Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc giao lưu văn hóa trở nên mạnh mẽ hơn bao giời hết, đã để lại bên cạnh yếu tố tích cực trong tiếp biến văn hóa của các quốc gia là những hệ lụy không nhỏ trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì sựgiao lưu về văn hóa giữa các quốc gia ngày càng mạnh mẽ Bên cạng những tácđộng tích cực, điều này dẫn đến một hệ lụy là các bản sắc văn hóa dân tộc dễ bị tổnthương, đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số Do vậy, bảo tồn và phát huy bảnsắc văn hóa của các dân tộc thiểu số đang đặt ra yêu cầu bức thiết hơn bao giờ hết
Văn hóa của các dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng trong nền văn
hóa Việt Nam phong phú, đa dạng, tạo nên một nước Việt Nam “đậm đà bản sắc dân tộc” Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn có nhiều chính sách đối với
đồng bào dân tộc thiểu số trong cả nước, giúp cho người dân các vùng này đượchưởng thụ những giá trị văn hóa, đồng thời có chính sách bảo tồn và phát huy bảnsắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số
Phước Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, nơi có đông đồngbào dân tộc sinh sống, trong đó chủ yếu là người Bhnoong chiếm gần 60% dân sốtoàn huyện Giá trị văn hóa truyền thống của người Bhnoong đã đóng góp rất lớnvào kho tàng văn hóa chung của huyện cũng như tỉnh Nhưng hiện nay trướcnhững tác động mạnh mẽ của đời sống xã hội các giá trị văn hóa này đã có nhữngbiến đổi sâu sắc trong đó có cả những biến đổi theo chiều hướng tiêu cực Chính vìvậy, việc nghiên cứu những giá trị bản sắc văn hóa để đề ra những giải pháp nhằmbảo tồn và phát huy nét văn hóa tốt đẹp của đồng bào Bhnoong trở thành vấn đề
mang tính cấp thiết Với tinh thần đó, tác giả chọn đề tài “Tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc Bhnoong huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu.
Qua nghiên cứu này, tác giả sẽ nêu bật những đặc trưng văn hóa của ngườiBhnoong trong nền văn hóa của dân tộc Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằmbảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tích cực của người Bhnoong, góp phầnvào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ViệtNam Đồng thời, kết quả nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho đội
Trang 2ngũ giảng viên trường Chính trị tỉnh Quảng Nam khi đề cập đến vấn đề văn hóacủa đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh nhà.
Trang 3CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 1.1 Một số vấn đề chung về văn hóa và bản sắc văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đíchcủa cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạođức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hoá” Người đã khẳng định: “Trong công cuộc kiếnthiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến và phải coi là quan trọng ngangnhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”
Theo UNESCO thì văn hóa định nghĩa như sau: Văn hóa nên được đề cậpđến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúccảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài vănhọc và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyềnthống và đức tin
Theo quan điểm chung nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam thống nhất địnhnghĩa văn hoá như sau: Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người (cá thể, nhóm
xã hội, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung), thực hiện trong các lĩnh vực sản xuấtvật chất và tinh thần, nhằm nắm bắt và khai thác thế giới, quá trình này sẽ sản xuất,bảo quản phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang ýnghĩa xã hội Đồng thời nó là một tổng hợp chính là những giá trị đã vật thể hoáhoạt động sáng tạo đó của con người
Theo nghĩa rộng, có thể hiểu khái niệm văn hóa một cách cơ bản như sau:
“Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người tạo ra” Văn hóa là
những gì còn lại sau quá trình lịch sử Văn hoá không loại trừ tất cả những khíacạnh nhỏ nhặt trong đời sống của con người, nó có thể là những điều đơn giản hayphức tạp, có thể là bình thường hay mang tính đặc biệt Do đó tất cả những gì conngười tạo ra đều được xem là văn hóa
Trang 4Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo,cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi quốc gia, dân tộc; là dấu hiệu cơ bản
để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác Bản sắc văn hóa dântộc thể hiện tập trung trong truyền thống văn hóa dân tộc
Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử truyền lại, được các thế hệ sau
kế thừa gìn giữ và phát huy trong thời đại của mình, tạo nên dòng chảy liên tục củalịch sử văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là những giá trị bền vững,những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp nên qua lịch sửhàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước
Bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm “động” và “mở”, mang tính lịch
sử cụ thể và vận động, đổi mới không ngừng trên cơ sở loại bỏ những yếu tố bảothủ và tiêu cực, tiếp thu và phát huy những yếu tố tích cực và tiến bộ, đồng thời tạolập các giá trị mới để đáp ứng với yêu cầu phát triển của thời đại
1.1.3 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số
Hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giátrị văn hóa đã được kế thừa qua hàng ngàn năm lịch sử Bảo tồn văn hóa khôngphải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa, trong một chừng mực nào đó còn là
cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ
sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số là hướng sự vận động trong vănhóa của đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng tốt đẹp hơn cho cuộc sống của conngười Do đó, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số phải đi liền vớichống lạc hậu, lỗi thời, phong tục tập quán, lề thói cũ có hại đến sản xuất và đờisống, phát huy những yếu tố tích cực, tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của ngườidân tộc thiểu số
Muốn phát huy, bổ sung, thay thế, hoàn thiện văn hóa truyền thống dân tộc
có thể tiến hành bằng nhiều con đường, nhưng trong đó không thể thiếu con đườngtiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
1.2 Các quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật củaNhà nước về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 51.2.1 Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Ngày 29-4-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 229/SL nhằm ưu tiên,bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số Ðiều 6 Sắc lệnh nêu rõ: "Các dân tộcthiểu số đều có quyền tự do phát triển tiếng nói và chữ viết của mình, có quyền tự
do giữ gìn hay là cải thiện phong tục tập quán, có quyền tự do tín ngưỡng, và đượcChính phủ giúp đỡ phát triển về mọi mặt chính trị kinh tế, văn hóa xã hội"
Người cũng từng nói: “Đồng bào Thái, đồng bào Mèo, đồng bào Tày, đồngbào Nùng đã có chữ của mình Như thế là tốt” Sau đó, Người căn dặn: “Cán bộdân tộc thiểu số phải có ý thức chăm lo giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mình”.Điều này cho thấy sự quan tâm của Bác đối với các giá trị văn hóa của đồng bàodân tộc thiểu số và mong muốn bảo bồn và phát huy những giá trị tốt đẹp đó
1.2.2 Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà Nước về công tác bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số
Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách cụ thể để bảo tồn và phát huycác giá trị văn hóa truyền thống của cả dân tộc nói chung và văn hóa các dân tộcthiểu số nói riêng
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.
Nghị quyết Trung Ương 5 khóa VIII “xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thụ tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người”.
Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, khai thác tiềm năng,đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc
Trang 6dựng Đề án “Phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” để
gắn chặt nhiệm vụ phát triển văn hoá dân tộc với phát triển kinh tế, an ninh, quốcphòng, giảm sự chênh lệch mức thụ hưởng văn hoá giữa các vùng, góp phần xâydựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Và vào ngày 18/3/2011 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ
chức Hội thảo góp ý xây dựng đề án “Phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” (Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn đã chủ trì Hội thảo) Phát biểu tại
Hội nghị Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn cho rằng: hiện nay, đời sống văn hoá ở miềnnúi và vùng các dân tộc thiểu số có điều kiện mới để phát triển, nhưng vẫn tồn tạinguy cơ tụt hậu và mất dần bản sắc ở một số dân tộc Vì vậy việc xây dựng đề án
có tầm quan trọng đặc biệt, vừa giải quyết những vấn đề cấp bách, trước mắt, vừa
có tính định hướng chiến lược lâu dài về phát triển văn hóa dân tộc
Trang 7CHƯƠNG 2.
BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC BHNOONG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHƯỚC SƠN 2.1 Khái quát về huyện Phước Sơn
Huyện Phước Sơn, nằm trên triền Đông của dãy Trường Sơn và trung độ cảnước, phía Đông giáp huyện Hiệp Đức, phía Nam giáp huyện Bắc Trà My, phíaTây giáp huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum, phía Bắc giáp huyện Nam Giang Huyện
lỵ Phước Sơn đóng tại thị trấn Khâm Đức, cách thành phố Tam Kỳ 130 km vềhướng Đông Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 135 km về hướng Đông Nam Với vị tríđịa lý khá thuận lợi, có đường mòn Hồ Chí Minh chạy ngang qua, không những cóđiều kiện cho phát triển kinh tế, xã hội mà còn thuận lợi cho việc giao lưu văn hóavới các địa phương khác
Huyện Phước Sơn nằm trên triền Đông của dãy Trường Sơn đại ngàn, uynghi, hùng vĩ và bị chia cắt mạnh bởi nhiều núi cao và sông sâu, độ dốc lớn Đồngthời chảy thấp dần từ Tây sang Đông, tạo nên hai vùng cao và vùng thấp khá rõ rệt.Vùng cao có 9 xã và thị trấn, chiếm 3/ 4 diện tích, độ cao trung bình trên 1000m,
có nhiều núi cao trên 1.500m như ngọn Poltăm Heo (2.045m), Ngok Ti On(2.032m) và ngọn Pol Gơlê Zang (1.834m) Địa hình núi cao kiến tạo trên nền đágranit và đá biến chất granitnai, paranai… Vùng thấp là địa hình chuyển tiếp từTây sang Đông gồm 2 xã Phước Hòa và Phước Hiệp chiếm 1/4 diện tích, độ caotrung bình là dưới 500m, là cửa ngõ tiếp giáp với đồng bằng
Ngoài ra còn có các sông suối lớn nhỏ tạo nguồn nước dồi dào cho các sônglớn chảy về các vùng đồng bằng
Phước Sơn có khí hậu quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình trong năm21,80C, cao nhất là 39,40C và thấp nhất là 160C Mùa khô từ tháng 02 đến tháng 8;mùa hè chịu tác động bởi hướng gió Nam, thường có mưa giông, sấm sét, nhưngthích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển các loại cây trồng Mùa mưa bắt đầu từtháng 9 năm trước và kéo dài đến tháng 01 năm sau, nhưng ít chịu ảnh hưởng củabão Hướng gió thịnh hành vào mùa đông là gió mùa Đông Bắc với mức độ nhẹ
Trang 8Độ ẩm trung bình 90%, lượng bốc hơi trung bình 800 mm Sương mù thường xuấthiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau.
2.2 Dân tộc Bhnoong ở huyện Phước Sơn.
Hiện nay, ở Phước Sơn có 15 dân tộc cùng sinh sống bao gồm Bhnoong,Kinh, Ca Dong, Giẻ, Tày, Nùng, Mường, Sán Dìu, Cơ Tu, Bru - Vân Kiều, Pacô,Giá Rai, Hơ Rê, Co và Ve Trong đó, người Bhnoong chiếm 59%, người Kinhchiếm 32%, các dân tộc khác chiếm 9%
Người Bhnoong ở Phước Sơn hiện nay có khoảng 13.152 người, là một bộphận của dân tộc Giẻ - Triêng, có nguồn gốc từ vùng hạ Lào di cư sang Trong quátrình phát triển của cộng đồng, người Bhnoong dần phân hóa khỏi dân tộc chủ thể
và trở thành nhóm dân cư chính ở Phước Sơn
Người dân tộc Bhnoong sinh sống trên địa bàn huyện Phước Sơn là mộtnhóm địa phương của dân tộc Gié -Triêng thuộc ngữ hệ Môn - Khơ me Có nguồngốc từ dân tộc Ta Lieng cư trú ở dãy Tây Trường Sơn thuộc vùng hạ Lào, nhưng do
có tục du canh du cư, mỗi vùng đất chỉ ở từ 5 đến 7 mùa rẫy nên đến khoảng thế kỷXV- XVII họ mới phân tán thành các nhóm di cư vượt biên giới Lào - Việt sangphía Đông Bắc tỉnh Kun Tum, một bộ phận di chuyển xuống phía Tây Bắc tỉnhQuảng Nam, cư trú ở vùng Trà My, Hiệp Đức, số đông cư trú ở Phước Sơn
Những người Bhnoong hiện nay ở Phước Sơn có nguồn gốc từ huyện ĐăkLei (Kon Tum) ở xung quanh khu vực Hoa Cương - Ngok Linh di chuyển xuốngphía đông đến cư ngụ tại Đăk My Một bộ phận khác từ Trà My di cư sang Quathời gian, cộng đồng người Bhnoong lan tỏa ra toàn huyện Phước Sơn
Trong tiến trình lịch sử lâu dài, người Bhnoong sống đông đúc ở Phước Sơn
và dần dần hình thành nên những dị điểm về ngôn ngữ, văn hóa và trở thành dân
cư chính ở Phước Sơn, đóng góp nhiều công sức tạo dựng cơ đồ, sự nghiệp trênvùng đất này
Người Bhnoong ở Phước Sơn chủ yếu sinh sống trên các sườn núi cao vàđọc theo nguồn nước ở những dãy núi giữa ranh giới hai tỉnh Quảng Nam và Kon
Trang 9Hiện nay, người Bhnoong đã biết sống tập trung thành các làng bản lớn, tạikhu vực tương đối bằng phẳng hơn, tập quán du canh, du cư không còn nữa Họ
Nưng thuộc xã Phước Hiệp, Lang Lách thuộc xã Phước Năng, Lao Đu, Lao Mưngthuộc xã Phước Xuân…
Điều kiện sinh thái, tự nhiên của vùng rừng núi Trường Sơn đã tác động đếnđời sống văn hóa của người Bhnoong, hình thành một nền văn hóa bản địa truyềnthống lâu đời Nó vừa mang đặc điểm chung của cộng đồng dân tộc vùng TrườngSơn – Tây Nguyên vừa có những nét đặc trưng riêng của con người vùng đất này
2.3 Những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Bhnoong
Điều kiện sinh thái, tự nhiên của vùng rừng núi Trường Sơn đã tác động đếnđời sống văn hóa của người Bhnoong, hình thành một nền văn hóa bản địa truyềnthống lâu đời Nó vừa mang đặc điểm chung của cộng đồng dân tộc vùng TrườngSơn – Tây Nguyên vừa có những nét đặc trưng riêng của con người vùng đất này
2.3.1 Văn hóa vật chất của đồng bào dân tộc Bhnoong
2.3.1.1 Trong lao động sản xuất của đồng bào dân tộc Bhnoong
Là người con của núi rừng Trường Sơn, thích ứng với điều kiện thiên nhiênnên tập quán sản xuất của họ là phát rừng làm nương rẫy, trồng cây lương thực,kinh tế nương rẫy chi phối toàn bộ đời sống người dân tộc Bhnoong Trên rẫy họtrồng những loại cây như lúa, bắp, sắn, chuối… trong đó trồng lúa là chính
Vụ mùa của họ thường bắt đầu vào tháng 3, vào những ngày này họ thườngphát rẫy, đốt rẫy, gieo hạt Trong sản xuất của mình, họ cũng đã biết tận dụngnhững cơn mưa rào đầu mùa để cây cối họ trồng thêm tươi tốt Sau khi thu hoạchxong mùa thì người dân thường tổ chức lễ hội ăn mừng lúa mới, để ăn mừng một
vụ mùa bội thu và cầu mong điều may mắn trong mùa lúa mới
Những công cụ sản xuất chủ yếu dùng rìu, rựa để phát dọn; gậy đẽo nhọnđầu để chọc lỗ khi gieo tỉa; cà veo là công cụ để làm cỏ
Phương tiện người Bhnoong dùng để vận chuyển lương thực, đồ dùng hàngngày, hoặc sử dụng khi đi nương rẫy là các loại gùi
Trang 10Bên cạnh làm nương rẫy thì người dân cũng tiến hành các hoạt động chănnuôi với các con vật nuôi như trâu, heo, gà, ngan, chó chỉ giết mổ vào các dịp lễ,tết để cúng thần linh và tổ tiên, ông bà và săn bắn thú trên rừng, đánh cá dưới consông, con suối để góp phần vào việc nâng cao đời sống, cúng tế các thần linh vàđãi khách đặc biệt
Hiện nay, những văn hóa truyền thống trong sản xuất của người dân vẫn còntồn tại nhưng cũng đã có những biến đổi theo sự phát triển của xã hội NgườiBhnoong bây giờ không chỉ trồng những loại cây truyền thống nữa mà đã biếtchuyển dịch cơ cấu cây trồng sang nhiều loại khác như trồng keo Một số hộ giađình nhờ sự hướng dẫn của các cán bộ xã đã biết chăn nuôi bằng chuồng trại, mởrộng, chăn nuôi nhiều loại vật nuôi mới như nuôi cúi lúi…
2.3.1.2 Ngôi nhà truyền thống của đồng bào dân tộc Bhnoong
Người dân tộc Bhnoong thường sống trong các vùng núi sâu của huyệnPhước Sơn nên ngôi nhà ở của họ xưa kia là nhà sàn dài, dựng trên nền đất hìnhchữ nhật được chia thành các gian nhỏ cho mỗi hộ, ở giữa ngôi nhà có một hànhlang chạy suốt chiều dài ngôi nhà, hai nửa ra vào hành lang là cửa đi chung của cácthành viên trong nhà Mục đích của việc ở nhà sàn là để tránh các loài thú dữ vàdùng để làm chỗ trú của những con vật nuôi bên dưới nhà sàn
Vật liệu làm nhà chủ yếu bằng cây, lá, với kỹ thuật lắp ghép, chằng buộc rấttinh xảo theo lối kiến trúc truyền thống khá phổ biến
Trang trí và sắp đặt các vật dụng sinh hoạt trong một ngôi nhà truyền thốngcủa người Bhnoong theo nguyên tắc “Đông-Tây”
Một nét đặc trưng hơn cả là mỗilàng của người Bhnoong đều có nhà Rông,
là nhà làng truyền thống của dân tộcBhnoong, kiến trúc theo kiểu nhà sàn, cao,
to và đẹp; có bài trí các hoa văn, họa tiết,
có trưng bày đầu thú rừng và sừng trâu
Ngày nay, người Bhnoong đã sửdụng gỗ làm nhà, những ngôi nhà truyền thống còn lại rất ít Nhà ở của họ bây giờ
Trang 11là nhà gỗ, đắp nền đất, hoặc nhà xây giống với người Kinh Xu hướng biến đổingôi nhà truyền thống của người Bhnoong diễn ra rất nhanh, nhất là khi có sự vậnđộng tách hộ, dãn dân của chính quyền địa phương theo các chương trình củaChính Phủ
2.3.1.3 Trang phục truyền thống của đồng bào dân tộc Bhnoong
Trang phục là nhu cầu trực tiếp của đời sống xã hội, nó gắn bó chặt chẽ vàtồn tại trong đời sống hàng ngày của con người Trên thực tế trang phục khôngthuần túy chỉ là che đậy mà nó tham gia vào những sinh hoạt xã hội, sinh hoạt vănhóa của con người Khác với một số dân tộc ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên,trang phục truyền thống của dân tộc Bhnoong có đặc điểm riêng, không sặc sỡ nhưnhiều dân tộc trong khu vực, màu sắc chủ đạo của y phục là màu chàm kết hợp vớitrang sức
Về y trang phục
Nam giới người Bhnoong, thường mặc khố, ở trần và vào những ngày trờilạnh hoặc lễ hội của làng bản thì có thêm tấm choàng (Xalay) màu chàm từ vaixuống lưng bắt chéo chữ X qua bụng Khố của người Bhnoong là loại khổ hẹp, dàikhông có tua, thân và các mép khố
được viền và trang trí hoa văn ở hai
đầu trên nền chàm
Phụ nữ Bhnoong thường mặc
mặc áo, quấn váy, nhưng có nơi dùng
loại váy ống dài để che từ ngực trở
xuống, giữa thân và gấu của váy
trang trí các loại hoa văn đỏ trắng trên nền chàm
Về trang sức
Đối với nam thì thường đeo thêm một số trang sức bằng ngà voi, gỗ quý vàthường để tóc ngắn
Phụ nữ để tóc dài, búi sau gáy và đeo trang sức bằng cuờm đá nhiều màu sắc
và cả các loại vòng bạc, đồng ở cổ và tay, chân
Trang 12Ngày nay, quá trình phát triển kinh tế và môi trường cư trú mới đã ảnhhưởng tới trang phục truyền thống của đồng bào Bhnoong, đặc biệt là trang phụccủa người Việt (dân tộc Kinh) đã thâm nhập đến tận các làng bản xa xuôi hẻo lánh
Trong sinh hoạt đời thường, người dân tộc Bhnoong ăn mặc đơn giản hơnvới những kiểu trang phục giống với người Kinh cùng chung sống với họ
2.3.1.4 Ẩm thực truyền thống của đồng bào dân tộc Bhnoong
Sống giữa núi rừng Trường Sơn giao thông đi lại khó khăn, việc giao thươngbuôn bán không có nên nguồn thực thẩm chủ yếu từ các hoạt động tự cung tự cấp
Ẩm thực hằng ngày
Người Bhnoong ở Phước Sơn ăn cơm ngày 3 bữa (bữa sáng và tối ăn ở nhà,bữa trưa thường ăn nhẹ ở nương rẫy); nguồn thức ăn hàng ngày kiếm được nhờ sănbẫy thú rừng, đánh bắt cá dưới sông suối và hái lượm hoa, quả, rau, nấm ở rừng;thức ăn ưa thích là các món nướng đối với cá, thịt và canh rau Trước kia ngườiBhnoong có tập quán ăn bốc, uống nước lã, rượu cần
Ẩm thực lễ hội
Vào những ngày hội thì dân làng đem những món ngon nhất để cúng chothần linh Lễ vật là những con vật dân làng nuôi được như: trâu, gà, heo Trong đócon trâu là con vật hiến tế quan trọng trong những ngày lễ Bên cạnh đó là nhữngthực phẩm khác được săn bắt từ rừng như chuột khô, sóc khô, nai khô, ếch khô, ốc
đá, măng rừng, cá chua
Trong các dịp lễ như tết mừng lúa mới, mừng nhà rông…, người dân thường
làm cơm lam từ gạo nếp được vo sạch bỏtrong các ống nứa và bánh qoát có hìnhsừng trâu gói bằng lá dong hay lá đốt Đây
là những món ăn khá đặc trưng của ngườidân
Một loại thực phẩm nữa khôngthể thiếu trong lễ hội văn hóa của ngườiBhnoong là “rượu cần” Đây là một loại rượu đặc biệt, không uống bằng ly mà
Trang 13uống bằng những cần trúc nhỏ, là một đặc sản của hầu hết các đồng bào dân tộcvùng Trường Sơn – Tây Nguyên.
Rượu cần của người Bhnoong được làm rất kỳ công từ củ sắn và có mộtphương pháp lên men bằng lá cây rừng độc đáo mà không cần chưng cất Rượuđược đựng trong các ché to và thường uống trong các dịp lễ hội, đãi khách quý
2.3.1.5 Làng nghề truyền thống của đồng bào dân tộc Bhnoong
Nghề dệt thổ cẩm
Việc biết canh tác trên các nương rẫy, đồng bào dân tộc Bhnoong biết đếncây bông, biết trồng bông, se chỉ dệt vải Những cây bông được trồng trên các đámrẫy gần nhà vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 10.Vì vậy, vào những lúc nôngnhàn đồng bào đã biết dệt vải
Người Bhnoong sử dụng những khung cửi thô sơ để dệt vải để tạo ra nhữngloại vải khổ hẹp
Hiện nay, việc dệt vải của người Bhnoong ở Phước sơn hầu như không cònnữa bởi vì những trang phục truyền thống bây giờ ít còn được sử dụng, thêm vào
đó sự phát triển của xã hội việc dệt vải được thay thế bằng máy móc hiện đại hơn
Nghề đan lát
Bên cạnh việc dệt vải thì họ cũng tự tay đan lát những vật dụng hàng ngàynhư gùi, let, ló… từ những nguyên liệu có sẵn của núi rừng như tre, mây, lùng, lồô
Một trong những sản phẩm đan lát đó có gùi Đây là một trong những sảnphẩm được sử dụng nhiều nhất trong sinh hoạt hằng ngày của người dân Gùi đượcđan bằng mây, hoặc cây lùng với nhiều kích cỡ và kiểu dáng khác nhau: gùi đanthưa, đan dày, gùi có ngăn và gùi
không ngăn; gùi đeo theo người
hàng ngày, gùi để chứa đựng đồ
dùng tại nhà, gùi có hoa văn nan
nhộm màu đen, đỏ và gùi có hoa