1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu giải phẫu động mạch quay

6 84 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 381,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Động mạch quay là một trong hai đường phổ biến được chọn lựa trong kỹ thuật thông tim. Ngoài ra, động mạch quay còn là động mạch nguồn dùng làm mạch ghép trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Sự thay đổi về giải phẫu động mạch quay là rất quan trọng trên lâm sàng. Do đó, nghiên cứu về giải phẫu động mạch quay là rất cần thiết.

Trang 1

NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH QUAY

Nguyễn Hoàng Vũ*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Động mạch quay là một trong hai đường phổ biến được chọn lựa trong kỹ thuật thông tim

Ngoài ra, động mạch quay còn là động mạch nguồn dùng làm mạch ghép trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành Sự thay đổi về giải phẫu động mạch quay là rất quan trọng trên lâm sàng Do đó, nghiên cứu về giải phẫu

động mạch quay là rất cần thiết

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm giải phẫu động mạch quay

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 100 mẫu động mạch quay lấy từ 51 xác ướp tại bộ môn Giải phẫu

học, Đại học Y Dược TPHCM

Kết quả: 99 (99%) trường hợp động mạch quay xuất phát từ động mạch cánh tay, 1(1%) trường hợp xuất

phát từ động mạch nách 96% trường hợp xuất phát dưới đường liên lồi cầu xương cánh tay, 4% xuất phát trên đường liên lồi cầu Đường kính trung bình động mạch quay là 2,82 ± 0,55mm, nhỏ hơn động mạch trụ (3,40 ± 0,51mm) Không có sự khác biệt về đường kính giữa động mạch quay bên phải và bên trái Động mạch quặt ngược quay xuất phát dưới đường liên lồi cầu 33,30 ± 7,55mm Có 21% trường hợp không có nhánh gan cổ tay, 2% trường hợp không có nhánh động mạch ngón cái chính

Kết luận: Động mạch quay xuất phát từ động mạch cánh tay ở dưới đường liên lồi cầu xương cánh tay

nhưng có thể xuất phát cao hơn Đường kính động mạch quay nhỏ hơn động mạch trụ Các nhánh của động mạch quay có thể không có như nhánh gan cổ tay, động mạch ngón cái chính

Từ khóa: động mạch quay, động mạch quặt ngược quay, động mạch ngón cái chính, xuất phát cao

ABSTRACT

A STUDY ON ANATOMY OF RADIAL ARTERY

Nguyen Hoang Vu

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 119-124

Background: Radial artery is one of the two common ways for cardiac catheterization In additions, radial

artery is used for coronary arteries bypass sugery Variations of anatomy of radial artery are clinically important Therefore, it is essential to study on anatomy of radial artery

Objectives: To survey the anatomical characteristics of radial artery

Materials and methods: 100 radial arteries of 51 embalmed cadavers at Anatomy Department, University

of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh city

Results: The radial artery originated from brachial artery in 99 specimens (99%), from the axillary artery in

1 specimen (1%) The radial artery originated below the intercodylar line in 96%, and above this line in 4% The average diameter of radial artery was 2.82 ± 0.55mm, smaller than that of the ulnar artery (3.40 ± 0.51mm) There was no difference in the mean diameter beween the right and the left radial artery The radial recurrent artery originated from 33.30 ± 7.55mm below the intercondylar line The palmar carpal branch was absent in 21%, the princeps pollicis artery was absent in 2%

Conclusion: The radial artery originated from the brachial artery below the intercondylar line but might

* Bộ môn Giải phẫu học, ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Nguyễn Hoàng Vũ ĐT: 0903 86 32 52 Email: vunguyen@ump.edu.vn

Trang 2

originate from a higher possition The diameter of the radial artery was smaller the ulnar artery The branhes of the radial artery might be absent, such as the palmar carpal branch, the princeps pollicis artery

Keywords: radial artery, radial recurrent artery, princeps pollicis artery, high origin

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với động mạch trụ, động mạch quay

xuất phát từ động mạch cánh tay ở hố khuỷu và

cấp máu cho vùng cẳng tay và bàn tay

Các phẫu thuật vùng cẳng tay, bàn tay vốn là

những phẫu thuật phổ biến Ngày nay, trong kỹ

thuật thông tim, thì đường thông qua động

mạch quay thường được chọn do ít xảy ra biến

chứng hơn so với đường qua động mạch đùi(2,8)

Mặt khác, động mạch quay là một trong những

động mạch dùng làm mạch ghép trong phẫu

thuật bắc cầu động mạch vành, một phẫu thuật

khá phổ biến hiện nay(3) Do đó, sự thay đổi về

giải phẫu động mạch quay rất có ý nghĩa trên

lâm sàng

Trên thế giới cũng đã có những nghiên cứu

về giải phẫu động mạch quay nhưng đó là

những nghiên cứu tiến hành trên người nước

ngoài Trái lại, các nghiên cứu giải phẫu động

mạch quay trên người Việt Nam còn khiêm tốn

Đặc điểm hình thái nói chung và đặc điểm về

giải phẫu nói riêng ở người Việt Nam không

giống với người nước ngoài Vì vậy chúng tôi

tiến hành nghiên cứu này nhằm khảo sát các đặc

điểm giải phẫu động mạch quay trên người Việt

Nam Qua nghiên cứu này, chúng tôi mong

muốn đưa ra các số liệu để giúp các bác sĩ lâm

sàng có thêm thông tin cần thiết để tham khảo,

đồng thời góp phần bổ sung vào hằng số hình

thái học người Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

100 mẫu động mạch quay lấy trên 51 xác

người Việt Nam, gồm 30 nam, 21 nữ, tuổi từ 40

đến 88, trung bình là 66,78 tuổi Xác đã được ướp

formol và lưu trữ tại bộ môn Giải phẫu học, Đại

học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Mẫu được chọn thuận tiện, là những xác được sử dụng để phục vụ giảng dạy sinh viên các năm học 2016 – 2017 và năm học 2017 – 2018

Tiêu chuẩn loại trừ

Xác có vết thương, có sẹo mổ vùng cẳng tay hay bàn tay

Các trường hợp không tìm được động mạch quay

Phương pháp phẫu tích

Xác được đặt nằm ngửa, hai bàn tay ngửa Tiến hành mổ vào mặt trước vùng khuỷu và mặt trước cẳng tay đến gan tay Đường mổ bắt đầu từ 3cm phía trên nếp khuỷu, kéo dài xuống dưới đến nếp xa cổ tay

Ở gan tay, đường mổ đi theo đường dọc giữa gan bàn tay và một đường ngang phần xa gan tay, gần gốc các ngón tay

Tách cơ cánh tay quay, bóc tách động mạch quay Ghi nhận, đo đạc các chỉ số vào phiếu thu thập số liệu:

Nguyên ủy động mạch quay

Vị trí nguyên ủy động mạch quay so với đường thẳng ngang qua hai lồi cầu xương cánh tay

Đường kính động mạch quay tại nguyên ủy Đường kính động trụ tại nguyên ủy

Khoảng cách từ nguyên ủy động mạch quặt ngược quay đến đường liên lồi cầu xương cánh tay

Xác định sự hiện diện của động mạch ngón cái chính, nhánh mu cổ tay, nhánh gan cổ tay, nhánh gan tay nông

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

KẾT QUẢ

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 51 xác ướp gồm 30 nam và 21 nữ Tuổi của mẫu nghiên cứu

Trang 3

từ 40 đến 88 tuổi, trung bình là 66,78

Trong quá trình phẫu tích lấy mẫu, có một

xác chỉ khảo sát được động mạch quay bên phải

và một xác chỉ khảo sát được động mạch quay

bên trái Vì vậy, cuối cùng chúng tôi chọn được

100 mẫu động mạch quay gồm 50 mẫu bên phải

và 50 mẫu bên trái đưa vào nghiên cứu

Nguyên ủy động mạch quay

99% trường hợp động mạch quay xuất phát

từ động mạch cánh tay, 1% trường hợp xuất

phát từ động mạch nách

Về vị trí xuất phát của động mạch quay so

với đường liên lồi cầu xương cánh tay (Bảng 1)

Bảng 1: Vị trí nguyên ủy ĐM quay so với đường liên

lồi cầu xương cánh tay

Vị trí nguyên ủy ĐM quay so với

đường liên lồi cầu

Trên Dưới

Số trường hợp 4 96

Tỷ lệ % 4% 96%

Khoảng cách từ nguyên ủy động mạch quay

đối với đường liên lồi cầu

96 trường hợp điểm xuất phát của động

mạch quay ở phía dưới đường liên lồi cầu và

dưới đường này một khoảng là 29,87 ± 7,49mm

04 trường hợp động mạch quay xuất phát

cao, phía trên đường liên lồi cầu xương cánh tay

và trên đường này một khoảng là 149,83 ±

7,66mm

Đường kính động mạch quay

Đường kính trung bình động mạch quay bên

phải, bên trái và chung cho toàn bộ mẫu nghiên

cứu được trinh bày ở Bảng 2

Bảng 2: Đường kính động mạch quay

Động mạch (ĐM) Số mẫu Đường kính trung bình

(mm)

ĐM quay trái 50 2,74 ± 0,57

ĐM quay phải 50 2,90 ± 0,53 Chung hai bên 100 2,82 ± 0,55

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đường kính trung bình của động mạch quay bên phải và bên trái

Đường kính động mạch quay theo giới

Đường kính động mạch quay ở nam là 2,95±0,54mm, ở nữ là 2,64±0,52mm

Đường kính động mạch quay ở nam lớn hơn

ở nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05

So sánh đường kính động mạch quay và động mạch trụ

Chúng tôi đo đường kính động mạch trụ tại nguyên ủy để so sánh đường kính động mạch quay và động mạch trụ Kết quả là đường kính động mạch trụ lớn hơn đường kính động mạch quay, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p<0,01 Kết quả được biểu thị ở Bảng 3, Hình 1

Bảng 3: Đường kính động mạch quay và động mạch trụ

Động mạch (ĐM) Số mẫu Đường kính

trung bình (mm)

ĐM quay 100 2,82 ± 0,55

ĐM trụ 100 3,40 ± 0,51

Hình 1 Động mạch (ĐM) quay và ĐM trụ xuất phát từ ĐM cánh

ĐM cánh tay

ĐM quay

ĐM trụ

Trang 4

Vị trí xuất phát của động mạch quặt ngược

quay

Động mạch quặt ngược quay xuất phát từ

động mạch quay, phía dưới đường liên lồi cầu

xương cánh tay một khoảng từ 10,05 đến

48,32mm, trung bình là 33,30 ± 7,55mm

Nhánh gan cổ tay và nhánh mu cổ tay

Nhánh gan cổ tay: 79 (79%) trường hợp có

nhánh gan cổ tay, 21 (21%) trường hợp không có

nhánh gan cổ tay

Nhánh mu cổ tay: 100% trường hợp động

mạch quay cho nhánh mu cổ tay

Động mạch ngón cái chính

98 trường hợp (98%) có động mạch ngón cái

chính; 2 trường hợp (2%) không có nhánh động

mạch ngón cái chính Đường kính trung bình

của động mạch ngón cái chính là 1,45 ± 0,38mm

(từ 0,69mm đến 2,92mm)

BÀN LUẬN

Về đặc điểm mẫu nghiên cứu

Cho đến nay, xác vẫn là phương tiện nghiên

cứu giải phẫu tốt nhất vì cho các chi tiết giải

phẫu rất cụ thể Tuy nhiên, nghiên cứu này thực

hiện trên xác ướp, các kết quả về nguyên ủy

động mạch, vị trí xuất phát của các nhánh, sự

hiện diện của nhánh bên sẽ không bị ảnh hưởng

và sẽ giống như trên người sống Trái lại, kết quả

về đường kính động mạch có thể sẽ thay đổi do

thành mạch giảm tính đàn hồi, vì vậy kết quả có

thể khác với kết quả khi đo trên phương tiện

chẩn đoán hình ảnh và trên người sống

Vị trí xuất phát của động mạch quay

Bình thường, động mạch quay xuất phát

ngang hoặc dưới đường liên lồi cầu xương

cánh tay Nghiên cứu này gặp 3 trường hợp

(3%) động mạch quay xuất phát từ động mạch

cánh tay nhưng ở vị trí cao, cách đường liên lồi

cầu 14,17cm đến 15,68cm và 01 trường hợp

động mạch quay xuất phát từ động mạch

nách Theo Lê Văn Cường(6) nghiên cứa trên

người Việt Nam, tỷ lệ động mạch quay xuất

phát cao gặp trong 4% trường hợp Các nghiên

cứu trên thế giới cũng ghi nhận tỷ lệ động mạch quay xuất phát cao từ 4,1% đến 15,6%(5,7,8,9) Năm 2006, khi phẫu tích xác tại khoa Giải phẫu của đại học Baskent, Thỗ Nhĩ

Kỳ, Pelin C(10) gặp một trường hợp động mạch quay xuất phát từ động mạch cánh tay, phía trên đường liên lồi cầu xương cánh tay một khoảng 12cm Tương tự, năm 2014, Aparna(1)

báo cáo một trường hợp động mạch quay xuất phát từ động mạch nách khi phẫu tích xác tại khoa Giải phẫu trường NRI Medical College, Chinnakakani, Ấn Độ

Trường hợp động mạch quay xuất phát cao rất có ý nghĩa lâm sàng Trong kỹ thuật thông tim, động mạch quay thường được chọn hơn động mạch đùi vì cấu trúc giải phẫu quanh động mạch quay ít phức tạp hơn so với động mạch đùi(4) Tuy nhiên, khi có bất thường giải phẫu như khi động mạch quay xuất phát cao lại là một trong những nguyên nhân gây thất bại của thủ thuật và có thể dễ có biến chứng như co thắt mạch hoặc tắc mạch do huyết khối(4,10,11,12) Vì vậy, phát hiện những bất thường này trước khi tiến hành thủ thuật là điều rất quan trọng và rất

cần thiết (Hình 2)

Đường kính động mạch quay

Đường kính động mạch quay trong nghiên cứu này tại nguyên ủy là 2,82 ± 0,55mm, tương đương với nghiên cứu của tác giả Lê Văn Cường(6) là 2,8mm

Về so sánh đường kính động mạch quay bên phải và bên trái, kết quả nghiên cứu này là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Cho đến thời điểm nghiên cứu, chúng tôi chưa tìm được tài liệu hoặc nghiên cứu nào so sánh đường kính trung bình động mạch quay bên phải và bên trái

Đường kính động mạch quay theo giới

Bảng 4: So sánh đường kính động mạch quay giữa nam và nữ

Đường kính ĐM quay theo giới Nam Nữ

Nasr AY 3,30 ± 0,72 3,20±0,76 Chúng tôi 2,95 ± 0,54 2,64 ± 0,52

Trang 5

Tác giả Nasr(7) nghiên cứu trên 50 xác ướp

gồm 30 nam và 20 nữ cho thấy đường kính

trung bình động mạch quay ở nam lớn hơn ở nữ

có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết kính động mạch quay ở nam lớn hơn ở nữ

So sánh đường kính động mạch quay và động

mạch trụ

Động mạch quay và động mạch trụ là hai

nhánh tận của động mạch cánh tay Nghiên cứu

này cho kết quả là động mạch trụ lớn hơn động

mạch quay Trong các tài liệu về giải phẫu học

đều mô tả động mạch trụ lớn hơn động mạch

quay nhưng không đưa ra số đo cụ thể(7,10) Điều

này có thể giải thích là vì động mạch trụ không

chỉ có vai trò cung cấp máu cho các cơ vùng

cẳng tay trước như động mạch quay mà còn

cung cấp máu cho các cơ vùng cẳng tay sau qua

động mạch gian cốt sau

Về các nhánh chính của động mạch quay

Nghiên cứu của chúng tôi khảo sát các

nhánh chính của động mạch quay như động

mạch quặt ngược quay, nhánh mu cổ tay, nhánh

gan cổ tay, động mạch ngón cái chính để góp

phần tìm hiểu các số liệu hình thái của người

Việt Nam Các chỉ số này cũng chưa được

nghiên cứu trước đây nên chúng tôi chưa có cơ

sở so sánh

KẾT LUẬN

Cùng với động mạch trụ, động mạch quay

xuất phát từ động mạch cánh tay ở vị trí dưới

đường liên lồi cầu xương cánh tay Tuy nhiên, có 4% trường hợp động mạch quay xuất phát cao, trong đó có 1 trường hợp động mạch quay xuất phát từ động mạch nách Điều này có ý nghĩa quan trọng trong lâm sàng, là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong kỹ thuật thông tim

Đường kính động mạch quay nhỏ hơn đường kính động mạch trụ Đường kính động mạch quay bên phải và bên trái thì không có

sự khác biệt

Động mạch quay cho nhánh đầu tiên là động mạch quặt ngược quay, góp phần tạo nên mạng mạch quanh khớp khuỷu Động mạch quặt ngược quay thường xuất phát phía dưới đường liên lồi cầu xương cánh tay khoảng 33,30mm

Có 2% trường hợp động mạch quay không cho nhánh động mạch ngón cái chính

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aparna G, Sarada DSS (2014) Superficial radial artery – a case

report Int J Res Dev Health, 2(1): 48-51

2 Brueck M, Bandorski D, Kramer W et al (2009) A Randomized comparision of Transradial versus Transfemoral approach for

Coronary Angiography and Angioplasty JAAC: Cardiovascular Interventions, 2(11): 1047-1054

cơ ngưc lớn (đã cắt)

ĐM quay

ĐM nách

ĐM trụ

Hình 2 ĐM quay (và cả ĐM trụ) xuất phát từ ĐM nách

Trang 6

3 Desai ND, Cohen EA, Naylor D, et al (2004) A Randomized

comparision of radial artery and saphenous vein coronary

bypass grafts The New England Journal of Medicine, 351:2302-2309

4 Gourassas J, Albedd U, Papadopoulos CE et al (2003)

Anomalous Origin of Right Radial Artery as a cause of Radial

Approach Failure of Coronary Angiography Hellenic J Cardiol,

44: 226-229

5 Keller FS, Rosch J, Dotter CT et al (1980) Proxial Origin of

Radial Artery: Potental Pitfall in Hand Angiography AJR, 134:

160-170

6 Lê Văn Cường (2012) Các dạng và kích thước động mạch ở

người Việt Nam Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh, pp.193-2017

7 Nasr AY (2012) The Radial artery and its variation: anatomy

study and implication Folia Morphol, 74(4): 252-262

8 Natsis K, Papadopoulou AL, Papathnasiou E et al (2009) Study

of two cases of high-origin radial artery on humans Eur J Anat,

13(2): 97-103

9 Ostojic Z, Bulum J, Ernst A et al (2015) Frequency of radial artery anatomic variations in patients undergoing transradial

heart catheterization Acta Clin Croat, 54: 65-72

10 Pelin C, Zagyapan R, Mas N et al (2006) An unusual course of

the radial artery Folia Morphol., 65(4): 410-413

11 Singh R, Tubb RS (2015) Abnormal superficial radial artery and

related vessels Basic Sciences of Medicine, 4(1): 1-4

12 Swaroop N, Daksayani KR (2011) The high origin of radial

artery and its significance Anatomica Karnataca, 5(2): 32-35

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 14/01/2020, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w