1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề tổ văn

44 627 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên Đề Nguyễn Duy Tuấn
Tác giả Nguyễn Duy Tuấn
Trường học Trường THCS Nguyễn Duy Tuấn
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Năm Căm
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 623,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đó việc chuẩn bị bài, việc học bài cũ và chuẩn bị bài mới của học sinh đều yếu, kể cả việc ngồi học trong lớp nếu người thấy giáo dạy không phù hợp thì việc học tập của học sinh cũng

Trang 1

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Đến dự chuyên đề

Trang 2

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Một số kinh nghiệm

về phương pháp daùy hoùc

môn Ngữ văn THCS

Trang 3

NGUYỄN DUY TUẤN THC

A PhÇn dÉn luËn

• Như chúng ta đã biết, hiện nay bộ GD & ĐT có rất nhiều chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Nhưng theo tôi, dù có đổi mới cái gì, đổi mới như thế nào đi chăng nữa thì yếu tố con người trong chính quá trình dạy học ấy là quan trọng nhất Con người ở đây không ai khác chính là những con người trực tiếp dạy và học, đó chính là GV và HS.

• Gần đây có chủ trương : “Dạy học lấy HS làm trung tâm”, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn Nó đặt người học vào trung tâm của việc dạy và học bởi lẽ mục tiêu cuối

cùng của việc dạy học là đem kiến thức đến cho HS, làm cho các em trở thành những con người có tri thức, năng động sáng tạo theo kịp nhu cầu phát của cuộc sống hiện đại, vậy thì

không gì tốt hơn là việc chính người học chủ động khám phá tiếp thu tích luỹ kiến thức.

Trang 4

NGUYỄN DUY TUẤN THC

• Tuy nhiên, việc dạy và học là một quá trình diễn ra tương tác giữa GV và HS, bên cạnh yêu cầu người học tích cực chủ động thì GV là yếu tố không thể thiếu trong chính quá trình dạy học ấy Vì nếu không có GV thì việc dạy và học trở

thành việc tự học Mà HS phổ thông các em đều ở lứa tuỏi

còn nhỏ, Bác Hồ coi lứa tuổi này là búp trên cành Do đó

phải dạy, phải dỗ, phải hướng dẫn, định hướng, phải uốn nắn mới thành người có ích Vì thế người thầy giáo được coi là có vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học ấy Chính vì vậy mà người thày có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với các đối tượng HS còn nhỏ, HS ở những vùng khó khăn thiếu thốn, ở những vùng mà cả nhận thức và ý thức học tập của người học còn thấp, còn hạn chế Ở đó việc chuẩn bị bài,

việc học bài cũ và chuẩn bị bài mới của học sinh đều yếu, kể cả việc ngồi học trong lớp nếu người thấy giáo dạy không

phù hợp thì việc học tập của học sinh cũng không tích cực, không tốt.

Trang 5

NGUYỄN DUY TUẤN THC

• Là một GV tâm huyết với nghề, với gần mười năm giảng dạy, bản thân tôi đã tự rút ra được một số kinh nghiệm nhằm kích thích thích được tinh thần học tập của học sinh nâng cao hiệu quả giáo dục của mình Sau đây xin trình bày một số kinh nghiệm đã đúc kết được và đang được áp dụng khá tốt khá hiệu quả trong quá trình giảng dạy

Trang 6

NGUYỄN DUY TUẤN THC

1 Một số cách vào bài khi dạy môn Ngữ văn ở

trường THCS.

2 Cách ra đề kiểm tra theo hướng mở ở môn

Ngữ văn trong trường THCS.

tinh thần học tập của HS trong giờ học.

4 Cách giúp HS hình dung và cảm nhận một số

hình ảnh , chi tiết trong việc khám phá văn bản đối với những phần khó và mới lạ trong cuộc

sống.

5 Cách phát hiện và viết một chủ đề tự chọn

Trang 7

NGUYỄN DUY TUẤN THC

1 Một số cách vào bài khi dạy môn Ngữ

văn ở trường THCS

I Lí do hình thành kinh nghiệm

Như chúng ta đã biết, hiện nay tồn ngành Giáo dục đang thực hiện chủ trương dạy học theo chương trình sách giáo khoa ( SGK) mới và đổi mới phương pháp

dạy học đĩ là: phát huy tính tích cực, chủ động, sáng

tạo của học sinh; lấy học sinh làm trung tâm; người thầy giữ vai trị chủ đạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Người thầy cĩ nhiều cách để gây “tâm thế” học tập tích cực, chủ động của học sinh như phải luơn đặt học sinh vào “tình huống cĩ vấn đề”, học sinh luơn phải suy nghĩ, phải tư duy, phải chuẩn bị trả lời,

phải phát hiện, phải khám phá một cách thích thú mà tự giác, phải hứng thú, tị mị với cả những cái mà mình đã chuẩn bị, đã biết rồi.

Trang 8

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Để đạt được điều đó, giáo viên phải tạo ra một số tình huống bất ngờ, thú vị, hấp dẫn, thoải mái, nhằm

kích thích việc học tập của học sinh ngay từ phút đầu

của tiết học.

Một số tiết dạy nếu thiếu “lời vào bài” hoặc thiếu “sự chuẩn bị tạo tình huống khi nhập bài” thì các tiết học

thường khô khan, cứng nhắc, học sinh dễ chán nản vì

bị “mất hứng” ngay từ đầu, dẫn đến hiệu quả cuối cùng của tiết học sẽ không cao, không đạt được mục tiêu đề ra.

Ông bà ta có câu: “Đầu xuôi, đuôi lọt”, một bắt đầu

tốt đẹp, một sự “đề ba” đầy hứng khởi sẽ đem đến một quá trình học tập tích cực cho học sinh và tất yếu sẽ đem đến một kết quả tốt đẹp Sự khởi đầu của một bài

học chính là: cách dẫn dắt học sinh vào bài mới, gọi đơn giản đó là cách “vào bài” của giáo viên trong quá

trình dạy học.

Trang 9

NGUYỄN DUY TUẤN THC

II MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỂ THỰC HIỆN TỐT VIỆC “DẪN DẮT

HỌC SINH VÀO BÀI MỚI” TRONG VIỆC GIẢNG DẠY HIỆN

NAY.

Yêu cầu thứ nhất: Là chúng ta phải gác lại mọi chuyện, mọi tâm

sự vui buồn ngoài cửa lớp để bước vào lớp với một tinh thần thoải mái ngay từ đầu Có như thế, chúng ta mới tạo được hứng thú học tập cho học sinh Đừng làm “mất hứng”, đặc biệt là phút

“khởi đầu” quan trọng Gây hứng thú là việc làm mang tính cảm

hứng là chủ yếu, nếu giáo viên không có hứng thú thì làm sao làm cho học sinh hứng thú mà học tập được

Yêu cầu thứ hai: Chúng ta phải nghiên cứu kỹ nội dung bài mới trong quá trình soạn giáo án để xem nội dung chính, hay chủ đề chính của bài học là gì Có như thế khi giới thiệu mới đáp ứng được tính ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu, phù hợp… giữa lời giới thiệu với nội dung bài học Nghiên cứu kỹ mối quan hệ với bài cũ

để từ đó tìm ra cách vào bài sao cho: hay nhất; ngắn gọn nhất;

bất ngờ lí thú, hấp dẫn nhất mà học sinh vẫn lĩnh hội được nội dung chính cần tìm hiểu của bài học

Trang 10

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Từ hai yêu cầu trên, mục đích cuối cùng là làm

sao chỉ một việc “vào bài” nhưng phải đạt được

các mục đích sau:

1- Vừa ổn định được tình hình lớp, nắm bắt được tình hình học sinh.

2- Vừa gây ấn tượng cho người học

3- Vừa kiểm tra được bài cũ.

4- Vừa vào được bài mới.

5- Vừa dùng phần “vào bài” này để khám phá

một phần kiến thức trong bài học (thay cho các

ví dụ khó hiểu ở SGK).

Trang 11

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Tất nhiên không phải bài nào, cách vào bài

nào cũng phải bảo đảm các nội dung trên, mà ta phải hướng đến các nội dung đó, càng đạt

được nhiều mục đích thì càng tốt Một vấn đề

đặt ra là chúng ta phải làm sao cho khéo léo, tự nhiên, bảo đảm thời gian của phần này

hiện của học sinh Nếu ta có một cách nào đó

hay nhưng khi yêu cầu học sinh không làm

được hoặc làm không hay thì rõ ràng ý đồ của

ta không thực hiện được.

Trang 12

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Ví dụ: Dự định dùng một bài hát nào đó mà trong đó có

chứa nội dung bài cũ, có chứa cơ sở để dẫn vào bài mới, khi học sinh hát lên tức là vừa tạo được không khí lớp vui vẻ, vừa chào người dự giờ (nếu có) Nhưng nếu ta không tính đến việc học sinh có biết bài hát đó không, khi bắt nhịp mà cả lớp không biết, hát không được thì rõ ràng ý đồ của ta bị phá sản hoặc cho một em hát nhưng em đó hát không hay thì rõ ràng cũng phản tác dụng.

Để thực hiện tốt việc “dẫn dắt học sinh vào bài mới” gây được hứng thú, bất ngờ thì cần phải có rất nhiều yêu cầu Trên đây là 3 yêu cầu cơ bản nhất, không thể bỏ qua một yêu cầu nào Do đó, chúng ta muốn thực hiện tốt việc này buộc phải chú ý đến 3 yêu cầu trên.

Trang 13

NGUYỄN DUY TUẤN THC

IV MỘT SỐ CÁCH VÀO BÀI ĐÃ ĐƯỢC ÁP DỤNG THÀNH CÔNG TRONG

GIẢNG DẠY

1 Dùng phần mở bài ở sách giáo viên để vào bài mới:

Đây là cách thông thường mà giáo viên hay sử dụng Những nội dung ở SGV thường có hai yêu cầu:

Một là: phải đọc kỹ hướng dẫn ở sách giáo viên(Phần lưu ý)

Hai là: phần vào bài trực tiếp Ở phần này thường đề cập đến các nội dung

chính của bài học:

Ví dụ: Bài “Bàn về đọc sách” của Chu Quang Tiềm.

Phần hướng dẫn vào bài có các nội dung sau:

- Tầm quan trọng của việc đọc sách

- Yêu cầu của việc đọc sách

- Giới thiệu văn bản “Bàn về đọc sách”, khẳng định giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của văn bản này.

Trên đây cũng là những nội dung chính của bài học

Đây là cách giới thiệu bài mới nhằm đưa học sinh tập trung ngay vào nội dung bài học , làm cho học sinh phải chú ý ngay đến những vấn đề mình cần phải quan tâm làm rõ, phải lĩnh hội , mà giáo viên chỉ cần dựa vào SGK là thực hiện được Đây là cách vào bài trực tiếp

Tuy nhiên, cách này mới chỉ gây được sự chú ý mà chưa gây được hứng thú

cho học sinh Đây là cách “vào bài” thông thường mà chúng ta thường hay

làm.

Trang 14

NGUYỄN DUY TUẤN THC

2 Cách kiểm tra bài cũ để vào bài mới.

Khi kiểm tra bài cũ, trong nội dung kiểm tra phải có hai phần:

- Một là: Nội dung để kiểm tra bài cũ.

- Hai là: Có chứa cơ sở để vào bài mới.

Ví dụ: khi dạy bài “Các thành phần biệt lập - lớp 9”

Bài này học sinh học trong hai tiết (Tiết một: thành phần tình thái và thành phần cảm thán Tiết hai: thành phần gọi đáp và thành phần phụ chú).

Như vây, vừa để kiểm tra bài cũ đồng thời chuyển sang bài mới (chuyển từ tiết một sang tiết hai) giáo viên cần chuẩn bị một bài tập:

Bài tập: Xét hai câu sau xem câu nào có thành phần tình thái, giải thích?

1 Trời ơi, chỉ còn 5 phút.

2 Ông ơi, cháu đã về.

Trang 15

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Câu 1: có chứa thành phần tình thái vì từ “Trời ơi” dùng để gọi

nhưng không hướng đến ai mà chỉ bộc lộ thái độ: tiếc rẻ của người nói đối với thời gian còn lại là 5 phút ( SGK Ngữ văn - tập

2 - trang 20).Giáo viên dựa vào đáp án để đánh giá, nhận xét câu trả lời của học sinh, ghi điểm Và hỏi tại sao không chọn câu

2 Học sinh có thể giải thích nhiều ý, nhưng giáo viên sẽ hướng vào cách giải thích như ở câu 2 phần dưới để vào bài mới luôn

Câu 2: là lời gọi (của người cháu hướng đến người ông).

Nếu học sinh chọn câu 2 (tức là sai) giáo viên chữa và bắt luôn vào bài như đáp án: đây là lời gọi của người cháu hướng đến

người ông Do đó câu này có chứa thành phần Biệt lập dùng để

gọi Vậy thành phần biệt lập ngoài những mục đích ta đã biết ra , còn những mục đích nào nữa? Hôm nay chúng ta sẽ cùng đi tìm

hiểu tiếp: giáo viên ghi tựa bài lên bảng: Các thành phần biệt

lập (tiếp theo)

Cách vào bài này cũng được một số giáo viên thường sử dụng Tất nhiên, mức độ, yêu cầu của cách này đã khó hơn, cao hơn cách trước Do đó đòi hỏi giáo viên phải suy nghĩ, phải chọn câu hỏi cho hợp lý, bảo đảm hai yêu cầu trên.

Tác dụng của cách này vừa gây được sự chú ý, vừa gây được bất ngờ nhưng tính hấp dẫn vẫn chưa cao

Trang 16

NGUYỄN DUY TUẤN THC

3 Tạo tình huống khác thường, gây bất ngờ cho học sinh.

Khi tôi dạy bài “Viếng lăng Bác”, lớp 9.

Cách thực hiện: Đúng qui định, trống vừa đánh xong là giáo viên phải vào

lớp.Nhưng “quy luật” này được tôi thay đổi một chút để gây sự chú ý cho học sinh , tức là khi trống đánh rồi nhưng giáo viên vẫn đứng ở ngoài cửa lớp(hơi khuất-nhưng học sinh vẫn nhìn thấy), một lát sau giáo viên mới bước vào với nét mặt xúc động và nói: xin lỗi các em thầy vào trễ một chút ,nhưng thầy có

lý do đấy: đó là từ nãy đến giờ thầy đang mải suy nghĩ về bài thơ mà hôm nay chúng ta sẽ học ( sau đó giáo viên đọc ) :

Biết rằng trời xanh sẽ là mãi mãi Biết rằng biển xanh sẽ là mãi mãi

Mà sao nghe nhói… ở… trong tim…” làm cho tim mình (đưa tay lên

ngực) như nhói đau vậy? Những câu thơ này nằm trong bài “Viếng lăng

Bác” của nhà thơ Viễn Phương Tại sao những câu thơ này lại có tác dụng như vậy? Hôm nay chúng ta cùng phân tích bài thơ để tìm câu trả lời nhé? (cho học sinh ngồi) và thực hiện các thao tác tiếp theo của quá trình lên lớp ( Lưu ý: Giáo viên tiến thành kiểm tra kiến thức bài cũ bằng cách lồng ghép

trong việc dạy bài mới )

Cách này vừa ổn định được lớp rất nhanh, vừa tạo được tình huống bất ngờ và bước đầu gây được hứng thú cho học sinh

Trang 17

NGUYỄN DUY TUẤN THC

4 Tạo không khí thân mật ngay từ ban đầu nhưng vẫn gây được tình huống bất ngờ cho học sinh

Đó là khi dạy bài: Hội thoại - lớp 8.

Cách thực hiện: Vào lớp sau khi giáo viên và học sinh ngồi , giáo viên dẫn: Trước khi vào học bài mới, thầy mời lớp trưởng đứng lên cho thầy “trao đổi” một số vấn đề về tình hình của lớp (lớp trưởng đứng dậy), giáo viên bắt đầu hỏi để học sinh trả lời.

Các câu hỏi như:

- Sĩ số lớp đủ - vắng?

- Vắng thì tại sao?

- Tình hình học tập (xếp hạng mấy về thi đua trong tuần này…).

- Ai là người học giỏi nhất, ai hát hay nhất…

Sau khi thực hiện một cuộc thoại ngắn, giáo viên cho học sinh ngồi xuống, giáo viên có lời nhận xét khái quát : (lớp tốt, ngoan…) Sau đó mời một học sinh khác đứng dậy hỏi:

- Giáo viên: Em hãy cho thầy biết: thầy và bạn lớp trưởng vừa làm gì?

- Học sinh: Có thể trả lời: Thầy và bạn vừa trao đổi (hay nói chuyện) về tình hình của lớp…

Giáo viên khẳng định: đúng và dẫn: Khi hai người nói chuyện hoặc trao đổi với nhau về một vấn đề nào đó thì người ta gọi là: Hội thoại Hàng ngày, chúng ta vẫn thực hiện rất nhiều cuộc hội thoại…vậy “Hội thoại” là gì? hội thoại như thế nào cho đúng, cho hay chúng ta cùng tìm hiểu (ghi tựa bài lên bảng và học bài mới).

Cách này cũng có tác dụng vừa ổn định được lớp, vừa gây được bất ngờ tạo được sự chú ý và gây được sự tò mò muốn khám phá-gây hứng thú cho học sinh Mối quan

hệ giữa thầy và trò lại trở lên rất thân mật.

Trang 18

NGUYỄN DUY TUẤN THC

5.Vận dụng bài hát để vào bài mới

a.Bài một

Cụ thể: khi dạy bài “Điệp ngữ”- lớp 7, tôi vận dụng bài hát quen

thuộc mà học sinh đều biết , đó là bài: “ Như có Bác Hồ trong

ngày vui đại thắng”.

Cách thực hiện: Vào lớp, sau khi học sinh đã ổn định, giáo viên tiến hành giới thiệu và bắt nhịp bài hát trên, Hát xong, giáo viên gọi một học sinh lên và hỏi:

- Giáo viên: Em thấy ở cuối bài hát này có gì đặc biệt về từ ngữ?

- Học sinh: Thưa thầy (cô), có cụm từ “Việt Nam Hồ Chí Minh” lặp

đi lặp lại nhiều lần

- Giáo viên: Theo em , việc lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy có tác dụng gì?

- Học sinh: Trả lời nhiều ý (có thể đúng, có thể chưa đúng)

- Giáo viên: Bắt vào: lặp đi lặp lại như vậy để thể hiện niềm tự hào

về Bác, về đất nước trong ngày vui đại thắng…việc lặp đi lặp lại

từ ngữ như vậy người ta gọi là “Điệp ngữ” Vậy Điệp ngữ là gì, Điệp ngữ có những tác dụng gì? Đó chính là nội dung bài học

mà hôm nay chúng ta cần tìm hiểu (Giáo viên ghi tựa bài lên bảng , và học bài mới )

Trang 19

NGUYỄN DUY TUẤN THC

b Bài hai (khi dạy bài: Ý nghĩa văn chương - lớp 7)

Cách thực hiện: cũng tương tự như bài trên, khi giáo viên và học sinh vào lớp ổn định chỗ ngồi, giới thiệu người dự giờ, yêu cầu hát chúc mừng người dự giờ, tạo không khí lớp học.

Nhưng có một điểm khác cơ bản ở tiết này là: do yêu cầu của bài học “Ý nghĩa văn chương” do đó phải chọn một bài hát hay, giọng hát phải truyền cảm thì mới gây được tác dụng: tôi chọn bài “Quê hương” và chuẩn bị chỉ chọn một

em lên hát Sau khi hát xong giáo viên mời một em khác lên hỏi:

- Giáo viên: Qua bài hát bạn vừa trình bày đã gợi cho em những tình cảm gì?

- Học sinh: (trả lời nhiều ý như: tình yêu quê hương đất nước…)

- Giáo viên: Do đâu mà em có tình cảm đó?

- Học sinh: Từ lời của bài hát qua sự thể hiện của bạn mà em có được tình cảm ấy.

Giáo viên bắt vào: Lời bài hát được phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhạc sĩ Đỗ

Trung Quân, mà: thơ - văn gọi chung là “văn chương” Khi ta đọc, ta nghe thì

văn chương gây cho ta những tình cảm tốt đẹp ấy Đó chính là ý nghĩa, là tác dụng của văn chương Vậy văn chương có những tác dụng, ý nghĩa nào nữa? Đây chính là nội dung bài học hôm nay mà thầy trò ta cần tìm hiểu Vậy chúng ta mở SGK trang… học bài “Ý nghĩa văn chương” (giáo viên ghi tựa bài lên bảng- học bài mới).

Trang 20

NGUYỄN DUY TUẤN THC

Viết thì cĩ vẻ dài, nhưng nếu chuẩn bị kỹ, khéo léo chỉ khoảng 3-4 phút, như vậy bảo đảm về mặt thời gian

Qua cách vào bài bằng bài hát như trên ta sẽ đạt được yêu cầu của một tiết vào bài (5 yêu cầu) đã nêu ở trên

Cách vào bài này đạt được hiệu quả cao nhất, thể hiện ở chỗ:

- Thứ nhất: ổn định được lớp

- Thứ hai: gây được hứng thú cao cho học sinh

- Thứ ba: vào được bài mới

- Thứ tư: dùng làm một ví dụ để dạy một đơn vị kiến thức cho bài mới

- Đặc biệt là tạo được khơng khí lớp sơi nổi, phấn khởi, thoải

mái, thân thiện, học sinh rất hứng thú học tập ngay từ đầu.

Trong quá trình dạy và học hiện nay,lượng bài mới là rất nhiều , mỗi bài cĩ nhiều cách, điều quan trọng là chúng ta thực hiện như thế nào cho hiệu quả

Ở bài viết này, tơi khơng cĩ tham vọng trình bày tất cả các bài mình

đã dạy, hay tất cả các cách vào bài mình đã thực hiện mà chỉ nêu ra một vài cách ở những tiết dạy thành cơng qua việc dự giờ gĩp ý của đồng nghiệp, qua thực tế giảng dạy của bản thân mà thơi

Trang 21

NGUYỄN DUY TUẤN THC

2 Cách ra đề kiểm tra theo hướng mở ở

môn Ngữ văn trong trường THCS

I ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH KINH NGHIỆM

• Theo phân phối chương trình và nội dung ở Sách giáo khoa hiện nay , môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở có thời lượng và số tiết gần như là nhiều nhất Môn Ngữ văn 6,7,8 là 4 tiết /tuần tương đương 140 tiết/ năm, riêng môn Ngữ văn 9 là 5tiết/tuần tương đương với 175 tiết / năm , đó là chưa kể đến các chủ đề tự chọn Trong đó , riêng phân môn Tập làm văn ở lớp 6,7,8 chỉ chiếm từ 48 đến 50 tiết / năm , lớp 9 là 58 đến 60 tiết /năm Như vậy số tiết của phân môn Tập làm văn là không nhiều (50/140 và 60/175 so với tổng số tiết của hai phân môn còn lại ) Nhưng số bài kiểm tra và số con điểm của môn Tập làm văn thì lại chiếm một nửa , lớp 6, 8 , 9 là 3/6 bài/một học kì , lớp7 là 3/5 bài /một học kỳ – quá nửa Chính vì vậy , mà trong việc học tập hàng ngày , học sinh và giáo viên phải tiếp xúc nhiều với việc kiểm tra – và cũng đồng nghĩa với việc phải tiếp xúc nhiều với đề kiểm tra và cả việc chấm trả bài kiểm tra Đó là chưa nói đến các bài kiểm tra Tiếng Việt và Ngữ văn thì phần tự luận bao giờ cũng là Tập làm văn và chiếm tỷ lệ điểm rất cao là 3/7, 4/6 , 5/5 Vì vậy mà học sinh rất ngán môn Tập làm văn , còn giáo viên thì cũng chẳng yêu thích gì , vì nó vừa dài vừa khó cho cả giáo viên và học sinh Do đó, điểm môn Tập làm văn bao giờ cũng thấp hơn so với các phân môn khác.

• Để dẫn đến vấn đề trên thì có rất nhiều lí do , nhưng theo tôi có một lí do tôi cho là

quan trọng mà tôi đã phát hiện ra trong quá trình giảng dạy đó là ở CÁCH RA ĐỀ Ở

PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CỦA GIÁO VIÊN trong quá trình kiểm tra

Trang 22

NGUYỄN DUY TUẤN THC

• Như chúng ta đã biết , phân môn Tập làm văn là môn tích hợp của hai phân môn Tiếng Việt và Ngữ văn Để làm tốt phần Tập làm văn thì học sinh phải nắm vững kiêùn thức về phần Văn và Tiếng Việt

• Mặt khác , chúng ta phải thừa nhận với nhau một điều là

mụcđích của phân môn Tập làm văn là rèn luyện những kỹ năng nói và viết cho học sinh theo các kiểu bài , các phương thức biểu đạt thông dụng trong cuộc sống Và để rèn luyện được các kỹ năng đó thì khi làm bài văn – tức là viết bài Tập làm văn , học sinh phải hướng vào một đối tượng nào đó để trình bày các phương thức, các kiểu bài mà mình đã được học Ví dụ như khi học sinh vừa học

xong lí thuyết của kiểu bài miêu tả như : thế nào là văn miêu tả ? muốn miêu tả được thì ta phải làm gì ? và làm như thế nào? v v… Sau đó học sinh phải chọn được một đối tựơng nào đó để hướng vào đó mà trình bày, mà miêu tả , cụ thể như : một dòng sông , một hàng cây , một con vật hay một người bạn nào đó v v…

Ngày đăng: 18/09/2013, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh , chi tiết trong việc khám phá văn bản  đối với những phần khó và mới lạ trong cuộc - Chuyên đề tổ văn
nh ảnh , chi tiết trong việc khám phá văn bản đối với những phần khó và mới lạ trong cuộc (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w