1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tieu luan : Kiem tra - danh gia

30 412 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ)
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 423 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiểu luận này tôi xin trình bày khái quát nội dung một số loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan và kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn MCQ... + Loại câu hỏi t

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ Trang 2

B NỘI DUNG 3

I PHÂN LOẠI TRẮC NGHIỆM TRONG GIÁO DỤC 3

II LÍ THUYẾT VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 5

1 Loại câu hỏi ghép đôi (matching item) 5

a Cấu trúc 5

b Ưu điểm 6

c Nhược điểm 7

2 Loại câu hỏi điền khuyết (supply item) hay có câu trả lời ngắn 7

a Cấu trúc 7

b Ưu điểm 8

c Nhược điểm 9

3 Loại câu hỏi “Đúng - sai” 10

a Cấu trúc 10

b Ưu điểm 10

c Nhược điểm 10

d Yêu cầu khi viết câu hỏi “Đúng - Sai” 11

4 Loại câu hỏi nhiều lựa chọn (multiple choise question - MCQ) 12

a Cấu trúc 12

b Ưu điểm 13

c Nhược điểm 14

III KĨ THUẬT VIẾT CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN (MCQ) 15

1 Kĩ thuật viết phần dẫn 15

2 Kĩ thuật soạn các phương án chọn 20

IV MỘT VÀI CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MCQ 27

C KẾT LUẬN 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, Bộ giáo dục và Đào tạo đã và đang tiếp tục chủ trương đồng thời đổi mới toàn diện giáo dục từ mục tiêu chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo đến các hoạt động của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập

Trang 2

của người học Các hoạt động nghiên cứu xung quanh các phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá bước đầu đã phát huy được các ưu

điểm của trắc nghiệm khách quan như : điểm số có tính khách quan cao, chính

xác, nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo (thời gian, kinh phí, phản hồi nhanh ) tránh học tủ, học lệch, đối phó Trong những năm gần đây việc tổ chức kiểm tra – đánh giá người học bằng hình thức thi trắc nghiệm khách quan đã trở nên quen thuộc và phổ biến với các kì kiểm tra, thi học kì, thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh cao đẳng, đại học

Trong tiểu luận này tôi xin trình bày khái quát nội dung một số loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan và kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ)

Trang 3

B NỘI DUNG

I PHÂN LOẠI TRẮC NGHIỆM TRONG GIÁO DỤC

Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động để đo lường năng lực của các

đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học; hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào học một khoá học

Có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết

- Loại quan sát giúp xác định những thái độ, những kỹ năng thực hành hoặc một số kỹ năng về nhận thức, kỹ năng ứng xử, kỹ năng giải quyết vấn đề…

- Loại vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người

được chấm là quan trọng

CÁC PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM

Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận

Đúng - sai Điền khuyết Nhiều lựa chọn Ghép đôi

Tiểu luận Tóm tắt Tự diễn đạt Đoạn văn

Trang 4

- Loại viết thường có hai hình thức chính là : trắc nghiệm tự luận và trắc

nghiệm khách quan Loại viết được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau :

 Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh một lúc

 Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời

 Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao

 Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm

 Người ra đề không nhất thiết phải tham gia chấm bài

+ Loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận là những câu hỏi có câu trả lời tự do hay trả lời có giới hạn Học sinh có thể trả lời bằng một bài viết mô tả, phân tích, chứng minh và giải thích Học sinh được tự do diễn đạt, trình bày tư tưởng, suy nghĩ và cả phương pháp của mình nên phát huy được óc sáng tạo và suy luận

+ Loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong đó đề kiểm tra thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho học sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu

Bảng so sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

1 Chỉ có một phương án đúng ; tiêu

chí đánh giá là đơn nhất ; việc chấm

bài là hoàn toàn khách quan không phụ

thuộc vào người chấm

1 Học sinh có thể đưa ra nhiều phương án trả lời, tiêu chí đánh giá không đơn nhất Việc chấm bài phụ thuộc vào chủ quan người chấm

2 Câu trả lời là có sẵn hoặc nếu học

sinh phải viết câu trả lời thì đó là

những câu ngắn và chỉ có một số từ

2 Các câu trả lời do học sinh tự viết và

có thể có nhiều phương án với mức độ đúng sai khác nhau

Trang 5

Ưu điểm và hạn chế của trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

Ít may rủi do trúng hoặc không trúng tủ x

Áp dụng công nghệ hiện đại trong chấm thi và phân tích

II LÍ THUYẾT VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

Trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại câu hỏi : loại câu hỏi ghép đôi, loại câu hỏi điền khuyết, loại câu hỏi đúng – sai và loại câu hỏi nhiều lựa chọn

1 Loại câu hỏi ghép đôi (matching item)

Trường hợp mỗi phần tử cột bên phải chỉ được dùng một lần

Ví dụ : Ghép nội dung cột bên trái với nội dung tương ứng ở cột bên phải.

Trang 6

1 Đơn vị của lực : A Trọng lực

2 Nguyên nhân làm cho vật thay đổi vận tốc : B Hợp lực

3 Đại lượng đặc trưng cho mức quán tính của vật : C Khối lượng

4 Lực hút của Trái Đất vào các vật : D Niutơn

F Kg

G Lực

Trường hợp phần tử cột bên phải có thể dùng nhiều lần hoặc không dùng đến

Ví dụ : Ghép nội dung cột bên trái với nội dung tương ứng ở cột bên phải.

1 Mặt phẳng tới A là đường phân giác của góc tạo bởi tia

phản xạ và tia tới

2 Góc phản xạ B đối xứng với nhau qua pháp tuyến

3 Đường thẳng vuông góc với mặt

phản xạ tại điểm tới C là pháp tuyến.

4 Trong định luật phản xạ có thể

xem pháp tuyến D chứa pháp tuyến và tia tới.

5 Tia phản xạ và tia tới E được tạo bởi pháp tuyến và tia phản xạ

c Nhược điểm

Do muốn soạn câu hỏi để đo các mức thức cao hơn đòi hỏi nhiều công phu nên thông thường các giáo viên chỉ dùng loại câu hỏi ghép đôi để trắc nghiệm

Trang 7

các kiến thức về ngày tháng, tên, định nghĩa, biến cố, công thức, dụng cụ hoặc

Nói chung, đây là loại trắc nghiệm khác quan có câu trả lời tự do Gần đây, các nhà nghiên cứu trắc nghiệm thường xen vào bài trắc nghiệm những câu hỏi thuộc loại điền khuyết hay câu trả lời ngắn nhằm khảo sát mức độ tư duy sáng tạo của học sinh Như vậy, loại trắc nghiệm này không còn hoàn toàn khách quan nữa, vì có yếu tố chủ quan xen vào Hình thức này được xem như là sự phối hợp trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận Tuy nhiên, loại câu hỏi này đang được nghiên cứu và thử nghiệm nên vẫn chưa được áp dụng rộng rãi Theo nguyên tắc, không nên sử dụng loại câu này trong bài trắc nghiệm khách quan, nhưng vì câu trả lời ngắn và cách cho điểm khách quan hơn so với trắc nghiệm tự luận nên có thể xem như câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Ví dụ : Hãy điền các cụm từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu dưới đây :

1 Các điện tích có thể dịch chuyển………

2 Các điện tích không thể dịch chuyển qua ………

3 Kim loại là chất dẫn diện vì trong đó có các ……… có thể dịch chuyển có hướng

Có thể hạn chế phạm vi tự do câu trả lời bằng cách cung cấp một số từ hay cụm từ cho trước trong một bảng để học sinh chọn lựa

Trang 8

Ví dụ : Chọn những từ hoặc cụm từ thích hợp trong bảng dưới đây và điền

vào các chỗ trống ở các câu sao cho đúng nghĩa :

Câu 1 : Dao động ………là chuyển động của một vật có li độ phụ thuộc vào thời gian theo dạng cosin

Câu 2 : Dao động ………… là dao động của một vật được duy trì với biên

độ không đổi nhờ tác dụng của lực ngoài tuần hoàn

Câu 3 : Dao động ………… là dao động của một hệ chỉ chịu ảnh hưởng của nội lực

Câu 4 : Một vật khi dịch chuyển khỏi vị trí cân bằng một đoạn x, chịu tác dụng của lực F = - kx thì vật dao động ………

Học sinh không thể đoán mò câu trả lời mà phải nhớ và nghĩ ra câu trả lời, thay vì chọn câu trả lời đúng trong số câu cho sẵn

Loại này dễ soạn hơn loại ghép đôi và loại câu nhiều lựa chọn

Loại trắc nghiệm điền khuyết thích hợp hơn so với loại luận đề khi dùng kiểm tra những điều đòi hỏi trí nhớ Nhờ có câu trả lời ngắn nên số câu hỏi kiểm tra trong thời gian có hạn sẽ được nhiều hơn so với loại luận đề Do đó, trắc nghiệm loại điền khuyết có độ tin cậy cao hơn và việc chấm điểm cũng khách quan hơn

Loại này rất thích hợp với những vấn đề như : tính toán, đánh giá mức hiểu biết các nguyên lí, định luật vật lí, giải thích dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ.Giúp học sinh rèn luyện trí nhớ khi học

Điều hoà ; tự do ; tuần hoàn ; cưỡng bức

Trang 9

Nhiều câu hỏi loại điền khuyết ngắn và gọn có khuynh hướng đề cập các vấn

đề không quan trọng hoặc không liên quan nhau Phạm vi kiểm soát thường chỉ giới hạn vào các chi tiết, các sự kiện vụn vặt

Các yếu tố như chữ viết, lỗi chính tả có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá câu trả lời

Việc chấm bài mất nhiều thời gian hơn so với loại trắc nghiệm đúng – sai hoặc trắc nghiệm có nhiều câu trả lời sẵn để chọn

Khi có quá nhiều chỗ trống trong một câu hỏi, học sinh có thể rối trí Kết quả điểm số thường có độ tương quan cao với mức thông minh hơn là kết quả học tập Do đó, độ giá trị bài kiểm tra giảm vì thực ra câu hỏi đang đo lường mức độ thông minh nhiều hơn thành quả học tập

Loại câu hỏi này thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm Tuy khác quan hơn loại luận đề nhưng giáo viên vẫn gặp nhiều phiền phức hơn khi chấm vì giới hạn câu trả lời đúng rộng rãi hơn Giáo viên có thể cho điểm một phần hay toàn phần cho một câu trả lời khác so với đáp án Do vậy, các nhân viên phụ tá không thể chấm giúp và cũng không thể dùng phương pháp chấm bằng máy

3 Loại câu hỏi “Đúng - sai”

a Cấu trúc

Loại này thường gồm một câu phát biểu để học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn Đúng hay Sai Cũng có thể thay chữ “Đúng - Sai” bằng chữ “giống nhau – khác nhau”, “mạnh - yếu”, “lớn hơn - bằng nhau - nhỏ hơn”

Ví dụ :

Trang 10

Nhiệt kế y tế có thể dùng để đo nhiệt độ của nước đá đang tan Đ SNhiệt không thể truyền từ vật nóng hơn sang vật lạnh hơn Đ SQuá trình truyền nhiệt là một quá trình thuận nghịch Đ S

b Ưu điểm

Là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện.Giúp cho việc trắc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn trong một khoảng thời gian kiểm tra ngắn

Giáo viên có thể soạn nhiều câu trong khoảng thời gian ngắn

Loại câu hỏi trắc nghiệm “Đúng - Sai” có cấu trúc đơn giản hơn các loại câu hỏi khác cho nên viết tương đối đơn giản hơn, do đó ít phạm lỗi hơn về mặt kĩ thuật so với các loại câu hỏi trắc nghiệm khác

Giáo viên thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu trong sách, do

đó học sinh sẽ tập thói quen học thuộc lòng hơn là tìm hiểu và suy nghĩ

Việc phải quyết định chọn giữa đúng và sai có thể làm các học sinh khá giỏi khó chịu hay thất vọng, khi họ thấy phải có điều kiện rõ ràng mới quyết định xem câu phát biểu đúng hay sai, hoặc có thể có những trường hợp ngoại lệ chứ không phải chỉ có hoàn toàn đúng hoặc sai

Những câu phát biểu sai mà được trình bày như là đúng có thể khiến học sinh học những điều sai lầm một cách vô ý thức

d Yêu cầu khi viết câu hỏi “Đúng - Sai”

Nên dùng những chữ chính xác và thích hợp để câu hỏi đơn giản và rõ ràng.Câu hỏi chỉ nên mang một ý tưởng chủ yếu, tránh những câu phức tạp

Đề phòng những từ khẳng định như “luôn luôn”, “tất cả”, “không bao giờ”,

“không thể được”, “chắc chắn” vì những câu có từ này thường có triển vọng sai

Trang 11

Ngược lại, những từ như “thường thường”, “đôi khi”, “ít khi” lại thường đi với những câu trả lời đúng.

Nên cố gắng soạn câu hỏi để nội dung có nghĩa hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai

Những câu hỏi phải đúng văn phạm để học sinh nào cẩn thận không cho câu

ấy sai chỉ vì cách diễn đạt không chính xác

Tránh dùng các câu ở thể phủ định, nhất là thể phủ định kép

Nên viết những câu yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức đã học Không nên trích nguyên văn câu hỏi từ sách giáo khoa, vì làm như vậy chỉ khuyến khích học thuộc lòng một cách máy móc Nên diễn tả lại những điều đã học dưới dạng những câu mới nhưng vẫn diễn đạt được nội dung cần kiểm tra, đánh giá

Không nên dùng những từ định lượng hơn định tính để chỉ các số lượng (các chữ lớn, nhỏ, nhiều, ít, giá, trẻ có thể có ý nghĩa khác nhau đối với các độc giả khác nhau)

Tránh khuynh hướng dùng số câu đúng nhiều hơn số câu sai hay ngược lại trong bài kiểm tra Số câu đúng và số câu sai nên gần bằng nhau

Tránh làm cho một câu trở nên sai chỉ vì một chi tiết vụn vặt hoặc một ý tưởng nhằm lừa học sinh

Đề phòng trường hợp mà câu trả lời đúng lại tuỳ thuộc vào một chữ, một từ hay một câu tầm thường vô nghĩa

4 Loại câu hỏi nhiều lựa chọn (multiple choise question - MCQ)

Trang 12

chỉ có một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất, các phương án khác đưa vào có tác dụng “gây nhiễu” (distactor) hay câu mồi Các câu mồi (nhiễu) phải là những câu sai nhưng trông có vẻ đúng, có vẻ hợp lí, thu hút sự lựa chọn của học sinh có năng lực kém, còn đối với học sinh khá, giỏi thì nó chỉ có tác dụng như là câu nhiễu mà thôi Điều quan trọng là làm sao các câu mồi ấy đều hấp dẫn ngang nhau đối với học sinh kém.

Phần dẫn có khi là một câu hỏi

Ví dụ : Kết luận nào sau đây là đúng ?

A Khi xe đang chạy, lực ma sát giữa vành xe và bụi bám vào vành xe là

ma sát lăn

B Khi đi bộ, lực ma sát giữa chân người và mặt đất là ma sát nghỉ

C Lực ma sát giữa xích (sên) và đĩa xe đạp khi xe đang chạy là mát lăn

D Lực ma sát giữa trục và bi khi bánh xe đang quay là ma sát trượt

Phần dẫn có khi là một mệnh đề được dùng làm dữ kiện cho nhiều câu

Ví dụ : Cho mạch điện như hình vẽ Biết R = R0 = 100Ω = ZL , ZC = 300Ω ,

UAB = 200sin100πt (V) Các dữ kiện trên được dùng cho các câu 1, câu 2, câu 3.Câu 1 Tổng trở của mạch điện là

Trang 13

B. 50 V

C 100 V

D. 100 V

Phần dẫn có khi là một câu chưa đầy đủ còn có chỗ để trống

Ví dụ : Chọn các cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống theo thứ tự.

Lực là đại lượng đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác, kết quả là …(1)… hoặc làm cho vật … (2)…

A truyền gia tốc cho vật ; biến dạng

B làm vật biến dạng ; thu gia tốc

+ Đánh giá sự hiểu biết của các khái niệm, định luật vật lí…

+ Xác định mối liên hệ nhân quả của các hiện tượng vật lí

+ Xác định thứ tự của các tính chất của nhiều hiện tượng vật lí

+ Nhận biết điểm tương đồng hay dị biệt giữa hai hay nhiều hiện tượng vật lí, thiết bị thí nghiệm vật lí hay dụng cụ đo lường…

+ Đánh giá khả năng hiểu biết những nguyên tắc cơ bản của những ứng dụng quan trọng của vật lí trong đời sống và sản xuất

+ Đánh giá kĩ năng vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng vật lí và giải bài tập vật lí

+ Đánh giá kĩ năng sử dụng dụng cụ đo lường …

+ Đánh giá các kĩ năng lắp đặt các thí nghiệm đơn giản

+ Đánh giá khả năng xử lí các số liệu thí nghiệm

Độ tin cậy cao Yếu tố đoán mò may rủi của học sinh giảm nhiều so với các loại trắc nghiệm khách quan khác, vì số phương án chọn trong trắc nghiệm

Trang 14

MCQ là từ 4 đến 5 điều này được giải thích vì sao loại này được sử dụng phổ biến hơn loại “Đúng - Sai”.

Độ giá trị cao Với một đề trắc nghiệm gồm nhiều câu, có thể đánh giá học sinh theo nhiều mức độ khác nhau Thang phân loại hiện nay được nhiều người

sử dụng, đó là phân loại của Bloom gồm 6 mức độ : biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá

Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi, xác định được những câu dễ, câu khó, câu không có giá trị với mục tiêu cần đánh giá Đối với hình thức trắc nghiệm tự luận, quan sát hoặc vấn đáp thì khó sử dụng các phương pháp phân tích để xác định tính chất của mỗi câu hỏi

Kết quả của bài thi trắc nghiệm khách quan không phụ thuộc vào chủ quan người chấm

Học sinh phải xét đoán và phân biệt càng kĩ khi trả lời, do đó kích thích sự phát triển tư duy của học sinh khi lực chọn câu trả lời hợp lí nhất và đúng nhất trong số các câu trả lời cho trước

c Nhược điểm

Khó soạn câu hỏi hay và đúng chuẩn

Học sinh có thể không thoả mãn hay cảm thấy khó chịu khi tìm ra những câu trả lời hay phương án đã cho trong phần chọn

Không đánh giá được khả năng tổ chức tư duy, cách trình bày suy nghĩ và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi trắc nghiệm loại tự luận được soạn kĩ

Khó đánh giá được kĩ năng chuyên biệt của môn Vật lí như kĩ năng lắp ráp

và thực hiện các thí nghiệm, kĩ năng xác định sai số và trình bày kết quả thu được cùng với kĩ năng sử dụng các thuật ngữ vật lí

III KĨ THUẬT VIẾT CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

NHIỀU LỰA CHỌN (MCQ)

1 Kĩ thuật viết phần dẫn

Trang 15

- Câu lệnh ở phần dẫn cần phải thống nhất trong toàn bài trắc nghiệm : khoanh tròn, gạch chân, đánh dấu X, …

- Phần dẫn (phần đầu) phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề, không nên đưa quá nhiều ý vào câu dẫn

Ví dụ : Trong cách làm tăng, giảm áp lực sau đây cách nào là không đúng ?

A Muốn tăng áp suất thì tăng áp lực, giảm diện tích bị ép

B Muốn giảm áp suất thì giảm áp lực, tăng diện tích ép

C Muốn tăng áp suất thì giảm áp lực, giữ nguyên diện tích bị ép

D Muốn giảm áp suất thì giữ nguyên áp lực, tăng diện tích bị ép

Trong ví dụ này phần dẫn đề cập đến hai vấn đề : tăng và giảm áp lực Nêm

bỏ bớt và chỉ đề cập đến một vấn đề : tăng hoặc giảm áp lực mà thôi

- Phần dẫn phải hàm chứa vấn đề muốn hỏi và phải trình bày vấn đề đó một cách rõ ràng, tường minh, để học sinh có thể hiểu rõ đang muốn hỏi về điều gì ngay sau khi học sinh đọc xong phần dẫn và trước khi đọc phần trả lời

Ví dụ : Trong phóng xạ α :

A hạt nhân con lùi một ô

B hạt nhân con tiến một ô

C hạt nhân con lùi hai ô

D hạt nhân con tiến hai ô

Với câu dẫn quá ngắn như trong ví dụ trên học sinh sẽ không biết giáo viên muốn hỏi điều gì khi đọc xong phần dẫn “trong phóng xạ α” Trong câu trắc nghiệm này phần dẫn không chứa vấn đề định hỏi, thiếu chủ đề chính yếu cần thiết hay thiếu tính thống nhất Một câu dẫn quá ngắn không mang đầy đủ ý nghĩa thì ngược lại một câu dẫn quá dài đôi khi cũng trở thành một câu tối nghĩa

Ví dụ trên có thể sửa lại thành : Trong phóng xạ α, so với hạt nhân mẹ thì hạt nhân con trong bảng hệ thống tuần hoàn có vị trí :

A lùi một ô

B tiến một ô

C lùi hai ô

D tiến hai ô

Ngày đăng: 18/09/2013, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w