1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đầu tư và chia sẻ chi phí trong giáo dục đại học

12 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 604,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập tới lợi ích của việc đầu tư cho giáo dục đại học (GDĐH), một số xu hướng đầu tư và chia sẻ chi phí GDĐH trên thế giới. Tỷ lệ chi Ngân sách Nhà nước (NSNN) trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng lên, đầu tư của khu vực tư nhân cho GDĐH tăng mạnh, tỷ trọng đầu tư từ NSNN cho một sinh viên đại học giảm xuống, tăng thu học phí và mở rộng cho sinh viên vay vốn… là các xu hướng thực hiện chia sẻ chi phí đang được áp dụng ở một số nước trên thế giới.

Trang 1

Hoàng Thanh Huyền

Khoa Kế toán- Kiểm toán,

Học viện Ngân hàng

Ngày nhận: 23/07/2019 Ngày nhận bản sửa: 14/08/2019 Ngày duyệt đăng: 27/08/2019

Bài viết đề cập tới lợi ích của việc đầu tư cho giáo dục đại học (GDĐH),

một số xu hướng đầu tư và chia sẻ chi phí GDĐH trên thế giới Tỷ lệ chi

Ngân sách Nhà nước (NSNN) trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng

lên, đầu tư của khu vực tư nhân cho GDĐH tăng mạnh, tỷ trọng đầu tư từ

NSNN cho một sinh viên đại học giảm xuống, tăng thu học phí và mở rộng

cho sinh viên vay vốn… là các xu hướng thực hiện chia sẻ chi phí đang

được áp dụng ở một số nước trên thế giới Khuyến nghị đối với Việt Nam,

cần hoàn thiện chính sách học phí để tăng cường đầu tư của cá nhân người

học cho GDĐH và yêu cầu người học chia sẻ chi phí GDĐH với Nhà nước

Ngân sách Nhà nước được đầu tư chủ yếu cho hoạt động nghiên cứu và

phát triển (R&D) của các cơ sở GDĐH và những lĩnh vực cần ưu tiên trong

GDĐH Cùng với việc tăng học phí, Nhà nước cần hoàn thiện chính sách

tín dụng cho sinh viên.

Từ khóa: đầu tư cho giáo dục đại học, chia sẻ chi phí

Investment and cost sharing in higher education

Abstract: The article addresses the benefits of investing in higher education (HE) and some trends of investment

and cost sharing in higher education in the world The increase of proportion of state budget spending

on GDP, and private investment for higher education, the decrease of proportion of state investment per tertiary student, the increase in tuition and expansion for student loans… has proved positive trend in higher educationfinance in some countries around the world Recommendation for Vietnam is that it is necessary

to complete the tuition policy to increase the investment of students and their family, and ask them to share higher education cost The State budget is mainly invested in research and development of higher education institution Along with the increasing tuition fee policy, the State needs to improve credit policies for students

Keywords: Investment in higher education, Cost sharing.

Huyen Thanh Hoang, PhD student

Email: huyenht@hvnh.edu.vn

Accounting & Auditing Falculty, Banking Academy of Vietnam

Trang 2

1 Giới thiệu

Đầu tư GDĐH là một khái niệm được sử

dụng trong kinh tế học, hàm ý quá trình

sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một

khoảng thời gian xác định nhằm đạt được

kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác

định trong điều kiện kinh tế xã hội nhất

định (Từ Quang Phương và Phạm Văn

Hùng, 2013) Các nguồn lực được huy

động vào đầu tư có thể là tài nguyên thiên

nhiên, sức lao động, trí tuệ, vốn, công

nghệ… Các kết quả thu được của hoạt

động đầu tư có thể là sự gia tăng về mặt

giá trị của các tài sản tài chính hay sự tăng

thêm năng lực sản xuất, năng lực phục vụ

sản xuất hay sự gia tăng tài sản trí tuệ hoặc

năng suất lao động của nguồn nhân lực

Các kết quả thu được từ hoạt động đầu tư

có thể là kết quả trực tiếp cho nhà đầu tư,

được thể hiện ở lợi nhuận mà nhà đầu tư

thu được Kết quả này cũng có thể là gián

tiếp cho toàn bộ nền kinh tế xã hội, thể

hiện qua nâng cao mức đóng góp vào tăng

trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc

sống của người dân và sự phát triển của

từng cá nhân trong xã hội, nâng cao trình

độ dân trí… (Từ Quang Phương và Phạm

Văn Hùng, 2013) Khi đề cập tới đầu tư

cho GDĐH, tác giả Phùng Xuân Nhạ và

Phạm Xuân Hoan (2012) cũng cho rằng:

“Giáo dục là một lĩnh vực đầu tư, đầu tư

tiền vốn kinh phí và thời gian để nâng cao

trình độ, nhằm nâng cao năng suất lao

động” Dưới góc độ cá nhân người học,

thì đầu tư cho GDĐH được hiểu là “quá

trình chủ thể đầu tư sử dụng các nguồn lực

trong một khoảng thời gian nhất định để

cá nhân được giáo dục nhằm đạt tới trình

độ văn hóa, phẩm chất đạo đức, chuyên

môn nghề nghiệp cao hơn, giúp mang lại

cho chủ thể đầu tư những lợi ích trong

tương lai mà được kỳ vọng là có giá trị lớn

hơn so với các nguồn lực được sử dụng

cho quá trình giáo dục đó” (Đặng Thị Minh Hiền, 2016)

Cùng với những lợi ích mà GDĐH đem lại cho cộng đồng và cá nhân người học, các quốc gia, các doanh nghiệp, tổ chức và

cá nhân ngày càng sẵn sàng đầu tư nhiều nguồn lực cho GDĐH Đồng thời, theo quá trình phát triển, nhu cầu học đại học ngày càng tăng cao, vượt xa khả năng bao cấp của ngân sách chính phủ Vì vậy, ở đa

số các nước trên thế giới, chính phủ không còn bao cấp cho GDĐH như trước đây nữa, mà thay vào đó là xu hướng chia sẻ gánh nặng tài chính với người học, thông qua phương thức chủ yếu là tăng học phí Tuy nhiên, điều này đã vấp phải những phản đối không ít từ phía người dân, vốn

đã quen với sự bao cấp của nhà nước trong GDĐH Tuy vậy, GDĐH được coi là hàng hóa cá nhân và mang tính đầu tư, đồng thời nó đem lại lợi ích trong tương lai cho người học thông qua thu nhập tăng lên và tri thức tích lũy được (WB, 2008) Chính

vì vậy, đầu tư cho GDĐH cần được thực hiện đồng thời giữa các bên và tài chính GDĐH cần được chia sẻ giữa Nhà nước

và người học

Chia sẻ chi phí được hiểu là sự dịch chuyển một phần gánh nặng chi phí GDĐH từ chỗ “trông cậy” hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn vào chính phủ, thực chất là những người đóng thuế, sang một

số nguồn cung cấp tài chính khác nhờ vào phụ huynh và/hoặc sinh viên, dưới dạng học phí hoặc phí sử dụng, nhằm chi trả toàn bộ các chi phí cho cơ sở vật chất và đội ngũ giảng dạy mà cơ sở giáo dục hay chính phủ cung cấp trước đây (Johnstone, 2003) Thuật ngữ chia sẻ chi phí đã được

sử dụng nhiều trong các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề tài chính cho GDĐH Trong một báo cáo về giáo dục và đào tạo

Trang 3

của Liên minh Châu Âu (2014), khái niệm

chia sẻ chi phí được sử dụng như thuật

ngữ về “sự chuyển dịch dần chi phí nhằm

đảm bảo sự cân bằng giữa nguồn tài chính

công và tài chính tư nhân” cho GDĐH

Chia sẻ chi phí một mặt mô tả thực tế chi

phí GDĐH đang được cả nhà nước và sinh

viên chi trả, mặt khác nó cũng hàm ý về

đổi mới chính sách tài chính cho GDĐH,

thay vì chính phủ bao cấp phần lớn chi

phí GDĐH như trước đây, thì sinh viên

sẽ phải cùng chia sẻ chi phí này với nhà

nước

Bài viết này đề cập tới những lợi ích của

việc đầu tư cho GDĐH và xu hướng chia

sẻ chi phí GDĐH của một số nước trên

thế giới, từ đó rút ra một số khuyến nghị

cho Việt Nam trong việc thực hiện chia

sẻ chi phí GDĐH và đổi mới chính sách

tài chính GDĐH nhằm đạt được mục tiêu

“chất lượng” và “công bằng” trong GDĐH

ở Việt Nam hiện nay

2 Lợi ích của đầu tư cho giáo dục đại

học

Lợi ích của GDĐH rất lớn và cả nhà nước

và tư nhân đều gặt hái lợi ích từ thành

quả của dịch vụ này Theo Alexander

Griboyeov (1817), một nhà biên kịch Nga

thế kỷ XIX, cho rằng: “Con người càng

được giáo dục nhiều thì mức độ hữu dụng

của họ đối với đất nước của họ càng tăng

lên” Ở Việt Nam, Nghị quyết TW8, Khóa

XI (2013) của Ban chấp hành Trung ương

Đảng đã khẳng định: “Đầu tư cho giáo

dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên

đi trước trong các chương trình, kế hoạch

phát triển kinh tế- xã hội”

Chính vì vậy, đầu tư cho giáo dục nói

chung và GDĐH nói riêng ngày càng nhận

được sự quan tâm của Nhà nước, người

học, nhà trường, và các lực lượng khác trong xã hội Đối với Nhà nước, việc tăng cường đầu tư cho GDĐH thông qua chính sách học phí thấp trở nên không có hiệu quả, mà học phí cần để người học tự “đầu tư” Đối với mỗi cá nhân, lợi ích của việc đầu tư cho GDĐH thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Một là, đầu tư cho GDĐH được coi là

khoản đầu tư cho tương lai của mỗi con người GDĐH là một loại dịch vụ đặc thù, tiêu thụ nó là quá trình tác động thẳng

từ nhà cung cấp (người dạy) đến người tiêu dùng (người học) Kiến thức mà nhà trường truyền tải, người học có thể lưu giữ

và tích lũy qua năm tháng Những kiến thức này sẽ là phương tiện, giúp cho người học có khả năng tạo ra sức lao động, có tri thức và tạo ra hiệu quả cao hơn so với trường hợp không có nó (Đặng Thị Lệ Xuân, 2017) Như vậy, có thể thấy rằng GDĐH chính là phương tiện nâng cao năng suất, hiệu quả của người lao động trong tương lai Tri thức được bồi đắp qua nhiều năm tháng thông qua quá trình tích lũy, cho phép con người phát triển thêm năng lực cá nhân cho tới khi có thể

sử dụng được Sự khác biệt về khả năng tích lũy của bản thân người học đã tạo nên những giá trị riêng của giáo dục Đặc biệt, trong hệ thống giáo dục quốc dân thì GDĐH là trình độ mà người học có thể tích lũy được kiến thức một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất và có liên hệ mật thiết với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như năng lực giải quyết công việc của các cá nhân (Phùng Xuân Nhạ và Phạm Xuân Hoan, 2012) Nói một cách đầy đủ, GDĐH là sản phẩm có giá trị tích lũy và đầu tư cho GDĐH là đầu tư cho tương lai Mặt khác, ở nhiều nước trên thế giới, giá trị kinh tế ngày càng tăng của việc tiếp

Trang 4

tục học sau trung học, được minh chứng

bằng sự chênh lệch mỗi ngày một lớn

trong thu nhập bình quân của những người

tốt nghiệp đại học so với những người

không tham gia học đại học (Arthur M

Hauptman, 2006) Vì vậy, GDĐH đang

dần chuyển từ lĩnh vực truyền thống như

dạy học, phục vụ hành chính công sang xu

hướng đáp ứng nhu cầu của thị trường và

của lực lượng lao động Trong bối cảnh

tỷ trọng nguồn lực công cho GDĐH ngày

càng giảm thì quan niệm về trường đại học

như là một loại dịch vụ công ngày càng

lấn át

Hai là, GDĐH được coi là hàng hóa

cá nhân Trên thế giới tồn tại hai quan

điểm khác nhau về tính chất của dịch vụ

GDĐH Theo quan điểm của UNESCO

(2015), GDĐH có đặc trưng của hàng hóa

công cộng, đó là không có tính cạnh tranh

và tính loại trừ Theo đó, mọi người đều

có thể sử dụng hàng hóa và dịch vụ chung

với nhau mà không ảnh hưởng gì tới nhau

và rất khó hoặc không thể thu tiền đối với

hàng hóa này một khi nó được cung cấp

Tuy nhiên, theo ý nghĩa kinh tế học và

dựa trên diễn biến thực tế của thế giới thì

GDĐH chứa đựng nhiều yếu tố của hàng

hóa tư nhân (WB, 2008) Hàng hóa tư nhân có cả hai đặc tính, là tính “loại trừ” (excludability), và tính ganh đua (rivalry) Tính loại trừ thể hiện ở khả năng ngăn cản việc sử dụng hàng hóa của ai đó hay không khi nó được cung cấp, tức là quá trình tiêu dùng hàng hóa cá nhân này có ảnh hưởng tới việc hưởng thụ hàng hóa hay dịch vụ đó của người khác hay không, thông thường thể hiện qua giá (tiền) Tính

“ganh đua” được thể hiện ở chỗ quá trình tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của cá nhân này có ảnh hưởng tới việc hưởng thụ hàng hóa và dịch vụ đó của người khác hay không Dịch vụ GDĐH có cả hai thuộc tính trên, nghĩa là chúng ta hoàn toàn có thể thu tiền đối với dịch vụ GDĐH một khi nó được cung cấp Mặt khác, một sinh viên giành được một chỗ học trong trường đại học thì đương nhiên loại trừ

và ảnh hưởng đến việc sử dụng của một sinh viên khác Như vậy, GDĐH có đầy

đủ thuộc tính của hàng hóa cá nhân, được thụ hưởng trực tiếp từ người tiêu dùng và

có thể thu được tiền từ người sử dụng nên GDĐH hoàn toàn có thể được cung cấp bởi khu vực tư nhân Hơn nữa, vì là hàng hóa cá nhân nên nó có thể được cung cấp theo cơ chế thị trường trên cơ sở cung cầu

Hình 1 Xu hướng lợi ích ròng của các cấp học

Nguồn: Đặng Thị Lệ Xuân (2017) trích từ George Psacharopoulos (1994)

Trang 5

và cơ chế giá (Joseph E Sticglitz, 1995)

Ba là, GDĐH là bậc học có khả năng thu

hồi vốn đầu tư nhanh nhất Bởi lẽ người

học sau khi tốt nghiệp đại học có khả năng

tìm việc làm với mức thu nhập cao hơn

và dễ dàng hơn so với các cấp học khác

(Đặng Thị Minh Hiền, 2009) Thống kê

cho thấy, thu nhập của cá nhân dường

như phụ thuộc chặt chẽ vào bằng cấp họ

có Theo số liệu của Pew (2013), những

người trong khoảng 25- 32 tuổi tốt nghiệp

đại học đang làm việc toàn thời gian

kiếm được nhiều tiền hơn những người

cùng tuổi chỉ tốt nghiệp trung học khoảng

17.500USD/năm đối với cả 2 nhóm giới

tính Robert F Bruner (2012) đã chỉ ra

rằng, ở Mỹ người có bằng cấp cao thì thu

nhập cũng cao hơn và ít thất nghiệp hơn

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, học vấn

còn có tác động mạnh mẽ tới khả năng tìm

việc làm, nhất là đối với phụ nữ Chẳng

hạn như, ở Ý tỷ lệ có việc làm đã tăng từ

34% lên đến 81% nếu được giáo dục thêm

từ trình độ dưới trung học phổ thông lên

đến đại học và sau đại học Ở Thổ Nhĩ Kỳ,

các con số tương ứng của phụ nữ là 22%

và 71% (Michael & Kretovics, 2004)

Bốn là, đầu tư cho GDĐH có thể đem lại

mức sinh lời cao nhất Một số nghiên cứu

trên thế giới đã chỉ ra rằng, các cá nhân

khi đầu tư cho GDĐH thì có mức sinh lời cao hơn nhiều (khoảng 15% đến 20%/ năm) so với đầu tư vào nhà cửa, bất động sản (chỉ khoảng 1%) (Robert F Bruner, 2012) Hơn nữa, với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam), lợi ích mà GDĐH mang lại cho các cá nhân cao hơn nhiều so với ở các nước phát triển, ở Hồng Kông là 25,7%, ở Malaysia là 34,5%, ở Singapore là 25,4%, ở Brazil là 28,2%

(George Psacharopoulos, 1994)

3 Xu hướng đầu tư và chia sẻ chi phí giáo dục đại học trên thế giới

Tỷ lệ chi NSNN cho GDĐH trong GDP tăng lên

Tỷ lệ % chi NSNN so với GDP tăng lên

là một trong những tiêu chí được dùng để

đo lường mức độ đầu tư của nhà nước cho giáo dục đào tạo nói chung và GDĐH nói riêng Giữa các quốc gia khác nhau, tỷ

lệ này cũng rất khác nhau do những đặc điểm, sức mạnh về kinh tế và tình hình chính trị xã hội của quốc gia đó

Hình 3 thể hiện tỷ lệ % chi NSNN cho GDĐH trong GDP ở một số nước công nghiệp phát triển và khu vực Đông Nam

Á trong giai đoạn 2005- 2015 Như vậy có thể thấy rằng, xu hướng chung là đầu tư

Hình 2 Thuộc tính của một số loại hàng hóa

Nguồn: Joseph E Sticglitz (1995)

Trang 6

của Nhà nước cho GDĐH ở đa số các nước

phát triển và đang phát triển trên thế giới đã

và đang tăng lên Một số nước công nghiệp

phát triển như Anh, Áo, Úc, Bỉ, Pháp, Đức,

Tây Ban Nha, Đan Mạch, Thụy Điển có

tỷ lệ % chi NSNN cho GDĐH trong GDP

tăng lên rõ nét Ba quốc gia ở Đông Nam

Á có tỷ lệ chi ngân sách tăng đáng kể là

Hàn Quốc, Indonesia, và Singapore Tại

bốn nước Bắc Âu: Đan Mạch, Phần Lan,

Na Uy, Thụy Điển, nơi có tiềm lực kinh tế

mạnh và theo mô hình Nhà nước phúc lợi,

chi ngân sách cho GDĐH rất cao và cao

hơn tất cả các nước (Hình 3), đạt mức xấp

xỉ 2% trong giai đoạn 2010- 2015 Chỉ có

Phần Lan có xu hướng cắt giảm chi tiêu

ngân sách cho GDĐH từ 2,08% năm 2010

xuống còn 1,89% năm 2015, ba nước còn

lại vẫn duy trì ổn định tỷ lệ này và có xu

hướng tăng lên

Mặc dù vậy, trong giai đoạn 2005- 2015,

chi NSNN cho GDĐH ở một số nước vẫn

có xu hướng giảm xuống, bao gồm Ai-len,

Canada, Nhật Bản, Malaysia Ở Trung

Quốc, tỷ lệ này không chuyển biến rõ

nét, bên cạnh đó, phần lớn ngân sách của

nước này dùng để đầu tư cho tăng quy mô GDĐH Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tỷ lệ chi NSNN cho GDĐH có

xu hướng tăng nhẹ hàng năm, cụ thể năm

2010 là 0,74%, năm 2012 là 0,82%, năm

2015 là 0,85%

Như vậy, tài trợ công cho GDĐH ở đa số các nước trên thế giới đang có xu hướng tăng nhẹ và một phần lượng tăng thêm này được sử dụng vào hoạt động nghiên cứu

và phát triển (R&D) Trong thời đại phát triển, R&D là hoạt động mang lại lợi ích kinh tế nhiều hơn so với các hoạt động khác Theo Ngô Quang Hưng (2014), lợi tức đầu tư công vào R&D thường khá cao, khoảng từ 30% đến 100% hoặc hơn nữa

và nhiều trường Đại học ở Mỹ đã thành công vượt bậc về tài chính nhờ đầu tư vào R&D Không chỉ đem lại lợi ích to lớn cho các nước phát triển, R&D còn có vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) vì nó giúp các nước này tiếp thu và vận dụng tri thức hiện đại vào điều kiện của quốc gia đó

Do vậy, các nước ngày càng quan tâm tới

Hình 3 Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho GDĐH so với GDP tại một số nước giai đoạn

2005-2015

% GDP

Nguồn: Unesco (2015)

Trang 7

đầu tư công cho R&D và đây còn được coi

là một chỉ số xếp hạng quốc gia trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay Bảng 1 thể hiện tỷ lệ đầu tư công cho hoạt động R&D trong ở một số nước trên thế giới trong thời gian qua

Theo số liệu ở bảng 1, một số nước có

xu hướng đầu tư cho R&D tăng nhanh trong giai đoạn 2002-2017 là Áo, Bỉ, Đan Mạch, Đức Các nước như Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Anh có xu hướng không rõ ràng, nhưng xét trong cả giai đoạn trên thì có sự tăng nhẹ Theo số liệu từ Unesco (2015), những nước đứng đầu trong danh sách chi tiêu cho hoạt động R&D tập trung nhiều ở các nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới

Bảng 1 Tỷ lệ chi tiêu công cho R&D trong

GDP tại một số nước Châu Âu

Đơn vi: % GDP

Tây Ban Nha 0,47 0,61 0,54

Nguồn: European Commission (2019)

Bảng 2 Tỷ lệ đóng góp của nhà nước và tư nhân cho cơ sở GDĐH tại một số nước OECD

năm 2006, 2011, 2013

Đơn vi: %

% nhà nước % tư nhân % nhà nước % tư nhân % nhà nước % tư nhân

Nguồn: OECD (2013) và tính toán của tác giả

Trang 8

như Mỹ là 476,5 tỷ USD, Trung Quốc là

370,6 tỷ USD, tiếp theo là Nhật Bản với

mức chi phí là 170,5 tỷ USD, Đức có mức

chi 109,8 tỷ USD, Hàn Quốc là 73,2 tỷ

USD Khi tính về chia sẻ trong tổng chi

phí cho R&D trên toàn thế giới thì các

nước trên đạt tỷ lệ cao nhất, lần lượt là

26,4%, 20,6%, 9,5%, 6,1% và 4,1%

Đầu tư của khu vực tư nhân cho GDĐH

tăng mạnh

Đầu tư của khu vực tư nhân cho GDĐH

có xu hướng tăng lên mạnh mẽ Bảng 2

cho thấy tỷ lệ đóng góp của khu vực tư

nhân cho GDĐH trong tổng nguồn thu

của trường tăng lên ở hầu hết các quốc gia

thuộc khối OECD trong giai đoạn 2006-

2013 Nguồn tài chính của các trường đại

học được phân chia thành đóng góp từ hai

khu vực nhà nước và tư nhân Số liệu cũng

cho thấy tỷ lệ đóng góp của khu vực nhà

nước cho cơ sở GDĐH giảm mạnh khi so

sánh với khu vực tư nhân Điển hình là ở

các nước như New Zealand, Pháp, Đức,

Tây Ban Nha, Ý và 4 nước Bắc Âu: Đan

Mạch, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển

Tuy vậy, một số quốc gia không theo xu

hướng chung, có tỷ trọng đầu tư của Nhà

nước cho GDĐH tăng lên trong cả giai

đoạn là Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản Các

nước này đã tăng tỷ lệ đóng góp của Nhà

nước trong tổng nguồn thu của nhà trường

lên từ 5- 10% Tuy nhiên, trong tổng đầu

tư cho GDĐH, thì đầu tư của khu vực tư

nhân vẫn chiếm tỷ trọng lớn (trên 60%),

lần lượt là năm 2013 ở Mỹ và ở Hàn Quốc

là 60,4% và 68,2%, ở Nhật Bản năm 2011

là 65,5%

Số liệu Bảng 2 cho thấy, Anh là nước có

tỷ lệ đóng góp của Nhà nước cho GDĐH

giảm mạnh, từ 64,8% năm 2006 xuống

còn 30,2% năm 2011 Năm 2011, tỷ lệ đóng góp của tư nhân cho giáo dục đạt mức 69,8%, cao hơn rất nhiều so với các nước phương Tây khác Tuy nhiên, theo

De Boer, Enders và Schimank (2009), cải cách GDĐH ở Anh theo hướng sử dụng cơ chế thị trường có vẻ đã quá đà và gây ra một số hệ quả bất lợi Các trường đại học không có thành tựu nổi bật sẽ khó thu hút kinh phí dành cho nghiên cứu và trở thành

cơ sở chỉ chuyên về giảng dậy Điều này

đi ngược với mục tiêu xây dựng trường đại học có hoạt động đa dạng, đáp ứng nhu cầu của sinh viên Chính vì vậy, đầu

tư của khu vực Nhà nước cho các cơ sở GDĐH sau đó đã phục hồi, tăng lên 45,4% vào năm 2013

Tỷ trọng đầu tư công cho một sinh viên vẫn giảm nhưng tốc độ chậm lại

Số liệu của Unesco (1998) cho thấy, chi tiêu của chính phủ cho một sinh viên đại học (tính theo tỷ lệ %) so với tổng sản phẩm quốc gia (GNP) bình quân đầu người trong giai đoạn 1980- 1995 đã giảm

đi một nửa ở hầu hết các nước trên thế giới (Varghese, 2001) Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB, 2015), chi tiêu của Chính phủ cho một sinh viên không chỉ cho từng nước riêng rẽ mà còn được tính cho một số các nhóm nước (Bảng 3)

Số liệu cho thấy xu hướng giảm tỷ trọng chi tiêu công trên một sinh viên đại học vẫn tiếp tục trong giai đoạn 1998- 2010 ở các khu vực khác nhau trên thế giới, tuy nhiên tốc độ giảm đã chậm lại

Số liệu ở Bảng 4 cho thấy chi tiêu Chính phủ cho một sinh viên đại học theo tỷ lệ %

so với GDP bình quân đầu người của các nước trong giai doan 2012- 2015 Ở đa số các nước, chi tiêu công cho một sinh viên đại học so với GDP bình quân đầu người

Trang 9

giảm mạnh trong giai đoạn 2005- 2012, và

giảm nhẹ ở giai đoạn tiếp theo 2012- 2015,

điển hình là các nước Áo, Đan Mạch, Mỹ,

Na Uy, Nhật Bản Singapore, Malaysia

cũng có tỷ lệ chi tiêu công giảm trong giai

đoạn 2010- 2014

Một số nước không tuân theo xu hướng chung về giảm chi tiêu Chính phủ cho một sinh viên đại học tính theo tỷ lệ % GDP

Bảng 3 Chi tiêu Chính phủ cho một sinh viên đại học của một số khu vực trên thế giới

Đơn vi: % GDP

Các nước đang phát triển khu

Nguồn: WB (2015)

Bảng 4 Chi tiêu của chính phủ cho một sinh viên đại học theo tỷ lệ % so với GDP bình quân

đầu người ở một số nước trên thế giới giai đoạn 2005- 2015

-Nguồn: Unesco (2015)

Trang 10

bình quân đầu người, đó là Anh, Ý, Hàn

Quốc Đây là những nước có chi tiêu công

cho một sinh viên đại học không cao, xấp

xỉ 20% Vì thế, các nước này khi tăng tỷ

lệ chi tiêu công cho GDĐH thì con số này

cũng chỉ ngang bằng với các nước khác

trong khu vực

Thái Lan, Việt Nam có tỷ lệ này giảm

trong giai đoạn 2010- 2012, ở Việt Nam

tỷ lệ này giảm từ 39,8% xuống 32,81%,

nhưng lại tăng nhẹ trong giai đoạn tiếp

theo

Trong khi tài trợ của Nhà nước cho một

sinh viên đại học có xu hướng giảm xuống

thì chi phí đào tạo một sinh viên lại có xu

hướng tăng lên do một số nguyên nhân sau

đây:

- Chi trả tiền lương cho đội ngũ giảng

viên, cán bộ đang tăng lên: Trong các nền

kinh tế dựa vào tri thức, nhu cầu về lao

động tri thức tăng lên, do vậy, tiền lương

giảng viên có xu hướng tăng nhanh hơn

tiền công bình quân trong xã hội

- Các trường đại học đang đổi mới chương

trình đào tạo và mở những ngành đào tạo

mới đáp ứng nhu cầu thị trường, do vậy

chi phí đào tạo tăng cao

- Chi phí đầu tư cho công nghệ, nhất là

các ngành vật lí, kỹ thuật và y khoa của

các trường đại học nghiên cứu đang tăng

nhanh

Để giải quyết với vấn đề tài chính cho các

cơ sở GDĐH, nhiều Chính phủ đã áp dụng

chính sách chia sẻ chi phí đào tạo giữa

Nhà nước và người học, đồng thời tăng

cường các hoạt động nhằm tạo thu nhập

cho nhà trường

4 Kết luận và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết đề cập đến lợi ích của việc đầu tư cho GDĐH và một vài xu hướng đầu tư cho GDĐH ở các nước trên thế giới Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng đầu tư cho GDĐH không chỉ mang lại lợi ích công cho xã hội mà còn là phương tiện phát triển cho mỗi cá nhân người học Đây

là lí do khiến nhà nước, doanh nghiệp, các

tổ chức và cá nhân ngày càng có xu hướng đầu tư nguồn lực cho GDĐH Xu hướng

ở các nước trên thế giới cho thấy, vấn đề chia sẻ chi phí đang được áp dụng khá phổ biến, dưới các hình thức như tăng tỷ lệ chi NSNN trong GDP cho GDĐH, tăng đầu tư của khu vực tư nhân cho GDĐH, tỷ trọng đầu tư từ NSNN cho một sinh viên đại học giảm xuống, tăng thu học phí,… Mặc

dù chi tiêu của Chính phủ cho GDĐH có

xu hướng tăng lên nhưng tỷ trọng đầu tư cho đào tạo một sinh viên đại học của khu vực Nhà nước giảm mạnh so với khu vực

tư nhân Tài chính cho GDĐH toàn cầu

đã và đang vận động theo xu hướng này

là do Chính phủ nhiều nước đã áp dụng chính sách cả Nhà nước và sinh viên cùng chi trả chi phí đào tạo đại học Điều này dẫn tới “đầu tư” của tư nhân, người học và gia đình người học ngày càng tăng lên và chiếm tỷ trọng cao trong tổng đầu tư của

xã hội cho GDĐH Đồng thời, chi tiêu của Chính phủ cho GDĐH như một công cụ

để điều chỉnh, phân luồng cơ cấu, ngành nghề đào tạo, sử dụng chủ yếu để đầu tư vào R&D của các cơ sở GDĐH, và tập trung vào những ngành nghề, lĩnh vực Nhà nước cần ưu tiên (Nguyễn Trường Giang, 2012), hay những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn hoặc không có động cơ tham gia đầu tư

Thực tế đặt ra vấn đề cho Việt Nam, trong bối cảnh NSNN có hạn và phải chi

Ngày đăng: 16/01/2020, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w