1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề Thơ và phương pháp dạy thơ

28 479 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề Thơ và phương pháp dạy thơ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Bên cạnh đó thế kỉ 21 Hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hội phát triển, những môn học thời thợng Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ quan…trọng hơn bao giờ hết thì văn chơng không

Trang 1

mjgjhhj

Trang 2

A Phần mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

- Sau gần sáu năm cải cách môn Ngữ Văn ở Trung học cơ sở d luận chung

đánh giá có nhiều chuyển biến rõ nét về phơng pháp dạy học Điều chính là trong cuộc cải cách này đã đợc những định hớng và giải pháp mới phù hợp với xu thế dạy học tiến bộ của khu vực và thế giới Xong khi triển khai lại gặp nhiều điều “ bất cập ’’ do sự non kém nghiệp vụ gây ra Chúng tôi nhận thấy: Một số giờ học văn nhiều giáo viên cha hiểu sâu sắc bản chất của đổi mới phơng pháp; cha quan tâm đến mọi đối tợng đặc biệt là đối tợng học sinh yếu Phơng pháp giảng dạy ch-

a đổi mới, khó đổi mới Cha kết hợp hài hoà các phơng pháp, còn hiện tợng “ Thầy nói trò ghi’’, hoặc còn mắc phải những sáo mòn mơí ngay khi xây dựng khẳng định phơng pháp mới đã khiến giờ học trở nên nhạt nhẽo vô hồn Từ đó

ảnh hởng rất nhiều đến việc cảm thụ văn của học sinh

- Qua dự giờ ở một số khối lớp, chúng tôi thấy số đông học sinh cha có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, nhiều em học sinh còn thờ ơ, lãnh

đạm với tác phẩm văn chơng, nhất là thơ, thờng ít hiểu, ít yêu thơ Các em học các bài thơ trong sách giáo khoa cũng bình thờng nh các bài học khác, ít biết về thơ hiện đại, ít em có một quyển sổ đẹp để chăm chút viết vào đấy những bài thơ hay mà mình yêu thích Đối với nhiều em, thế giới thơ còn là một thế giới xa lạ Nếu có ai hỏi các em về những bài thơ hay mà các em thích, thờng khi hiểu biết của các em quanh quẩn cũng không ngoài các bài thơ đã học trong sách giáo khoa và

sở dĩ các em thấy hay vì có in trong sách giáo khoa và thầy giáo bảo vậy Cá biệt không phải không có em “sợ” thơ, bởi vì có những bài thơ cổ từ ngữ, điển

cố nặng nề, âm điệu trúc trắc, ý nghĩa khó hiểu gây cho các em nhiều mệt nhọc

mà lời giảng của ngời thầy nhiều lúc cũng cha làm cho các em hiểu rõ và thấy hay thêm đợc chút nào Từ đó học sinh mất hứng thú khi học văn và kéo theo chất lợng học văn ngày càng sa sút

- Bên cạnh đó thế kỉ 21 Hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hội phát triển, những môn học thời thợng (Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ ) quan…trọng hơn bao giờ hết thì văn chơng không có tính năng ứng dụng, tơng lai ngời học không đợc đảm bảo.Một thực tại mà giáo viên nào cũng nhận thấy : Sách tham khảo, sách hớng dẫn để học tốt, sách chuẩn kiến thức, những bài văn mẫu… quá nhiều, vô hình dung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa, học sinh tỏ ra biết đầy đủ nội dung tác phẩm văn chơng đợc học nhng cha một lần đọc bài văn, bài thơ trong sách giáo khoa, thầy có kiểm tra phát vấn thì các loại sách tham khảo nghĩ hộ nói hộ tất cả và khi giáo viên ra đề kiểm tra coi nghiêm túc thì tất thảy đã phơi bày ra Có rất nhiều lỗi học sinh phạm phải khiến ngời thầy đau lòng

VD : Ngữ văn 9 bài kiểm tra khảo sát chất lợng đầu năm

Phần tự luận có câu: Em hãy viết bài văn giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi, hoàn cảnh ra đời, nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Nớc Đại Việt ta” <Trích

“Bình Ngô đại cáo”>

Trang 3

HS1: Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình có tri thức nhng do tham gia khởi nghĩa nên ông đã bị giết hại một cách rất oan uổng vào năm 1442.

HS2: Nguyễn Trãi là một vị quan thanh liêm, giữ chức vụ cao ở triều đình Ông sinh năm 1418 và mất năm 1378 Nội dung của bài “Bình Ngô đại cáo” nh một bản tuyên ngôn độc lập của nớc ta có nội dung rất vững chãi, ý nghĩa hùng hậu

HS3: Nguyễn Trãi là con trai Nguyễn Phi Khanh quê ở xã Chi Ngoại thuộc huyện Chí Linh – Thờng Tín – Hà Tây Đoạn trích “Nớc Đại Việt ta” đ-

ợc trích trong “Bình Ngô đại cáo” đợc ông viết trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên

HS4: Nguyễn Trãi sinh năm 1382, ông là một vị quan giỏi nhất trong triều

đình Ông sáng tác trong hoàn cảnh nhân dân khổ cực, đất nớc bị bọn thực dân tiến đánh Ông đã kể lại hoàn cảnh loạn lạc của nhân dân lúc đó, đất nớc thì bị chia cắt, nhân dân đang cố gắng đánh lại quân Minh lần thứ nhất và đã giết chết tên Toa Đô ở sông Bạch Đằng Ông đã sử dụng một số nghệ thuật để làm tăng sức mạnh mẽ của “Đại Việt ta” là liệt kê, kể, tả…

2 Mục đích nghiên cứu

Từ nhận thức trên tổ khoa học xã hội dới sự chỉ đạo của phòng chuyên môn tập trung nghiên cứu làm thế nào để cho các em hiểu thơ yêu thơ và say mê với thơ để từ đó hình thành thói quen ham học và ham đọc văn Muốn vậy giáo viên phải tìm hiểu thơ, đặc trng của thơ nghĩa là tìm hiểu phơng pháp giảng dạy thơ trữ tình

Trong khuôn khổ cho phép của một đề tài nghiệp vụ s phạm tôi đã quyết

định chon đề tài “Thơ và phơng pháp giảng dạy thơ trữ tình” với mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả hơn phơng pháp giảng dạy thơ trữ tình để dạy tốt các bài thơ trữ tình trong chơng trình Ngữ văn THCS

Trớc hết tìm hiểu thực trạng việc dạy và học Ngữ văn nói chung và thơ trữ tình nói riêng ở trờng phổ thông hiện nay Từ đó đa ra những đề xuất và ứng dụng phơng pháp giảng dạy thơ trữ tình Quá trình thực hiện đề tài này nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ s phạm của bản thân, bớc đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho việc học tập và nghiên cứu sau này

3 Thời gian địa điểm

- Sau hai năm nghiên cứu đề tài thơ và phơng pháp giảng dạy thơ trữ tình năm học 2007-2008 chúng tôi thực hiện chuyên đề tại trờng Trung học cơ sở Xuân Sơn

4 Đóng góp mới về mặt lí luận, thực tiễn

- Tiến hành nghiên cứu đề tài này, tôi không có tham vọng nhiều mà chỉ mong học sinh của tôi có niềm đam mê học Văn nói chung và có kĩ năng cảm thụ thơ nói riêng để từ đó chất lợng học văn ngày càng đợc nâng lên

- Căn cứ vào kinh nghiệm và hiểu biết còn ít ỏi của mình, tôi cố gắng tìm hiểu phơng pháp giảng dạy thơ trữ tình đó là chú ý đến đặc trng của thơ Đặc biệt

về mặt loại thể, thơ trữ tình giảng theo trình tự trữ tình, khai thác hình tơng tâm t

Trang 4

của tác giả hay của nhân vật trữ tình Hình tợng thơ hình thành trong một cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt khác với ngôn ngữ bình thờng Cấu tạo trong ngôn ngữ đó làm cho hình tợng thơ không chỉ có hình mà còn có nhạc Trong khi giảng, ngời giáo viên phải làm cho học sinh vừa hình dung đợc hình ảnh bài thơ gợi lên vừa cảm thụ đợc nhạc điệu của bài thơ mang đến Nắm đợc đặc trng đó, chúng ta sẽ có một phơng hớng chung để đi vào nắm đợc quy luật chung, tìm ra phơng pháp cơ bản nhất của việc giảng dạy thơ Phơng pháp cơ bản đó sẽ góp phần hớng dẫn chúng ta trong khi đi tìm những phơng pháp cụ thể để giảng các bài thơ muôn hình muôn vẻ

- Để làm đợc vấn đề trên, đòi hỏi ngời thầy dạy văn phải có trình độ học vấn và tay nghề cao cần năng động và sáng tạo rất nhiều Hay nói cách khác ngời thầy phải có tài năng và tâm huyết

- Nhà phê bình Hoài Thanh:

“Từ bao giờ đến bây giờ, từ Hô me đến Kinh thi, đến ca dao Việt Nam Thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài ngời và nó sẽ kết bạn với loài ngời cho đến ngày tận thế”

- Nhà thơ Tố Hữu :

Trang 5

“Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống

đã thật đầy.”

“Thơ ca làm cho con ngời ta đi từ chân trời một ngời đến chân trời nhiều ngời.”

Vâng! Thơ không chỉ là tiếng nói tâm hồn của các cá nhân thi sĩ mà còn là

điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu Thơ nảy sinh do nhu cầu giãi bày của nghệ sĩ; khao khát bày tỏ những tâm sự thầm kín của mình nhng mặt khác những tiếng lòng hết sức riêng t ấy luôn khao khát đợc đồng vọng, đi tìm sự đồng điệu

2 Đặc trng của thơ

Đặc trng của loại thơ trữ tình là sự bộc lộ trực tiếp t tởng, cảm xúc, nhiệt tình, tâm t, những trạng thái mạnh mẽ, xao động, phong phú của tâm hồn và trí tuệ con ngời Tất cả những trạng thái muôn hình, muôn vẻ mà tác phẩm trữ tình diễn tả cũng đều bắt nguồn từ hiện thực, do cuộc sống kích thích, thúc đẩy, khêu gợi và đều có mang dấu vết, hình ảnh của cuộc sống, của hiện thực khách quan.…

Có điều là mọi hình ảnh cuộc sống đều bộc lộ qua cảm quan và ngôn ngữ cá nhân của tác giả hoặc của nhân vật mà tác giả nhân danh để phát biểu, của cái ngôi thứ nhất mà trong lí luận văn học gọi là “Nhân vật trữ tình” hay “cái tôi trữ tình” Do

đó, trong tác phẩm trữ tình không phải chỉ có cảm xúc, t tởng thuần tuý, trần trụi

mà cũng có cảnh, có ngời, có việc, nhng điều chủ yếu ở đây là cái trạng thái tâm

t dào dạt cảm xúc hay chất chứa suy nghĩ trớc những cảnh, những ngời, những việc đó Trong tác phẩm tự sự trung tâm là hình tợng – tính cách (của nhân vật) còn trong tác phẩm trữ tình trung tâm lại là hình tợng, tâm t (của tác giả hay của nhân vật trữ tình)

Ví dụ văn bản “Sau phút chia ly” trích “ Chinh phụ ngâm” thì chủ yếu là một tác phẩm trữ tình ở đây không có câu chuyện nào cả, hoặc đúng hơn là có rất ít chuyện Từ đầu đến cuối khúc ngâm là sự diễn biến của hàng loạt trạng thái tâm

t, tình cảm khác nhau của ngời chinh phụ trong thời gian vắng chồng Hiện thực

về chiến tranh phong kiến cũng nh thái độ phản kháng tiêu cực đối với cuộc chiến tranh đó chủ yếu đợc bộc lộ qua tâm trạng của nhân vật trữ tình: ngời chinh phụ Hình ảnh chiến trờng âm u, ảm đạm của một cuộc chiến tranh phong kiến vô nghĩa cũng nh tình cảnh cửa nhà quạnh vắng, cô đơn của ngời vợ trẻ đợi chồng

đợc dựng lên không phải nh một “cái gì ở bên ngoài, tách biệt” mà ở trong tâm trạng thơng nhớ triền miên của ngời chinh phụ

II Nghệ thuật thơ.

1 Tiếng Việt giàu âm thanh, nhạc điệu Hệ thống vần điệu và thanh điệu

là những yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của tiếng Việt nói chung và ngôn từ văn học nói riêng, nhất là thơ Một trong những tác dụng của vần là tạo nên âm hởng vang ngân trong thơ, từ đó mà diễn đạt và thể hiện nội dung Đọc đoạn thơ sau:

“Em ơi Ban Lan mùa tuyết tan

Đờng Bạch Dơng sơng trắng nắng tràn

Anh đi nghe tiếng ngời xa vọng

Một giọng thơ ngâm một giọng đàn.”

ở đây vần chính là an (tan, tràn, đàn) nhng bên cạnh đó, nhà thơ còn sử dụng rất nhiều vần khác (lan || tan, dơng || sơng, trắng || nắng, vọng || giọng)

Trang 6

Trong bốn dòng thơ hàng loạt các vần liên tiếp xuất hiện, tạo nên một khúc nhạc ngân nga, diễn tả một niềm vui phơi phới nh muốn hát lên của nhà thơ khi

đứng trớc mùa xuân của đất nớc Ba Lan

2 Dấu câu và cách ngắt nhịp

Dấu câu và sự ngắt nhịp là một trong những phơng tiện hữu hiệu đã thể hiện “sự im lặng không lời” Dấu câu và cách ngắt nhịp còn có một chức năng rất quan trọng đó là tạo nên “ý tại ngôn ngoại” hàm nghĩa “gợi ra những điều mà từ không nói hết”, nhất là trong thơ Thật khó mà dùng ngôn từ để diễn tả sự im lặng

và xúc động thiêng liêng đến tận cùng, giây phút Bác Hồ trở về Tổ quốc sau 30 năm xa cách bằng mấy dấu câu trong đoạn thơ này:

“Ôi! Sáng xuân nay, xuân 41Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về Im lặng Con chim hótThánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ ”

(Tố Hữu Theo chân Bác)–Câu thơ của Chế Lan Viên “Đất nớc đẹp vô cùng Nhng Bác phải ra đi” (Ngời đi tìm tình hình của nớc) nhiều học sinh đọc liền một mạch đã làm mất đi bao nhiêu sức gợi cảm sâu lắng, thiết tha, một sự nuối tiếc đến xót xa do cái dấu chấm dòng ấy tạo ra Nhiều trờng hợp, sự xuống dòng liên tục, sự ngắt nhịp liên tục, đột ngột của tác giả có một dụng ý hay đúng hơn có một ý nghĩa, một tác dụng rất sâu sắc trong việc thể hiện nội dung Câu thơ: “Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt (chín chữ) đợc nhà thơ Hữu Loan xé thành sáu dòng thơ:

“Màu tím hoa sim

ở bài thơ này, nhiều câu thơ bị cắt ra nh thế Cả bài thơ vỡ vụn thể hiện

đ-ợc nỗi đau tan nát Tiếng khóc đứt đoạn, nghẹn tắc, hạnh phúc tan thành nhiều mảnh, đứt ra nhiều đoạn, không gì hàn gắn nổi

Đọc bài thơ “Ngời hàng xóm” của Nguyễn Bính ta thấy thi sĩ sử dụng nhịp

điệu đặc biệt để thể hiện tâm trạng khác thờng, của nhân vật trữ tình

Ví dụ nh:

“Không!, từ ân ái nhỡ nhàng nhịp thơ 1/5Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao!”

“Mấy hôm nay! Chẳng thấy nàng nhip thơ 3/3Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong

Cái gì nh thể nhơ mongNhớ nàng, không, quyết là không, nhớ nàng nhịp thơ 2/1 /3/2Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng nhịp thơ 1/5Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xa”

Trang 7

Nhịp điệu thay đổi rõ ràng khi chàng trai bồi hồi phát hiện ra tâm trạng khác thờng của mình và càng thay đổi đặc biệt hơn khi anh ta không dám công nhận sự thật của con tim đang rung động, nhất quyết tự dối lòng mình:

Cái gì nh thể nhớ mong?

Nhớ nàng, không, quyết là không nhớ nàng nhịp thơ 2/1/ 3/2

(Đó chính là nhịp đập của trái tim đang thổn thức)

3 Thơ nói bằng hình tợng, ngôn ngữ tạo hình và hình tợng thơ.- Hình tợng thơ hình thành trong một cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt, đợc cách điệu hoá, khác với ngôn ngữ bình thờng Cấu tạo ngôn ngữ đó làm cho lời thơ vừa lắng đọng vừa ngân vang, làm cho hình tợng thơ không chỉ có hình mà còn có nhạc là sự tổng hợp của hình và nhạc Hình của thơ do ý nghĩa của ngôn ngữ dựng lên, nhạc của thơ sinh ra từ âm thanh của ngôn ngữ Hình ảnh thơ lắng đọng, nhạc của thơ ngân vang Hai yếu tố này quyện lẫn vào nhau, cùng một lúc sinh ra từ tâm hồn nhà thơ khi sáng tác và cũng cùng một lúc tác động đến tâm hồn ngời đọc khi cảm thụ

“Lơ thơ tơ liễu buông mành”

Ba âm “ơ” (lơ, thơ, tơ) gợi đờng nét tha thớt của những chiếc lá liễu buông mành

“Súng bên súng đầu sát bên đầu”

(Chính Hữu)Hình ảnh của tình đồng chí: nét thẳng (súng) của ý chí hoà hợp với nét cong (đầu) của tình cảm

+ Ngôn ngữ gợi hình khối:

“Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

(Hồ Chí Minh) “Cổ thụ là một khối to đậm tiêu biểu cho sự hùng vĩ của núi rừng “Hoa”

là một nét nhỏ, nhẹ tiêu biểu cho vẻ thơ mộng của núi rừng Tất cả đều nhuốm

Trang 8

có liên quan và có tác dụng đối với việc phân tích tác phẩm Phần tìm hiểu xuất

xứ phải góp phần làm sáng tỏ những mặt nào đó về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Ngoài ra có thể và cần thiết phải đặt tác phẩm trong mối liên quan với

Bớc 3: Phân tích: Chúng ta không thể dùng một cái công thức chung cho mọi bài thơ Thực ra, trong các bài thơ trữ tình nói chung đều có một số nét rất giống nhau về hình thức, nhng xét kĩ mỗi bài lại có một diện mạo riêng mà cái diện mạo ấy cái vẻ độc đáo ấy đợc tạo lên do âm điệu tâm hồn do phong cách của nhà thơ do cách lựa chọn chủ đề và đề tài phải tìm ra bằng đ… ợc những nét riêng

đó Phải cho học sinh thấy đợc những nét độc đáo trong nghệ thuật của mỗi bài thơ để các em hiểu đợc tính đa dạng của các phong cách thơ nói riêng, của văn học nói chung

Nói tóm lại trong khâu lựa chọn kiến thức cơ bản để phân tích, chúng ta cần chú ý:

I Xác định đặc trng loại thể.

VD : “Bếp lửa” là một bài thơ trữ tình và vì vậy nó phải nằm trong phạm vi loại hình nghệ thuật biểu hiện chứ không phải loại hình nghệ thuật tạo hình Phải khẳng định dứt khoát điều này trong nhận thức mới có thể giải quyết các khâu: lựa chọn kiến thức cơ bản, lựa chọn phơng pháp truyền thụ Nắm cho đợc trình tự diễn biến Lô gích phát triển của tâm t tác giả hay của nhân vật trữ tình với mọi sắc thái và mọi biểu hiện của nó qua các chặng thời gian cũng nh qua các bớc không gian

II Xác định và lựa chọn những kiến thức cơ bản cần truyền thụ cho học sinh.

- Có xác định đúng thể loại mới có thể xác định và lựa chọn những kiến thức cơ bản cần khai thác và truyền thụ

- Nắm chắc chủ đề và hình tợng cảm nghĩ của tác phẩm

1 Tạo tâm thế cho học sinh.

Trớc hết: Dựng lại không khí lịch sử hoàn cảnh là một biện pháp có hiệu lực

đối với việc hình thành tâm thế văn học nếu ngời giáo viên biết chuyển hoá những tình cảm, những rung động của học sinh về lịch sử thành những tình cảm tâm trạng cần có đối với tác phẩm Dựng lại không khí lịch sử có tác dụng khởi động

Trang 9

tình cảm, nhất là những tình cảm cùng loại với tình cảm trong bài văn khêu gợi có thể bằng nhiều cách Một mẩu chuyện lịch sử nằm trong mạch cảm hứng chủ đạo của tác giả.Một câu chuyện ngời thực việc thực của tác giả của những nhân vật trực tiếp liên quan đến bài thơ có khả năng khêu gợi tình cảm cần thiết cho học sinh.

Thứ hai: Tái hiện hình tợng

Đây là biện pháp có tính quyết định trong giờ giảng văn Có tái tạo đợc hình tợng mới làm rung động đợc tâm hồn học sinh, khởi nguồn tởng tợng và thúc đẩy các hoạt động tâm lý, trí tuệ của các em Rung cảm với hình ảnh tởng t-ợng các em sẽ tiếp thu những bài học về nhân sinh thể hiện qua tác phẩm khi rung cảm, học sinh sống với cuộc sống mà tác phẩm phản ánh, nảy sinh lòng yêu thơng gắn bó với cái đẹp, cái cao cả, ghét cái xấu, cái đê hèn Khi yêu, ghét một cách tự giác tự nhiên, chính là lúc các em cũng tự soi mình trong tấm gơng văn học, những điều tiếp thu đợc sẽ trở thành vốn sống, thành niềm tin chỉ đạo phơng pháp sống sau này Trong khi yêu cái đẹp, ghét cái xấu, tự các em vơn dần lên cái

đẹp và loại bỏ dần cái cha tốt trong con ngời mình Việc tái tạo hình tợng cần đợc tiến hành trong suốt giờ học

* Tái tạo hình tợng trong quá trình phân tích

Tái tạo hình tợng ở khâu phân tích từ, hình ảnh chi tiết, tức là phân tích các dấu hiệu nghệ thuật của tác phẩm là khâu có tính chất quyết định sự thành công hay thất bại của giờ đọc hiểu văn bản Học văn trớc hết học sinh học lấy cái cụ thể ấy, và sự hớng dẫn của thầy, thông qua sự phân tích cái cụ thể mà học sinh hình thành dần phơng pháp tự học, nâng cao dần năng lực t duy, nâng cao dần t t-ởng, tình cảm của bản thân

-Ví dụ: Bốn câu thơ trong bài “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ” – Nguyễn Khoa Điềm:

“ Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối”

Bằng vài chi tiết khéo chọn lọc, mở rộng liên tởng, so sánh nhà thơ vừa tả

đợc động tác giã gạo của ngời mẹ, vừa tả đợc giấc ngủ của em bé trên lng mẹ vừa nói đợc tình thơng yêu của ngời mẹ với con, với bộ đội từ động tác giã gạo của ngời mẹ mà vẽ ra hình ảnh giấc ngủ của đứa con

“ Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng’

Đó là câu thơ tạo hình hay nhất và xúc động nhất.Từ “nghiêng”nh vẽ ra cái dáng nghiêng nghiêng vất vả của mẹ và trên lng em bé cũng đang ngủ say, cả ngời cũng nghiêng nghiêng áp vào lng mẹ Giấc ngủ của A-kay mơí kỳ diệu làm sao Giấc ngủ không có nôi, không có võng đó là “giấc ngủ nghiêng” Giờng ngủ

là lng mẹ, chiếc nôi là vai mẹ Đó không còn sự êm ái nào hơn thế!.Vai mẹ “nhấp nhô” và lng mẹ đung đa theo nhịp chày giã gạo “Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối”

Từ láy “ nhấp nhô” là một từ tạo hình diễn tả sinh động không chỉ sự thiếu thốn,

đói khổ, gầy gò của mẹ mà cả sự cố gắng của mẹ trong công việc nặng nhọc và kéo dài nhịp chày lên xuống Giấc ngủ của em Cu- Tai, cũng “nhấp nhô” cũng “ nghiêng nghiêng” giữa thiên nhiên, đất trời.giấc ngủ nghiêng trên lng mẹ –thực

Trang 10

thể thiên nhiên kỳ diệu.Có thể nói hình ảnh “ giấc ngủ nghiêng” là hình ảnh sáng tạo gợi cảm, giấc ngủ ớp những giọt mồ hôi mặn chát của cuộc đời mẹ ngay

từ tuổi ấu thơ em đã gần gũi với nỗi vất vả và đã nhận từ mẹ tất cả tình yêu thơng Vì yêu con nên bà mẹTà-ôi địu con trên lng, nhng vẫn muốn giấc ngủ con đợc ngon lành

Căn cứ vào dấu hiệu nghệ thuật của bài văn, ngời thầy phải gợi ra dáng hình, đờng nét, màu sắc của hình tợng để học sinh nh trông thấy hình tợng hiện ra trớc mắt, tởng có thể đụng chạm đợc

+ Có khi là một từ gợi tả:

“Đờng vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ”

(Phong cảnh quê hơng Bác)

+ Có khi là một hình ảnh

“Trên đờng ta về lại Thủ đô

Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ”

(Ta đi tới)

Cờ đỏ là cờ cách mạng, màu cờ đỏ còn tợng trng cho chiến thắng Lá cờ của Tổ quốc thắm tơi bởi thấm máu của bao anh hùng liệt sĩ Mái tóc bạc của Bác

Hồ gợi cho ta nhớ tới bao gian khổ mà Bác và dân tộc ta đã trải qua suốt 9 năm kháng chiến Lá cờ đỏ bay quanh mái tóc bạc Bác Hồ vừa gợi lên cái tng bừng của ngày chiến thắng, vừa nói lên cái nghiêm trang của ngày lễ lớn

-Có lúc phải tái tạo trên cơ sở một nhóm từ, một loạt hình ảnh, hoặc chi tiết

để học sinh có thể hình dung hoàn chỉnh về một hình tợng văn học

“Chú bé loắt choắtCái xắc xinh xinh

…Nh con chim chíchNhảy trên đờng vàng’

(“Lợm” - Tố Hữu) Đoạn thơ gợi lên hình ảnh chú bé trong những ngày cách mạng sôi nổi Chú liên lạc nhỏ bé, nhng rắn chắc, nhanh nhảu, đi mà nh nhảy nhót Lòng chú liên lạc chắc vui lắm nên cái mũ ca lô cũng đội lệch, chú khoái trá, nghênh đầu, hếch mặt lên nhìn trời, nhìn cảnh vật và miệng huýt sáo vang

Có thể nói, sau giờ học văn,cái đọng lại sống mãi với học sinh là tình cảm,

là năng lực trí tuệ, là niềm tin Do đó giờ văn phải khởi động đợc hoạt động tâm

lý và hoạt động trí tuệ của học sinh để các em tích cực tham gia khám phá hình ợng, tái tạo hình tợng , từ đó mà tự giác tiếp thu lấy bài học nhân sinh và ra sức bồi dỡng năng khiếu cảm thụ văn học, tự giác rèn luyện phơng pháp tự học môn Ngữ văn

t-2 Gợi tìm

- Nay đợc dùng nh một phơng pháp nhằm phát huy tính độc lập sáng tạo của học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản Gợi tìm chủ yếu đợc thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi tạo điều kiện trong hoạt động song phơng giữa thầy và trò

Trang 11

Các câu hỏi đàm thoại ngoài tính chất xác định rõ ràng, phải có màu sắc văn học,

có khả năng khêu gợi tình cảm, cảm xúc, xúc động thẩm mỹ cho học sinh

- Câu hỏi phải vừa sức học sinh, thích hợp với khuôn khổ một giờ học trên lớp, vừa phải có khả năng “gợi vấn đề” suy nghĩ tìm tòi sáng tạo cho học sinh

- Câu hỏi không tuỳ tiện, phải đợc xây dựng thành một hệ thống lôgíc, có tính toán giúp học sinh từng bớc đi sâu vào tác phẩm nh một chính thể

- Cần có sự kết hợp cân đối giữa các loại câu hỏi cụ thể và loại câu hỏi tổng hợp gợi vấn đề Câu hỏi có khi theo lối diễn dịch, có khi theo lối qui nạp nhng đều nhằm cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vững chắc

Có thể nêu câu hỏi tạo tình huống có vấn đề, nhng điều cốt lõi là không làm thay sự tìm hiểu của học sinh Các em phải đợc dẫn đi qua từng chặng đờng cho

đến khi hoàn thành một khám phá, một phát hiện Sự gợi tìm có kết quả khi kết hợp với đọc, tái hiện và nghiên cứu

Để tạo điều kiện cho học sinh hiểu tác phẩm sâu sắc hơn thờng có những câu hỏi tởng tợng hoặc nhập thân vào nhân vật Chúng ta có thể chấp nhận những kiểu câu hỏi: “Nếu em là anh Khoai, em sẽ làm gì?”, “Nếu em là nhà vua, em sẽ nghĩ sao?” “Nếu em là em sẽ ” tự nhiên trở thành một dạng câu hỏi mà giáo viên cứ việc điền tên nhân vật của bài đang học Nhng bạn nghĩ sao, khi đồng nghiệp của chúng ta áp dụng mẫu đó cho các câu hỏi sau:

- Nếu em là con hổ, em sẽ nói với bà đỡ Trần những gì

- Nếu em là con Ba Bớp em sẽ nghĩ gì?

- Nếu em là con chó Bấc ? Nếu em là Dế choắt

Rõ ràng khi hỏi theo một khuôn mẫu sẽ làm nghèo khả năng suy nghĩ và diễn

đạt của cả thầy, lẫn trò Mặt khác, không nhất thiết em cứ phải là “con bò, con chó”, hoặc là “anh Khoai” thì mới có thể tởng tợng hoặc nhập thân Chúng ta có thể hỏi: “Em hãy hình dung nếu con Chó Bấc có thể nói đợc, nó sẽ nói điều gì?”

Để khắc phục nhợc điểm khi đặt câu hỏi, chúng ta có thể thực hiện một số giải pháp:

- Suy nghĩ thật kĩ vấn đề mình sắp dạy;

- Tham khảo các câu hỏi gợi ý trong SGK, SGV, sách bài soạn

- Xây dựng hệ thống câu hỏi riêng của mình cho bài soạn

- Cố gắng sử dụng nhiều hình thức diễn đạt khác nhau để hỏi về cùng một nội dung;

- Chú ý đón bắt, khơi gợi những ý tởng mới mẻ của học sinh, từ thực tế trả lời của các em, điều chỉnh lại cách hỏi cho phù hợp

Lu ý khi khai thác các yếu tố hình thức và nội dung:Chọn lựa những yếu tố có tác dụng làm sáng rõ từng khía cạnh của hình tợng mà tác giả đã miêu tả trong thơ nhằm bộc lộ cảm nghĩ và chủ đề Luôn luôn đặt để phân tích mối quan hệ của

nó với các yếu tố khác trong hệ thống kết cấu của bài thơ để phân tích mối quan

hệ của nó với các yếu tố khác trong hệ thống, không tách rời bất cứ yếu tố nào

Trang 12

3 Ngoài ra, thao tác so sánh đối chiếu cũng thờng dùng trong phân tích So

sánh đối chiếu là cách đánh bóng cho nổi bật hình tợng trong tác phẩm Có nhiều cách so sánh

a So sánh đồng đại : so sánh, liên hệ đối tợng đang phân tích, vấn đề đang bàn luận trong tác phẩm ấy với những tác phẩm khác ra đời cùng một thời kì Biện pháp so sánh này có tác dụng khẳng định vẻ độc đáo, “tính riêng” của đối t-ợng, vấn đề Ví dụ để làm nổi bật bức tợng đài chiến sĩ tráng lệ mộc mạc bình dị cao cả và thiêng liêng, trong bài “Đồng chí” của Chính Hữu chúng ta so sánh hình tợng ấy đợc thể hiện trong các bài thơ thành công khác ở những năm bây giờ (nh “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Tây tiến” của Quang Dũng) Hoặc khi phân tích cảm hứng về quê hơng đất nớc trong “Đất nớc” của Nguyễn Đình Thi, chúng ta

có thể so sánh cảm hứng của Hoàng Cầm lúc viết “ Bên kia sông Đuống”, của Tố Hữu lúc viết về “ Việt Bắc” cũng bộc lộ lòng căm hờn trớc lũ giặc giày xéo đất n-

ớc quê hơng, cũng nói lên niềm tự hào với quê hơng đất nớc giàu đẹp, bất khuất nhng mỗi nhà thơ thiên về một sắc thái cảm hứng, có bút pháp thể hiện khác nhau

b So sánh đối tợng : tìm cái trái ngợc, đối lập (về bản chất) với đối tợng

đang phân tích, bàn luận, chỉ ra sự tơng phản giữa hai phía để khẳng định cái hay, cái đẹp của đối tợng Màu trắng của chiếc bánh bao càng ấn tợng khi đặt nó bên cạnh cục than đen! Muốn làm nổi bật dáng vẻ lênh khênh của hiệp sĩ Đôn Kihôtê hãy để chàng ta đi cạnh một Xan Chô thấp lùn! Biện pháp đối lập thờng gây ấn tợng mạnh mẽ, sâu đậm về đối tợng (Chúng ta hiểu vì sao cảm hứng lãng mạn say mê những gì lạ thờng đối lập với thực tế hay gắn với t duy, thủ pháp nghệ thuật này) Để khẳng định lẽ yêu đời, lí tởng sống ở ngời thanh niên Tố Hữu

kể từ khi đợc “Mặt trời chân lí trói qua tim” trong bài “Từ ấy”, có thể so sánh với tâm trạng buồn chán, nỗi cô đơn ở nhiều thanh niên kiểu t sản đơng thời biểu hiện trong thơ ca lãng mạn Để ca ngợi chủ nghĩa anh hùng, tinh thần tự nguyện cống hiến cuộc đời mình cho kháng chiến, cho Tổ quốc của anh bộ đội trong “Tây tiến”, trong “Đồng chí”, có thể so sánh với ngời lính phong kiến “Bớc chân xuống thuyền nớc mắt nh ma” trong bài ca dao lính thú ngày xa Cũng có thể so sánh cùng đề tài ấy hình ảnh ấy nh đợc cảm nhận, thể hiện khác nhau nh thế nào qua các bài thơ thuộc các khuynh hớng văn học khác nhau, chẳng hạn nh “ Tiếng hát sông Hơng” của Tố Hữu với lời kĩ nữ của Xuân Diệu, chẳng hạn cảm xúc trớc mùa thu của Nguyễn Đình Thi trong bài “ Đất nớc” với Xuân Diệu trong bài

“Đây mùa thu tới”,hoặc hình tợng vầng trăng tuổi thơ và vầng trăng thời chiến trong bài “ánh trăng” của Nguyễn Duy với trăng trong thơ Trần Đăng Khoa, trăng với ngời lính những năm ở rừng sơng muối ngời chiến sĩ đơng chờ giặc tới

“Đầu súng trăng treo” <Chính Hữu>, Đất nớc trải qua những năm dài máu lửa, trăng với ngời lính đã vợt lên mọi tàn phá huỷ diệt của bom đạn quân thù

“Và vầng trăng, vầng trăng đất nớc

Vợt qua quầng lửa, mọc lên cao”

- Có thể so sánh từ với từ trong trục ngang, hoặc trục dọc của ngôn ngữ

VD1: “Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

VD2: “Chúng đem bom ngàn cân

Trang 13

Dội lên trang giấy”

Thay từ “Khô rạc” bằng từ “Khô héo, khô quắt”, thay từ “dội” bằng từ

“Thả, ném” để thấy đợc cái hay, đặc sắc của từ đó

4 Cuối cùng một trong những biểu hiện tích cực của đổi mới phơng pháp

dạy học trong giờ Đọc – hiểu thơ trữ tình là thuyết trình và giảng bình

Chúng ta nhận thấy: hiện nay có nhiều giáo viên Ngữ văn đã vận dụng đổi mới phơng pháp “thái quá”, hầu nh nhiều ngời chỉ biết “hỏi và hỏi”, chỉ biết hớng dẫn học sinh chia nhóm, thực hành, thảo luận mà hầu nh quên đi việc đa thêm những lời bình giảng, phân tích đầy chất “văn chơng’ vào giờ dạy Chúng tôi nghĩ rằng, nếu giáo viên chỉ biết đặt câu hỏi hớng dẫn học sinh trả lời, trao đổi, thảo luận mà không có những lời bình văn mợt mà ngọt ngào của thầy và trò thì giờ Ngữ văn sẽ trở lên khô khan, nhàm chán không khác gì một cuộc phỏng vấn báo chí Tuy vậy, có ngời lại cho rằng, giáo viên đặt nhiều câu hỏi là tốt, là đổi mới, còn giáo viên giảng nhiều, bình nhiều thì lại sa vào phơng pháp độc diễn nh cũ, cha đổi mới Vậy, chúng ta phải xác định lại, có phải giáo viên chỉ biết đặt câu hỏi, hớng dẫn học sinh thảo luận tích cực chủ động là thực sự đổi mới và dạy học

có hiệu quả hay không? Theo tôi nghĩ, giáo viên phải biết kế thừa những u điểm những mặt tích cực của phơng pháp dạy học truyền thống, kết hợp với phơng pháp đổi mới, tích cực hoá hoạt động của học sinh thì giờ học Ngữ văn mới thành công, cụ thể là ngoài việc đa hệ thống câu hỏi đa dạng, phong phú, hớng dẫn học sinh hoạt động, chia nhóm thảo luận, trao đổi Giáo viên nên đa thêm các lời bình giảng, phân tích những chi tiết hình ảnh nghệ thuật có giá trị, để làm cho giờ học Ngữ văn thực sự lôi cuốn học sinh Để có những lời bình giảng, phân tích hay, phù hợp có d âm thì giáo viên phải chuẩn bị kĩ càng, chu đáo và đợc cụ thể hoá trong giáo án Nh vậy, những lời bình giảng, phân tích của giáo viên trong giờ

đọc – hiểu văn bản là rất cần thiết, quan trọng góp phần làm nên d vị ngọt ngào, khơi gợi cảm xúc của học sinh khi tiếp nhận các giá trị văn chơng Và có một thực tế là những giáo viên có những lời bình hay, độc đáo sẽ đợc học sinh nhớ mãi, ấn tợng mãi

Khi bình các thủ pháp nghệ thuật cũng phải chú ý lựa chọn Trong mỗi khổ thơ hoặc ngay trong một dòng thơ, tác giả cũng đã sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau Nếu bình tất cả thì không có thời gian, dẫn tới tình trạng san bằng một cách bình quân mọi yếu tố nghệ thuật Nh vậy không thể làm nổi bật cái hay, cái

đẹp của các yếu tố nghệ thuật chủ yếu

Khi nhận ra những tín hiệu nghệ thuật quan trọng phải tiến hành giảng dạy cho mạch lạc ý tứ mà câu thơ thể hiện sau đó mới đi bình ở đây có rất nhiều cách bộc lộ cách đánh giá trực tiếp của ngời viết, mợn lời ngời khác để đánh giá, nhập vào tác giả mà suy luận, nhập vào nhân vật trữ tình mà tởng tợng, liên hệ với các câu thơ, bài thơ khác để thấy những nét độc đáo riêng Tuy nhiên dù cách nào cũng vậy lời bình phải phù hợp với lời giảng trớc hoặc sau đó, giảng có sâu sắc thì lời bình mới tâm đắc Nếu giảng hời hợt, cha tới, dù có bình tâm huyết đến mấy cũng sẽ thiếu sức thuyết phục, ngời đọc sẽ không tin vào những lời bình rộng

nh thế Thêm nữa, lời bình thể hiện rõ nhất ở giọng điệu, cảm xúc, thái độ, độ tinh nhạy của mĩ cảm Cho nên nó mang dấu ấn cá nhân ngời viết rất đậm Ngời

Trang 14

đợc xem là có chất văn, hồn văn hay không chủ yếu thể hiện ở những lời bình văn này.

VD: Ngữ văn 9 tiết 46 – tuần 10

Bài thơ “Đồng chí” của Chính HữuCảm nhận của em về ba câu thơ cuối bài

“Đêm nay rừng hoang sơng muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

- Giáo viên giảng bình:

Bức tranh tình đồng đội hiện lên với cái mảng màu nền hoang vắng, bảng lảng, hun hút tối:

Đêm nay, rừng hoang sơng muối”

một câu thơ mà gói gọn đầy đủ thông tin:- Thời gian đêm.

- Không gian rừng

- Đặc điểm Hoang “ ”  vắng u ám, mịt

mùng bí ẩn và đầy nguy hiểm.

- Thời tiết sơng muối lạnh buốt, tê tái.

Cái mịt mùng của đêm tối càng đợc tô đậm thêm bởi sự hoang rập“ ”

rình những nguy hiểm từ đại ngàn âm u, bởi sự tĩnh lặng buốt giá bng bít của sơng muối vậy mà, từ trong màn đêm mịt mùng ấy, một ngọn lửa đã đợc thắp lên, bùng cháy và toả sáng ngọn lửa của tình đồng chí: Đứng cạnh bên nhau

chờ giặc tới Nếu thay cụm từ Đứng cạnh bên nhau bằng một cụm từ khác,” “ ”

ví nh : Hai chúng ta chờ giặc tới ,hay Anh và tôi chờ giặc tới , hẳn, câu“ ” “ ”

thơ cũng chẳng có gì đặc biệt và cũng chẳng có ngọn lửa nào đợc thắp lên Thế nhng tác giả đã dùng Đứng cạnh bên nhau chứ không phải là một cụm“ ”

từ nào khác để tái hiện hình ảnh Chờ giặc tới của hai anh vệ quốc quân.“ ”

Cái ánh sáng toả ra từ ấy, cái hơi ấm cũng toả ra từ ấy từ cái t thế Đứng

cạnh đầy gắn kết, yêu thơng, sát cánh chung vai, đồng lòng đồng chí Đứng cạnh để khẳng định rằng giữa hoàn cảnh khốn khó này, hiểm nguy này, ngoài chiến luỹ không bao giờ cô độc Và vì thế hai ngời lính- dẫu trong hoàn cảnh hết sức éo le, khốn đốn hiểm nguy- vẫn giữ vững t thế hiên ngang, tự tin, chủ

động chờ giặc tới Cái không gian mịt mùng tối tăm kia từ phía kẻ thù bỗng“ ”

chốc trở thành đồng loã chỉ vì một từ chờ Tính chất vị trí nguy hiểm, đe“ ”

doạ không còn, thay vào đó là tính đặc địa , lợi thế Rừng hoang s“ ’ “ ’ ơng muối trở thành chiếc bình phong hữu hiệu để hai ngời lính ẩn náu mai phục sẵn sàng xông lên tiêu diệt kẻ thù Câu thơ cuối cùng thực sự đã chắp cánh cho tình đồng chí thăng hoa:

Ngày đăng: 18/09/2013, 01:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w