1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ 11

64 147 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 662,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội thì giáo dục đào tạo là một trong những lĩnh vực ngày càng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học – công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động.” 11

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội thìgiáo dục đào tạo là một trong những lĩnh vực ngày càng được Đảng và Nhànước đặc biệt quan tâm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳngđịnh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằmnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quátrình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực

và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Pháttriển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xâydựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học – công nghệ, yêu cầu phát triểnnguồn nhân lực và thị trường lao động.” [11]

Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra, ngoài việc trang bị

và hoàn thiện một khối lượng tri thức khoa học; đầu tư trang thiết bị, cơ sở vậtchất hiện đại; đổi mới trong nội dung thì cần thiết phải không ngừng đổi mớitrong phương pháp dạy học, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI vềđổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mớimạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắcphục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cáchhọc, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật vàđổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớpsang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoạikhóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vàtruyền thông trong dạy và học.” [10] Như vậy vấn đề đổi mới giáo dục nóichung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng luôn được Đảng và Nhànước quan tâm; là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các trường phổ thông và là biệnpháp hữu hiệu để nhà trường phổ thông thực hiện tốt các mục tiêu giáo dụctrong thời kỳ đổi mới đất nước

Trang 2

Đổi mới phương pháp dạy học không thể không đổi mới trong kiểm trađánh giá (KTĐG) bởi vì mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hoạtđộng tổ chức và KTĐG là những yếu tố quan trọng trong dạy học, chúng cómối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Trong chiến lược phát triểngiáo dục 2011-2020 của Chính phủ đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phương phápdạy học và đánh giá kết quả học tập (KQHT), rèn luyện theo hướng phát huytích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học.” [17]KTĐG KQHT của học sinh (HS) có vai trò vô cùng quan trọng, là một trongnhững biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục Nó được thực hiện trongsuốt quá trình dạy học môn học Trong quá trình dạy và học, thầy và trò luônluôn phải tiến hành KTĐG thường xuyên để có được những thông tin ngược

từ việc đánh giá KQHT

Hiện nay, ở các trường phổ thông, giáo viên (GV) chủ yếu chú trọng vàođánh giá nhằm ghi nhận KQHT mà chưa chú trọng tới việc điều chỉnh hoạtđộng học tập của HS cũng như điều chỉnh hoạt động dạy của mình TheoNorman E Gronlund, trong cuốn “Measurement and Evaluation in Teaching”ông nói: Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của HS Đây chính là kết quảcuối cùng của quá trình học tập nhằm thay đổi hành vi của HS [21] Do vậycần thiết phải đổi mới và nâng cao hiệu quả của đánh giá, đánh giá phải toàndiện và phải góp phần điều chỉnh được quá trình dạy học Có như vậy, việcđánh giá HS mới mang lại hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng giáodục Như vậy, cần phải đổi mới trong đánh giá KQHT của HS ở trường phổthông, để việc đánh giá không chỉ phán ánh KQHT mà còn là động lực thúcđấy HS tiến bộ, tạo ra được sự phát triển và nâng cao trình độ của HS

Xuất phát từ các định hướng, mục tiêu đổi mới giáo dục; từ tính cấp thiếtcủa thực tế phải đổi mới trong đánh giá, tôi đã chọn đề tài khóa luận của mìnhlà: “Đánh giá quá trình trong dạy học Công nghệ 11”

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp đánh giá quá trình trong dạy học Công nghệ 11

để đánh giá HS, giúp HS học tập ngày càng tiến bộ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc đổi mới trong đánhgiá KQHT bằng đánh giá quá trình

Xây dựng biện pháp đánh giá quá trình trong dạy học Công nghệ 11 ởtrường trung học phổ thông (THPT)

Kiểm nghiệm và đánh giá kết quả nghiên cứu

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học ở trường THPT

Đối tượng nghiên cứu: đánh giá quá trình; quá trình dạy học môn Côngnghệ ở trường THPT

Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ đề cập đến khâu đánh giá quá trình trongdạy học Công nghệ 11 ở trường THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ trên, tác giả đã sử dụng kết hợp một số phươngpháp nghiên cứu:

Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết như phân tích, tổng hợp, sosánh nhằm nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, về KTĐG và đánh giáquá trình

Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như phương pháp điều tra,phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm: điều trakhảo sát thực tế đánh giá KQHT môn Công nghệ ở trường THPT hiện nay;kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phương pháp thống kê toán học

để tính toán kết quả điều tra, thực nghiệm

Trang 4

6 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện đúng đánh giá quá trình thì sẽ tác động tích cực tới quátrình dạy học, tạo ra động lực để HS học tập tiến bộ

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chínhcủa khóa luận được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đánh giá quá trình trong dạyhọc Công nghệ 11

Chương 2 Đánh giá quá trình trong dạy học môn Công nghệ 11

Chương 3 Kiểm nghiệm và đánh giá

Trang 5

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về kiểm tra đánh giá trên thế giới

Thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa (thế kỷ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch

sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Comensky đã đặt nền móngcho lý luận dạy học ở nhà trường và xây dựng thành một hệ thống vấn đềtrong tác phẩm "Lý luận dạy học vĩ đại", trong đó có nêu ý nghĩa, vai trò củakiểm tra, đánh giá quá trình lĩnh hội tri thức của HS, ông lưu ý việc kiểm tra,đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn HS tự kiểm tra, đánhgiá kiến thức của bản thân

Ở Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây đã cónhiều tác giả nghiên cứu về đánh giá HS, song trên thực tế các công trìnhnghiên cứu chủ yếu bàn về đánh giá thông qua kiểm tra kiến thức HS bằngcác hình thức truyền thống như kiểm tra vấn đáp hoặc bài viết

Theo tác giả Savin trong cuốn Giáo dục học tập 1 ở chương X “Kiểm tra,đánh giá tri thức kỹ năng, kỹ xảo của HS” ông nêu rõ quan niệm về kiểm tra-đánh giá Theo ông “kiểm tra là một phương tiện quan trọng không chỉ đểngăn ngừa việc lãng quên mà còn để nắm được tri thức một cách vững chắchơn” [23; tr.231] Đồng thời ông cũng nhận thấy “Đánh giá có thể trở thànhmột phương tiện quan trọng để điều khiển sự học tập của HS, đẩy mạnh sựphát triển về công tác giáo dục của các em Đánh giá được thực hiện trên cơ

sở kiểm tra và đánh giá theo hệ thống 5 bậc: xuất sắc (điểm 5), tốt (4 điểm),

Trang 6

trung bình (3 điểm), xấu (điểm 2), rất xấu (điểm 1)” [23; tr.246] Như vậy,Savin đã quan niệm kiểm tra, đánh giá là hai hoạt động khác nhau nhưng cómối quan hệ biện chứng Đặc biệt ông nhấn mạnh việc kiểm tra không dừnglại ở việc kiểm tra tri thức mà còn kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo của HS.

Theo Ilina trong cuốn Giáo dục học, tập II đã nghiên cứu và nhấn mạnhvai trò của kiểm tra - đánh giá, bà coi “việc kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹnăng và kỹ xảo là rất quan trọng và là thành phần cấu tạo cần thiết của quátrình dạy học” [20; tr.117] Đồng thời bà cũng đưa ra hệ thống các phươngpháp kiểm tra, đánh giá kiến thức trong nhà trường Xô Viết với những ưuđiểm và nhược điểm của mỗi phương pháp Còn về vấn đề đánh giá thì Ilinacho rằng “đánh giá là một phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩagiáo dục to lớn trong điều kiện nếu như nó được GV sử dụng đúng đắn”[20;tr.147]

Hay theo P.E.Griffin (1996) “Đánh giá là đưa ra phán quyết về giá trịcủa một sự kiện, nó bao hàm việc thu thập thông tin sử dụng trong việc đánhgiá của một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, mục tiêu hay tiềmnăng ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm mục đích nhất định” [23;tr.8]

Như vậy, vấn đề KTĐG được nhiều học giả nước ngoài nghiên cứu vàtìm hiểu Mặc dù có những quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau nhưngcác tác giả đều thống nhất trong việc khẳng định vai trò của KTĐG

Ngày nay, trên thế giới nhiều quốc gia đã đẩy mạnh đánh giá quá trìnhbằng các hình thức, phương pháp đánh giá không truyền thống như: quan sát,phỏng vấn, hồ sơ, dự án, trình diễn thực, nhiều người cùng tham gia, HS tựđánh giá đánh giá KQHT thông qua dự án hoặc nghiên cứu nhóm được chútrọng Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, để KTĐG mức độ tiếp nhận và cảm thụ văn họccủa HS về một tác phẩm nào đó, GV yêu cầu HS thành lập nhóm để phân tíchnội dung, nghệ thuật của tác phẩm đó và có thể lập dự án tham quan bảo tàngcủa nhà văn, nhà thơ Qua phân tích tác phẩm và qua chuyến tham quan, HS

Trang 7

viết thu hoạch, trình bày kết quả nghiên cứu của nhóm trước lớp Với cáchnày, HS có quyền tự do làm bài theo hiểu biết của mình, trao đổi, tương tácvới nhau, tìm hiểu từ thực tế, vận dụng nhiều kiến thức của nhiều môn họckhác nhau, hợp tác nghiên cứu có thể đưa ra nhiều nhận định sáng tạo Đây làhình thức học tập mang tính tích hợp cao, GV và HS cùng tham gia đánh giákết quả của từng nhóm.

Một trường ở Canada thực hiện việc nhận xét, đánh giá về HS như sau:Sau mỗi học kì, cha mẹ HS đều nhận được một bản nhận xét với 9 nội dungchủ yếu sau: (i) kĩ năng làm việc độc lập; (ii) năng lực sáng tạo; (iii) mức độhoàn thành các bài tập; (iv) năng lực sử dụng công nghệ thông tin; (v) khảnăng hợp tác với những người xung quanh; (vi) khả năng giải quyết nhữngxung đột của cá nhân; (vii) mức độ tham gia các hoạt động tập thể của lớp;(viii) khả năng giải quyết vấn đề; và (ix) khả năng biết đặt mục tiêu để hoànthiện trong tương lai Tất cả các mục trên, GV chủ nhiệm đều nhận xét điểmmạnh, điểm tốt của HS đã đạt được trong quá trình học tập, rèn luyện ởtrường, và trong từng nội dung, nếu HS có hạn chế, GV có nhận xét đi kèm để

HS rút kinh nghiệm

Có thể thấy vấn đề KTĐG luôn được các quốc gia đặc biệt quan tâm, chútrọng

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về kiểm tra đánh giá ở Việt Nam

Ở Việt Nam, không chỉ ngày nay mà trong lịch sử, đánh giá người học

đã luôn được quan tâm và coi trọng; qua các kì thi hương, thi hội, thi đìnhtriều đình chọn ra những người hiền tài để phục vụ cho đất nước Việc đánhgiá ở thời kì này chủ yếu dùng lời phê chứ không dùng điểm số

Những năm gần đây các học giả, các nhà nghiên cứu giáo dục nước tacũng tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc về vấn đề KTĐG

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn “Đánh giá và đo lường kếtquả học tập” cho rằng: đánh giá KQHT là quá trình thu thập và xử lý thôngtin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác

Trang 8

định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV, cho nhà trường

và bản thân HS để giúp họ học tập tiến bộ hơn [14]

Trong cuốn “lý luận giáo dục Đại học” của tác giả Đặng Vũ Hoạt đã nêu:

“về tiêu chuẩn đánh giá phải đảm báo tính toàn diện, đảm bảo tính kháchquan, đảm bảo có tác dụng phát triển trí tuệ, năng lực và tư duy độc lập sángtạo của HS” [7; tr.144]

Theo tác giả Đặng Bá Lãm trong cuốn “kiểm tra – đánh giá trong dạy –học đại học” cho rằng: “kiểm tra đánh giá trong giảng dạy đại học là chất xúctác để tạo ra sự thay đổi của chính bản thân người học với đầy đủ ý nghĩa của

nó Nó giúp cho người học nhận ra chính mình, giúp họ tìm cách củng cố,phát triển những kinh nghiệm, những tiềm năng sẵn có, tạo nên hào hứng, tạo

ra động lực cho người học tâp, hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp,hoàn thiện nhân cách bản thân” [9; tr.9]

Theo tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn Giáo dục học tập

1, đã quan niệm: kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS là mộtkhâu quan trọng của quá trình dạy học Xét theo các cách thức thực hiện hệthống các khâu của quá trình dạy học, kiểm tra và đánh giá có thể xem xétnhư là một nhóm phương pháp dạy học [12]

Theo tác giả Trần Kiều trong bài: “Đổi mới đánh giá, đòi hỏi bức thiếtcủa phương pháp dạy học” thì: kiểm tra – đánh giá là một bộ phận hợp thànhkhông thể thiếu của quá trình giáo dục Các yếu tố xác định mục tiêu giáo dụcsoạn thảo và thực hiện chương trình giáo dục Kiểm tra, đánh giá là một chỉnhthể tạo thành chu trình kín Mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố trên đượcđảm bảo sẽ tạo thành một quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao

Theo tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn: “Đánh giá trong giáo dục” chorằng: việc KTĐG không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, rènluyện các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích tư duy năng động sáng tạo,phát hiện sự chuyển biến về xu hướng hành vi của HS trước các vấn đề của

Trang 9

đời sống gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyếtcác vấn đề nảy sinh trong những tình huống thực tế [5]

Ngoài ra, còn có khá nhiều luận án, luận văn trong lĩnh vực dạy học kĩthuật nghiên cứu về vấn đề đánh giá trong dạy học như luận văn “đánh giá kếtquả học tập môn Công nghệ theo năng lực” của tác giả Ngô Thị Dung [3];luận văn “kiểm tra đánh giá kế quả học tập môn Công nghệ 11 theo chuẩnkiển thức, kĩ năng” của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa [4]; luận văn “kiểmtra đánh giá kết quả học tập phần vẽ kỹ thuật môn Công nghệ 11 bằng phươngpháp trắc nghiệm khách quan” của tác giả Nguyễn Thị Xuân [18]; luận văn

“đánh giá kết quả học tập trong dạy học mô đun gia công trên máy tiên CNCtheo định hướng năng lực thực tiễn” của tác giả Lê Hữu Phong [15]

Tóm lại vấn đề đánh giá HS trong dạy học đã được các nhà giáo dục, nhànghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm; tất cả những lý luận trên là

cơ sở quý báu cho tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Đánh giá quá trình trongdạy học Công nghệ 11”

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Khái niệm đánh giá

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm đánh giá, tùy thuộc vàođối tượng, mục đích, cấp độ đánh giá…

Theo tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn: “Đổi mới phương pháp dạyhọc, chương trình và sách giáo khoa” thì “đánh giá là quá trình hình thànhnhững nhận định phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tíchnhững thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra,nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh,nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [6; tr.6]

Trong lĩnh vực giáo dục, theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh: “đánh giákết quả học tập là quá trình thu thập xử lý thông tin về trình độ khả năng màngười học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho

Trang 10

những quyết định sư phạm của GV, cho nhà trường và cho bản thân để giúp

họ học tập tiến bộ hơn” [14; tr.12]

Theo Từ điển giáo dục học – Nhà xuất bản (Nxb) Từ điển Bách Khoa

2001 - thuật ngữ đánh giá KQHT được định nghĩa như sau: Xác định mức độnắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS so với yêu cầu của chương trình

đề ra

Theo giáo trình tâm lí học giáo dục: Đánh giá trong đào tạo bao gồmviệc thu thập thông tin về một lĩnh vực nào đó trong đào tạo; nhận xét và phánxét đối tượng đó, trên cơ sở đối chiếu các thông tin thu thập được với mụctiêu được xác định ban đầu [16]

Theo tác giả Đặng Bá Lãm thì đánh giá là quá trình làm rõ mức độ thíchhợp của đối tượng được đánh giá so với các mục tiêu đề ra [9]

Các khái niệm này đều nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu đánhgiá đặt ra và mức độ đạt được các mục tiêu đó Tóm lại, đánh giá có thể đượcđịnh nghĩa: là một quá trình được tiến hành có hệ thống để xác định mức độđạt được của người học về các mục tiêu đào tạo Nó có thể bao gồm những sự

mô tả (liệt kê) về mặt định tính hay định lượng những hành vi (hoạt động) củangười học cùng với những sự nhận xét, đánh giá những hành vi này đối chiếuvới sự mong muốn đạt được về mặt hành vi đó [8]

Đánh giá người học thường bao gồm hai mặt: học lực (kết quả học tập:kiến thức, kĩ năng) và đạo đức (nhân cách, quá trình phấn đấu, tu dưỡng, tháiđộ…)

Đánh giá KQHT của người học là: xác định trình độ lĩnh hội tri thức, kĩnăng, kĩ xảo của người học trong sự tương ứng với các yêu cầu của chươngtrình

1.2.2 Khái niệm đánh giá quá trình

Đánh giá quá trình tiếng Anh đọc là: “formative assessment”, đây là mộtphương pháp đánh giá đang được các nhà giáo dục quan tâm bởi vai trò vàtầm quan trọng của nó trong công cuộc nâng cao chất lượng của quá trình dạy

Trang 11

và học Để hiểu rõ hơn về khái niệm đánh giá quá trình có thể xem xét một sốquan điểm sau:

- Trong cuốn: “Tâm lí học giáo dục” của Nxb Đại học sư phạm Hà Nội

có ghi: “Đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thựchiện hoạt động giảng dạy môn học/khóa học, cung cấp thông tin phản hồi cho

GV nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động hướng dẫn, giảng dạy Đánh giá quátrình thường được thực hiện trong quá trình giảng dạy môn học/khóa học/lớphọc Đánh giá quá trình, còn được gọi là “đánh giá giáo dục” được thực hiện

để hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đánh giá quá trình có thể

do GV hoặc đồng nghiệp hay do người học cùng thực hiện, cung cấp thôngtin phản hồi về hoạt động học tập của người học và không nhất thiết được sửdụng cho mục đích xếp hạng, phân loại.” [16; tr.142]

- Theo giáo sư Anthony J Nitko người Mỹ đã từng sang Việt Nam tậphuấn về đánh giá kết quả học tập của HS, ông cho rằng: đánh giá quá trìnhhọc tập của HS nghĩa là chúng ta đánh giá chất lượng thành tích của HS trongtiến trình học tập Chúng ta tiến hành những đánh giá HS để có thể hướng dẫncác bước học tập tiếp theo của chúng Khi GV đặt câu hỏi trong lớp để xem

HS có hiểu bài hay không, GV sẽ nhận được thông tin để đánh giá tình hìnhhọc tập của HS, sau đó có thể điều chỉnh bài giảng của mình nếu HS khônghiểu

- Đánh giá quá trình là quá trình GV và người học sử dụng trong quátrình giảng dạy để cung cấp phản hồi nhằm điều chỉnh quá trình dạy và học đểcải thiện thành tựu của người học đối với mục tiêu đầu ra của giảng dạy [19]

- Đánh giá quá trình liên quan đến đánh giá có chủ ý đặc biệt nhằm cungcấp phản hồi về năng lực để cải thiện và thúc đẩy quá trình học tập [22]

- Một đánh giá được coi là quá trình khi thông tin từ đánh giá cung cấpphản hồi trong quá trình và thực sự sử dụng để cải thiện năng lực của hệthống bằng một cách nào đó [25]

Trang 12

- Đánh giá quá trình được định nghĩa là sự đánh giá thực hiện trong suốtquá trình giảng dạy với mục tiêu nhằm cải thiện dạy hoặc học Điều khiếncho đánh giá là đánh giá quá trình khi được sử dụng tức thì cho việc chỉnh sửa

và thiết lập quá trình học tập mới [24]

Có thể nói đánh giá quá trình trong giáo duc là sự đánh giá được tiếnhành nhiều lần trong suốt quá trình giảng dạy nhằm cung cấp các thông tinngược để GV và HS kịp thời điều chỉnh quá trình dạy và học Mục đích củaviệc đánh giá này không để chấm điểm hay phân loại mà nó nhằm hướng đến

sự tiến bộ và động lực học tập của HS

1.3 LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC

1.3.1 Mục đích của kiểm tra đánh giá

Trong lịch sử phát triển của hoạt động giáo dục nói chung và hoạt độngdạy học nói riêng, vấn đề đánh giá người học – mà chủ yếu là đánh giá KQHTđược coi là một bộ phận cấu thành quan trọng của quá trình dạy học

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [13] thì mục đích của KTĐG là nhằmnâng cao chất lượng của tất cả các hoạt động giáo dục, chương trình giáo dục,sản phẩm giáo dục KTĐG cần phải mang tính dự đoán, chi tiết, có tác dụngđiều chỉnh, phát triển và nâng cao….; theo tác giả Đặng Bá Lãm [9] thì kiểmtra đánh giá có mục đích là để tăng cường động lực học tập, để phát triểnngười học Động lực ấy được nâng lên từng bước thích hợp, tăng cường đếntiếp tục phát triển

Có thể thấy trong dạy học, việc đánh giá người học nhằm các mục đíchsau [8]:

- Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạyhọc, tình trạng kiến thức, kĩ năng, thái độ của người học đối chiếu với yêu cầucủa chương trình; phát hiện những nguyên nhân sai sót, giúp người học điềuchỉnh hoạt động học

- Công khai hóa các nhận định về năng lực và KQHT của mỗi ngườihọc và của tập thể lớp, tạo cơ hội cho người học phát triển kĩ năng tự đánh

Trang 13

giá, giúp người học nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên thúcđẩy học tập.

- Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh yếu củamình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nângcao chất lượng và hiệu quả dạy học

Như vậy, có thể nói việc đánh giá người học nhằm mục đích nhận địnhthực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động của cả thầy và trò

1.3.2 Phân loại kiểm tra đánh giá

1.3.2.1 Các hình thức kiểm tra đánh giá

Hiện nay trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng có sử dụngnhiều hình thức kiểm tra khác nhau để đánh giá KQHT của người học Cáchình thức này được phân loại chủ yếu căn cứ vào mục đích kiểm tra, có thểchia ra một số hình thức sau đây:

a Kiểm tra sơ bộ

Mục đích của kiểm tra sơ bộ là xác định trình độ (kiến thức, kĩ năng, kĩxảo) của người học trước khi bắt đầu học môn học mới Đó là hình thức được

sử dụng khi bắt đầu môn học, thường áp dụng cho những môn học có chươngtrình đồng tâm hoặc có nội dung được xây dựng trên cơ sở những nội dungcủa môn học khác mà người học đã học Trong hình thức kiểm tra này có thể

sử dụng các phương pháp kiểm tra vấn đáp, viết…

Thi tuyển sinh vào đầu cấp học, bậc học cũng có thể được xếp vào hìnhthức này

b Kiểm tra thường xuyên (còn gọi là kiểm tra hàng ngày)

Mục đích của kiểm tra thường xuyên là nhằm xác định mức độ hìnhthành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của người học; giúp cho người học thực hiệncác bài tập đúng thời gian và có chất lượng Đó là hình thức được sử dụngtrong suốt quá trình dạy học môn học, có thế sử dụng các phương pháp kiểmtra: quan sát, vấn đáp, viết, bài tập…

c Kiểm tra định kì

Trang 14

Mục đích của kiểm tra định kì là nhằm xác định mức độ chính xác củakết quả kiểm tra thường xuyên và khẳng định chất lượng giảng dạy của GV.

Đó là hình thức được sử dụng trong quá trình dạy học môn học, nhưng chỉthực hiện sau khi kết thúc một bài (lớn), một chương hoặc một phần, thường

là sau một học kì Số lần và qui mô kiểm tra thường được qui định trong phânphối chương trình của môn học Phương pháp kiểm tra có thể sử dụng là: vấnđáp, viết, bài tập

d Kiểm tra tổng kết

Là hình thức được sử dụng sau khi môn học đã được thực hiện hết mộtgiai đoạn, học kì, năm học hoặc toàn bộ chương trình Trước kiểm tra tổng kếtthường có giai đoạn ôn tập và hướng dẫn ôn tập Phương pháp kiểm tra có thể

sử dụng là: vấn đáp, viết, bài tập lớn, đồ án môn học…

Thi tốt nghiệp cấp học, bậc học cũng có thể được xếp vào hình thức này

e Kiểm tra chọn học sinh giỏi

Là hình thức kiểm tra đặc biệt nhằm chọn những HS giỏi về môn họcnào đó Nội dung kiểm tra có thể không giống với các hình thức kiểm tra ởtrên, thường có thêm những nội dung khó, đòi hỏi HS không chỉ nắm vữngkiến thức mà còn phải có tính sáng tạo

1.3.2.2 Các phương pháp kiểm tra đánh giá

Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại cácphương pháp KTĐG Tuy nhiên, đại đa số đều thống nhất chia ra 3 nhómphương pháp là: quan sát, viết và vấn đáp

a Kiểm tra bằng quan sát

- Nội dung: GV quan sát các hành động, lời nói, thái độ, sản phẩm…của người học để lấy tư liệu đánh giá

- Phương pháp: Có thể tách nhóm phương pháp này thành hai nhómnhỏ:

Trang 15

+ Quan sát thường xuyên: GV quan sát, theo dõi quá trình học tập, hoạtđộng của người học trong một giai đoạn nhất định Mọi thông tin được ghivào nhật kí hoặc phiếu (bảng) kê để lấy tư liệu đánh giá.

+ Quan sát sự trình diễn của người học: GV quan sát, theo dõi ngườihọc trình diễn về một chủ đề nhất định trong một khoảng thời gian ngắn nhấtđịnh Các thông tin về một chủ đề nhất định trong một khoảng thời gian ngắnnhất định Các thông tin có thể được ghi vào bảng kê hoặc được GV ghi nhớ

và xử lí ngay trong quá trình quan sát Sau đó GV tổng hợp các thông tin vàđưa ra quyết định đánh giá

b Kiểm tra viết

- Nội dung: Người học thể hiện trình độ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo củamình trên bài viết theo những vấn đề do GV đưa ra Người học thực hiện bàilàm trên lớp dưới sự giám sát của GV trong một khoảng thời gian nhất địnhhoặc ở nhà với khoảng thời gian khá dài tùy ý

Là phương pháp có thể kiểm tra đồng loạt nhiều người học trong mộtkhoảng thời gian hạn chế nhất định Thông qua bài viết, người học thể hiệnnăng lực nắm vững kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng diễn đạt…

và cả năng lực sử dụng ngôn ngữ, chữ viết… Đây là một phương pháp đượcdùng nhiều nhất trong các phương pháp KTĐG

- Phương pháp: Có 2 cách phân loại theo hình thức và theo tính chấtkiểm tra

Theo hình thức KTĐG, có thể phân nhóm “Kiểm tra viết” thành 3 nhóm nhỏ sau:

+ Kiểm tra viết trên lớp: Người học làm bài kiểm tra dưới sự giám sátcủa GV Thời gian người học làm bài thường là 15, 45, 60, 90, 120, 150, 180phút hoặc hơn nữa Dạng bài kiểm tra có thể là trắc nghiệm hoặc tự luận + Kiểm tra viết ở nhà: Người học tự làm bài ở nhà, thời gian khá dài,dạng bài chủ yếu là tự luận

Trang 16

+ Người học tự đánh giá: Là phương pháp người học tự nhận xét, đánhgiá về bản thân theo những tiêu chí nhất định do GV hoặc các cấp quản lí đề

ra Phương pháp này thường được sử dụng trong đánh giá đạo đức, đánh giátinh thần, thái độ học tập, tu dương… của người học

Theo tính chất của bài viết và sự đánh giá có thể phân nhóm “Kiểm tra viết” thành 2 nhóm nhỏ, còn gọi là 2 dạng bài kiểm tra sau:

+ Nhóm tự luận: Người học tự diễn đạt vấn đề, việc đánh giá có phụthuộc vào chủ quan của người chấm Nhóm này lại được phân ra 3 loại: bàiviết, tiểu luận và luận văn

+ Nhóm trắc nghiệm: Người học chủ yếu đánh dấu vào các chỗ cần lựachọn hoặc điền các từ, cụm từ vào chỗ trống…; việc đánh giá là khách quan,không phụ thuộc vào người chấm bài Nhóm này lại được chia ra nhiều loại,thường sử dụng 4 loại sau: nhiều lựa chọn, đúng – sai, ghép đôi và điềnkhuyết

Riêng bài viết nhằm để đánh giá khả năng viết “chính tả” của người học

có thể được xếp vào nhóm riêng

c Kiểm tra vấn đáp

- Nội dung: Người học trực tiếp trả lới các câu hỏi của GV Thông quaquá trình hỏi – đáp, GV có thể đánh giá khả năng ghi nhớ, lập luận, diễn đạt,trình độ tư duy… của người học Phương pháp này có hạn chế là mỗi lần chỉkiểm tra được một người học nên khó áp dụng đối với các lớp có nhiều ngườihọc

- Phương pháp: có thể tách nhóm này thành 2 nhóm nhỏ sau:

+ Vấn đáp thuần túy: Thầy và trò chỉ thực hiện hỏi (thầy) – đáp (trò)một cách thuần túy (còn được gọi là “kiểm tra miệng” hoặc “hỏi – miệng”).Mục đích dạng kiểm tra này là nhằm đánh giá sự ghi nhớ, nắm vững kiếnthức; khả năng diễn đạt, lâp luận… của người học

+ Vấn đáp kết hợp: quá trình hỏi – đáp được tiến hành sau hoặc trongkhi người học đang thực hiện các thao tác khác như viết, vận hành máy, gia

Trang 17

công, tháo lắp, sửa chữa… Có thể coi đây là phương pháp kết hợp giữa vấnđáp thuần túy và quan sát sự trình diễn của người học Mục đích dạng kiểmtra này là nhằm đánh giá năng lực, trình độ của người học cả về mặt lí thuyếtlẫn về mặt thực hành, giá trị của kiểm tra vấn đáp đôi khi lại chỉ đóng vai tròphụ trợ, tham khảo.

1.4 LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH

1.4.1 Phương pháp đánh giá quá trình trong dạy học

Đánh giá quá trình là phương pháp đánh giá mới và tích cực đã được ápdụng ở các trường tiểu học từ năm 2014 trong Thông tư 30 của Bộ GDĐT,theo đó, GV sẽ: “đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện, của HS, đượcthực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dụckhác, trong đó bao gồm cả quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhàtrường, gia đình và cộng đồng GV ghi những nhận xét đáng chú ý nhất vào

sổ theo dõi chất lượng giáo dục, những kết quả HS đã đạt được hoặc chưa đạtđược; biện pháp cụ thể giúp HS vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ;các biểu hiện cụ thể về sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất củaHS; những điều cần đặc biệt lưu ý để giúp cho quá trình theo dõi, giáo dục đốivới cá nhân, nhóm HS trong học tập, rèn luyện.” [1]

Sau 2 năm thực hiện, Thông tư 30 đã được triển khai trên cả nước Tuynhiên, Thông tư 30 cũng không tránh khỏi những hạn chế Chính vì vậy, BộGDĐT đề ra Thông tư 22 trên cơ sở hoàn thiện Thông tư 30 với hi vọng sẽtạo ra khí thế mới cho GV và HS tiểu học Thông tư 22 có một số nội dungsửa đổi và bổ sung như: “Đánh giá vì sự tiến bộ của HS; coi trọng việc độngviên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS pháthuy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan Đánh giáthường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết hợp với nhậnxét; kết hợp đánh giá của GV, HS, cha mẹ HS, trong đó đánh giá của GV làquan trọng nhất” [2]

Trang 18

Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì là hai cách thức của đánh giáquá trình được thực hiện trong suốt quá trình dạy học Trong đó, khi thực hiệnđánh giá thường xuyên, GV không dùng điểm số để đánh giá HS mà sẽ theosát, dùng lời nhận xét, điều chỉnh kịp thời khi HS hiểu sai hoặc thực hiện sai;động viên, khen ngợi khi HS hiểu bài và thực hiện tốt các nhiệm vụ GV đưa

ra, để các em có thêm động lực phấn đấu trong học tập Ví dụ: Trong giờ thựchành vẽ ba hình chiếu của vật thể đơn giản; GV sẽ đi xung quanh lớp học vàtheo sát quá trình thực hành của HS Nếu thấy có HS chưa hiểu được cácbước vẽ và thực hiện sai; GV kịp thời nhận xét, giảng giải để HS hiểu và thựchiện đúng; với những HS đã thực hiện tốt, GV động viên các em bằng các câunhư: “em đang làm rất tốt, tiếp tục phát huy…” Hay khi trả bài kiểm tra 15phút, 45 phút… hoặc bài tiểu luận cho HS, thay vì chỉ cho các em biết điểm

số các em đạt được, thì đánh giá quá trình hướng đến việc: GV sẽ nhận xét vềbài làm rút ra những ưu điểm, nhược điểm thể hiện trong bài làm của HS, cónhững lời khuyên và nhắc nhở đối với những HS chưa làm tốt, nói rõ các emcần phải chỉnh sửa, củng cố thêm cái gì…Tóm lại, khi thực hiện đánh giáthường xuyên thì GV chủ yếu dùng nhận xét để đánh giá; đối với đánh giáđịnh kì thì sử dụng điểm số kết hợp với nhận xét

Thông tư 22 của Bộ GDĐT cũng đã có những sửa đổi, bổ sung về đánhgiá thường xuyên như:

- GV dùng lời nói chỉ ra cho HS biết được chỗ đúng, chưa đúng và cáchsửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của HS khi cần thiết,

có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời

- HS tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhómbạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn

- Khuyến khích cha mẹ HS trao đổi với GV về các nhận xét, đánh giá

HS bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với GV động viên, giúp đỡ HS học tập, rèn luyện [2]

Trang 19

- Các nguyên tắc khi thực hiện đánh giá quá trình để đạt hiệu quả trong viêc nâng cao chất lượng học tập.

+ Đánh giá quá trình học tập của HS cần được coi là một kĩ năngchuyên môn thiết yếu của GV: GV cần có kiến thức và kĩ năng chuyên mônđể: (i) lên kế hoạch đánh giá HS; (ii) quan sát quá trình học tập; (iii) phân tích

và giải nghĩa các biểu hiện trong học tập của HS; (iv) đưa ra phản hồi và giúp

HS tự đánh giá bản thân GV cần được hỗ trợ để hình thành và nâng cao các

kĩ năng này liên tục thông qua bồi dưỡng và tập huấn phát triển chuyên môn + Việc đánh giá quá trình cần được thực hiện một cách tế nhị và mangtính xây dựng vì bất kì sự đánh giá nào đều ảnh hưởng tới cảm xúc của HS:

GV cần nhận thức được những lời phê bình và điểm số có tác động tới sự tựtin và nhiệt tình với học tập của HS Vì thế GV cần đưa ra những nhận xétmang tính xây dựng nhất có thể Nhận xét của GV nên chú trọng vào việc họctập hơn là vào bản thân HS, khi đó nhận xét sẽ có ảnh hưởng tích cực tới việchọc và tạo động lực học tập cho HS

+ Đánh giá phải mang đến động lực học tập của HS: Đánh giá mangtính khuyến khích sẽ thúc đẩy HS có thêm động lực phấn đấu bằng cách tậptrung vào quá trình học và kết quả đạt được hơn là những gì HS yếu kém haythất bại Sự so sánh với những bạn khác học giỏi hơn sẽ không tạo ra động lựchọc tập cho HS Đánh giá HS yếu kém có thể làm cho HS thu mình và khôngmuốn học hay không tham gia quá trình học vì chúng được cho là kém Cáchđánh giá đảm bảo được quyền tự chủ của HS, đưa ra các phương án lựa chọn

và phản hồi tích cực có tính xây dựng và tạo cơ hội cho việc tự định hướng sẽgiúp duy trì và tăng cường động lực học tập cho HS

+ Có tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể phù hợp với mục tiêu học tập: Đểhọc tập hiệu quả, HS cần hiểu chúng đang cố gắng để đạt được điều gì vàmuốn đạt được điều gì Khi HS hiểu và nắm được mục đích học tập và tiêuchí đánh giá thì HS sẽ cam kết học tập trong suốt quá trình GV cần truyền tảicách và tiêu chí đánh giá cho HS với ngôn ngữ dễ hiểu, cho phép HS thảo

Trang 20

luận và đưa ra ví dụ cụ thể để làm thế nào đáp ứng các tiêu chí đánh giá trongthực tế và hướng dẫn HS tự đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau.

+ Trong quá trình đánh giá, GV cần hướng dẫn tích cực để cải thiệnviệc học tập của HS: HS cần có những thông tin và hướng dẫn để lập kếhoạch cho những bước tiếp theo trong quá trình học tập GV cần chỉ ra nhữngđiểm mạnh của HS và khuyên họ tiếp tục phát huy nó; đồng thời chỉ ra rõnhững điểm cần cải thiện và đánh giá nhận xét với thái độ xây dựng và hướngdẫn cách để cải thiện; tạo cơ hội cho HS cải thiện KQHT

+ Đánh giá quá trình cần hướng tới khả năng tự đánh giá của HS:Những HS tự lập có khả năng tìm kiếm và rèn luyện những kĩ năng mới và trithức mới Họ có khả năng tự đánh giá quá trình học tập và xác định nhữngbước tiếp theo GV nên giúp HS có được niềm đam mê và trách nhiệm đối vớiviệc học của mình thông qua xây dựng các kĩ năng tự đánh giá cho HS

+ Đánh giá quá trình cần xét đến các thành tích khác nhau của HS: Cácnhiệm vụ học tập cần hướng tới việc mở rộng, đa dạng hóa và nâng cao các kĩnăng của HS như: kĩ năng làm việc nhóm, thuyết trình, liên hệ thực tiễn… HSnên được tạo điều kiện để có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình mộtcách tốt nhất và các nỗ lực của HS ở tất cả các lĩnh vực học tập đều cần đượcghi nhận

1.4.2 Những ưu điểm của đánh giá quá trình

Mục đích của việc đánh giá quá trình là để theo dõi thường xuyên vấn đềhọc tập của HS qua đó cung cấp thông tin phản hồi liên tục Giúp HS xác địnhđiểm mạnh và điểm yếu, xác định mục tiêu cần thực hiện Giúp GV nhận ranhững vấn đề mà HS đang gặp khó khăn một cách thường xuyên, liên tục

Để thấy được ưu điểm của hai hình thức đánh giá phổ biến là đánh giáquá trình và đánh giá tổng kết, trong bài viết Formative and summativeassessment trên một trang web đã sử dụng một hình ảnh để minh họa (hình1.1)

Trang 21

Hình ảnh này nói rằng: Nếu chúng ta nghĩ những đứa trẻ giống nhưnhững loài thực vật Đánh giá tổng kết chính là sự đo lường và nó thích hợp

để so sánh, phân tích và nó không tác động, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.Mặt khác, đánh giá quá trình tương đương với việc bón phân và tưới nước chocây trồng phù hợp với nhu cầu thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng

và phát triển của cây trồng

Hình 1.1 Hình ảnh vai trò của đánh giá quá trình.

Có thể thấy ưu điểm nổi bật của phương pháp đánh giá này là đánh giákhông chỉ cho thấy mức độ nắm bắt kiến thức của HS so với mục tiêu học tập

đã đề ra mà đánh giá còn mang lại hiệu quả học tập, thúc đẩy học tâp, đánhgiá mang đến sự tiến bộ của HS trong học tập

Có thể cụ thể hóa một số ưu điểm của đánh giá quá trình như sau:

- Khi thực hiện đánh giá quá trình, cả GV và HS sẽ thu nhận đượcnhững thông tin phản hồi liên tục và thường xuyên để tự củng cố và điềuchỉnh hoạt động dạy và hoạt động học

Trang 22

Đối với HS: Việc tiến hành KTĐG thường xuyên, có hệ thống sẽ giúp các em hình thành và phát triển về cả 3 mặt: giáo dưỡng, phát triển và giáo dục:

+ Về mặt giáo dưỡng: tự xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tậpcũng như những tiến bộ của bản thân, nhận ra những vấn đề yếu kém cần phải

bổ sung và điều chỉnh phương pháp học tập phù hợp Đồng thời nắm chắcđược những nội dung quan trọng trong chương trình học tập

+ Về mặt phát triển: Thông qua việc kiểm tra, đánh giá HS có điều kiệntiến hành các hoạt động trí tuệ như: ghi nhớ, tái hiện, phát triển các năng lựcchú ý, sáng tạo; hoàn thiện các kĩ năng, kĩ xảo và vận dụng các tri thức đãhọc

+ Về mặt giáo dục: Việc thực hiện đánh giá quá trình, đánh giá thườngxuyên trong suốt quá trình học tập sẽ hình thành và phát triển nhu cầu, thóiquen tự kiểm tra, đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập và ýchí vươn tới những KQHT ngày càng cao, đề phòng và xóa bỏ những tưtưởng đối phó với thi cử; nâng cao ý thức kỷ luật, tự giác, khắc phục đượctính ỷ lại, tính tự kiêu, tự mãn, chủ quan; phát huy được tính độc lập, sáng tạo,tránh được chủ nghĩa hình thức, máy móc trong kiểm tra

Đối với GV: Việc thực hiện đánh giá quá trình, theo dõi thường xuyên

HS của mình tạo điều kiện cho người GV:

+ Nắm được cụ thể và tương đối chính xác trình độ năng lực của từng

HS trong lớp do mình giảng dạy hoặc giáo dục, từ đó có những biện phápgiúp đỡ thích hợp, trước là đối với HS khá giỏi và HS yếu kém, qua đó mànâng cao chất lượng học tập chung của cả lớp

+ Cải tiến, hoàn thiện nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạyhọc để đạt hiệu quả cao trong công tác giảng dạy

- Khi thực hiện đánh giá quá trình, việc đánh giá được thực hiện chủyếu thông qua những lời nhận xét, uốn nắn kịp thời của GV Ví dụ khi HSthực hiện một thao tác kĩ thuật, GV kịp thời theo sát và có những nhận xét

Trang 23

“khen – chê” khích lệ phù hợp, chỉnh sửa kịp thời, sẽ giúp HS giảm bớt áp lực

về học tập Các em sẽ không còn cảm thấy việc KTĐG là việc đáng sợ hãihay có thái độ ngại ngùng, e sợ khi muốn GV giảng lại một vấn đề chưa hiểu,

mà việc đánh giá của GV sẽ giúp các em giải đáp được những khúc mắc,những nội dung kiến thức mà các em chưa hiểu rõ,…

- Việc đánh giá thường xuyên, không chú trọng vào điểm số cũng giúp

HS có tâm lí thoải mái trong học tập; xác định rõ mục tiệu học tập là để lĩnhhội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo; không có sự tranh đua, so sánh giữa các HS vớinhau; giúp GV và HS giảm bớt áp lực về thành tích, điểm số

- Phương pháp đánh giá quá trình khuyến khích HS được tự bày tỏ ýkiến của mình: Các em có thể phản hồi ngay với GV khi gặp một vấn đề khóhiểu trong tiết học; các em có thể cùng với GV xây dựng các tiêu chí đánh giá

về một vấn đề học tập nào đó; các em được tự đánh giá bản thân mình và bạnbè

- Đánh giá quá trình được thực hiện trong suốt quá trình học tập mônhọc; với các hình thức và phương pháp đánh giá đa dạng; có thể đánh giá HSmột cách toàn diện, đầy đủ, khách quan Ví dụ: Khi tham gia giảng dạy tìnhnguyện tại một lớp học ở làng quê trong dịp hè; tôi nhận thấy rằng: nếu chỉqua các bài kiểm tra miệng, hay kiểm tra viết để đánh giá một HS là giỏi, kháhay trung bình thì chưa đủ và toàn diện; nhưng khi thực hiện đánh giá thườngxuyên qua việc các em làm được những gì trong hoạt động nhóm, hay giảithích, thuyết trình; liên hệ thực tiễn và tư duy giải quyết vấn đề và chỉ dùngđiểm số để đánh giá trong bài kiểm tra kết thúc một nội dung học tập lớn thìhầu hết HS đều tỏ ra rất hào hứng và bộc lộ được những thế mạnh của bảnthân; các em tự tin và mạnh dạn hơn trong việc đóng góp ý kiến và xây dựngbài tập

- Đẩy mạnh đánh giá quá trình đồng nghĩa với việc GV phải thườngxuyên quan tâm sát sao tới HS của mình hơn; các thành viên trong lớp tham

Trang 24

gia vào quá trình đánh giá, nhận xét, bổ sung ý kiến cho nhau chính vì vậy màkhông khí lớp học trở lên gần gũi, thân thiện hơn.

1.4.3 Sử dụng đánh giá quá trình trong dạy học Công nghệ

Đối với nội dung của môn học Công nghệ thì đánh giá quá trình thể hiệnđược tính ưu việt của nó Bởi tính thực tiễn là một trong những đặc điểm củanội dung kiến thức môn Công nghệ vì thế trong quá trình dạy học, GV luônphải khai thác hiểu biết thực tiễn của HS về những thiết bị kĩ thuật, nhữngtình huống, những vấn đề kĩ thuật trong cuộc sống mà các em đã gặp phải.Không những vậy, đặc điểm nội dung kiến thức môn Công nghệ còn có tínhtổng hợp, tích hợp cao, đòi hỏi người GV trong quá trình dạy học luôn phảikhai thác kiến thức của HS về những nguyên tắc, nguyên lí chung, những kĩnăng phổ biến; khái thác kiến thức của HS ở nhiều môn học khác như: Toán,

Lí, Hóa, Sinh,

Việc khai thác những hiểu biết thực tiễn, những kiến thức tổng hợp, tíchhợp trong suốt quá trình học tập là một trong những cơ sở quan trọng để GVđánh giá HS một cách toàn diện và đầy đủ

Riêng với môn Công nghệ 11, cấu trúc gồm 3 phần chính: Vẽ kĩ thuật,chế tạo cơ khí và động cơ đốt trong Đặc biệt trong phân phối chương trình cóchứa nhiều tiết học thực hành; để đánh giá khả năng tư duy kĩ thuật và kĩ năngthực hành của HS, GV phải thường xuyên quan sát, quan tâm sát sao, điềuchỉnh kịp thời các hoạt động của HS trong suốt quá trình tư duy giải quyết cácvấn đề kĩ thuật và thực hành làm ra sản phẩm

Những đặc điểm này cho thấy, đánh giá quá trình là phương pháp đánhgiá tích cực, ưu thế và cần thiết được áp dụng trong dạy học Công nghệ 11.1.5 THỰC TRẠNG VIỆC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN CÔNGNGHỆ 11 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Đánh giá KQHT môn Công nghệ 11 của HS ở trường phổ thông đượcthực hiện chủ yếu qua kiểm tra, bao gồm các hình thức: kiểm tra thườngxuyên, kiểm tra định kỳ Trong đó, kiểm tra thường xuyên được thực hiện

Trang 25

bằng phương pháp vấn đáp với thời lượng khoảng 4-5 phút và thường tiếnhành đầu tiết học hoặc cuối, nhưng cũng có khi GV xen kẽ giữa tiết học; vàphương pháp viết với thời lượng 15 phút Câu hỏi GV sử dụng trong kiểmthường xuyên chủ yếu là nhưng câu hỏi yêu cầu tái hiện kiến thức, HS chỉ cầnhọc thuộc là được cho điểm và đánh giá Nhiều GV vẫn còn tâm lí KTĐGthường xuyên để đảm bảo đủ số bài kiểm tra và đủ số đầu điểm cho từng HS;

vì thế nhiều HS còn có tâm lí có điểm kiểm tra vấn đáp đầu giờ rồi thì sẽkhông bị gọi kiểm tra nữa nên không cần học

Điều này cho thấy, đánh giá quá trình không phải là phương pháp đánhgiá mới mẻ, thực tế nó đã tồn tại và được thực hiện qua hình thức kiểm trathường xuyên bằng phương pháp vấn đáp hay phương pháp viết 15 phút vàomột thời điểm bất kì trong tiết học Tuy nhiên nó chưa được thực hiện tốt vàphát huy được hết vai trò kịp thời điều chỉnh hoạt động của cả thầy và trò;thúc đẩy HS cố gắng tích cực học tập một cách liên tục

Thực tế đánh giá KQHT môn Công nghệ 11 ở trường phổ thông hiện naychủ yếu là cho HS làm bài kiểm tra trên giấy với hai hình thức là tự luận vàtrắc nghiệm, cả hai hình thức này chỉ đánh giá được mức độ nắm kiến thức đểgiải một số bài tập hoặc giải thích một số hiện tượng liên quan đến kiến thức

đã học; các kĩ năng chính mà GV thấy được qua hình thức đánh giá này là:trình bày, diễn đạt, lập luận, giải bài tập, trong khi các kỹ năng như làm việctheo nhóm, làm việc hợp tác, trình bày vấn đề trước đám đông, xử lý tìnhhuống… là các kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống – mà các doanh nghiệpluôn tìm kiếm những nhân viên có kỹ năng như vậy thì rất khó để xác địnhđược qua các hình thức KTĐG như trên

Theo tác giả Trần Kiều trong một bài viết có nói một trong những điểmyếu kém nhất của hệ thống giáo dục Việt Nam là đánh giá các loại năng lựccủa người học: Từ mấy chục năm nay, quan niệm, hiểu biết, cách làm đánhgiá của cán bộ quản lý giáo dục cũng như của các GV ít thay đổi, còn thiên vềkinh nghiệm Thực trạng đánh giá HS khi dạy học môn Công nghệ cũng vậy

Trang 26

Việc đánh giá năng lực của một HS chủ yếu dựa vào điểm số các bài thi của

HS đó, điều đó vô hình đã bỏ qua những quan niệm sống, những kĩ năng sốngcủa HS, việc rèn luyện đạo đức, nâng cao sức khỏe, hình thành kĩ năng thựchành, định hướng nghề nghiệp tương lai và kĩ năng sống vô hình cũng bị xemnhẹ Cách đánh giá này là nguyên nhân dẫn đến việc học vẹt, học tủ và học đểđối phó với việc kiểm tra chứ không phải là đánh giá vì sự tiến bộ, đồng thờicũng làm cho GV trở thành người thụ động, phụ thuộc, khó có thể phát huyđược năng lực giảng dạy của cá nhân

Ở các trường phổ thông, hầu hết cán bộ GV đều thấy được tầm quantrọng của công tác đánh giá KQHT của HS Nó là một khâu không thể thiếutrong quá trình dạy học và có ý nghĩ to lớn trong việc nâng cao chất lượng vàhiệu quả giáo dục Tuy nhiên thực tế cho thấy nhiều GV quan niệm, đánh giáchỉ là cho điểm, xếp loại HS… mà chưa thấy được vai trò quan trọng củađánh giá là vì sự tiến bộ của HS, vì sự phát triển, nỗ lực vươn lên ở ngườihọc Việc áp dụng phương pháp đánh giá quá trình trong dạy học Công nghệ

11 ở trường phổ thông, thực tế vẫn còn gặp phải những khó khăn nhất định domột số nguyên nhân sau đây:

- Hiện tượng dạy dồn giờ, cắt bớt chương trình để tận dụng thời giancho HS học các môn học khác, hoặc bố trí GV không được đào tạo chuyênngành để dạy học môn Công nghệ, gây khó khăn cho việc áp dụng đổi mớiphương pháp đánh giá HS GV không có điều kiện để theo dõi xát sao,thường xuyên đánh giá, điều chỉnh HS GV khác chuyên ngành sang dạyCông nghệ nên thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kinh nghiệm; không đượcdạy đúng chuyên môn nên đa phần GV có tâm lý “dạy cho xong” thiếu nhiệthuyết

- Công tác chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, giám sát đối với các môn phụcòn hạn chế nên chưa khuyến khích được GV tích cực đổi mới phương phápđánh giá trong dạy học Đa phần GV vẫn áp dụng phương pháp đánh giátruyền thống là chú trọng đến việc đánh giá cuối kì mà chưa quan tâm đến

Trang 27

việc đánh giá thường xuyên, đánh giá suốt quá trình học tập môn Công nghệcủa HS.

- Đa số GV chưa được bồi dưỡng nhiều về lý luận đánh giá HS trongdạy học, giáo dục; việc nghiên cứu và áp dụng lý luận đổi mới phương pháptrong đánh giá còn hạn chế, chưa đạt hiệu quả

- Ra đề kiểm tra theo hướng đổi mới để đạt hiệu quả trong đánh giá đòihỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, trí tuệ, soạn nhiều đề phù hợpvới từng lớp, từng đối tượng HS…

- Gần đây, nhiều địa phương tổ chức kiểm tra học kỳ theo đề chung củaphòng, của sở Điều này, dẫn đến GV các trường không được ra đề học kỳ,mặt khác đề thi phải chú ý đến các trường vùng sâu, vùng khó khăn nên cáctrường chất lượng cao lại không phù hợp

Đa phần HS đều cho rằng việc đánh giá KQHT nhằm mục đích để phânloại, và xếp hạng HS với nhau (giỏi, khá hay trung bình, yếu) Các em chorằng, việc thầy cô kiểm tra miệng, hay kiểm tra 15 phút chỉ để lấy điểm tổngkết; bên cạnh đó nhiều thầy cô đều chỉ cho điểm và nhận xét đúng – sai mộtcách qua loa, chưa có sự nhận xét, điều chỉnh kịp thời để đạt được mục đíchtiến bộ của HS đúng với vai trò của nó Khi được hỏi về phương pháp đánhgiá thường xuyên, đánh giá quá trình khi học môn Công nghệ, hầu hết các emđều thấy không hứng thú với các hình thức đánh giá mà GV đang áp dụng đólà: đầu tiết học, GV nêu một câu hỏi của bài học trước rồi gọi một HS lên trảlời sau đó cho điểm; hoặc GV cho một đề bài tự luận và cho HS làm trongthời lượng 15 phút sau đó thu bài và tiếp tục học bài mới Ngoài ra, khi chấmđiểm bài kiểm tra của HS, GV thường chỉ cho điểm, ký hiệu sai hoặc đúngtrong bài làm của HS; có phản hồi, nhận xét nhưng còn hạn chế và chủ yếu lànhững phản hồi tiêu cực; vì thế mà HS rất khó để phát hiện ra lỗi sai của bảnthân và cách khắc phục; mặc dù có những tiết GV chữa bài chung cho cả lớpnhưng việc chữa bài mang tính chất áp đặt lối tư duy và cách làm của cá nhân

GV chưa phân tích được cách tư duy chưa phù hợp dẫn đến sai sót của mỗi cá

Trang 28

nhân HS Vì thế, từ đó HS sẽ áp đặt bản thân phải làm theo cách của GV vì sợsai, việc này không thúc đẩy được sự tích cực và sáng tạo của HS Bên cạnh

đó những phê bình, nhận xét tiêu cực của GV như: “sai”, “cẩu thả” sẽ khiến

HS mất tự tin vào bản thân Việc kiểm tra thường xuyên đánh giá như thế nàychưa phát huy được vai trò và ý nghĩa của kiểm tra nói riêng và đánh giá nóichung trong dạy học Công nghệ 11 ở trường phổ thông

Việc đánh giá HS trong dạy học Công nghệ 11 hiện nay nhìn chung cònnhiều tiêu cực: nhiều HS có tâm lí đối phó trong thi cử, còn phổ biến tìnhtrạng học tủ, học vẹt, quay cóp, gian lận khi kiểm tra…Vẫn còn hiện tượng lộ

đề, nâng điểm vì thế mà nếu chỉ chú trọng đến kiểm tra định kì, chú trọng đếnkết quả của bài làm hay sản phẩm cuối cùng thì không thể đánh giá được thựcchất trình độ, kiến thức, năng lực tư duy, sáng tạo,… của HS Điều này đặt rayêu cầu và thách thức cho GV Công nghệ nói riêng đó là phải đổi mới trongKTĐG, làm tốt và phát huy mạnh vai trò của đánh giá thường xuyên, nghiêncứu và có kế hoạch cụ thể để xây dựng một phương pháp đánh giá quá trìnhtrong dạy học Công nghệ đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao chất lượng của

HS trong học tập môn Công nghệ - môn học có ý nghĩa và vai trò quan trọngtrong thực tiễn vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 29

Kết luận chương 1

1 Đánh giá là một khâu quan trọng trong dạy học Đánh giá có thể đượctiến hành với nhiều hình thức khác nhau nhưng việc đánh giá không chỉ nhằmxếp hạng điểm số, phân đo cao thấp của HS hay đánh giá trình độ nghềnghiệp của người dạy; nó phải thực hiện được vài trò thúc đẩy động cơ họctập, đánh giá vì sự tiến bộ, vươn lên của HS, đánh giá để cả thầy và trò tự điềuchỉnh, củng cố hoạt động dạy và học; đánh giá để nâng cao hiệu quả dạy học

và giáo dục

2 Mặc dù vấn đề KTĐG là một khâu hết sức quan trọng trong quá trìnhdạy học nhưng trong thực tiễn hiệu quả của KTĐG còn chưa cao Đối vớimôn Công nghệ 11 còn nhiều hạn chế trong cách đánh giá

3 Việc áp dụng kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong suốt quá trìnhhọc ở môn Công nghệ 11 còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm, chưa đạt được hiệuquả cao

4 Để phát huy đúng vai trò, ý nghĩa của đánh giá HS trong dạy học thìviệc đổi mới trong KTĐG hiện nay là rất cấp bách và cần thiết Một trong

Trang 30

nhưng phương pháp đánh giá mới tích cực và đem lại hiệu quả cao hiện nay làđánh giá quá trình vì vậy cần thiết phải áp dụng phương pháp đánh giá quátrình trong dạy học môn Công nghệ 11 để nâng cao chất lượng dạy học.

Chương 2 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11

2.1 MÔN CÔNG NGHỆ 11 TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔTHÔNG

2.1.1 Chương trình môn Công nghệ 11

a Cấu trúc môn Công nghệ 11: gồm 3 phần chính:

- Phần một: Vẽ kĩ thuật

+ Chương 1 Vẽ kĩ thuật cơ sở

+ Chương 2 Vẽ kĩ thuật ứng dụng

- Phần hai: Chế tạo cơ khí

+ Chương 3 Vật liệu cơ khí và Công nghệ chế tạo phôi

+ Chương 4 Công nghệ cắt gọt kim loại và tự động hóa trong chế tạo

cơ khí

- Phần 3: Động cơ đốt trong

+ Chương 5 Đại cương về động cơ đốt trong

+ Chương 6 Cấu tạo của động cơ đốt trong

+ Chương 7 Ứng dụng động cơ đốt trong

Tóm lại trong chương trình Công nghệ ở trường THPT, chương trìnhmôn Công nghệ 11 có vị trí và vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiếnthức, phát triển năng lực kĩ thuật, tư duy kĩ thuật và định hướng nghề nghiệp

Trang 31

cho HS phổ thông Có thể thấy, nội dung kiến thức môn Công nghệ 11 giúp

HS hoàn thiện cả về ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ

- Rèn luyện các kĩ năng sử dụng sách giáo khoa, quan sát mô hình, vậtthể…; kĩ năng làm việc nhóm, phân tích, tổng hợp kiến thức…

2.1.2 Đặc điểm môn Công nghệ 11

2.1.2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu của môn Công nghệ 11

Đối tượng nghiên cứu của môn Công nghệ là các khái niệm kĩ thuật,thiết bị kĩ thuật và quá trình Công nghệ chế tạo sản phẩm kĩ thuật…Vì vậy nó

có các tính chất: tính đa chức năng, đa phương án, tính tiêu chuẩn hóa và tínhkinh tế

a Tính đa chức năng, đa phương án

Tính đa chức năng của đối tượng nghiên cứu có nghĩa là một sản phẩm

kĩ thuật có thể thực hiện được một số chức năng khác nhau Chẳng hạn: cùng

Trang 32

một qui ước, qui định có thể vẽ nhiều loại chi tiết khác nhau; cùng một thiết

bị có thể dùng để thực hiện nhiều loại chức năng, nhiệm vụ khác nhau

Tính đa phương án của đối tượng nghiên cứu có nghĩa là một sản phẩm

kĩ thuật có thể được tạo nên từ nhiều phương pháp, qui trình, cách thức khácnhau Chẳng hạn: cùng một chi tiết có thể được mô ta bằng nhiều phươngpháp vẽ khác nhau…

b Tính tiêu chuẩn hóa

Tính tiêu chuẩn hóa có nghĩa là các sản phẩm kĩ thuật và quá trình biểudiễn, sản xuất… ra chúng phải tuân theo những qui ước, qui định nghiêm ngặt

đã được thống nhất từ trước Đây chính là cơ sở của việc thống nhất để nghiêncứu, chuyển giao công nghệ, hợp tác sản xuất… nhằm đảm bảo tính kinh tếtrong sản xuất công nghiệp

c Tính kinh tế

Tính kinh tế có nghĩa là trong quá trình nghiên cứu chế tạo, sản xuất, vậnhành, bảo dưỡng…các sản phẩm kĩ thuật phải luôn chú trọng tới hiệu quảkinh tế

2.1.2.2 Đặc điểm nội dung kiến thức của môn Công nghệ 11

Ngày đăng: 08/02/2020, 17:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học, Số: 30/2014/TT-BGDĐT, ngày 28 tháng 8 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư ban hành Quy định đánhgiá học sinh tiểu học
[2]. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014, Số: 22/2016/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng 9 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư sửa đổi, bổ sung một sốđiều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư số30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014
[3]. Ngô Thị Dung (2014), đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ 11 theo năng lực, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ 11 theonăng lực
Tác giả: Ngô Thị Dung
Năm: 2014
[4]. Nguyễn Thị Phương Hoa (2011), kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn công nghệ 11 theo chuẩn kiến thức kĩ năng, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: kiểm tra đánh giá kết quả học tập môncông nghệ 11 theo chuẩn kiến thức kĩ năng
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa
Năm: 2011
[5]. Trần Bá Hoành (1997), đánh giá trong giáo dục, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[6]. Trần Bá Hoành (2007), đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa (tái bản lần thứ nhất), Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: đổi mới phương pháp dạy học, chương trình vàsách giáo khoa (tái bản lần thứ nhất)
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
[7]. Đặng Vũ Hoạt (chủ biên), Hà Thị Đức (In lần thứ năm) (2009), lý luận giáo dục Đại học, Nxb ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: lý luậngiáo dục Đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt (chủ biên), Hà Thị Đức (In lần thứ năm)
Nhà XB: Nxb ĐHSPHN
Năm: 2009
[8]. Nguyễn Trọng Khanh, tập bài giảng lý luận dạy học kỹ thuật, tài liệu dùng cho sinh viên khoa sư phạm kỹ thuật, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: tập bài giảng lý luận dạy học kỹ thuật
[9]. Đặng Bá Lãm (2003), kiểm tra – đánh giá trong dạy – học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kiểm tra – đánh giá trong dạy – học đại học
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2003
[12]. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1987), giáo dục học tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo dục học tập 1
Tác giả: Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
[13]. Trần Thị Tuyết Oanh (1999), xây dựng sử dụng câu trắc nghiệm khách quan và câu tự luận ngắn trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn giáo dục học, luận án tiến sĩ giáo dục học, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), xây dựng sử dụng câu trắc nghiệm kháchquan và câu tự luận ngắn trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn giáodục học, luận án tiến sĩ giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Năm: 1999
[14]. Trần Thị Tuyết Oanh (2007), đánh giá và đo lường kết quả học tập, Nxb Đai học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá và đo lường kết quả học tập
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: NxbĐai học Sư phạm
Năm: 2007
[15]. Lê Hữu Phong (2011), đánh giá kết quả học tập trong dạy học mô đun gia công trên máy tiện CNC theo định hướng năng lực thực hiện, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá kết quả học tập trong dạy học mô đungia công trên máy tiện CNC theo định hướng năng lực thực hiện, luận vănthạc sĩ khoa học giáo dục
Tác giả: Lê Hữu Phong
Năm: 2011
[16]. Nguyễn Đức Sơn – Lê Minh Nguyệt – Nguyễn Thị Huệ - Đỗ Thị Hành Phúc – Trần Quốc Thành – Trần Thị Lệ Thu (2015), tâm lí học giáo dục, Nxb ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: tâm lí học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Sơn – Lê Minh Nguyệt – Nguyễn Thị Huệ - Đỗ Thị Hành Phúc – Trần Quốc Thành – Trần Thị Lệ Thu
Nhà XB: NxbĐHSPHN
Năm: 2015
[17]. Thủ tướng Chính phủ, Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 ( Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020
[18]. Nguyễn Thị Xuân (2013), kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần vẽ kỹ thuật môn Công nghệ 11 bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan , luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần vẽ kỹthuật môn Công nghệ 11 bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân
Năm: 2013
[19]. Clark, I (2011), Formative Assessment: Policy, Perspectives and Practice.Florida Journal of Educational Administration & Policy, 4(2), pp.158-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Formative Assessment: Policy, Perspectives andPractice.Florida Journal of Educational Administration & Policy
Tác giả: Clark, I
Năm: 2011
[20]. T.A. ILINA (1973), giáo dục học, tập II (lý luận dạy học) (Hoàng Hạnh dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo dục học, tập II (lý luận dạy học)
Tác giả: T.A. ILINA
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1973
[22]. Sadler, D. R (1998), “Formative assessment: Revisiting the territory”, Assessment in education, 5(1), pp. 77-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Formative assessment: Revisiting the territory”,"Assessment in education, 5
Tác giả: Sadler, D. R
Năm: 1998
[23]. N.V. SAVIN (1983), giáo dục học, tập 1, (Nguyễn Đình Chỉnh dịch), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo dục học, tập 1
Tác giả: N.V. SAVIN
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w