Kỹ thuật đo điện dòng một chiều dc đã và đang được sử dụng rộng rãiđối với phép đo độ dẫn điện, nhưng phương pháp này nói chung đòi hỏi tínhiệu tác động hoặc tín hiệu phân cực tương đối
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ ĐÌNH TRỌNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành khóa luận này, em
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chịcùng các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ lờicảm ơn chân thành tới:
PGS TS Lê Đình Trọng, người Thầy kính mến đã hết lòng hướng dẫn,giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệpnày
Tập thể các thầy cô giáo trong khoa Vật lý trường Đại học Sư phạm HàNội 2, đã trang bị cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý giá trong quátrình học tập tại trường
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, trình độ, kỹnăng của bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn đề tài khóa luận tốtnghiệp này của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong được
sự đóng góp, chỉ bảo, bổ sung thêm của thầy cô và các bạn
Hà Nội, ngày 19 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoanrằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và cácthông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 19 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Cấu trúc khóa luận 2
NỘI DUNG 3
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 3
1.1 Một số khái niệm về lí thuyết mạch xoay chiều 3
1.2 Các phần tử mạch điện của bình điện hóa 7
1.2.1 Điện trở dung dịch điện ly 7
1.2.2 Điện dung lớp kép 8
1.2.3 Điện trở phân cực 8
1.2.4 Điện trở dịch chuyển điện tích 10
1.2.5 Sự khuếch tán 11
1.2.6 Điện dung lớp phủ 12
1.2.7 Thành phần pha không đổi 13
1.3 Các mô hình mạch tương đương thông dụng 13
1.3.1 Mô hình lớp phủ thuần điện dung 14
1.3.2 Mô hình bình điện hoá Randles 15
1.3.3 Mô hình động lực học hỗn hợp và khống chế khuếch tán 16
1.3.4 Mô hình lớp phủ kim loại 18
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TỔNG TRỞ 20
Trang 52.1 Các phương pháp đo tổng trở điện hóa 20
2.1.1 Phương pháp hai điện cực 20
2.1.2 Phương pháp ba điện cực 20
2.1.3 Phương pháp bốn điện cực 21
2.2 Mạch tương đương và đặc trưng phổ tổng trở của mẫu đo ba điện cực
21 2.3 Phổ tổng trở của mẫu đo hai điện cực 22
2.4 Sự trùng khít bình phương tối thiểu không tuyến tính 24
Chương 3 THỰC NGHIỆM 25
3.1 Độ dẫn ion Li+ của perovskite La0,67-xLi3xTiO3 dạng khối 25
3.2 Độ dẫn ion Li+ của màng mỏng La0,67-xLi3xTiO3 28
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NLLS Thuật toán làm khớp bình phương tối
thiểu không tuyến tính
Trang 7Kỹ thuật đo điện dòng một chiều (dc) đã và đang được sử dụng rộng rãiđối với phép đo độ dẫn điện, nhưng phương pháp này nói chung đòi hỏi tínhiệu tác động (hoặc tín hiệu phân cực) tương đối lớn và có thể, trong thực tế,không khả thi khi xác định độ dẫn của các môi trường có độ dẫn thấp [8] Cácphương pháp đo điện xoay chiều (ac) vì thế có khả năng ứng dụng ngày càngtăng trong nghiên cứu điện hoá, vì chỉ cần sử dụng những tín hiệu xoay chiềunhỏ (chúng không làm nhiễu loạn các tính chất điện) và các môi trường độdẫn thấp có thể được nghiên cứu.
Phổ tổng trở điện hoá trong thiết bị điện hoá (AutoLab-potentiostat) cần
có các modul FRA hoặc FRA2 và phần mềm FRA Kết hợp các modul nàycho phép lựa chọn các phép đo khác nhau, các đặc trưng điện hoá đa dạng cóthể nhận được [4]
Chính vì vậy, việc tìm hiểu về phương pháp phổ tổng trở cũng như ứngdụng của nó trong việc xác định tham số vật liệu là rất cần thiết để tiếp cậnvới khoa học công nghệ hiện đại Đó là lý do tôi chọn để tài này
Trang 84 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý thuyết của phương pháp phổ tổng trở
- Nghiên cứu về ứng dụng của phương pháp này
- Thực nghiệm ứng dụng phương pháp phổ tổng trở xác định các đạilượng điện đặc trưng của vật liệu
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu về phương pháp phổ tổng trở
- Thực nghiệm: xác định một số các đại lượng điện đặc trưng trên hệđiện hóa Autolab 302N
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung đượctrình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Phương pháp thực nghiệm tổng trở
Chương 3: Thực nghiệm
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Lí thuyết tổng trở điện hóa là một nhánh được phát triển từ lí thuyếtmạch điện xoay chiều mô tả về mức độ hồi đáp của một mạch điện với dòngđiện xoay chiều hay điện thế xoay chiều Cơ sở toán học của lí thuyết nàynằm ngoài lĩnh vực được xem xét nên chúng ta chỉ đưa ra một số lí thuyết cơbản như sau:
1.1 Một số khái niệm về lí thuyết mạch xoay chiều
Chúng ta biết rằng tín hiệu xoay chiều hình sin được đặc trưng bởi thế
hiệu (U) hoặc dòng điện (I) phụ thuộc thời gian có dạng:
U = Uo sin(t) hoặc I = Io sin(t),
trong đó U0 và I0 là biên độ của thế hiệu và cường độ dòng điện, là tần số
góc Mối quan hệ giữa tần số góc (ω) và tần số (f) có dạng:
Trong đó là góc lệch pha của dòng điện và thế hiệu
Khi dòng điện trong mạch thoả mãn điều kiện chuẩn dừng, mối liên hệgiữa cường độ dòng điện và thế hiệu tuân theo định luật Ohm Trở kháng củamạch là:
Nếu ta vẽ tín hiệu U dạng sin trên trục x và tín hiệu I trên trục y, ta sẽ
Trang 10nhận được đồ thị có dạng oval được gọi là đường Lissajous Phân tích đườngLissajous trên màn hình dao động ký là phương pháp đã được sử dụng để đotrở kháng trước khi có các phương pháp phân tích sự hưởng ứng tần số bằngkhuyếch đại Lock-in
Ngoài ra, bằng phương pháp số phức, từ công thức Euler:
exp( j) cos
jsin
Khi đó, trở kháng có thể diễn đạt như một hàm phức Điện thế và cường
độ dòng điện qua mạch khi đó có dạng:
I
j
sin)
(1.1)
Trong trường hợp chỉ có điện trở thuần (Z = Z0 = R), cường độ dòng điện
I và thế hiệu U cùng pha với nhau.
I = U/R hay U = I.R.
Khi trong mạch có chứa các thành phần điện khác (dung kháng, cảmkháng), cường độ dòng điện qua mạch và thế hiệu áp đặt lệch pha nhau
Chẳng hạn, mạch điện trên hình 1.1 gồm R, C và L mắc nối tiếp Khi cho dòng điện I = I0.sinωt đi qua, ta có:
Hay:
Trang 11U I R
jI (L I 0
) I Z 0 0 0
C 0
Trang 12Như vậy, tổng trở Z là một đại lượng phụ thuộc vào tần số của tín hiệu
xoay chiều, nó có thể được biểu diễn qua hai thành phần: thành phần thực vàthành phần ảo
Nếu hai thành phần này được viết trên hai trục Z” và Z’ của hệ tọa độĐêcac vuông góc, ta có đường Nyquist, Sluyters, Cole – Cole hoặc đồ thị mặtphẳng phức Lưu ý rằng, trong đồ thị này, trục Z’ có giá trị âm và mỗi điểmtrên đường Nyquist là trở kháng ở một tần số
Trên đồ thị Nyquist, trở kháng có thể được diễn đạt như một vectơ cóchiều dài Z và góc giữa vectơ và trục Z’ là φ (độ lệch pha giữa thế hiệu vàdòng điện qua bình điện hoá) Đồ thị Nyquist có một hạn chế, đó là, khôngthể biết được tần số tại một điểm cụ thể trên đồ thị
Trang 13Đồ thị Nyquist trong hình 1.2 là của
mạch điện đơn giản bao gồm một điện trở
thuần và một tụ điện được mắc song song
với nhau Hình bán nguyệt là đặc tính của
“hằng số thời gian” đơn Đồ thị trở kháng
điện hóa thường chứa một vài hằng số
thời gian Trong thực nghiệm, thường chỉ
có thể thấy được một phần của một hoặc
nhiều hơn các bán nguyệt của chúng
Hình 1.2: Đồ thị Nyquist với vectơ
trở kháng.
Một phương pháp trình bày phổ biến khác cũng thường được sử dụng,
đó là đồ thị Bode Trở kháng được viết theo logarit của tần số trên trục x và cảhai giá trị bao gồm giá trị tuyệt đối của trở kháng |Z| = Zo hoặc logarit của Z’,Z” và độ lệch pha được vẽ trên trục y của đồ thị Không giống như đồ thịNyquist, đồ thị Bode có thể cho thấy rõ các thông tin về tần số
Kỹ thuật phổ tổng trở chính là để xác định sự phụ thuộc của tổng trởtheo tần số Thông thường các quá trình này được khảo sát trong vùng tần số
từ vài trăm mHz cho tới hàng chục MHz thậm chí GHz Tuỳ vào đối tượng vàmục đích nghiên cứu mà người ta sử dụng khoảng tần số thích hợp Đối vớicác vật liệu có tính dẫn ion và các quá trình điện hoá, quá trình dẫn điện có sựtham gia của các ion, hạt tải điện có độ linh động nhỏ hơn nhiều so với độlinh động của điện tử vì vậy phép đo chỉ thích ứng trong khoảng tần số thấp
để các ion có thể đáp ứng sự biến đổi của điện trường ngoài Để xác định cáctham số như độ dẫn điện, các tham số về quá trình dịch chuyển điện tích hay
hệ số khuếch tán của các ion trong các vật liệu bằng kỹ thuật phổ tổng trởchúng ta phải dựa vào mối liên hệ của chúng với các thành phần điện trở hay
tụ điện trong sơ đồ mạch điện tương đương
Trang 141.2 Các phần tử mạch điện của bình điện hóa
Một bình điện hoá có thể coi như mạch điện bao gồm những thành phầnchủ yếu sau (Hình 1.3a):
- Điện dung của lớp kép, đặc trưng bởi tụ điện Cdl
- Tổng trở của quá trình Faraday Zf
- Điện trở R0, đó là điện trở dung dịch giữa điện cực so sánh và điện cựclàm việc
Hình 1.3: Mạch điện tương đương của một bình điện hoá.
Tổng trở Faraday Zf thường được phân thành hai cách tương đương:
- Điện trở Rs mắc nối tiếp với một giả điện dung Cs (Hình 1.3b)
- Điện trở chuyển điện tích Rct và tổng trở khuếch tán Waburg ZW đặctrưng cho quá trình dịch chuyển khối lượng (Hình 1.3c) Trong các đại lượngnày chỉ có R0 không phụ thuộc tần số
Nếu phản ứng chuyển điện tích dễ dàng Rct → 0 và Zw sẽ khống chế Khiphản ứng chuyển điện tích khó khăn thì Rct → ∞ thì Rct khống chế Sơ đồ thứhai (Hình 1.3c) gọi là mạch Randles Trong trường hợp này Zf còn được gọi làtổng trở Randles và thường có ký hiệu là ZR
1.2.1 Điện trở dung dịch điện ly
Điện trở dung dịch điện ly thường là thông số quan trọng trong tổng trởcủa bình điện hoá Potentiostat ba điện cực bù đắp cho điện trở dung dịch giữa
Trang 15điện cực đối và điện cực so sánh Tuy nhiên, điện trở dung dịch giữa điện cực
so sánh và điện cực làm việc phải kể đến khi làm mô hình bình điện phân.Điện trở của dung dịch ion phụ thuộc vào mật độ ion, loại ion, nhiệt độ vàdiện tích hình học trong đó dòng điện chạy qua Trong diện tích giới hạn A,
chiều dài ℓ dòng điện chạy qua điện trở được xác định bằng:
R (1.9)
ATrong đó ρ là điện trở suất dung dịch, điện dẫn suất của dung dịch (σ)thường được sử dụng trong tính điện trở dung dịch Nó liên hệ với điện trởdung dịch:
R 1
A RAĐơn vị đo điện dẫn suất σ là Simen trên mét (S.m-1), 1 S = 1/Ω
1.2.2 Điện dung lớp kép
(1.10)
Lớp điện kép tồn tại ở mặt tiếp giáp giữa điện cực và chất điện ly baoquanh Lớp kép này được hình thành khi các ion từ dung dịch bị giữ lại ở bềmặt điện cực Các điện tích trong điện cực bị phân tách với các điện tích củacác lớp ion này Sự ngăn cách rất nhỏ, chỉ vào cỡ Å, tạo thành một tụ điện.Giá trị của điện dung lớp kép phụ thuộc vào nhiều tham số bao gồm thế điệncực, nhiệt độ, nồng độ ion, loại ion, lớp oxit, độ gồ ghề của điện cực, sự hấpthụ tạp,…
1.2.3 Điện trở phân cực
Mỗi khi điện thế của điện cực có sự thay đổi ra khỏi giá trị của nó ở chế
độ mạch hở khi đó xuất hiện sự phân cực điện cực Khi điện cực bị phân cực,
nó có thể gây ra dòng điện do các phản ứng điện hóa xuất hiện ở bề mặt điệncực Cường độ dòng điện được điều khiển bởi động học của các chất phản ứng
và sự khuyếch tán của các chất phản ứng theo hai hướng đi vào và đi ra khỏiđiện cực
Trang 16Trong các bình điện hoá, điện cực chịu sự ăn mòn đồng nhất ở chế độmạch hở, thế mạch hở được khống chế bởi sự cân bằng giữa hai phản ứng điệnhoá khác nhau Một trong các phản ứng sinh ra dòng catôt và phản ứng còn lạisinh ra dòng anôt Thế mạch hở cuối cùng ở điện thế mà khi đó các dòng catôt
và anôt bằng nhau Nó được qui cho bằng điện thế tổng hợp Giá trị của dòngđiện đối với phản ứng này hay phản ứng kia được gọi là dòng điện ăn mòn
Sự điều khiển thế hỗn hợp cũng xuất hiện trong các bình điện hoá khi mà điệncực không bị ăn mòn Các kết quả đưa ra về các phản ứng ăn mòn vẫn có khảnăng áp dụng được trong các trường hợp không ăn mòn
Trường hợp đơn giản, khi có hai phản ứng được điều khiển động, thế củabình điện hoá liên hệ với dòng theo công thức Butler-Volmer:
Ở đây: I - cường độ dòng đo được qua bình điện hoá (A)
Phương trình (1.12) đưa vào một tham số mới, Rp, đó là điện trở phâncực Điện trở phân cực có tính chất giống như một điện trở thuần
Nếu biết được hằng số Tafel, Icorr có thể được xác định theo Rp khi sửdụng phương trình (1.12) Icorr có thể được sử dụng để tính tốc độ ăn mòn
Trang 171.2.4 Điện trở dịch chuyển điện tích
Điện trở dịch chuyển điện tích là điện trở hình thành bởi phản ứng điệnhoá được khống chế động Trong trường hợp này không có điện thế tổng hợp,nhưng có một phản ứng đơn ở trạng thái cân bằng
Xét một đế kim loại trong tiếp xúc với chất điện ly Các phân tử kim loại
có thể hoà tan điện phân vào trong chất điện ly, theo phương trình:
Me ↔ Men+ + ne - (1.13)Hoặc tổng quát hơn:
Red ↔ Ox + ne - (1.14)Theo chiều thuận của phương trình (1.13), các điện tử đi vào kim loại vàcác ion kim loại khuếch tán vào chất điện ly Khi đó điện tích được dịchchuyển Phản ứng dịch chuyển điện tích này có tốc độ phụ thuộc vào loại phảnứng, nhiệt độ, mật độ của các sản phẩm phản ứng và điện thế Mối liên quantổng quát giữa điện thế và dòng điện [4]:
Trong đó: i0 - mật độ dòng điện trao đổi
C0, C0* - nồng độ chất ôxi hoá ở bề mặt điện cực và trong khối;
Trang 18
Khi nồng độ trong khối tương tự như ở bề mặt điện cực, C0 = C0* và CR =
CR* phương trình (1.15) đơn giản thành:
Z = δ(ω)-1/2(1 – j) (1.18)
Trong giản đồ Nyquist tổng trở Warburg vô hạn xuất hiện bằng đườngchéo với độ dốc bằng 0,5 Trong giản đồ Bode, tổng trở Warburg biểu lộ sựthay đổi pha bằng 45o
Trong phương trình (1.18), δ là hệ số Warburg định nghĩa bằng:
Trang 191/ 2
Trong đó: ω - tần số góc
D0 - hệ số khuếch tán của chất oxi hoá
DR - hệ số khuếch của chất khử (chất hoàn nguyên)
A - diện tích bề mặt của điện cực
Với d - độ dầy lớp khuếch tán Nernst; D - Giá trị trung bình của các hệ số
khuếch tán của các hạt khuếch tán
Phương trình này được gọi là Warburg “hữu hạn” Đối với các tần sốcao, khi mà , hoặc đối với lớp khuyếch tán có chiều dài vô hạn d,
phương trình trên đơn giản thành phương trình trở kháng Warburg vô hạn
1.2.6 Điện dung lớp phủ
Tụ điện được hình thành khi hai lớp dẫn được ngăn cách bởi môi trườngkhông dẫn điện, được gọi là điện dung lớp phủ Giá trị của điện dung phụthuộc vào kích thước của các lớp, khoảng cách giữa các lớp và tính chất củađiện môi Mối quan hệ là:
C 0 r A
Trong đó: ε0 - hằng số điện môi;
εr - hằng số điện môi tương đối;
A - diện tích bề mặt của một lớp;
d - khoảng cách giữa hai lớp
Trang 20Chú ý: Điện dung của chất nền phủ thay đổi khi nó hấp thụ nước Phổ tổng trở
điện hoá thường được sử dụng để đo sự thay đổi đó
1.2.7 Thành phần pha không đổi
Các tụ điện trong các thực nghiệm phổ tổng trở điện hoá thường khôngphải là tụ điện lý tưởng Thay vào đó, chúng thể hiện như một thành phần phakhông đổi (CPE) được định nghĩa như sau:
Trở kháng thành phần pha không đổi (CPE) có dạng:
Z = A(jω) -α (1.22)Đối với tụ điện, hằng số A = 1/C (nghịch đảo của điện dung) và số mũ
α = 1 Đối với thành phần pha không đổi, số mũ α nhỏ hơn 1
“Tụ điện lớp kép” trong các bình điện hoá thực thường thể hiện giốngnhư một CPE thay vì như một tụ điện lý tưởng Một vài lý thuyết được đưa ra
để tính cho tính không lý tưởng của lớp kép nhưng đều không được chấp nhậnphổ biến Trong hầu hết trường hợp, chúng được xử lý bằng kinh nghiệm màkhông cần quan tâm đến cơ sở vật lý của chúng
1.3 Các mô hình mạch tương đương thông dụng
Trong phần này tôi trình bày một số mô hình mạch tương đương thôngdụng Các mô hình mạch tương đương này có thể được sử dụng để giải thích
số liệu phổ tổng trở điện hoá đơn giản
Bảng 1.1: Các thành phần mạch được sử dụng trong các mô hình
W (Warburg vô hạn) Y0 ( j) 1/Y0 ( j)
O (Warburg hữu hạn) Y0 ( j)CothB ( j)
TanhB ( j) /Y0 ( j)
Trang 21Các thành phần được sử dụng trong các mạch tương đương được liệt kêtrong bảng 1.1 Các phương trình cho đồng thời độ dẫn và tổng trở được đưa
ra đối với mỗi thành phần Các lượng biến đổi được sử dụng trong các phươngtrình này là R, C, L, Y0, B và α
1.3.1 Mô hình lớp phủ thuần điện dung
Kim loại bao bọc với lớp phủ
hoàn chỉnh, nói chung có tổng trở rất
cao Mạch tương đương trường hợp
này được biểu diễn trong hình 1.4
Mô hình bao gồm điện trở (cơ bản
của chất điện ly) và điện dung lớp
phủ mắc nối tiếp
Giản đồ Nyquist cho mô hình
này cho thấy trong hình 1.5 Giá trị
của tụ điện không thể xác định được
từ giản đồ Nyquist Nó có thể được
xác định bởi đường cong trùng khít
hoặc từ sự xem xét của các điểm dữ
Hình 1.4: Điện dung lớp phủ thuần
Hình 1.5: Giản đồ Nyquist tiêu biểu
cho lớp phủ điển hình.
liệu Phần bị chặn của đường cong với trục thực cho phép ước lượng điện trởdung dịch Tổng trở lớn nhất trên đồ thị này gần tới 1010 Ω sát tới giới hạn củaphép đo tổng trở của hầu hết các hệ EIS
Hình 1.6 biểu thị giản đồ Bode cho mô hình lớp phủ trong hình 1.4 Chú
ý rằng điện dung có thể được ước tính từ đồ thị nhưng giá trị điện trở dungdịch không xuất hiện trên đồ thị Sự hấp thụ nước vào màng thường là quátrình khá chậm Nó có thể được đo bởi EIS ở các khoảng thời gian cài đặt sẵn
Sự tăng trong điện dung màng được qui cho sự hấp thụ nước
Trang 22Hình 1.6: Giản đồ Bode tiêu biểu cho lớp phủ điển hình.
1.3.2 Mô hình bình điện hoá Randles
Bình điện hoá Randles là một trong
những mô hình bình điện hoá phổ biến và
đơn giản nhất, bao gồm một điện trở
dung
dịch (Rs), một tụ điện lớp kép (Cdl) và một
điện trở dịch chuyển điện tích hoặc
phân cực (Rct hoặc Rp) Ngoài tính hữu
dụng của
Hình 1.7: Biểu đồ sơ đồ bình
nó, mô hình bình điện hoá Randles thường là điểm khởi đầu cho các mô hình khác phức tạp hơn
Mạch tương đương cho bình đo
Randles cho thấy trong hình 1.7 Điện
dung lớp kép song song với tổng trở vì
chống lại sự dịch chuyển điện tích
Giản đồ Nyquist cho bình điện hoá
Randles luôn là một bán nguyệt (Hình
1.8) Điện trở dung dịch có thể xác định
được bằng cách đọc giá trị trên trục thực
Trang 23ở điểm chặn tần số cao Đây là điểm
chặn gần như bắt đầu của giản đồ
Giản
Hình 1.8: Giản đồ Nyquist ứng với mạch Randles.
đồ Nyquist được tạo ra trong hình 1.8 với giả định Rs = 20 Ω và Rp = 270 Ω
Trang 24Giá trị trục thực ở điểm chặn về phía tần số thấp là tổng của điện trở phâncực và điện trở dung dịch (Rs + Rp) Đường kính của bán nguyệt do đó bằngđiện trở phân cực (Rp).
Hình 1.9: Giản đồ Bode cho bình điện hoá Randles điển hình.
Hình 1.9 là giản đồ Bode cho bình điện hoá Raldles Điện trở dung dịch
và tổng của điện trở dung dịch và điện trở phân cực có thể đọc được từgiản đồ cường độ Góc pha không đạt tới 900 như đối với tổng trở điện dungthuần Nếu các giá trị đối với Rs và Rp tách xa nhau rộng hơn pha sẽ tến tới
90o
1.3.3 Mô hình động lực học hỗn hợp và khống chế khuếch tán
Bình điện hoá được quan tâm đầu
tên gồm một phần tử, ở đó sự khuyếch
tán bán vô hạn, nối tiếp với một điện trở
dung dịch như tổng trở bình điện hoá khác
Giản đồ Nyquist cho phần tử này được
được biểu diễn trong hình 1.10 Rs
được giả định
khoảng 20 Hệ số Warburg được tính
vào khoảng 120 .s-1/2 ở nhiệt độ phòng
Chú ý: tổng trở Warburg xuất hiện như
Hình 1.10: Giản đồ Nyquist đối với trở kháng Warburg.
Trang 25một đường thẳng với độ dốc 45° Cũng dữ liệu như vậy được vẽ dưới dạngBode trong hình 1.11 Góc pha của tổng trở Warburg là 45°.
Trang 26Hình 1.11: Đồ thị Bode của một trở kháng Warburg
Thêm vào một điện dung lớp kép
và một trở kháng dịch chuyển điện tích,
chúng ta có mạch tương đương như
hình 1.12 Mạch này mô phỏng một
bình điện hoá ở đó sự phân cực là
kết quả của các quá trình động học và
khuyếch tán Giản đồ Nyquist cho mạch
này được mô tả trong hình 1.13 Hệ số
Warburg được giả định vào khoảng 150
.s-1/2
Giản đồ Bode cho dữ liệu tương tự
được cho thấy trên hình 1.14 Giới hạn
tần số thấp đã được dời xuống tới
1 mHz để mô tả tốt hơn sự khác biệt
trong độ dốc của cường độ và pha giữa
tụ điện và tổng trở Warburg Lưu ý
rằng pha gần như 45° ở tần số thấp
Hình 1.12: Mạch tương đương với động học hỗn hợp và khống chế dịch chuyển điện tch
Hình 1.13: Giản đồ Nyquist đối với mạch khống chế hỗn hợp.
Trang 27Hình 1.14: Giản đồ Bode cho mạch khống chế hỗn hợp
1.3.4 Mô hình lớp phủ kim loại
Tính chất tổng trở của điện dung lớp phủ thuần đã được trao đổitrong mục 1.3.1 Hầu hết các lớp phủ bị suy biến theo thời gian, dẫn đếncác tính chất phức tạp hơn Sau một thời gian xác định, nước thấm vào lớpphủ và hình thành lớp tiếp giáp chất lỏng/kim loại mới dưới lớp phủ Hiệntượng ăn mòn có thể xuất hiện ở trên lớp tiếp giáp mới này
Tổng trở của các kim loại phủ nghiên cứu rất khó Sự giải thích dữ liệutổng trở từ lớp phủ suy biến có thể rất phức tạp Ở đây chỉ với mạch tươngđương đơn giản cho thấy trong hình 1.15 được trao đổi Thậm chí môhình đơn giản này đã từng là nguyên nhân
tranh luận trong các tài liệu Hầu hết các
nhà nghiên cứu đồng ý rằng mô hình này
là một trong số những giải thích của mô hình này
Trang 28Điện dung của lớp phủ còn nguyên vẹn được ký hiệu là Cc, giá trị của nónhỏ hơn nhiều diện dung lớp kép điển hình Rpo (điện trở lỗ xốp) là điệntrở của các kênh dẫn phát triển trong lớp phủ Các kênh này có thể khôngphải là
Trang 29các lỗ xốp được làm đầy với chất điện ly Trên mặt kim loại có lỗ xốp, chúng
ta giả sử rằng diện tch của lớp phủ đã bị phân lớp và hình thành các túi đượclấp đầy với dung dịch điện ly Dung dịch điện ly này có thể rất khác so vớidung dịch khối bên ngoài lớp phủ Mặt tiếp giáp giữa túi dung dịch này và kimloại trần được mô phỏng như một tụ điện lớp kép song song với điện trở dịchchuyển điện tích khống chế động học
Khi sử dụng EIS để kiểm tra lớp
phủ, sự trùng khít cho phép ước tính giá
trị các thông số của mô hình, như điện
trở lỗ xốp hoặc điện dung lớp kép Dựa
vào các thông số này để đánh giá chất
lượng của lớp phủ Giản đồ Nyquist cho
mô hình này được cho thấy trong
hình
1.16 Chú ý: có hai hằng số thời gian
định rõ trên giản đồ này
Hình 1.16: Giản đồ Nyquist cho
lớp phủ suy biến.
Hình 1.17 biểu diễn giản đồ Bode cho mô hình này Hai hằng số thờigian có thể quan sát thấy nhưng kém rõ so với giản đồ Nyquist Giản đồ Bodekhông tới tần số đủ cao để đo điện trở dung dịch Trong thực nghiệm,khi kiểm tra lớp phủ, nó thường không được chú ý
Hình 1.17: Giản đồ Bode cho lớp phủ không hoàn thiện.