1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đầu tư vốn và tăng trưởng kinh tế: Tiếp cận từ góc nhìn Blockchain như công nghệ thể chế và niềm tin

16 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 442,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết hệ thống những quan điểm kinh tế và tài chính kết nối với công nghệ blockchain. Phân tích vai trò của blockchain như một công nghệ sổ cái phân phối phi tập trung giúp giải quyết nhiều vấn đề trong hệ thống kinh tế tài chính toàn cầu, đặc biệt là phương diện đầu tư vốn như một động lực tăng trưởng kinh tế. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

629

1 Dương Kha* Trần Hoài Nam*

Tóm tắt

Bài viết này hệ thống những quan điểm kinh tế và tài chính kết nối với công nghệ blockchain Trọng tâm của bài viết là phân tích vai trò của blockchain như một công nghệ sổ cái phân phối phi tập trung giúp giải quyết nhiều vấn đề trong hệ thống kinh tế tài chính toàn cầu, đặc biệt là phương diện đầu tư vốn như một động lực tăng trưởng kinh tế Tiếp cận theo quan điểm kinh tế học Áo, một số phân tích nhấn mạnh vào cơ chế blockchain như một hướng mới để hiểu về các khái niệm tiền tệ, vốn đầu tư và sáng nghiệp Blockchain cũng được đánh giá như thể chế có tính quản trị và là giải pháp công nghệ hóa niềm tin Phương diện này cung cấp nhiều hàm ý thú vị về chính sách tiền tệ và thể chế kinh tế quốc gia

Từ khóa: Blockchain, sổ cái phân phối phi tập trung, công nghệ thể chế, công nghệ niềm

tin, đầu tư vốn, tăng trưởng kinh tế

1 Giới thiệu

Giống như sự đồng thuận của các trường phái kinh tế cho rằng đầu tư là thành phần không thể thiếu trong các mô hình tổng cầu nền kinh tế, các mô hình lý thuyết về đầu tư – dù theo cấp độ nền kinh tế hay cấp độ công ty và trải dài theo dòng lịch sử tư tưởng của các

lý thuyết gia như Adam Smith, Karl Marx, John Maynard Keynes, Michal Kalecki, James Tobin, Dale Jorgenson – cũng đồng thuận về vai trò của nhân tố vốn trong hàm đầu tư (Richardson & Romilly, 2008) Nhiều trường phái lý thuyết kinh tế giải thích mối quan

hệ vĩ mô giữa đầu tư vốn và tăng trưởng nền kinh tế dựa vào nền tảng vi mô Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế phải dựa vào động lực tích lũy vốn của các đơn vị cơ sở là các thể nhân kinh tế như doanh nghiệp và/hoặc yếu tố con người

* Trường Đại học Kinh tế TP HCM | Email liên hệ: namth@ueh.edu.vn

Trang 2

Chẳng hạn, lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Romer, 1990) nhấn mạnh vào đầu tư thay đổi công nghệ, bao gồm đầu tư vào vốn con người và kiến thức mới Vai trò của công nghệ mới rõ ràng được nhận thức từ rất sớm trong các tư tưởng kinh tế Ngoài việc được xem xét như yếu tố nội sinh hay ngoại sinh trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển2,

lý thuyết sáng nghiệp (entrepreneurship) kiểu Schumpeter hay kiểu Kirzner cũng liên quan đến đổi mới đột phá hoặc khám phá cơ hội.3 Đặc biệt, quan điểm Schumpeter nhấn mạnh vai trò của phá hủy sáng tạo (creative destruction), tức sự ra đời của sản phẩm mới

là hệ quả đào thải đối với sự lỗi thời hoặc thất bại của sản phẩm cũ.4

Sự ra đời của Bitcoin có lẽ dựa trên bối cảnh phá hủy sáng tạo kiểu Schumpeter Niềm tin vào hệ thống tài chính đã đổ vỡ trên bình diện quốc tế kể từ cuộc Khủng hoảng tài

chính toàn cầu 2008 Sách trắng (white paper) của Bitcoin được công bố bởi Nakamoto

(2008), là minh chứng rõ ràng về sự nhu cầu bức thiết về một nhân tố thay đổi cuộc chơi Nền tảng blockchain đằng sau Bitcoin là nhân tố như vậy, vì một phần trong khả năng của nó, nhằm giúp phá bỏ vai trò trung gian (bên thứ ba) trong hệ thống giao dịch/thanh toán – khởi nguồn của nhiều bê bối trong các hệ thống tài chính ngân hàng Thí dụ, trước khi Bitcoin ra đời, các trung tâm thanh toán bù trù có chức năng kiểm tra chéo nhằm tránh việc sao chép hoặc chi tiêu kép đối với một đồng tiền Bitcoin đã giải quyết vấn đề này bằng cách cho phép người dùng có quyền tự quản đồng tiền và giao dịch chúng không phải trao quyền kiểm soát cho bên thứ ba Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, giá trị có thể được chuyển giao một cách tin cậy giữa hai bên vốn không tin tưởng nhau và tách biệt nhau không cần thông qua trung gian (Catalini & Gans, 2016)

Thời khắc Bitcoin cũng đã kéo theo sự thay đổi, hoặc chí ít định hình lại nhiều khái niệm kinh tế học, điển hình là khái niệm tiền tệ, vốn và đầu tư Một số trường phái kinh

tế đôi khi nằm ở vùng rìa lý thuyết thịnh hành đã trở nên thịnh hành hơn, chính vì sự liên quan đến phát kiến cách mạng về blockchain này ECB (2012) cho rằng nguồn gốc lý thuyết của Bitcoin là nằm ở kinh tế học Áo Lý thuyết kinh tế Áo về chu kỳ kinh doanh của Hayek trong thập niên 1920 hàm ý rằng chính sách tiền tệ nhân tạo (do cơ quan chính quyền điều hành chính sách tiền tệ) tất yếu dẫn đến mất cân đối cung cầu tiền và dẫn đến khủng hoảng (Oppers, 2002) Theo đó, giải pháp nên đến một cách tự nhiên từ sự cạnh tranh về điều tiết cung tiền trong nền kinh tế - điều dẫn đến loại bỏ sự độc quyền của chính phủ về áp dụng công cụ tiền tệ Theo Allen & cộng sự (2020), khuynh hướng ICO

2 Trong mô hình tăng trưởng ngoại sinh, đó là tiến trình kỹ thuật không được giải thích; còn trong mô hình tăng trưởng nội sinh, đó là tiến trình công nghệ được ký hiệu là A như trong mô hình AK

3 Allen & cộng sự (2020) cho rằng sáng nghiệp kiểu Schumpeter là làn sóng thứ nhất khi tài trợ công chúng (mở rộng cung tiền) chiếm ưu thế, trong khi sáng nghiệp kiểu Kirner là làn sóng thứ hai khi đầu tư vốn mạo hiểm chiếm ưu thế

4 Ý tưởng về phá hủy sáng tạo có nguồn gốc từ tư tưởng Karl Marx

Trang 3

631

(phát hành đồng tiền ban đầu) là bước tiến hóa xa hơn về tài chính phân phối tư nhân và giảm tính quốc gia hóa tiền tệ

Bài báo này hệ thống tiến trình thay đổi quan điểm đầu tư vốn với sự ra đời của (các) công nghệ blockchain Phát kiến blockchain cũng đã làm lung lay nhiều tư tưởng kinh tế học truyền thống Trường phái kinh tế học Áo có lẽ là cơ sở lý thuyết khăng khít nhất đối với cơ chế blockchain, mặc cho những hoài nghi từ chính trường phái này về tương lai của blockchain Trọng tâm của bài sẽ nằm ở vai trò của blockchain trong việc tái định hình khái niệm tiền tệ, vốn đầu tư và đầu tư trong nền kinh tế Sự phân tích cũng nằm trong khuôn khổ cho rằng blockchain là công nghệ mang tính thể chế và nhằm thiết lập niềm tin (Davidson & cộng sự, 2018; Berg & cộng sự, 2020)

2 Lý thuyết kinh tế về tiền tệ, vốn và đầu tư

Phần này tập trung vào quan điểm kinh tế học Áo về khái niệm tiền tệ, vốn và đầu tư Trường phái kinh tế Áo tập trung lý giải các động lực cho kết quả kinh tế từ góc nhìn lựa chọn mang tính chủ quan cá nhân trong các thị trường Tư tưởng này đấu tranh chống lại những tư tưởng kinh tế chính thống, như của trường phái Keynes về chu kỳ kinh tế và phân tích kinh tế tập trung của Lange-Lerner Khác với trọng tâm phân tích vĩ mô của các

tư tưởng đó, trọng tâm lý thuyết của kinh tế học Áo là hợp tác phi tập trung trong cấu trúc

hệ thống thị trường và phân tích sâu tiến trình vi mô của thị trường Do đó, theo Allen & cộng sự (2020), lý thuyết kinh tế học Áo bị phân mảng vào nhiều khía cạnh vi mô của lý thuyết tổ chức, kinh tế học thể chế và kinh tế học chính trị

Cách hiểu về nguồn gốc của tiền và vai trò của nó trong nền kinh tế sẽ quyết định trường phái nào phân tích kinh tế học sẽ đi theo Menger (1892) đặt nền tảng cho quan điểm trường phái Áo trong phương diện này Tư tưởng của nhà sáng lập trường phái Áo

có thể tóm tắt trong trích dẫn nổi tiếng: “Tiền không phải là phát minh của nhà nước Nó không phải là sản phẩm của hành động lập pháp Thậm chí sự phê chuẩn của cơ quan chính trị không nhất thiết cần cho sự tồn tại của nó Một số loại hàng hóa trở thành tiền một cách khá tự nhiên, là kết quả từ các mối quan hệ kinh tế độc lập với quyền lực nhà nước” Tư tưởng này rõ ràng trái ngược với những phân tích kinh tế truyền thống giữ vai trò nhà nước như là lý do chính cho sự tồn tại của một đồng tiền

Thực tế tiền tệ được quốc gia hóa từ chính các thị trường hàng hóa và dịch vụ Với điểm nhìn tiền không phải do chính phủ tạo ra, Menger (1892) lý giải sự ra đời của tiền giống như sự tiến hóa dần dần: tiền có thể là thứ gì đó ở nơi nào đó, nhưng cùng lúc đó thứ đó không phải là tiền ở nơi khác, sự chấp nhận của nó như là tiền không diễn ra tức thời với cùng một cách với tất cả mọi người Cùng với William Jevons và Leon Walras, Carl Menger là đồng sáng lập tiếp cận hữu dụng biên trong việc lý giải hành vi tiêu dùng

Trang 4

kinh tế Tuy nhiên, tiếp cận kiểu Áo của Menger không tin vào khái niệm đơn vị hữu dụng của hai học giả trước, mà cho rằng hàng hóa có giá trị bởi chúng có nhiều mục đích

sử dụng với tầm quan trọng khác nhau Quan điểm này giúp Menger lý giải nghịch lý

“kim cương và nước”, mà trước đó Adam Smith, David Ricardo hay Carl Max giải thích bằng lý thuyết giá trị sức lao động Bác bỏ quan điểm cho rằng lượng lao động tạo ra giá trị sản phẩm, Menger chỉ ra rằng giá trị hàng hóa nằm ở khả năng của nó để làm hài lòng nhu cầu của người tiêu dùng Quan điểm này liên quan đến lý thuyết cầu chi phối (derived demand) và đưa đến một trong những tư tưởng quan trọng của kinh tế học: ‘trong một giao dịch, hai bên đều có lợi’ Tức, con người dùng thứ có ít giá trị với họ để đổi lấy thứ cho nhiều giá trị với họ; và vì cả hai bên giao dịch đều làm việc này nên cả hai đều có lợi Quan điểm này cũng giúp Menger giải thích cách thức phát triển của tiền kinh tế học hiện đại ngày nay vẫn chấp nhận: con người hiếm khi đạt được mình mong muốn thông qua một hoặc hai giao dịch; thay vào đó họ thường dùng một hàng hóa để đổi lấy một hàng hóa được chấp nhận rộng rãi, sau đó dùng hàng hóa này để mua lấy hàng hóa mong muốn – hàng hóa được chấp nhận rộng rãi đó cuối cùng trở thành tiền

Böhm-Bawerk (1889) cũng đóng góp chỉ trích của trường phái Áo đối với lý thuyết sức lao động, khi cho rằng toàn bộ giá trị của một sản phẩm không được tạo ra bởi người lao động, và người lao động chỉ có thể được trả bằng giá trị hiện giá của bất cứ kết quả đầu ra nào nhìn thấy trước được Lý thuyết đường vòng (roundaboutness) của Böhm-Bawerk chỉ ra rằng lý thuyết giá trị sức lao động bỏ qua chiều thời gian sản xuất, và cho rằng sự tái phân phối lợi nhuận sẽ làm suy yếu tầm quan trọng của lãi suất như là công

cụ quan trọng của chính sách tiền tệ

Là thế hệ tư tưởng Áo tiên phong tiếp theo, Ludwig Mises và Friedrich Hayek lấy quan điểm của Menger làm điểm nhìn bắt đầu Mises (1912) nhấn mạnh tầm quan trọng của tiền đảm bảo bởi cơ sở giá trị và tính tiền đề của tự do kinh tế trước tự do chính trị Mises (1912) đào sâu và mở rộng góc nhìn của Menger về tiền tệ với hai đóng góp thêm

về lý thuyết tiền tệ Đầu tiên, sự tồn tại của NHTW là không cần thiết và có thể gây hại cho tính bền vững (soundness) của tiền Thứ hai, cơ sở cho sự bền vững của tiền là tính

tự do của chính nó Giống Mises, Hayek cũng cảnh báo về vai trò không cần thiết của NHTW khi chứng minh rằng chính sách tín dụng nới lỏng sẽ dẫn đến lạm phát và các chu

kỳ kinh doanh cũng như thúc đẩy sự lớn mạnh của chính phủ Hayek (1935) cho rằng một

sự bùng nổ nhân tạo có thể xảy ra do sự đầu tư chệch hướng (malinvestment), điều xảy

ra khi sự phân bổ đầu tư vốn dự kiến qua thời gian vào một cấu trúc vốn không thuần nhất không phù hợp với sự ưa thích tiêu dùng sau đó đối với hàng hòa tiêu dùng cuối cùng Mises (1912) và Hayek (1935) cũng nhấn mạnh đến vai trò của thị trường vốn so với thị trường lao động Hayek (1976) đi đến một giải pháp về giảm tính quốc gia hóa

Trang 5

633

của tiền, khuyến khích một hệ thống tiền được tư nhân tạo ra dựa trên công nghệ và được phép cạnh tranh với tiền chính phủ để vị thế chủ đạo

Kirzner (1973), trong điểm đặt của trường phái kinh tế Áo, tập trung về phương diện sáng nghiệp, tức sự năng động sáng tạo ra một thứ mới chưa từng biết trước đó Kirzner (1973) chỉ trích lý thuyết tân cổ điển về tính cạnh tranh hoàn hảo khi bỏ qua vai trò quan trọng của các nhà doanh nghiệp Nghiên cứu Kirzner (1973) đã đưa hành vi sáng nghiệp vào kinh tế học tân cổ điển Hành vi sáng nghiệp liên quan đến việc tìm kiếm những công nghệ chưa từng biết đến cũng như những nhu cầu trong một bối cảnh thị trường, từ đó mang chúng đến với cuộc sống thông qua việc sản xuất và tiêu dùng

Trường phái kinh tế học Áo cho rằng cấu trúc vốn đầu tư là hệ quả cân bằng từ các hành vi sáng nghiệp theo những thay đổi mang tính động lực thông qua lãi suất hay chi phí sử dụng vốn Một mức lãi suất thấp sẽ kéo theo thời gian sản xuất dài hơn, dù lãi suất thay đổi đó được gây ra bởi sự thay đổi trong ưu thích kỳ hạn hay bởi chính sách tiền tệ hoặc tài khóa Cơ chế kết nối giữa tiền tệ và thị trường vốn như vậy, theo Boetke (2018),

sẽ đưa đến một lý thuyết chu kỳ kinh tế, trong đó một bùng nổ nhân tạo (gây ra bởi chính sách tiền tệ hoặc tài khóa) tất yếu dẫn đến sự đổ vỡ thông qua cơ chế tái phân bổ vốn

Ý tưởng về việc sản xuất tiêu tốn thời gian là cơ sở phân tích của lý thuyết vốn trường phái kinh tế Áo Sự hợp lực về vốn chính là sự tổng hợp các kỳ vọng dưới điều kiện không chắc chắn, từ đó gây ra đầu tư không bền vững (Shackle, 1972) Quan điểm kinh tế Áo cũng cho rằng đầu tư được tiến hành với các kỳ vọng và các hợp đồng sẽ được thực hiện Chi phí của vốn chính là lãi suất trong trạng thái cân bằng của các thị trường tiền tệ, và chi phí của hợp đồng chính là chi phí niềm tin của các thị trường cai quản (Allen & cộng sự, 2020) Vốn là một cơ chế kinh tế nhằm chuyển tiêu dùng hôm nay (thí dụ tiết kiệm và đầu tư) vào tiêu dùng lớn hơn trong tương lai Các mô hình tăng trưởng kinh tế chính thống thường xem vốn là một hàng hóa thuần nhất mà cấu trúc của nó chỉ liên quan đến các vấn

đề kinh tế vi mô Mô hình tăng trưởng tân cổ điển thường bao gồm phương trình hàm ý tiêu dùng và đầu tư sẽ bằng sản lượng trừ đi khấu hao:

C + ΔK = f(K,L) - δK Các quan điểm kinh tế Áo (như của Mises, Hayek hay Böhm-Bawerk) thay vào đó nhấn mạnh vốn liên quan nhiều đến sản phẩm dự kiến sau cùng, và do vậy có tính chất không thuần nhất và không thể thay thế (inconvertible) (McCulloch, 2014) Trong lý thuyết chu kỳ kinh doanh của kinh tế học Áo, hàng hóa có sẵn với các điểm thời gian khác nhau là những hàng hóa khác nhau về mặt kinh tế Thí dụ, theo quan điểm Böhm-Bawerk, phương tiện sản xuất xoay vòng (roundabout) càng nhiều – tức vốn càng nhiều, càng tạo ra nhiều hiệu suất, một phần bởi chúng cho phép sử dụng các công nghệ bao

Trang 6

gồm nhiều loại vốn sẽ không có thời gian để xây dựng cho các kế hoạch sản xuất ít xoay vòng Không giống trường phái Áo, mô hình kinh tế truyền thống loại bỏ vốn theo thời gian và do đó loại trừ các vấn đề về tính cơ hội, vấn đề phối hợp và chi phí hợp đồng Trong thực tế, trong mô hình cân bằng vốn kịp thời (Hayek, 1941; Lachmann, 1956), sự

ưa thích kỳ hạn thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong lãi suất, từ đó làm thay đổi động

cơ đầu tư sáng nghiệp trong các cấu trúc vốn dài hạn và ngắn hạn (sản xuất xoay vòng nhiều hơn và vốn thiếu thuần nhất hơn)

Williamson (1985) cho rằng cấu trúc vốn dài hạn hơn sẽ yêu cầu nhiều sự hợp lực về đầu tư bổ sung hơn, sẽ đối mặt nhiều rủi ro về tính cơ hội hơn, phụ thuộc nhiều hơn vào tính an toàn của quyền tài sản, và yêu cầu nhiều hoạt động hợp đồng và các cơ chế cai quản khác Do đó, khi thay đổi trong lãi suất tác động đến cấu trúc vốn cân bằng, thay đổi sẽ kéo theo với tác động của chi phí niềm tin lên cấu trúc vốn cân bằng Càng dài hạn, cấu trúc vốn sẽ càng phức tạp và do đó yêu cầu đầu tư nhiều hơn không chỉ vào lượng vốn, còn vào chất lượng của thể chế hoặc cơ chế cai quản nhằm xúc tiến các hợp đồng phức tạp hơn qua thời gian dài

Sự đổi mới sáng tạo cũng tác động đến cấu trúc vốn theo cách tương tự gây ra bởi thay đổi trong lãi suất Việc sử dụng cơ chế giá cả để kiểm soát lượng thông tin gia tăng đang trở nên quan trọng vì cấu trúc vốn nền kinh tế đang thay đổi phức tạp Đó là lý do tại sao khi nền kinh tế tăng trưởng, vai trò của thị trường ngày càng lớn Bùng nổ nhân tạo bởi can thiệp chính sách đưa đến vấn đề đầu tư chệch hướng, mà theo quan điểm kinh

tế học Áo, điều này phát sinh bởi sự không chắc chắn trong hoạt động sáng nghiệp về nhu cầu tiêu dùng, và thất bại thông tin do thiếu vắng các thị trường hoặc các thị trường bị biến tướng Góc nhìn kinh tế Áo cho rằng nguyên nhân gây ra sự biến tướng đó chính là các can thiệp chính sách Theo Lachmann (1956), chính sách nhân tạo và làm phát tiền tệ gây ra sự không chắc chắn về sáng nghiệp và các mức giá cả, ngăn cản hành vi sáng nghiệp và phối hợp kinh tế

Tuy nhiên, chu kỳ bùng nổ - đổ vỡ của nền kinh tế có thể đưa đến động lực đổi mới sáng tạo Cụ thể, lý thuyết về cơ chế báo động sáng nghiệp (entrepreneurial alertness) của Kirzner (1973) hàm ý giai đoạn đổ vỡ sẽ gắng liền với hoạt động khám phá đổi mới Những hành vi chính sách nhân tạo (như các điều kiện tín dụng dễ dàng hoặc sự hỗ trợ công đối với công nghệ mới) hay những triển vọng về công nghệ mới (như trí thông minh nhân tạo và công nghệ blockchain) có thể đưa đến sự hưng phấn đầu cơ, thu hút những nhà đầu tư tham gia sớm nhờ điều kiện tín dụng dễ dạng và chi phí cơ hội thấp liên quan đến thành lập các công ty khởi nghiệp Một chu kỳ kinh tế điển hình có thể đưa đến đầu

tư chệch hướng thoạt đầu, nhưng cũng có thể tạo ra nhiều thông tin kinh tế mới về các điều kiện ‘phá vỡ cân bằng’ nhờ các triển vọng công nghệ mới (bao gồm thông tin về chi

Trang 7

635

phí sản xuất và nhu cầu thị trường, các mô hình kinh doanh mới và các rào cản thể chế) Giai đoạn bùng nổ tiếp theo sẽ giúp tạo ra thông tin về các thí nghiệm mới đó – tức được tập hợp và đột phá bởi hoạt động sáng nghiệp trong giai đoạn đổ vỡ trước đó

Allen & cộng sự (2020) đưa ra nhiều hàm ý thú vị liên quan đến phương diện chu kỳ kinh tế này Thứ nhất, bong bóng có thể là cơ chế quan trọng cho tăng trưởng kinh tế dài hạn nhờ vai trò của nó trong việc xúc tiến hoạt động tìm kiếm và khám phá thông tin “phá

vỡ cân bằng” Mô hình bong bóng này xem đổi mới (khám phá giá trị) là nội sinh trong khi thay đổi công nghệ (khám phá tính chất vật lý mới trong thế giới) là ngoại sinh – dựa trên cơ sở cho rằng chi phí của khám phá thông tin sáng nghiệp xảy ra trong các điều kiện bên ngoài trạng thái cân bằng Thứ hai, tính chất bong bóng là quan trọng vì khả năng tạo

ra thông tin mới của chúng Chẳng hạn, bong bóng nhà đất tạo ra ít thông tin hơn bong bóng công nghệ do tính mới của không gian khai phá khác nhau Do đó, bong bóng tài sản thường có năng suất thấp và thường gây tốn kém đáng kể cho xã hội, trong khi bong bóng công nghệ sẽ có hiệu ứng ròng tích cực vì lượng thông tin mới nó tạo ra liên quan đến các cơ hội sáng nghiệp Thứ ba, giai đoạn bùng nổ là cần thiết để tạo ra thông tin

“phá vỡ cân bằng” nhưng giai đoạn đổ vỡ cũng cần thiết để giải phóng các nguồn lực nhằm tái sáng nghiệp Khi đó, cơ chế cai quản và phối hợp sẽ cần thiết để phản ánh thông tin hiệu quả hơn vào các cơ hội sáng nghiệp Thứ tư, bằng cách hiểu hoạt động sáng nghiệp kiểu Schumpeter thuộc về giai đoạn bùng nổ và hoạt động sáng nghiệp kiểu Kirzner thuộc về giai đoạn đổ vỡ, sự kết nối giữa khám phá sáng nghiệp và các chu kỳ kinh tế thực sẽ thật sự rõ ràng

Đến nay có thể thấy, sự hình thành và phát triển của các tư tưởng kinh tế học Áo trải qua nhiều mức độ công nhận khác nhau trong thế giới kinh tế học Thí dụ, những quan điểm về tiền tệ của trường phái Áo thường trái ngược và bị phản đối bởi kinh tế học chính thống; tuy nhiên, quan điểm sáng nghiệp của Kirzner nhận được đón nhận tích cực trong tranh luận kinh tế học chính thống và đặc biệt tương thích cao theo các tiến trình công nghệ mới Cuối cùng, thực tế hiện tại cho thấy những tư tưởng lý thuyết kinh tế học Áo

về tiền tệ, vốn và đầu tư đang được củng cố bởi sự ra đời của một công nghệ làm thay đổi cuộc chơi như blockchain Phần tiếp theo sẽ phân tích rõ hơn về mối liên hệ này trong bối cảnh phát triển hiện tại về công nghệ blockchain

3 Blockchain tái định hình về tiền và đầu tư vốn

Blockchain là một công nghệ thể chế về sổ cái phân phối phi tập trung nhằm ghi nhận các

sự kiện xã hội như định danh, bản quyền, đăng ký, sở hữu và chuyển giao tài sản, hợp đồng, thông tin và dữ liệu (Allen & cộng sự, 2020) Cơ chế của blockchain hàm ý cho việc tạo ra một tiền kỹ thuật số tư nhân, như Bitcoin Sự ra đời của Bitcoin hay Blockchain

Trang 8

được xem là tiến trình công nghệ liên quan đến giai đoạn đổ vỡ thị trường tài chính 2008

và sự bùng nổ có tính chất bong bong của công nghệ này có thể đóng vai trò một giai đoạn tái định hình công nghệ niềm tin

Nhìn lại các quan điểm kinh tế Áo về nguồn gốc của tiền, có thể thấy sự ra đời của Bitcoin phản ánh nhiều tư tưởng ở đó Hệ thống tiền điện tử ngang hàng của Nakamoto (2008) rõ ràng được thiết kế để hoạt động như một tiền số tư nhân Khái niệm tiền tệ mã hóa (cryptocurrency) đề cập đến tiền số được đảm bảo nhờ công nghệ blockchain Là một loại tiền mã hóa, Bitcoin có hai tính chất là tính cứng nhắc (hardness) và tính không thể

bị kiểm soát (uncensorability) Bitcoin được thiết kế để bắt chước vàng vật chất trong phương diện nguồn cung cố định và cơ chế nguồn lực khan hiếm Theo tiếp cận phương diện chính trị của tiền tệ, Bitcoin có giá trị về lưu trữ Khi các cá nhân chọn giao dịch thanh toán và chuyển giao giá trị thông qua tiền tệ mã hóa và lưu trữ giá trị trong tài sản

mã hóa, việc đó sẽ làm hạn chế khả năng của chính phủ trong việc kiểm soát hành vi kinh

tế thông qua kiểm soát lượng tiền (thí dụ quá trình xác nhận thanh toán hay kiểm soát vốn), và chính phủ cũng không thể tịch thu tài sản tư nhân bằng cách giảm giá trị đơn vị tiền (in tiền hay tiền tệ hóa nợ, dẫn đến việc đánh thuế lạm phát) Tiền kỹ thuật số như Bitcoin do vậy có thể giới hạn hoạt động can thiệp của chính phủ và sự tùy ý thực thi quyền lực kinh tế (Hendrickson & Luther, 2019) Trong góc nhìn kinh tế học Áo về cung tiền cạnh tranh tư nhân như tranh luận của Menger, sự bùng nổ các đợt phát hành đồng tiền (ICO) cho thấy sự gia tăng nhận thức về vai trò tài chính phân phối tư nhân

Giá trị của Bitcoin đến nay vẫn là tranh cãi trong giới kinh tế học Quan điểm kinh tế học tân cổ điển hàm ý Bitcoin không có giá trị vì không xác định được giá trị nội tại Tuy nhiên, dựa theo quan điểm Áo như Menger và Mises về nguồn gốc của tiền rõ ràng Bitcoin

có cơ sở về giá trị Thoát ly khỏi chức năng tiền tệ có nguồn gốc chính trị, quan điểm Áo nhấn mạnh nguồn gốc giá trị nằm ở nhu cầu hơn là nguồn gốc lao động Một hàng hóa có thể là tiền ở nơi này nhưng không phải tiền ở nơi khác và mang ý nghĩa tiền rộng hơn khi nhiều nơi chấp nhận rộng rãi nó Các hàng hóa (gồm của tư nhân hoặc của nhà nước) sẵn

có phải cạnh tranh để được chấp nhận là tiền Giá trị của Bitcoin nằm ở hệ thống thanh toán sáng tạo của nó, hay đó chính là công nghệ blockchain Chức năng sổ cái phân phối phi tập trung đảm bảo cho Bitcoin khả năng an ninh và không thể đảo ngược, là thứ mà thế giới (trong sự hỗn loạn mới tạo ra từ sau Cuộc khủng hoảng tài chính 2008?) đang cần Thực tế nếu không có mạng lưới thanh toán gắn liền với tiền, tiền sẽ không có giá trị Ở Bitcoin, thậm chí ranh giới giữa khái niệm tiền và tính hiệu quả của hệ thống thanh toán (nguồn gốc cho giá trị của tiền) đã được loại bỏ Bitcoin là sự dung hòa tài tình cho hai khái niệm như vậy: Bitcoin là hệ thống thanh toán hiệu quả và Bitcoin cũng là tiền

Trang 9

637

Một lưu ý ở đây là tính khan hiếm không phải là tất cả nguồn gốc giá trị theo phương diện này Vàng và bạc có giá trị tiền tệ vì nó được sử dụng vào trao đổi hàng hóa trước đây Sự chấp nhận của nó như tiền trong một thời gian và trong một số bối cảnh xuất phát

từ quá trình tồn tại thị trường Điều này phù hợp với quan điểm của Mises rằng tiền có giá trị hôm nay vì nó có giá trị ngày hôm qua, và mọi người sẽ muốn tiền hôm nay vì họ

dự báo mọi người sẽ muốn nó vào ngày mai; điều này nối tiếp với tư tưởng kinh tế của Menger rằng “một khi giao dịch, hai bên đều có lợi” Quan điểm của Mises giải thích việc đôi khi một thứ vô giá trị vẫn có thể sử dụng làm phương tiện trao đổi Vàng, bạc hay Bitcoin đều đã thực hiện chức ngăng phương tiện trao đổi Vấn đề giá trị của các hàng hóa này là ở nhu cầu sử dụng nó như một phương tiên trao đổi, không phải nó khan hiếm như thế nào Quá trình thị trường (như đề cập bởi Menger) đóng vai trò quan trọng trong việc định hình giá trị của một phương tiện trao đổi như thế Năm 2010, khi Bitcoin vẫn còn là khái niệm xa lạ với nhiều người, một người đàn ông tên là Laszlo Hanyecz trả 10.000 đồng Bitcoin (BTC) để mua 2 cái bánh pizza Đó cũng được xem là giao dịch thương mại đầu tiền sử dụng Bitcoin như một phương tiện thanh toán Ngày nay, giá trị của lượng Bitcoin đó tương đương gần 600 triệu USD (tính ở thời điểm bài viết này) Rõ ràng, Bitcoin ở hai thời điểm khác nhau có tầm quan trọng khác nhau Giá trị của Bitcoin ban đầu rất thấp, đơn giản vì cầu sử dụng nó như phương tiện thanh toán không đủ để tạo

ra giá trị cao hơn cho nó, còn ngày nay nhiều thanh toán hơn chấp nhận sử dụng Bitcoin.5

Sự khan hiếm rõ ràng là tính chất cần thiết Nhưng ngay cả vậy, sự khan hiểm của vàng và của Bitcoin cũng không giống nhau Vàng vật chất là hữu hạn trên thế giới này, nhưng tỷ lệ vàng được đào ra trong tương lai không chắc chắn Lượng cung của Bitcoin cũng được giới hạn ngay từ đầu, nhưng tỷ lệ Bitcoin được “đào” ra trong tương lai là có thể được xác định Rõ ràng lợi thế về tính mật mã giúp Bitcoin có thể được thiết kế trên nền tảng rõ ràng được công khai nhằm đảm bảo minh bạch, đồng thời cũng tránh sự thao túng bởi một thực thể có quyền lực Một lưu ý là cơ chế Bitcoin được thiết lập không nhằm loại bỏ được lạm phát, chỉ là kiểm soát lạm phát Với việc có thể biết trước và kiểm soát được, những hợp đồng tài chính tương lai mang tính rủi ro có thể quản trị không phải

là sự không chắc chắn Đây cũng chính là lợi thế rõ ràng của Bitcoin như tiền tệ so với tiền định danh (fiat currency)

Quan điểm của Hayek về giảm tính quốc gia hóa tiền tệ và trao cơ hội cạnh tranh từ các đối tượng tư nhân cũng liên quan ở đây Vì trong một thị trường cạnh tranh như vậy, một hàng hóa được chấp nhận rộng rãi sẽ là tiền và là hệ thống thanh toán Cả hai khu vực đều có khả năng nắm bắt tiến trình công nghệ, nhưng sẽ có một hàng hóa trở thành

5 Hãy nghĩ về trường hợp giá Bitcoin tăng mạnh sau khi công ty Tesla công khai có nắm giữ nó và tương lai mọi người có thể sử dụng nó để thanh toán mua xe điện

Trang 10

tiền duy nhất hoặc có nhiều hàng hóa trở thành tiền với mức độ khác nhau Một lần nữa công nghệ blockchain đang định hình lại cách hiểu truyền thống về tiền tệ Thậm chí khi giá trị nội tại là khía cạnh khó xác định của Bitcoin hoặc một nền tảng dựa trên công nghệ blockchain mới nào đó, nó vẫn có thể thực hiện tốt chức năng của tiền Tranh luận về hàng hóa đảm bảo cho giá trị của tiền đôi khi không thật sự còn cần thiết trong tiến trình đổi mới công nghệ Sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ, không còn đồng tiền định danh nào đảm bảo giá trị hoàn toàn bởi vàng hoặc một hàng hóa nào đó Câu hỏi là có phải chính phủ (hay chính xác là niềm tin vào chính phủ) là đảm bảo cho giá trị của tiền

tệ quốc gia? Liệu Bitcoin hay một công nghệ blockchain thay thế mới có thể trở thành công nghệ niềm tin?

An ninh và an toàn chính là nhu cầu thực trong việc lưu trữ tài sản cá nhân Mọi người trả giá cho tiền (để làm tiền có giá trị) khi nhu cầu của nó nhiều hơn trong việc đảm bảo tính an toàn tài sản Niềm tin vào việc chính phủ đảm bảo chống làm giả tiền giấy hoặc

vô hiệu hóa hệ quả từ cung tiền giả giúp tạo ra giá trị tiền định danh? Niềm tin vào việc vàng khó bị làm giả giúp tạo ra giá trị cho vàng? Niềm tin vào việc cơ chế dựa trên blockchain khó giả mạo giúp tạo ra giá trị cho Bitcoin? Như vậy ngoài chất lượng đảm bảo tính quản trị rủi ro, đặc tính an toàn có thể là tính chất quyết định hàng hóa nào sẽ chiếm sự chấp nhận để thành tiền Tuy nhiên, công nghệ blockchain dựa vào khoa học mật mã ra đời cũng tạo ra sự khác biệt thú vị Mối quan hệ giữa đặc tính an toàn và giá trị trong trường hợp của Bitcoin có thể trái ngược với trường hợp của vàng hoặc tiền pháp định Giá trị của vàng và tiền pháp định có thể thay đổi không liên quan đến đặc tính của

nó như khả năng đảm bảo an toàn Thật vậy, giá vàng vẫn tăng dù không có công nghệ làm giả vàng nào ra đời và giá tiền quốc gia có thể không thay đổi, dù chính phủ áp dụng công nghệ chống làm giả tốt hơn Trường hợp Bitcoin thì khác, giá Bitcoin tăng đồng nghĩa mạng lưới hệ thống blockchain của nó phức tạp hơn và khó bị tấn công hơn Trường hợp trên có thể hiểu thông qua mối quan hệ giữa giá cả và chi phí Kinh tế học tân cổ điển thường cho rằng chi phí cao sẽ dẫn đến giá cả hàng hóa dịch vụ tăng theo Điều đó có thể được tìm thấy trong lý thuyết về giá trị sức lao động Chi phí lao động tích lũy vào giá trị của hàng hóa và dịch vụ - điều trường phái kinh tế học Áo phản đối Như

đã đề cập ở phần trước, kinh tế học Áo đề cao vai trò của thị trường hơn là sức lao động đối với nguồn gốc của giá trị Lý thuyết kinh tế học Áo hàm ý giá cả sản phẩm mới quyết định chi phí, không phải chiều ngược lại Nói cách khác, giá trị được xác định bởi nhu cầu tiêu dùng, sự cạnh tranh trong thị trường buộc nhà sản xuất phải giảm mức giá xuống gần chi phi sản phẩm miễn là không triệt tiêu động cơ sản xuất.Công nghệ blockchain của Bitcoin được thiết kế theo cơ chế cạnh tranh như vậy (Nakamoto, 2008) Thuật toán của Bitcoin đảm bảo độ khó gia tăng khi sự cạnh tranh gia tăng (nhiều người tham gia

Ngày đăng: 31/07/2021, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm