1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu giải phẫu động mạch mũ trên người Việt Nam

7 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 327,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh động mạch vành là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở các nước phát triển và hiện nay đang có xu hướng tăng lên ở các nước đang phát triển. Kiến thức về giải phẫu động mạch vành là rất quan trọng và cần thiết trong các kỹ thuật chẩn đoán, điều trị bệnh động mạch vành. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm giải phẫu động mạch mũ.

Trang 1

NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH MŨ TRÊN NGƯỜI VIỆT NAM

Nguyễn Hoàng Vũ*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Bệnh động mạch vành là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở các nước phát

triển và hiện nay đang có xu hướng tăng lên ở các nước đang phát triển Kiến thức về giải phẫu động mạch

vành là rất quan trọng và cần thiết trong các kỹ thuật chẩn đoán, điều trị bệnh động mạch vành

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm giải phẫu động mạch mũ

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 125 quả tim lấy từ tử thi được ướp dung dịch formol tại bộ

môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược TP.HCM

Kết quả: Trong 125 trường hợp nghiên cứu, có 4 trường hợp không có động mạch mũ (ĐMM), chiếm

tỷ lệ 3,2% Hầu hết ĐMM xuất phát từ thân chung động mạch vành trái, chỉ có 0,8% xuất phát từ động mạch chủ Đường kính trung bình của ĐMM tại nguyên ủy là 3,33± 0,67mm 46,28% ĐMM kết thúc tại

bờ trái, 45,46% tại vị vị trí giữa bờ trái và Crux, 4,13% tại mặt trước thất trái và 4,13% trường hợp kết thúc tại Crux 97,53% trường hợp ĐMM cho nhánh trước thất trái; 100% cho nhánh bờ trái; 20,66% cho nhánh sau thất trái; 4,13% cho nhánh gian thất sau và chỉ có 0,83% cho nhánh sau thất phải

Kết luận: Động mạch mũ thường xuất phát từ thân chung động mạch vành trái nhưng cũng có thể

xuất phát từ động mạch chủ Động mạch mũ có thể kết thúc ở mặt trước thất trái, tại bờ trái tim, giữa bờ trái và Crux hoặc tại Crux Nó cho các nhánh cung cấp máu cho thất trái và nhĩ trái như nhánh trước thất trái, nhánh bờ trái, nhánh sau thất trái, nhánh nhĩ trái và đôi khi cho nhánh gian thất sau 100% trường hợp có nhánh bờ trái

Từ khóa: thân chung động mạch vành trái, động mạch mũ, động mạch gian thất trước, nhánh bờ trái,

điểm Crux

ABSTRACT

A STUDY ON ANATOMY OF THE LEFT CỈRCUMFLEX ARTERY

Nguyen Hoang Vu * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 134 - 140

Introduction: The coronary arteries disease (CAD) is one of the major causes of death in developed

countries and is increasing in developing countries The knowledge of anatomy of coronary arteries is essential in the diagnostic and treatment procedures of CAD

Objective: To study the anatomical characteristics of the Left Circumflex Artery (LCx)

Materials and methods: 125 hearts of 125 cadavers preseved in formalin solution in department of

Anatomy, the University of Medicine and Pharmacy at HCM city

Results: In 125 specimens studied, the LCx was absent in 4 specimens, accouting to 3.2% Most LCx

originate from the Left Main Coronary Artery (LMCA), only 0.8% originate from the Aorta The mean outer diameter at the origin of the LCx was 3.33±0.67mm The LC xended at the left boder in 46.28% of the specimens; between the left border and the Crux in 45.46%; at the anterior surface of the left ventricular in 4.13%, and at the Crux in 4.13% of thespecimens 97.52% of the specimens had the anterior left ventricular branches; 100% had the left marginal branches; 20.66% had the posterior left ventricular; 4.13% had the

* : Bộ môn Giải Phẫu học, Đại Học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: TS.BS Nguyễn Hoàng Vũ ĐT: 0903863252 Email: vunguyen@ump.edu.vn

Trang 2

posterior interventricular branch; and 0.83% had the posterior right ventricular branhces

Conclusion: The LC xusually originates from the LMCA, somtimes from the Aorte It mightend at the

anterior surface of the left ventricular, at the left margin, between the left margin and the Crux, or at the Crux It gave the branches to left ventricular and left atrium, such as the anterior left ventricular branches, the left marginal branches, the posterior left ventricular branches, the posterior interventricular branches, the posterior right ventricular branches, the left atrial branches The left marginal branches were present in all the specimens

Key words: main left coronary artery, circumflex artery, anterior interventricular artery, left marginal

branch, Crux

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh động mạch vành là một trong những

nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước

phát triển(7).Tổ chức Y tế Thế giới ước tính tỷ lệ

tử vong toàn cầu do bệnh mạch vành vào năm

2002 là 7,2 triệu người và sẽ tăng lên 11,1 triệu

người vảo năm 2020(13) Đặc biệt, tỷ lệ này có xu

hướng giảm đi ở các nước phương Tây nhưng

lại tăng lên ở các quốc gia đang phát triển(16)

Song song đó, các kỹ thuật chẩn đoán và điều

trị bệnh động mạch vành không ngừng tiến bộ

Kiến thức về giải phẫu có ý nghĩa quan trọng,

giúp chẩn đoán chính xác và điều trị thành

công bệnh động mạch vành

Nghiên cứu này khảo sát các đặc điểm giải

phẫu động mạch mũ (ĐMM), một trong

những động mạch chính trong hệ thống động

mạch vành

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

125 xác ướp người Việt Nam (gồm 91 nam,

34 nữ), tuổi trung bình 68,1 (từ 33 đến 95) tại

Bộ môn Giải Phẫu học, Đại học Y Dược Thành

phố Hồ Chí Minh

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Phương pháp chọn mẫu và kỹ thuật phẫu

tích

- Phẫu tích: Xác được mở ngực và cắt các mạch máu lớn (động mạch chủ, động mạch phổi, tĩnh mạch chủ trên, tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh mạch phổi) để đưa tim ra ngoài Sau đó, chúng tôi bóc đi lớp màng ngoài tim để bộc lộ

hệ thống động mạch vành rồi quan sát, đo đạc các chỉ số sau:

+ Xác định nguyên ủy động mạch mũ + Xác định vị trí kết thúc của động mạch

+ Xác định đường kính tại nguyên ủy động mạch mũ

+ Xác định độ dài, đường kính các đoạn của động mạch mũ

+ Xác định số lượng các nhánh bên của động mạch mũ

- Kỹ thuật đo đường kính: Sau khi bóc sạch lớp mỡ bao quanh động mạch, chúng tôi kẹp dẹp động mạch lại và đo chiều ngang tại vị trí kẹp bằng thước kẹp điện tử, độ chính xác đến 0,01mm Đường kính (ĐK) ngoài động mạch được tính như sau:

ĐK= (số đo đượcx2)/3,1416 (mm)

- Đo chiều dài động mạch: dùng chỉ màu uốn theo đường đi động mạch rồi kẹp hai đầu giới hạn và đo độ dài giữa hai đầu kẹp

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel

KẾT QUẢ

Trang 3

Nguyên ủy động mạch mũ

Có 01 trường hợp (0,8%) động mạch mũ

xuất phát trực tiếp từ xoang trái động mạch

chủ; 99,2% trường hợp xuất phát từ thân

chung động mạch vành trái (TCĐMVT)

Điểm tận của ĐMM

ĐMM thường tận hết tại bờ trái tim hoặc

tại vị trí giữa bờ trái và điểm Crux (bảng 1)

Rất ít trường hợp ĐMM đi đến điểm Crux

(Điểm Crux nằm ở mặt hoành của tim, là giao

điểm giữa rãnh gian thất sau và rãnh vành)

Bảng 1 Vị trí tận hết của ĐMM (với 121 trường

hợp có ĐMM)

Điểm tận Số trường

hợp

Tỷ lệ

Kích thước các đoạn động mạch mũ

Đường kính

Bảng 2 Đường kính (ĐK) từng đoạn của ĐMM

ĐK (mm)

Đoạn Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất

Độ dài Bảng 3 Độ dài (ĐD)các đoạn ĐMM

ĐD (mm) Đoạn Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất

Phân nhánh của ĐMM

Nhánh trước thất trái Bảng 4 Số nhánh trước thất trái (tính trên 121

truòng hợp có ĐMM)

Số nhánh trước thất trái Số trường hợp Tỷ lệ

Nhánh bờ trái Bảng 5 Số nhánh bờ trái (tính trên 121 truòng

hợp có ĐMM)

Số nhánh bờ trái Số trường hợp Tỷ lệ

Hình 1 Không có ĐMM

ĐMGTT

Các nhánh chéo của ĐMGTT

Trang 4

Nhánh sau thất trái

Bảng 6 Số nhánh sau thất trái (tính trên 121

truòng hợp có ĐMM)

Số nhánh sau thất trái Số trường hợp Tỷ lệ

Nhánh gian thất sau

Trong số 121 có ĐMM, có 5 trường hợp

(4,13%) ĐMM cho nhánh gian thất sau

Nhánh sau thất phải

Trong 121 có ĐMM, chỉ có 01 trường hợp

ĐMM cho nhánh sau thất phải, tỷ lệ 0,83%

Nhánh nhĩ trái

Bảng 7 Số nhánh nhĩ trái (tính trên 121 trường

hợp có ĐMM)

Số nhánh nhĩ trái Số trường hợp Tỷ lệ

giá trị trong một nghiên cứu về Giải phẫu học Tuy nhiên, với cỡ mẫu này cũng không thể phát hiện hết tất cả dị dạng động mạch vành vốn là dị dạng hiếm gặp

Nghiên cứu này thực hiện trên xác và bằng phương pháp phẫu tích trực tiếp nên các đặc điểm như nguyên ủy, đường đi, nhánh bên, điểm kết thúc của động mạch được mô tả chính xác, kể cả những nhánh bên nhỏ nhất Tuy nhiên, vì là xác ướp và được bảo quản trong thời gian 3-4 năm nên kích thước của động mạch, đặc biệt là đường kính có thể cho kết quả không chính xác bằng đo trên xác tươi Mặt khác, cách đo đường kính trong nghiên cứu này là đo đường kính ngoài nên giá trị lâm sàng không cao và kết quả khó có thể so sánh với phương pháp nghên cứu bằng chẩn đoán hình ảnh

Về sự hiện diện của ĐMM

Không có ĐMM là một dị dạng được Baressi mô tả lần đầu tiên vào năm 1975(6) Nghiên cứu này gặp 4 trường hợp trong 125 mẫu (tỷ lệ 3,2%) Theo các tài liệu trước đây, không có ĐMM là một dị dạng hiếm gặp, chỉ

Hình 2 Các nhánh bờ trái (hình mũi tên)

ĐMM ĐMGTT

Trang 5

trường hợp không có ĐMM qua nghiên cứu

429 trường hợp chụp X-quang, tương đương

tỷ lệ 0,7%(1)

Như vậy, trường hợp không có ĐMM

trong nghiên cứu của chúng tôi gặp với tỷ lệ

nhiều hơn so với các tác giả trước đây nghiên

cứu qua phương tiện kỹ thuật hình ảnh Có

thể trường hợp không có ĐMM qua hình ảnh

được nghĩ là tắc ĐMM

ĐMM là một trong ba động mạch chính

nuôi cơ tim, nó cung cấp máu cho phần lớn

mặt trái và mặt hoành của thất trái Khi không

có ĐMM, mặt trái của thất trái được cung cấp

máu bởi các nhánh chéo của động mach gian

thất trước (ĐMGTT), mặt hoành được cấp máu

bởi động mach vành phải (ĐMVP) Nếu sự bù

trừ này không hiệu quả, nhất là khi gắng sức,

sẽ dễ dẫn đến thiếu máu cơ tim

Về nguyên ủy của ĐMM

Nghiên cứu này chỉ gặp 1 trường hợp

ĐMM xuất phát ở vị trí bất thường là ở xoang

trái động mạch chủ (trường hợp này không có

TCĐMVT và ĐMGTT cũng xuất phát trực tiếp

từ động mạch chủ) Đây chỉ là một trong các dạng thay đổi về giải phẫu, chiếm tỷ lệ 0,4 - 8% theo một số nghiên cứu trước đây và không gây hậu quả nghiêm trọng(4,17)

Tuy nhiên,khi ĐMM xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ cũng có nghĩa là không có TCĐMVT Trường hợp này có thể gây khó khăn trong các thủ thuật can thiệp hoặc gây nhầm lẫn trong chẩn đoán X-quang động mạch vành

Điểm tận ĐMM

Điểm tận của ĐMM có ý nghĩa trong tưới máu cơ tim và nút nhĩ thất Thông thường, ĐMM sẽ đi đến bờ trái tim hoặc qua khỏi bờ trái một đoạn ngắn để cho vài nhánh cấp máu cho mặt hoành thất trái và nó sẽ cho nhánh nút nhĩ thất nếu đi đến điểm Crux Kết quả nghiên cứu này tương tự các nghiên cứu trước

đây (bảng 8) nhưng chúng tôi không gặp

trường hợp nào ĐMM đi qua khỏi điểm Crux

để đến mặt hoành thất phải

Bảng 8 Điểm tận của động mach mũ trong nghiên cứu này và các nghiên cứu nước ngoài

Tác giả

Điểm tận của động mạch mũ Trước khi đến bờ trái Tại bờ trái Giữa bờ trái và “giao điểm” Tại “giao

điểm”

Qua khỏi “giao điểm”

Đường kính ĐMM

Các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát

đường kính tại nguyên ủy ĐMM mà không

khảo sát từng đoạn như nghiên cứu của chúng

tôi Ở đây, chúng tôi so sánh đường kính

ĐMM tại nguyên ủy (bảng 9)

Bảng 9 Đường kính tại nguyên ủy ĐMM

Tác giả ĐK ĐMM (mm)

Bảng 9 cho thấy đường kính ĐMM trong nghiên cứu này không có sự khác biệt so với những nghiên cứu trước Đường kính ĐMM

có ý nghĩa ứng dụng trong kỹ thuật can thiệp động mạch vành

Sự phân nhánh của ĐMM

Trên đường đi, ĐMM cho nhiều nhánh, chủ yếu ở mặt trước thất trái và bờ trái tim Cụ thể, trên 97% trường hợp ĐMM cho từ 1 đén 4 nhánh ở mặt trước thất trái và 100% trường hợp cho nhánh bờ trái Nhánh bờ trái là nhánh chính của ĐMM, tương tự như nhánh bờ phài của động mạch vành phải Trái lại, ĐMM

Trang 6

không phải luôn luôn cho nhánh sau thất trái

Cụ thể, trong nghiên cứu này chỉ có khoảng

20% trường hợp có nhánh sau thất trái Sở dĩ

ĐMM ít cho nhánh sau thất trái vì mặt hoành

thất trái được cấp máu chủ yếu bởi động mạch

vành phải

Về nhánh gian thất sau, thông thường,

nhánh gian thất sau xuất phát từ động mạch

vành phải, số ít trường hợp xuất phát từ

ĐMM Điều này cũng đã được công bố trong

một số nghiên cứu trước đây (bảng 10)

Bảng 10 Tỷ lệ ĐMM cho nhánh gian thất sau

Nguyên ủy nhánh gian thất sau có ý nghĩa

quan trọng trong tưới máu vách liên thất và sự

thông nối giữa ĐMVP và động mạch vành trái

(ĐMVT) trong vách liên thất

Khi nhánh gian thất sau xuất phát từ

ĐMVP (như thường gặp) thì vách liên thất

được cấp máu bởi ĐMVP (qua nhánh gian thất

sau) và ĐMVT (qua động mạch gian thất

trước) Khi đó có sự thông nối giữa ĐMVP và

ĐMVT trong vách liên thất

Trái lại, khi nhánh gian thất sau xuất phát

từ ĐMM (4% trong nghiên cứu này) thì vách

liên thất chỉ được cung cấp máu từ nguồn duy

nhất là ĐMVT Khi đó, nếu xảy ra tắc động

mạch vành trái sẽ nguy hiểm hơn, đặc biệt là

đối với vách liên thất(15)

KẾT LUẬN

Động mạch mũ là một trong ba động mạch

chính cung cấp máu cho cơ tim (cùng động

mạch vành phải và động mạch gian thất

trước) Trong đó, động mạch mũ và động

mạch gian thất trước xuất phát từ thân chung

Về điểm tận, động mạch mũ thường kết thúc ở bờ trái tim hoặc giữa bờ trái và điểm Crux

Trên đường đi, động mạch mũ cho các nhánh như nhánh trước thất trái, nhánh bờ trái, nhánh sau thất trái và trong một số ít trường hợp động mạch mũ cho nhánh gian thất sau Rất hiếm khi động mạch mũ cho nhánh sau thất phải Nhánh bờ trái lá nhánh luôn luôn tồn tại và được xem là nhánh chính của động mạch mũ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abdellah A, Elsayed A, Hassan MA (2009),

“Angiographic coronary artery anatomy in the Sudan

Heart Center”, Khartoum Medical Journa; 2(1), pp.162-164

2 Angelini P (1989), “Normal and anomalous coronary

arteries: Definitions and classification”, American Heart

Journal, 117(2), pp.418-434

3 Angelini P (2002), “Coronary artery anomalies – current

clinical issues”, Texas Heart Institute Journal, 29,

pp.271-278

4 Angelini P (2007), “Coronary artery anomalies: An entity

in search of an identity”, Circulation, 115(10),

pp.1296-1305

5 Ballesteros LE, Ramirez ML (2008), “Morphological expression of the left coronary artery: a direct anatomy

study”, Florida Morphol, 67(2), pp.135-142

6 Baskurt M (2010), “Congenital absence of the left circumflex coronary artery and an unusually dominant

course of the right coronary artery”, Cardiovascular Journal

of Africa, 21(5), pp 286-288

7 Das H, Das G, Das DC, Talukdar K (2010), “A study of coronary dominance in the population of ASSAM”,

Journal of the Anatomical Society of India, 59(2), pp.187-191

8 Fazliogullari Z, Karabulut A K, Ulver Dugan N, Uysal I I (2010), “Corpnary artery variations and median artery in

Turkish cadaver hearts”, Singapore Medical Journal, 51 (10),

pp.775- 780

9 Hashimoto N,et al (2004), “Congenital Abcense of the Left

Circumflex Artery Associated with Acute Myocardial

Infarction”, Circulation Journal., 68, pp 91-93

10 James TN(1961), Anatomy of the coronary arteries, 1st edition, Harper & Row, Publishers, Inc., Hagerstown, Maryland, pp 3-202

11 Kalpana R (2003), “A Study on Principal Branches of

Coronary Arteries in Humans”, Journal of Anatomy of the

Anatomical Society of India, 52 (2), pp.137- 140

12 Kosar P, Ergun E, Ozturk K, Kosar U (2009), “Anatomic variations and anomalies of the coronary arteries: 64-slice

Trang 7

14 Ortale JR, Filho JM, Paccola AMF, Leal JGPG, Scaranari

CA (2005), “Anatomy of the lateral, diagonal and

anterosuperior arterial branches of the left ventricle of the

human heart”, Brazil Journal Cardiovascular Surgery, 20(2),

pp.149-158

15 Skandalakis JE (2004), “Pericardium, Heart, and great

vessels in the thorax”, Skandalakis' Surgical Anatomy;

Mcgraw-Hill’s, New York, pp.303-351

16 Trương Quang Bình, Châu Ngọc Hoa, Đặng Vạn Phước

(2011) Lịch sử về bệnh động mạch vành và điều trị can

thiệp bệnh động mạch vành In: Đặng Vạn Phước (eds)

Can thiệp động mạch vành trong thực hành lâm sàng

Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh; tr.1-10

17 Vũ Duy Tùng (2009), Nghiên cứu giải phẫu động mạch vành trên chụp cắt lớp vi tính 64 lớp, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội, tr.37-93

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/10/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w