1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÀI THI TÌM HIỂU 70 nam cong binh 2015

33 198 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 639 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954 này nhiệm vụ đó còn khó khăn gấpbội vì đèo cao, suối sâu, thác dữ Lũng Lô, Pha Đin, Nậm Na, Ngòi Lao, Ngòi Sập.Kết quả: Sau gần 8 tháng lao động gian khổ

Trang 1

BÀI THI TÌM HIỂU PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG 70 NĂM MỞ ĐƯỜNG THẰNG LỢI

CỦA BỘ ĐỘI CÔNG BINH VIỆT NAM ANH HÙNG Câu hỏi 1: Đồng chí cho biết hoàn cảnh ra đời của Bộ đội Công binh Việt Nam ?

- Ngày 23 tháng 9 năm 1945, giặc Pháp nổ súng ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiếntranh xâm lược nước ta một lần nữa Xứ ủy và ủy ban Nam bộ họp tại Cây Mai (ChợLớn) ngay trong buổi sáng ngày 23 hạ quyết tâm kháng chiến và điện báo cáo lênTrung ương và Chính phủ lâm thời:

1 Lập ủy ban kháng chiến để lo việc quân sự

2 Hạ lệnh tổng đình công và bất hợp tác với người Pháp

3 Truyền đi lục tỉnh thi hành kế hoạch phá hoại đường giao thông tiếp tế để baovây quân địch

- Cuối tháng 10 năm 1945, quân Pháp được tăng viện, đánh rộng ra toàn Nam

- Ờ Đà Nẵng, ủy ban quốc phòng Đà Nẵng đã tổ chức đội phá hoại Lúc đầu đội

có khoảng 20 người, do công đoàn cử sang, một tuần sau quân số đã tăng lên khoảng

100 người, do đồng chí Thái Văn Túc làm đội trưởng Nhiệm vụ của đội là chuẩn bịphá hoại một số mục tiêu như Nhà Đèn, cẩu Thủy Tú, cầu Cẩm Lệ trang bị của độichỉ có một sô mìn, đạn pháo lấy được của Pháp, Nhật để lại, một số thuốc nổ bêncông chính giao cho Đồng chí Túc mua được một quyển sách viết về Công Binhbằng tiếng Pháp Đầu năm 1946, đội phá hoại Đà Nẵng chuyển thuộc chi đội Vệ quốcđoàn Quảng Nam (chi đội 1) và được gọi là Đại đội công binh Một trung đội phụtrách Đà Nẵng, hai trung đội phụ trách Quảng Nam Đồng chí Túc là trưởng banCông Binh thuộc chi đội 1 kiêm chỉ huy Đại đội công binh

- Ở Huế, sau cách mạng tháng Tám, ta đã thành lập chi đội Vệ quốc đoàn mangtên Trần Cao Vân, đồng thời thành lập các phân đội chuyên môn Đồng chí Đào HữuLiêu, một cán bộ " thanh niên tiền tuyến", chuyên viên kỹ thuật công chính đươc giaonhiệm vụ thành lập phân đội 16 công binh và được cử làm trường Ban công binhThừa Thiên - Huế Ngày 15 tháng 9 tuyển quân, ngày 21 tháng 9 chính thức thành lậpvới số quân khoảng 40 người, phần lớn là thợ mộc, thợ nề, học sinh trường kỹ nghệ.Đồng chí Nguyễn Ngưu là phân đội trưởng, đồng chí Lê Vừa là phân đội phó

- Cuối năm 1945, phân khu Trị Thiên được thành lập, Ban công binh ThừaThiên - Huế chuyển thành Ban công binh Trị - Thiên Phân đội 16 tách một tiểu đội

ra thành phân đội Công binh Quảng Trị

- Phân đội công binh Huế thành lập ngày 21 tháng 9 năm 1945 là phân đội côngbinh đầu tiên, Ban công binh Thừa Thiên Huế là cơ quan chỉ đạo công binh đầu tiêntrong Quân đội ta

Trang 2

- Ở Nam Bộ, quân và dân các địa phương tiếp tục phá đường, đắp ụ, làm vật cảntrên sông để chặn bước tiên của địch ở mặt trận Tân Hưng (Cà Mau) Cuối tháng 3năm 1946, ta huy động trên 1.000 ngưòi, nòng cốt là tự vệ, du kích và hàng trăm

xuồng, ghe để làm cản chặn tàu địch Ngày 11 tháng 3 bộ đội và nhân dân Chợ Lớn chặn đánh đoàn tàu địch trên sông Cần Đước, đánh chìm 1 tàu, 3 sà lan, 3 ghe lớn,

diệt 17 tên địch.

Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL,

chiểu theo Quyết định của Bộ Quốc Phòng thành lập các Cục chuyên môn trong đó

có Công chính giao thông cục

Điều 13 trong sắc lệnh quy định: " Công chính Giao thông Cục có nhiệm vụ tổ

chức và thi hành việc vận tải, thông tin vẽ bản đồ và tổ chức công binh dùng vào việcchuyên môn: cầu cống, đường sá, máy móc

Khi thành lập, Công chính Giao thông Cục là cơ quan phục vụ quân sự, cónhiêu kỹ thuật chuyên ngành, sau một thời gian ngắn, Công chính Giao thông Cụcchuyển dần thành cơ quan chỉ đạo lực lượng Công Binh toàn quân

Ngày 25 tháng 3 năm 1946 đánh dấu sự ra đời của Binh chủng Công binh Quânđội nhân dân Việt Nam Từ đó, ngày 25 tháng 3 năm 1946 hàng năm trở thành ngàytruyền thống của Bộ đội Công binh Việt Nam

Câu hỏi 2: Bộ đội Công binh Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ? Tình cảm của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp dành cho Bộ đội Công binh?

1 Bộ đội Công binh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:

Ngày 19 tháng 12 năm 1946 chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với nội dung: ” Hỡi đồng bào toàn quốc - Chúng ta muốn hòa bình,

chúng ta đã nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấntới Vì chúng quyết tâm cướp Nước ta một lần nữa Không chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ ”

Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Hà Nội, Sài Gòn và các thành phố ở khắp các Miền vùng trong cả nước thực hiện

+ Công binh khu 9 hướng dẫn nhân dân xây dựng trận địa vật cản, đánh tàu địch

ở căn cứ u Minh năm 1948

+ Du kích đường 5 làm mìn chặn đánh đoàn xe lửa cùa địch năm 1946

+ Công binh Thủ Dầu Một chôn địa lôi, đánh địch tháng 3 năm 1947

+ Quân và dân Quân khu 3 bố trí hầm chông phục kích đánh địch năm 1950

1947-+ Anh hùng Núp cùng du kích cắm chông, bảo vệ buôn làng 1945-19547

+ Công binh Nam Bộ chế tạo thủy lôi, đánh địch trên sông năm 1949-1950

Từ năm 1949 đến đầu năm 1950, bộ đội công binh đã tham gia nhiều chiến dịchnhỏ, như chiến dịch Sông Thao, chiến dịch Sông Lô, chiến dịch Lê Hồng Phong,

Trang 3

chiến dịch Lê Lợi, chiến dịch Phan Đình Phùng Kết quả từ năm 1949 - 1950, bộ độiCông binh đã tham gia 43 trận công đồn, 117 trận phục kích, phá 96 cầu hậu phương,

12 cầu sát địch

Buớc sang năm 1950, NƯỚC VIỆT NAM DẤN CHÚ CỘNG HÒA đã giành

được những thắng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao và quân sự, sức mạnh và uy tíncủa Việt Nam được tăng cường rõ rệt

Bộ Chính trị quyết định mở các chiến dịch:

-Chiến dịch Biên Giới tháng 7 năm 1950

-Chiến dịch Trung Du (Trần Hưng Đạo) tháng 12 năm 1950

-Chiến dịch Hoàng Hoa Thám tháng 3 năm 1951

-Chiến dịch Quang Trung ( Hà Nam Ninh) tháng 3 năm 1951

-Chiến dịch Hòa Bình năm 1952

Nhiệm vụ của Bộ đội Công binh:

-Bảo đảm cơ động, làm bến bảo đảm vượt sông, sửa đường, làm đường, bắccầu, làm công sự phòng ngự, kiến lập căn cứ địa

Tại Hội nghị Công binh toàn quốc lần thứ 3 (24-3-1950), bộ đội Công binh rất vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp về dự, Đại tướng nói " Nhìn lại mấy

năm kháng chiến, bộ đội Cồng binh đã có rất nhiều tiến bộ và gây dựng được thành tích, có nhiều ưu điểm trong việc tác chiến hiệp đồng và xây dựng Các chiến sĩ Côngbinh đã góp phần rất lớn và quan trọng vào các chiến công oanh liệt của quân đội ta Chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước tinh thần bất diệt của các đồng chí Công binh xung kích đã anh dũng hy sinh mở đường ”

Huấn thị của đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ củaCông binh, có giá trị lý luận và thực tiễn rất quan trọng, lâu dài đối với công cuộc xâydựng, phát triển lực lượng và thực hiện nhiệm vụ Công binh sau này

+ Tiểu đoàn 333 Công binh, ghép phà tre nứa chở ô tô qua sông Bằng trongchiến dịch Biên giới năm 1950

+ Bộ đội Công binh sửa cầu Bắc Cạn phục vụ chiến dịch Biên giới 1950

+ Đại đội Công binh 313, 314 và 270 đưa bộ đội vượt sông Đà trong chiến dịchHòa Bình năm 1952

+ Công binh trung đoàn 151 cùng nhân dân Ninh Bình dùng thuyền nan bảo đảmvượt sông Đáy đánh địch trong chiến dịch Quang Trung (Hà Nam Ninh) năm 1951

+ Bộ đội Công binh bảo đảm vượt sông trong chiến dịch Tây Bắc năm1952

Trường trung cấp Công bịnh phối hợp với tiểu đoàn 333 bẳc câu Phục Hòa Đông Khê trong chiến dịch Cao - Bắc - Lạng tháng 9 năm 1950

-+ Bộ đội Công binh, phóng bom đánh đồn Đại Bục, mở đường trong chiến dịchTây Bắc năm 1952

+ Đại đội công binh 313, tiểu đoàn 444 bắc cầu phao tre nứa cho xe pháo và bộbinh qua sông Đà, trong chiến dịch Hòa Bình năm 1952

+ Đội phá bom 83, trung đoàn 151 tham gia chiến dịch Tây Bắc năm 1952

+ Công binh khu 7 dùng thủy lôi tự chế, đánh chìm tàu Xanh Lu Be trọng tải7.000 tấn trên sông Lòng Tàu tháng 5 năm 1950

Kết quả:

Khi kêt thúc chiến dịch Hoà Bình Đại đội 314, 313, 270 và Trung đoàn 151,

Trang 4

được Bác Hồ tặng thưởng: Cờ liên tục vượt Sông Đà; Cờ dũng cảm vượt Sông Đà;

Và bảo đảm đường tiếp tế Hòa Bình

Khi kết thúc chiến dịch Tây Bắc năm 1952 Trung đoàn 151 được tặng thưởng

cờ “Mở đường thắng lợi”: có thể nói Trung đoàn 151 là một đơn vị đầu tiên của

Quân đội được tặng cờ "Mở đường thẳng lợi".

Nhiệm vụ của bộ đội Công binh trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954:

Bảo đảm giao thông (làm đường, sửa đường, bắc cầu ) trên các trục đườngquan trọng Chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954 này nhiệm vụ đó còn khó khăn gấpbội vì đèo cao, suối sâu, thác dữ (Lũng Lô, Pha Đin, Nậm Na, Ngòi Lao, Ngòi Sập).Kết quả: Sau gần 8 tháng lao động gian khổ các lực lượng Công binh đã đào đắpđược hàng triệu mét khối đất đá; bắc được 1.100 chiếc cầu cống; mở thông nhiềutuyến đường và phá được 109 nghềnh thác trên sông Nậm Na

Nhiệm vụ của bộ đội Công binh:

- Mở, sửa chữa đường, phá núi, bắc cầu, xây dựng công sự cho pháo, tháo gỡbom, lấp hố bom, phá thác, vượt ghềnh, xây dựng sở chỉ huy

- Để thực hiện nhiệm vụ này Trung đoàn Công binh 151, đóng vai trò chủ đạokết hợp với các đơn vị và công nhân giao thông bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ.+ Công binh và Pháo binh mở đường, kéo pháo vào chiến đấu trong chiến dịchĐiện Biên Phủ

+ Đại đội 54, tiểu đoàn 106 xây dựng hầm cho pháo ở Bản La

+ Tiểu đoàn 444, ngụy trang cho pháo 105 ly vào Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo.+ Công binh tiểu đoàn 106, mờ đường qua đèo Lũng Lô, phục vụ chiến dịchĐiện Biên Phủ năm 1953-1954

+ Tổ quan sát bom của trung đoàn 151 trong chiến dịch Điện Biên Phủ

+ Trung đoàn 151 làm tời cho bộ đội kéo pháo 105 ly, dùng hương đốt đê lấyánh sáng dẫn đường trên dây Pú Hồng Mèo

+ Đại đội (53, 54), tiểu đoàn 106 dùng gỗ xây dựng hầm cho pháo trên dãy PúHồng Mèo năm 1954

- Đến tháng 3 năm 1954, bộ đội Công binh đã mở được 6 tuyến đường, tổng

chiều dài 63 km, bẳc 26 cầu các loại tổng chiều dài 233m, làm 18 ngầm, 100 kè, tồngkhối lượng các trục đường này là lên tới trên 100.000 m3 đất, 5.000m3 đá phải đàođẳp Ngày 5-3-1954, khi mọi công việc đã chuẩn bi hoàn tất, BCT quyết định nồ súng

mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ

- 17 gìờ ngày 13-3-1954 đến ngày 17-3-1954, ta tổ chức tấn công Him Lam, ĐộcLập và nhanh chóng giành thẳng lợi vì có sự chuẩn bị chu đáo Bộ chỉ huy chiến dịch

có thư khen “Đội Công binh mở đường thắng lợi, suốt mùa hè không nghỉ giữ vững giao thông, không có con đường ấy không có chiến dịch này” Trung đoàn 151 nhận

cờ “Quyết chiến, quyết thắng”

Ở đồi A1 cuộc chiến đấu giữa ta và địch kéo dài 1 tháng, để tiêu diệt toàn bộquân địch ờ Điện Biên Phủ Bộ chỉ huy mặt trận, thông qua phương án đào hầm, đưalượng thuốc nổ lớn vào phá công sự kiên cố của địch trên đồi Al Công việc giao chotrung đoàn Công binh 151, một phân đội đặc biệt gồm 20 đồng chí, cán bộ, chiến sĩ

do đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung phụ trách

Đêm 20-4-1954 việc đào hầm bắt đầu:

Trang 5

- Việc mở cửa hầm vô cùng khỏ khăn, địch liên tục ném lựu đạn, bắn như vãiđạn ra xung quanh, kiềm soát mọi hoạt động của ta Mặt cắt rộng và cao khoảng90cm, khi chui vào sâu, thiếu không khí một số đồng chí bị ngất (có chiến sĩ một đêmngất đến 4 -5 lần ) nhưng không một ai nao núng, mà còn nghĩ ra cách nằm nối tiếpnhau, dùng quạt nan quạt vào trong hầm để có thêm dưỡng khí làm việc.

- Sau 15 ngày đêm, đường hầm dài 49m hoàn thành Chiều 4-5-1954 Bộ Chính trịquyết định đưa khối thuốc bộc phá 1000kg vào đồi Al Đúng 20 giờ ngày 6/5/1954khối bộc phá gần l000kg được gây nổ

Khối bộc phá trong lòng đồi Al, ghi nhận một chiến công vô cùng oanh liệt của

bộ đội Công binh với truyền thống Mở đường thắng lợi

Bản thành tích bộ đội Công binh trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Tham gia 8chiến dịch; mở và sửa chữa đường cũ cho xe cơ giới 1295 km ; Bắc 100 cầu gỗ ;Ghép cầu phao tổng chiều dài 2km ; Vượt sông bằng thuyền nan đưa 157.761 người;Phá gỡ 2.832 quả bom các loại; Trực tiếp chiến đấu 225 trận ; Tiêu diệt khoảng 2.465tên địch ; Phá hủy 214 xe các loại, 27 đầu máy xe lửa, 170 toa tầu, 18 tàu thủy + ca

nô và 154 cầu cống

Khen thưởng : Được Chù tịch Hồ Chí Minh tặng 6 lá cờ; Nhà nước tặng 50 huân chương các loại; Nhà nước tuyên dương 5 Anh hùng LLVTND

2 Bộ đội Công binh trong cuộc khảng chiến chống Mỹ cứu nước:

Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị BCHTW Đảng trong phiên họp ngày 5 tháng 9

năm 1954 nhấn manh: “Cần tăng cường xây dựng quân đội nhân dân thành một quân đội chỉnh quy, tương đôi hiện đại Quân đội nhân dân là trụ cột chủ yếu nhất, chắc chắn nhất để bảo vệ Tồ quốc, bảo vệ Hòa bình Do đó việc tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chỉnh phủ và nhân dân ta ”.

- Các đơn vị Công binh cùng nhân dân miền Bắc tham gia xay dựng các côngtrình trọng điểm, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng Chủ Nghĩạ Xã Hội ở miềnBắc Đưa miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, đấu tranh giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước

+Trung đoàn 219 tham gia ngăn sông Hồng, lấy nước chống hạn cứu lúa ở HàĐông năm 1959

+ Trung đoàn 219, 229,239,249 tham gia xây dựng công trinh thủy nông Bắc Hưng - Hải năm 1958

-+ Bộ đội Công binh khắc phục sửa chữa sân bay Nà Sản

+ Chiên sĩ tự vệ vũ trang Cao Lãnh - Kiến Phong thu nhặt bom địch để sản xuất

+ Nhân dân Bến Tre xây dựng làng chiến đấu năm 1963

+ Đồng bào Long An phá cầu ngăn bước tiến của địch năm 1961

+ Du kích Tây Nguyên đặt chông, bảo vệ buôn làng năm 1963

Trang 6

+ Nhân dân thôn Hòa Tân 1 Bình Định đắp ụ, ngăn xe cơ giới của địch năm1964.

+Du kích Củ Chi, Sài Gòn 1 Gia Định làm hầm chông bảo vệ căn cứ năm 1964.+ Công binh Khu 8 báo cáo quyết tâm phá Bến Lức năm 1968

+ Chu Văn Ân, xã đội phó Hiệp Hòa đánh tan 4 xe M-l 13 địch năm 1961

+ Quân giải phóng đặt mìn trên sông Sài Gòn đánh địch năm 1966

Đứng trước âm mưu, hành động của đế quốc Mỹ, ngày 17/7/1966 Chủ tịch Hồ

Chí Minh ra lời kêu gọi “Toàn dân chống Mỹ, cứu nước, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.”

- Ngày 28/6/1965, BQP ra quyết định 102 QP thành lập Bộ Tư lệnh Công binh,đồng chí Phạm Hoàng được bầu làm Tư lệnh

Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức và nhiệm vụcủa Binh chủng, kịp thời đáp ứng tình hình của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước

BQP giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Công binh:

- Trực tiếp bảo đảm giao thông trên hai tuyến đường 7 và 217, sang chiến trườngLào và mở mới, khôi phục đường 6B

- Chỉ đạo các quân khu, bảo đảm giao thông các tuyên đường qua quân khu 4 vàochiến trường miền Nam và sang Lào Hiệp đồng với Bộ Giao thông vân tải, bảođảm các tuyến đường do quân đội phụ trách

Thực hiện nhiệm vụ được giao, lực lượng Công binh nhanh chóng mở rộng vàtriển khai trên các tuyến đường trọng điểm đánh phá của địch Xây dựng các trận địatên lửa Phòng không, sân bay, công sự, hầm pháo tránh máy bay địch, đồng thời xâydựng hầm chỉ huy của lãnh đạo Đảng và Nhà Nước

Bộ đội Công binh cùng toàn quân, toàn dân đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ từ 1968 - 1972.

Trong 6 tháng năm 1972, chúng đã ném xuống miền Bấc gần 15.000 quả thủylôi, mìn từ trường và các loại bom đạn khác Trong 12 ngày liên tục chúng ném hơn16.000 tấn bom , riêng Hà Nội là hơn 10.000 tấn Đây là cuộc tập kích chiến lượcbằng Không quân lớn nhất trong lịch sử chiến tranh

Nhiệm vụ của bộ đội Công binh: Bộ đội Công binh được giao nhiệm vụ cứu sập

ở các trọng điểm Trước tình hình khẩn cấp, Bộ Tư lệnh Công binh tăng cường cho

Hà Nội, Trung đoàn Công binh 289, đội phá bom 93 và đại đội 4 (Trung đoàn 259 B)

-Đại đội Công binh 4 tham gia cứu sập ở bệnh viện Bạch Mai, ga Giáp Bát

-Đội phá bom 93 tháo gỡ bom ở Ngọc Hà

-Trung đoàn Công binh 289 giải quyết hậu quả ở phố Khâm Thiên

Địch thả hàng trăm quả thủy lôi ở Hòn Gai, Cửa Ông - Quảng Ninh, Hải Phòng,Hội An, Sông Gianh Các chiến sĩ Công binh Hải quân, lực lượng tự vệ giao thông đã

rà quét, phá nhiều loại thủy lôi của địch bảo đảm cho các tàu ra vào các cửa sông, bếncảng an toàn

Các đơn vị Công binh đã đem hết sức mình và kỹ thuật chuyên môn góp phầnkhắc phục những hậu quả nặng nề trong cuộc tập kích chiến lược của Đế quốc Mỹ ở

Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác

Bộ đội Công binh tham gia chiến đấu, bảo đảm giao thông mở đường Trường

Trang 7

-Trên mạng lưới giao thông của cả nước thì hệ thống đường bộ dọc Trường Sơn

và đường thủy (đường mòn Hồ Chí Minh trên biển), nối liền Bắc Nam trở thành hệthống vận tải chiến lược quan trọng nhất

- Đường Trường Sơn được khai thông từ tháng 5/1959, chạy theo dãy núi

Trường Sơn, bao gồm cả đường bộ và đường sông Đây là con đường mang tên

“Đường mòn Hồ Chí Minh” gồm 2 trục đường lớn dọc Đông và Tây Trường Sơn.

- Đến đầu năm 1975, con đường trục Trường Sơn từ Quảng Trị đến Đông Nam

Bộ dài 1.200 km đã được làm xong và tính tổng cộng cả hệ thống đường trục vàmạng đường nhánh là 16.000 cây số

- Trên ý nghĩa đó, đường Trường Sơn vừa là tuyến vận tải chiến lược, vừa là

chiến trường chiến đấu ác liệt, là “con đường của ý chí quyết thắng của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng”.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh.

- Thực hiện Nghị quyết 14 của TW Đảng Lao động Việt Nam Bộ Tổng thammưu quyết định mở chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh - chiến dịch có quy mô lớn đầutiên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Quân đội nhân dân Việt Nam

Lực lượng tham gia chiến dịch có 4 Sư đoàn bộ binh, 5 Trung đoàn pháo binh, 3Trung đoàn cao xạ, 4 đại đội xe tăng Lực lượng Công binh có Trung đoàn 7, mộttiểu đoàn thuộc Trung đoàn 219 và đại đội Công binh của các Sư đoàn, Trung đoàn

bộ binh, ở tuyến hậu phương chiến dịch có Trung đoàn 249 Công binh vượt sông đảmnhiệm các bến Gianh, Sa Lung, Xuân Sơn, Long Đại

- Đầu tháng 12/1967, Công binh bước vào chuẩn bị chiến dịch Trung đoàn 7 sửachữa và mở đường chiến dịch dài 137 km với 33 bến lội ngầm, và 39 cống Trong đó

có nhiệm vụ bảo đảm đường trục chiến dịch và các đường nhánh phục vụ cho vậnchuyển tiếp tế, cơ động của Pháo binh, xe Tăng, mở thông Đường 9 từ Hưóng Hóa -Quảng Trị đến Bản Đông (thuộc đất Lào) Trục dọc độc đạo Đưòng 9 là trục giaothông chiến lược quan trọng của chiến dịch, trong khi Trung đoàn Công binh 7 thicông mạng đường chiến dịch thì Trung đoàn Công binh 219 làm SCH chiến dịch tại

Xa Líp

- Toàn bộ khối lượng công trình bộ đội Công binh đã thực hiện xong về cơ bảntrong giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch, đặc biệt là mạng đường chiên dịch đã đượcphát triển Đêm ngày 20/1/1968, bộ đội ta nổ súng tiến công địch ở mặt trận Đường

9, để đối phó với tiến công của ta lúc cao nhất ở mặt trận Đường 9, lực lượng củađịch là 32 tiêu đoàn, có 25 tiểu đoàn Mỹ chiếm 1/4 số tỉểu đoàn chiến đấu của Mỹ ở

miền Nam, và chúng hy vọng tiến hành một “Điện Biên Phủ thứ hai” ở Khe Sanh.

Bộ đội Công binh tham gia chiến dịch Quảng Trị năm 1972.

- Tháng 7/1971, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công với quy mô lớn trênmiền Nam, dự tính thực hiện ba hướng: miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và QuảngTrị - Thừa Thiên

- Quảng Trị và Thừa Thiên là hai tỉnh thuộc miền Trung tiếp giáp với miền BắcXHCN, địa thế hẹp và dài, phía Tây là dải Trường Sơn, phía Đông là Biển Đông Lựclượng Công binh tham gia chiến dịch: gồm 3 Trung đoàn Công binh, trong đó có 2Trung đoàn Công binh công trình 229, 219 và một Trung đoàn Công binh vượt sông

Trang 8

249 cùng nhiều đơn vị Công binh khác.

Nhiêm vu của bộ đội Công binh:

+ Chuẩn bị mạng đường sá cho chiến dịch, các Trung đoàn Công binh trựcthuộc Bộ như Trung đoàn 7, 83, 219, 229, 225, 217 vào mở đường ở khu vực, vùngrừng núi phía Bắc tỉnh Quảng Trị, cùng với các Trung đoàn Công binh thuộc đoàn

559, Công binh QK4 mở và sửa 7 con đường như đường 11, 13 15B, 9A, 9B,đường B70, B75 có tổng chiều dài 214 km Các con đường nối từ hậu phương chiếndịch tiến xuống phía địch ở Quảng Trị

+ Làm SCH chiến dịch: Đặt tại Bắc Hà, phía Bắc của sông Bến Hải, cách phíaTây đường số 1 là l0km, chủ yếu xây hầm và giao thông hào

- Đánh giá công trình chiến dịch ngày 19/12/1972, đồng chí Lê Trọng Tấn - Tưlệnh chiến dịch đã nêu “Công trình đã xây dựng được mạng đường sá đầy đủ nhất sovới các chiến dịch khác Có mạng đường sá ta mới dám sử dụng binh khi kỹ thuật lớnnhư thế này ”

Bộ đội Công binh tham gia bảo đảm chiến dịch Tây Nguyên: Từ ngày 4-24 tháng 3 năm 1975:

- Chiến dịch tiến công Tây Nguyên, mờ đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùaxuân năm 1975 Kế hoạch chiến dịch, lúc đầu là tiến công giải phóng 3 tỉnh ở NamTây Nguyên và kết thúc chiến dịch vào ngày 24/3/1975

Nhiêm vụ của Bộ đôi Công binh:

-Chuẩn bị mạng đường sá ờ phía Nam Tây Nguyên có Trung đoàn Công binh 7cùng tiểu đoàn Công binh thuộc Sư đoàn 10 bí mật hành quân từ Bắc Tây Nguyên vàĐức Lập

+ Bộ Tăng cường cho Trung đoàn 7: Tiểu đoàn 2 của Lữ đoàn Công binh 299/QĐl, tiểu đoàn 47 của Đoàn 559 Sau đó hai tiểu đoàn này phát triển thành Công binh575

-Công binh các đơn vị tập trung lực lượng làm đường ở Buôn Ma Thuột và ĐứcLập

- Tham gia nghi binh thu hút địch ở Tây Nguyên

Chiến dịch Huế - Đà Nẵng:

- Từ ngày 21-29-3/1975, khi địch đang rút chạy khỏi Tây Nguyên, Bộ Chính trị,Quân ủy TW đã nhận định: Địch có thể rút bỏ Huế và Đà Nãng, Với quyết tâm tiêuđỉệt địch không cho chúng rút về Sài Gòn Bộ chính trị, Quân uỷ TW quyết đinh mởchiến dịch Huế - Đà Nằng

Nhiêm vụ của Bô đôi Công binh:

-Bảo vệ hệ thống đường, bến vượt của ta bảo đảm cho các Quân đoàn, Sư đoàntiến công tiêu diệt địch trên các hướng

-Phá cầu, phá đường sá, đặc biệt là trên đoạn đèo Hải Vân đã góp phần quantrọng vào việc chia cắt, bao vây, cô lập địch, đẩy chúng lấn sâu vào thế hoang manghỗn loạn

-Bảo đảm đường sá cho pháo nặng, tiến lên trận địa bắn vào các sân bay, hảicảng, bịt hết đường rút lui của địch

-Bảo đảm sửa đường, gỡ mìn, khắc phục những cầu lớn bị phá hỏng để bảo đảmcho tiến công có xe tăng

Trang 9

Bộ đội Công bỉnh bảo đảm chiến đấu và chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

- Ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị đã khẳng định “ Thời cơ chiến lược mới đã đến,

ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam” Sau đó Bộ Chínhtrị hạ quyêt tâm mở chiên dịch tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn

- Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định chiến dịch giải phỏng Sài Gòn mangtên chiến dịch Hồ Chí Minh

- Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 249 bảo đảm cho xe tăng vượt sông tiến vào giảiphóng Sài Gòn, bằng phà Tự hành

- Công binh QK7, chờ xe qua bến Tạ Thanh - sông Bé phục vụ chiến dịch

- Trung đoàn 219 sử dụng trang bị thu được của địch để mở đường trong chiếndịch Hồ Chí Minh năm 1975

- - Trung đoàn 299/QĐl sử dụng khí tài LPP bào đảm vượt sông năm 1975 Tiểuđoàn 739, lữ đoàn 25 Công binh quân khu 7, đóng trụ cầu qua sông Sài Gòn trongchiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 Công binh đoàn 232 và nhân dân, đưa bộ độivượt sông Vàm cỏ ngày 28/4/1975

-Đại đội Công binh Quân đoàn 4 bảo đảm vượt sông bến Vĩnh An - sông ĐồngNai, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 1975

Sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, bộ đội Công binh bắt tay vào côngviệc cấp bách như gỡ mìn, bảo đảm cầu đường, bảo đảm lễ mừng chiến thắng, thu hồicác tài liệu, xe máy Công binh của địch

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chổng Mỹ cứu nước “ Mãi mãi được ghi vàolịch sử dân tộc ta một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng, ngời về

sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, nó đi vào lịch

sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọngquôc tể to lớn và có tính thời đại sâu sắc

3 Tình cảm của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp dành cho Bộ đội Công binh:

Trong quá trình chiến đấu xây dựng và trưởng thành, bộ đội Công binh luônđược sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giápđến thăm và động viên

- Ngày 24/3/1950 Đại tướng Võ Nguyên Giáp dự Hội nghị toàn quốc lần thứ 3

-Tháng 9/1950 Bác Hồ ra trận, khi tới bờ sông Bằng, Bác khen: “ Các chú Côngbinh giỏi lắm…

-Ngày 04/3/1951 Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng đi có đồng chíTrần Đăng Ninh tới thăm trong khi cán bộ chiền sĩ đang khẩn trương làm nhiệm vụxây dựng SCH chiến dịch

-Ngày 24/4/1951 tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Đại tướng

Võ Nguyên Giáp đã biểu dương “Bộ đội Công binh đã tự động xin mệnh lệnh, tựđộng khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ”

- Trong trận tiến công Him Lam, đại đội Công binh 240 (Đại đoàn 312) đã bảođảm đường, bắc 2 cầu cho bộ binh tiến theo 2 mũi vào sát đồn địch Trong trận tiêudiệt địch ở đồi Độc Lập, đại đội Công Binh 309 (Đại đoàn 308) làm SCH cho Trung

đoàn 88 Đại đội công pháo 351 vinh dự nhận cờ thưởng luân lưu “ Quyết chiến,

Trang 10

quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thông báo khen thưởng nểu rõ: Đội Công

binh mở đường thắng lợi, suốt mùa hè không nghỉ, giữ vững giao thông, không cócon đường ấy, không có chiến dịch này Ban chỉ huy Đại đoàn 351 quyết định trao lá

cờ “ Quyết chiên, quyết thắng” cho Trung đoàn Công binh 151.

- Tại hội nghị tổng kết chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hô Chí Minh khen ngợi

“Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước”.

- Từ ngay 17/3 đến 5/4/1959 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đến xem triển lãm của BộĐội Công binh, sau khi xem Bác đã ghi vào sổ lưu niệm “ Các chiến sĩ, cán bộ Côngbinh ta đã cố gắng khá, thi đua tìm tòi nghiên cứu mãi, phát huy sang kiên mãi, mụcđích là làm cho công việc nhanh, nhiều, tốt, rẻ ”

- Ngày 5/2/1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng theo dõi

bộ đội Công binh bắc cầu, sau khi xong Bác thăm hỏi và căn dặn “Nhiệm vụ của các chú rât nặng nề, nhưng vẻ vang, các chú cần cố gắng hơn nữa”

Câu 3: Bộ đội Công binh Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1979-1989? Trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước từ năm 1989 đến nay?

1.Bộ đội Công binh Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1979-1989:

- Sau 20 năm chiến đấu, mùa xuân năm 1975 bằng cuộc tổng tấn công và nổidậy của quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nướclâu dài đầy khó khăn gian khổ hy sinh nhưng rất vẻ vang Thực hiện đường lối chủtrương của Đảng, Binh chủng Công binh từ nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu và chiếnđấu chuyển sang xây dựng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng công trình, thamgia xây dựng kinh tế', khắc phục hậu quả chiến tranh

- Đầu năm 1976, Binh chủng Công binh tổ chức Đại hội thi đua quyêt thắng 10năm chống Mỹ cứu nước Trong Đại hội này đã rút ra bài học kinh nghiệm quý báu

và khẳng định chủ nghĩa anh hùng cùa bộ đội Công binh

- Từ năm 1975-1987, lực lượng Công binh còn là nòng cốt cùng vói lực lượng

vũ trang và nhân dân ta tiến hành xây dựng công trình phòng thủ biên giới phía Bắc phía Nam Hàng chục vạn công trình chiến đấu các loại, hàng trăm đường hầm, hàngngàn ki lô mét đường cơ động, hào chiến đấu, hào giao thông, hàng chục bến vượt, hệthống vật cản, trong đó lực lượng Công binh đã thể hiện xứng đáng vai trò nòng cốtcủa mình

Sau 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, đất nước được thống nhất nhưnghậu quả chiến tranh còn rất nặng nề, một trong những hậu quả để lại trước mắt là tainạn bom mìn, vật nổ gây ra hàng ngày cho nhân dân các địa phương Theo thống kêchưa đầy đủ, đế quôc Mỹ đã sử dụng ở Việt Nam 15.350.000 tấn bom, mìn, vật nổ tỷ

lệ đạn dược chưa nổ chiếm 2-5% số lượng đã sử dụng (khoảng 800.000 tấn chưa nổ).Thực hiện chỉ thị và quyết định của Ban Bí thư TW Đảng và của Bộ Quốc phòng, lựclượng Công binh cùng các lực lượng vũ trang nhân dân các địa phương, tích cực vàchủ động triển khai nhiệm vụ rà phá bom mìn vật nổ

2 Bộ đội Công binh trong sự nghiệp CNH-HĐH đẩt nước từ năm 1989 đến nay:

Huấn luyện xây dựng Binh chủng Công binh cách mạng, chính quy, tinh

Trang 11

nhuệ, từng bước hiên đại.

- Nghị quyết Đại hội VI của Đảng chỉ rõ “Xây dựng quân đội nhân dân cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càngcao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có tiến bộ sẵn sàngchiến đấu cao, tiếp tục phát triển dân quân tự vệ với số lượng và chất lượng đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ mới Đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triẻn nền khoa họcquân sự và nghệ thuật Quân sự Việt Nam…Thực hiện đầy đủ chính sách hậu phươngquân đội Từng bước phát triền công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềmlực kinh tể đất nước

- Quán triệt và thực hiện nghị Quyết Đại hội VI của Đảng, Binh chủng Côngbinh đã củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, xây dựng Binh chủng cách mạng chínhquy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Bộ Tư lệnh đặc biệt chú ý phương châm huấnluyện cơ bản, hệ thống toàn diện theo chức năng, nhiệm vụ và chuyên ngành của cácđơn vị sát với chiến trường, phù hợp với từng chiến thuật, chống huấn luyện chay

Bộ đội Công binh xây dựng công trình quổc phòng, tham gia xây dựng các công

trình kinh tể kết hợp với quốc phòng:

- Sang năm 1990, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và vấn đề xây dựng công trìnhchiến đấu trong các khu vực phòng thủ vẫn là một vấn đề đặc biệt quan trọng Nhằmthực hiện chủ trương xây dựng thể trận chiến tranh nhân dân mà Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI đề ra Vì vậy vấn để xây dựng các công trình ờ các đảongoài khơi và ven bờ được đặc biệt quan tâm

+ Công nhân nhà mảy Z756 thi công xây dựng cầu Tầu trên đảo Phú Quốc - KiênGiang năm 1990

+ Chiên sĩ Trung đoàn 131 Công binh Hải quân, hoàn thành nhiệm vụ xây dựngcông trình trên đảo Trường Sa tháng 5/1993

+ Công ty Lũng Lô xây dụng kè chắn sóng Âu tàu Bạch Long Vĩ tháng 5/1993.+ Nhà C1 trên đảo Đá Tây do Trung đoàn 83 xây dựng năm 1994

+ Bộ đội Công binh thi công công trình biển đảo

+ Âu tàu Bạch Long Vĩ do công ty Lũng Lô thiết kể thi công xây dựng năm1999

+ Công ty Lũng Lô xây dựng công trình H2 năm 2004

Bộ Đội Công binh với nhiệm vụ phòng chổng thiên tai, cứu hộ, cứu nạn bảo đảmgiao thông phục vụ đời sống dân sinh

- Do thời tiết diễn biển bất thường, hạn hán, mưa và bão lụt thường xuyên xẩy ra

ở đất nước ta, gây thiệt hại lớn về người và tài sản Đầu tháng 11 năm 1999 một trận

bão lớn gây lũ lụt nghiêm trọng ở một số tỉnh miền Trung (đặc biệt các tỉnh QuảngBình , Quảng Trị - Thừa Thiên Huế) Trước hoàn cảnh đó các đơn vị Công binh trựcthuộc bộ (239, 249, 293) cùng Công binh các quân khu 3,4, 5 được lệnh khẩn cấp

tham gia ứng cứu Sau khi nhận nhiệm vụ cán bộ liến sĩ đã không quản khó khăn,

nguy hiểm, cùng với trang bị kỹ thuật, dưới sự chỉ đạo của đông chí Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Trương Quang Khánh, bộ đội Công binh hành quân thần tốc cómặt kịp thời, làm việc quên mình cứu người và tài sản của nhân dân bão lũ, thoát khỏihiểm nguy “Đại hồng thủy”

-Bộ độí công binh nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ

Trang 12

của Bỉnh chủng, Quân đội và phục vụ dân sinh

Vấn đề nghien cứu khoa học kỹ thuật luôn được quan tâm hàng đầu ở bất cứquốc gia nào trên thế giới, Việt Nam đang trong thời kỳ tiến hành CNH – HĐH thìvấn đề cải tiến khoa học kỹ thuật càng quan trọng

Binh chủng Công binh luôn coi trọng nhiệm vụ nghiên cứ khoa học, sáng kiếncải tiến kỹ thuật phải bám sát với yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, huấn luyện sẵn sàngchiến đấu Với phương châm tự lực tự cường, dựa vào sức mình là chính

Bộ đội Công binh trong công tác đối ngoại:

- Đối ngoại là một nhân tố quan trọng, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định vànâng cao vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế Tạo môi trưòng thuận lợỉ chocông cuộc xây dung và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

- Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng vể chính sách đối ngoại, Quân độinhân dân Việt Nam nói chung, bộ đội Công binh nói riêng, luôn nêu cao tinh thầnđoàn kết quốc tế vô sản, làm tròn nghĩa vụ quốc tế góp phần vào sự nghiệp cáchmạng của các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phảnđộng quốc tế, vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

- Sư gắn bó chiến đấu keo sơn của ba dân tộc anh em Việt Nam, Lào, Cam PuChia ngày càng bền vững nhằm chống kẻ thù chung là một điển hình của chủ nghĩa

quốc tế vô sản, được xây dựng và vun trồng bằng xương máu của hàng vạn cán bộ

chiên sĩ cách mạng

C

âu 4; Đồng chí cho biết Bộ đội Công binh có bao nhiêu tập thễ và cá nhân được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu anh hùng LLVTND ? Ngày tháng năm các tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND?

Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Binh chủng Công binhđược Nhà nước tặng thưởng những phần thường cao quý:

- 103 lượt đơn vị được tuyên dương danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ

trang nhân dân” trong đó có 8 đơn vị được tuyên dương lần thứ hai, đặc biệt Trung

đoàn Công binh 7 thuộc Quân đoàn 3 được tuyên dương lẩn thứ ba

- 64 cán bộ, chiên sĩ được tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”

I Các đơn vị Công binh được Quốc hội, Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

1 Tiểu đoàn công binh 25, Quân khu 4 Tuyên dương ngày 1/1/1967

2 Tiêu đoàn công binh 25 thuộc Binh trạm 1 (sau là Binh trạm 31) Tuyêndương ngày 22/12/1967

3 Đại đội 4, trung đoàn 7, Bộ Tư lệnh Công binh Tuyên dương lần thứ nhấtngày 1/1/1967

4 Đại đội công binh 2 thuộc Tiểu đoàn công binh 31/ Binh trạm 32/ Bộ Tư lệnh

559 Tuyên dương ngày 18/6/1969

5 Đại đội công binh 16/ Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương ngày 18/ 6/1969

6 Đại đội công binh 1/ bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà Tuyên dương ngày20/12/1969

7 Đại đội 2/ tiểu đoàn công binh 27/ Lữ đoàn công binh 414/ Quân khu 4 Tuyên

Trang 13

dương ngày 22 tháng 12 năm 1969.

8 Tiểu đoàn công binh 33/ Binh trạm 32 Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dưong ngày

9 Đại đội 1/ trung đoàn 7/ Bộ Tư lệnh Công binh Tuyên dương ngày 22/12/1969(Sau này chuyển thuộc Trung đoàn công binh 414)

10 Đại đội công binh - đặc công nước tỉnh cần Thơ Tuyên dương ngày 22/12/1969

11 Đại đội 12/ trung đoàn 217/ BTL Công binh Tuyên dương 25/8/1970

12 Trung đoàn 7/ BTL Công binh Tuyên dương lần thứ nhất 25/8/1970

13 Đại đội công binh 1 Bắc Quảng Trị Tuyên dương ngày 25/8/1970

14 Tiểu đoàn công bỉnh 2/ Binh trạm 12/ Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương lần thứnhất ngày 25/8/1970

15 Đại đội công binh 11/Tiểu đoàn công binh 75/ Binh trạm 41/ Bộ Tư lệnh 559.Tuỵên dương ngày 25/8/1970

16 Tiếu đoàn công binh 35, Binh trạm 33, Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương ngày1/10/1971

17 Đại đội công binh 1/ tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam - Đà Nằng trước đây).Tuyên dương lần thứ hai ngày 19/5/1972

18 Tiểu đoàn 2, trung đoàn 229, Bộ Tư lệnh Công binh Tuyên dương lần thứnhất ngày 20/12/1972

19 Tiểu đoản công binh 2, Binh trạm 12 Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương lần thứhai ngày 11/1/1973

20 Tiểu đoàn công binh 2, Binh trạm 37, Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương ngày11/1/1973

21 Tiểu đoàn công bỉnh 27/ Lữ đoàn Công binh 414/Quân khu 4 Tuyên dươngngày 11/1/1973

22 Đại đội 5/tiểu đoàn 2/ trung đoàn 219, Bộ Tư lệnh Công binh Tuyên dươngngày 3/9/1973

23 Trung đoàn công binh 98, Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương ngày 3/9/1973

24 Tiểu đoàn công binh 25/ Đoàn Mộc Châu/Quân khu Tây Bắc (nay là lữ đoàn543/Quân khu 2) Tuyên dương ngày 3/9/1973

25 Đại đội 8, Trung đoàn 219, Bộ Tư lệnh Công binh Tuyên dương ngày23/9/1973

26 Đại đội 1, tiểu đoàn công binh 15, Sư đoàn 2, Quân khu 5 Tuyên dươngngày 23/9/1973

27 Tiểu đoàn công binh 17, sư đoàn 31, Mặt trận Tây Nguyên Tuyên dươngngày 23/9/1973

28 Đại đội 4, trung đoàn công binh 83, Quân khu 5 Tuyên dương ngày20/12/1973

29 Đại đội công binh 15, Trung đoàn 38, Sư đoàn 2, Quân khu 5 Tuyên dươngngày 20/12/1973

30 Đại đội công binh 14, Trung đoàn 6, Quân khu Quảng Trị - Thiên Tuyêndương ngày 20/12/1973

31 Đại đội công binh 10, tiểu đoàn 739 (sau thuộc Đoàn 25), Bộ chỉ huy Miền.Tuyên dương ngày 20/12/1973

Trang 14

32 Trung đoàn công binh 10, Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dươne neàv 31/12/1973.

33 Tiểu đoàn công binh 24, Binh trạm 16, Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương ngày31/12/1973

34 Đại đội công binh 10, Binh trạm 11, Tổng cục Hậu cần.Tuyên dương ngày31/12/1973

35 Trung đoàn công binh 83, Quân khu 5 Tuyên dương ngày 12/9/1975

36 Trung đoàn công binh 99, Bộ Tư lệnh 559 Tuyên dương ngày 12/9/1975

37 Tiểu đoàn 2, lữ đoàn công binh 219, Quân đoàn 2 Tuyên dươngngày12/9/1975

38 Đại đội công binh 1/Tiểu đoàn Công binh 15/ sư đoàn 3 Tuyên dượng lầnthứ nhất ngày 12 tháng 9 năm 1975

39 Tiểu đoàn công binh 739, trung đoàn 25 Đông Nam Bộ Tuyên dương ngày

Trang 16

87 Tiểu đoàn vật cản 93/Bộ Tư Lệnh Công binh Tuyên dương ngày 11/6/1999.

88 Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn công binh công trình 229, Bộ Tư lệnh Công binh.Tuyên dương ngày 12 tháng 12 năm 2000

89 Trung đoàn bảo quản công trình 72, Bộ Tư lệnh Công binh Tuyên dươngngày 12 tháng 12 năm 2000

90 Lữ đoàn công binh 28 Quân chủng Phòng Không -Không quân Tuyên dươngngày 12 tháng 12 năm 2000

91 Lữ đoàn công binh 270, Quân khu 5 Tuyên dương ngày 12 tháng 12 năm2000

92 Tiểu đoàn công trình 27 thuộc Trung đoàn xây dựng công trình 293, Bộ Tưlệnh Công binh Tuyên dương ngày 12 tháng 12 năm 2000

93 Trung đoàn công binh 7, Quân đoàn 3 Tuyên dương lần thứ ba, ngày 13tháng 1 năm 20

94 Tiểu đoàn công binh 17 thuộc Sư đoàn 316, Quân khu 2 Tuyên dương ngày

98 Đại đội công binh tỉnh Phú Yên Tuyên dương ngày 24 tháng 6 năm 2005

99 Trung tâm công nghệ XLBMVN / Binh chủng công binh Tuyên dươngngày 21 tháng 12 năm 2005

100 Trung đoàn công binh 131 Quân chủng Hải quân Tuyên dương lần thứ hai

Ngày đăng: 09/02/2020, 13:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w