 5 8 8 Vi Ngọc Hoàng 5 6 7
13 Vi Hồng Phượng 6 7 9 Nguyễn Đình Lộc 7 8 6
14 Vi Hồng Quyên 7 8 10 Vi Thị Hồng Nhung 10 9 10
15 Trương Đức Thành 7 8 10 Nguyễn Xuân Nghĩa 8 8 10
16 Vi Thị Hồng Thắm 7 8 10 Trần thị Thu Nguyệt 10 9 10
18 Vi Văn Thương 8 9 10 Trương Thị Quỳnh 4 5 4
21 Ng Đình Lê Tuân 5 5 8 Vi Thị Thanh Thủy 7 7 7
22 Lang Thị Kim Chi 10 8 10 Nguyễn Minh Cảnh 8 9 10
24 Hồ Văn trình 6 7 10 Cao Thị Mỹ Duyên 9 9 9
27 Trần Thanh Xuân 3 3 5 Nguyễn Thị Huyền 8 8 9
28 Phạm Thị Thành 7 7 10 Hồ Thị Huyền 8 9 10
Trang 9Giá trị trung
bình(average) 6.79 7.11 9.29 6.90 7.28 7.69
Độ lệch
Giá trị p(ttest) độc
lập 0.794 0.658 0.001
Giá trị p(ttest) phục
Mức độ ảnh
2 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ:
Bảng 3: So sánh điểm trung bình và bài kiểm tra sau tác động
Số học sinh trung bình Giá trị chuẩn(SD) Độ lệnh
Nhóm thực
nghiệm
Lớp 4A
Lớp 4B
Nhóm đối
chứng
Lớp 4A
Từ bảng 3 ở trên cho thấy, điểm TB bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm lớp 4A là 9.33 (SD=1.24) và lớp 4B là 9.29 (SD= 1.30) so với nhóm đối chứng lớp 4A là 8.086 (SD=1.245) Điều này cho thấy nhóm thực nghiệm ở hai lớp 3A và lớp 4B trong năm học 2012-2013 đạt kết quả cao vượt trội so với nhóm đối chứng lớp 4A năm học 2011-2012
3 SO SÁNH DỮ LIỆU:
a, Phép kiểm chứng ttest độc lập:
Bảng 4
Giá trị P Giá trị trung bình của hai nhóm
Từ bảng trên dựa và kết quả của phép kiểm chứng t-test độc lập giúp chúng
ta xác định được độ chênh lệch giữa giá trị trung bình của hai nhóm khác nhau như sau:
Dựa vào bảng 1 ta có P = 0.0003 và so sánh với bảng 3 thì ta thấy P=0.0003
<0.05 và dựa vào bảng 2 ta có P = 0.001 và so sánh với bảng 3 thì ta thấy P =
Trang 100.001<0.5cho thấy chênh lệch giá trị trung bình giữa kết quả kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm ở hai lớp 4A và 4B năm học 2012-2013với nhóm đối chứng lơp 4A năm học 2011-2012 là có ý nghĩa
b, Phép kiểm chứng ttest phụ thuộc (theo cặp):
+ Từ bảng 1 ta thấy lớp 4A năm 2012-2013 có giá trị trung bình kết quả kiểm tra sau tác động tăng so với kết quả kiểm tra trước tác động của nhóm thực nghiệm( 9.33 – 7.48 = 1.86 điểm) P = 0.000000001 < 0.05 cho thấy chênh lệch này có ý nghĩa (không xảy ra ngẫu nhiên)
+ Từ bảng 2 ta cũng thấy lớp 4B năm 2012-2013 có giá trị trung bình kết quả kiểm tra sau tác động tăng so với kết quả kiểm tra trước tác động của nhóm thực nghiệm( 9.29 – 7.22 = 2.07 điểm) P = 0.0000001< 0.05 cho thấy chênh lệch này
có ý nghĩa (không xảy ra ngẫu nhiên)
Phân tích tương tự với nhóm đối chứng, giá trị trung bình kết quả kiểm tra sau tác động tăng so với kết quả kiểm tra trước tác động (7.69 – 7.28 = 0.41điểm)
p = 0.178 > 0.05 cho thấy chênh lệch không có ý nghĩa (nhiều khả năng xảy
ra ngẫu nhiên)
c, Mức độ ảnh hưởng:
Mặc dù đã xác định được chênh lệch điểm TB là có ý nghĩa, chúng ta vẫn cần biết mức độ ảnh hưởng của tác động lớn như thế nào?
Bảng 5
SMD(Giá trị ES) Ảnh hưởng
Căn cứ vào kết quả mức độ ảnh hưởng ở bảng 1 và bảng 2 ta thấy mức độ ảnh hưởng của lớp 4A và 4B năm học 2012-2013 so với lớp 4A năm học
2011-2012 thì:
Lớp 4A: ES= 0.87 so với bảng 5 thì ta thấy mức độ ảnh hưởng ở mức lớn Lớp 4B: ES = 0.84 so với bảng 5 thì ta thấy mức độ ảnh hưởng ở mức lớn
5 Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của sáng kiến kinh nghiệm: