Chính vì vậy, tìm hiểu những tư tưởng của Mac -Lênin về nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Trang 1MỞ ĐẦU Nguồn gốc và bản chất của Nhà nước là một vấn đề phức tạp Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau
về vấn đề này Những học thuyết nhà nước xuất hiện trước khi chủ nghĩa Mác ra đời thường tuyên truyền tính chất thần bí, thần thánh và duy tâm về nhà nước Ngày nay các nhà tư tưởng tư sản xuyên tạc một cách tinh vi hơn, che đậy bản chất nhà nước một cách kín đáo hơn Họ cho rằng, nhà nước tư sản hiện đại là nhà nước dân chủ nhất là nhà nước phúc lợi chung Những qaun điểm đó không những không đúng đắn, khoa học mà ngược lại, che đậy, xuyên tạc bản chất đích thực của nhà nước Lý luận khoa học về nhà nước, nguồn gốc và bản chất của nhà nước chỉ có thể có được khi vận dụng quan điểm duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu sự phát triển xã hội
Quan điểm về nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống lý luận của triết học Mác-Lênin, bởi nó không thuần túy là những lý thuyết khoa học mà gắn
bó chặt chẽ với quan điểm chính trị Chính vì vậy, tìm hiểu những tư tưởng của Mac -Lênin về nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay Chính vì
lẽ đó tác giả chọn đề tài “ Quan điểm của triết học Mác – Lênin về nhà nước và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nhà nước Việt Nam” để
nghiên cứu.
Trang 2CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC 1.1 Nguồn gốc và bản chất của nhà nước
1.1.1 Nguồn gốc của nhà nước
Theo quan điểm mácxít, nhà nước là một hiện tượng lịch sử,không phải xã hội nào cũng có nhà nước Nhà nước ra đời và tồn tại khi trong xã hội xuất hiện những mâu thuẫn giai cấp phát triển đến mức không điều hoà được Như vậy, trước khi giai cấp ra đời thì không thể có nhà nước.
Xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có giai cấp, nhà nước cũng chưa xuất hiện Đứng đầu các thị tộc, bộ lạc - những tổ chức xã hội thời kỳ này - là những tộc trưởng, hội đồng các tộc trưởng Đó là những cơ quan quản lý xã hội còn rất đơn giản và mang tính tự quản.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy đã làm xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội bị phân chia thành những giai cấp có lợi ích đối lập nhau, mâu thuẫn nhau, đấu tranh gay gắt với nhau Bộ máy quản lý mới phù hợp với
xã hội có đối kháng giai cấp ra đời Bộ máy đó chính là nhà nước Ph.Ăngghen viết: “xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng rõ ràng là đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự” Và lực lượng đó, nảy sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội và ngày càng tách rời khỏi xã hội, chính là nhà nước”.
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt không thể điều hoà được thì nhà nước xuất hiện Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: “Nhà
nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà
nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được”.
Trang 31.1.2 Bản chất của nhà nước
Nhà nước, về bản chất là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế, qua
đó nó thống trị về chính trị Theo Ph.Ăngghen, “Vì nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp
có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị”.
Nhà nước là công cụ thống trị chính trị giai cấp, nhưng trong thực tế, nó lại tồn tại như một công quyền, một quyền lực công cộng Nhà nước là công cụ thống trị chính trị giai cấp, nhưng trong thực tế, nó lại tồn tại như một công quyền, một quyền lực công cộng Vì vậy, nhà nước không chỉ mang tính giai cấp, mà còn mang tính xã hội; không chỉ có chức năng thống trị giai cấp mà còn có những chức năng xã hội Hơn nữa, chức năng xã hội còn là cơ sở cho sự thống trị chính trị Khi nhà nước nằm trong tay của giai cấp đang đóng vai trò tiến bộ và cách mạng, thì tính tích cực của chức năng xã hội của
nó biểu hiện càng rõ rệt.
Do vậy, sẽ là mơ hồ nếu không thấy được tính chính trị, tính giai cấp của các chủ trương, chính sách và sự tác động can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, v.v Nhưng ngược lại, nếu quy các chức năng đa dạng của nhà nước về chức năng giai cấp, hoặc tuyệt đối hoá tính giai cấp, mà không thấy được tính xã hội, vai trò tích cực sáng tạo của chức năng xã hội của nhà nước trong sự phát triển đất nước thì
sẽ là cực đoan, phiến diện.
1.2 Các kiểu nhà nước và hình thức nhà nước
Gắn liền với bản chất giai cấp, trong lịch sử đã xuất hiện bốn kiểu nhà nước khác nhau: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước vô sản Mỗi kiểu nhà nước lại có nhiều hình thức khác nhau Hình thức nhà nước có ảnh hưởng trong việc củng cố, bảo vệ và thực thi quyền lực nhà nước Hình thức nhà nước không làm thay đổi bản chất nhà nước Khẳng định về vấn đề này, Ph.Ăngghen viết: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác,
Trang 4điều đó, trong chế độ cộng hoà dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”.
Nhà nước chủ nô có nhà nước chủ nô dân chủ, có nhà nước chủ nô quý tộc; nhà nước phong kiến có nhà nước phong kiến quân chủ phân quyền, có nhà nước quân chủ tập quyền Dưới chủ nghĩa tư bản hình thức nhà nước phổ biến là chế độ cộng hoà dân
chủ tư sản Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới, về bản chất nó là chính quyền của nhân dân, là quyền lực của nhân dân Đây là điểm khác nhau cơ bản của nhà nước vô
sản so với nhà nước của các giai cấp bóc lột Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Trong đa số những nhà nước đã từng tồn tại trong lịch sử, những quyền ban cho công dân còn tỷ lệ với tài sản của họ, và điều đó trực tiếp nói lên rằng nhà nước là một tổ chức của giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này chống lại giai cấp không có của”.
V.I.Lênin viết: “chuyên chính vô sản, nghĩa là việc tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng chế độ dân chủ được Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế
độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu”, “Dân chủ cho tuyệt đại đa
số nhân dân”.
1.3 Nhà nước vô sản - tính tất yếu và đặc điểm của nhà nước vô sản
1.3.1 Tính tất yếu của nhà nước vô sản
Sau khi cách mạng thành công, giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn còn cần có nhà nước của mình vì ba lý do sau:
Thứ nhất, xã hội còn phân chia giai cấp, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn còn tiếp tục,
vẫn còn các lực lượng mưu toan phục hồi chế độ cũ, vẫn còn âm mưu xâm lược của các thế lực đế quốc Giai cấp công nhân, nhân dân lao động cần có nhà nước của mình để trấn áp lực lượng phản cách mạng, trấn áp bọn phá hoại trật tự xã hội mới và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trang 5Thứ hai, xã hội trong thời kỳ quá độ vừa thoát thai từ xã hội cũ, còn mang rất nhiều
dấu vết của xã hội cũ Để quản lý một xã hội như vậy, vẫn cần có sự cưỡng chế, cần pháp luật, kỷ cương, nghĩa là cần có nhà nước, công cụ làm chủ của nhân dân.
Thứ ba, xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vĩ đại, khó khăn, phức tạp, nó đòi
hỏi phải có một nhà nước do những người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lập ra để tổ chức quản lý công việc xây dựng xã hội mới Nhà nước kiểu mới đó chính là nhà nước vô sản.
Khẳng định tính tất yếu của nhà nước vô sản, C.Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang
xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của
thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”.
1.3.2 Những đặc điểm của nhà nước vô sản
Nhà nước vô sản là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử, nhà nước vô sản có những đặc trưng cơ bản của nhà nước nói chung - công cụ trấn áp của một giai cấp với một giai cấp khác Song, “chuyên chính” không phải là đặc trưng duy nhất của kiểu nhà nước này Nhà nước vô sản có các đặc trưng khác với các nhà nước của giai cấp bóc lột.
Một là, lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nó không còn là nhà nước của thiểu số thống trị đa số như trước đây, mà là nhà nước của đa số “thống trị” thiểu số những kẻ chống lại lợi ích của nhân dân lao động Cơ sở
xã hội và nòng cốt của nhà nước vô sản là liên minh công nhân, nông dân, trí thức, tức liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp lao động, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo thông qua đội tiên phong chính trị của mình Trong nhà nước vô sản, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân Nhân dân lao động không những làm chủ về chính trị
mà còn làm chủ về kinh tế, văn hoá, xã hội Đó là bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Tính chất của dân, do dân, vì dân thể hiện thông qua nguyên tắc tổ chức, cơ chế hoạt động và pháp luật nhà nước.
Trang 6Hai là, lần đầu tiên trong lịch sử, đã ra đời một nhà nước mà chức năng chủ yếu
nhất của nó không phải là bạo lực trấn áp mà là tổ chức xây dựng, phát triển xã hội V.I.Lênin chỉ rõ rằng: “Chuyênchính vô sản… không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực”58, mà chủ yếu là thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản.
Với hai đặc điểm trên, nhà nước vô sản không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa
mà là nhà nước “nửa nhà nước” Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một nhà nước của dân, do dân và vì dân, chức năng chủ yếu nhất của nó không phải là bạo lực trấn áp mà
là tổ chức xây dựng, phát triển xã hội.
Trang 7CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương”.Đó là nhà nước thuộc phạm trù nhà nước vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Tính tất yếu đó không chỉ bắt nguồn từ đặc điểm của thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội,
mà còn xuất phát từ thực tế và đòi hỏi của cách mạng Việt Nam là xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong đổi mới, Đảng ta chủ trương dân chủ hoá xã hội, dân chủ hoá tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước Chủ trương đó không chỉ phản ánh đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
từ một đất nước chưa trải qua chế độ dân chủ tư sản, mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phải khắc phục tình trạng thiếu dân chủ và dân chủ còn mang nặng tính hình thức trong tổ
Trang 8chức và hoạt động của Nhà nước ta Mặt khác, do ảnh hưởng của chiến tranh và những nguyên nhân khác, thực chất Nhà nước ta còn mang nặng tính chất là một hệ thống quan liêu, mệnh lệnh hành chính Vì vậy, dân chủ hoá tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở nước ta phải gắn liền với quá trình đổi mới căn bản tổ chức và hoạt động của Nhà nước.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta mới được chính thức khẳng định Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng coi xây dựng nhà nước pháp quyền như một trong năm quan điểm cần quán triệt trong việc tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, qua tổng kết những thành tựu trong nghiên cứu lý luận, cũng như thực tiễn từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta, Đảng ta coi xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
là một nhiệm vụ có tính chiến lược và xuyên suốt, trong “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng
định: “Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tập trung vào ba nội dung lớn: một là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó nhấn mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ; hai là, xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới;
ba là, tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
thực hành tiết kiệm Đại hội XII của Đảng coi việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới
hệ thống chính trị.
Đại hội XIII thể hiện mạnh mẽ quyết tâm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam khi không chỉ một lần nữa khẳng định lại quan điểm: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm
Trang 9của đổi mới hệ thống chính trị”, hơn thế, còn xác định rõ: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là một trong những định hướng chiến lược phát triển
đất nước trong thời kỳ 2021 – 2030, đồng thời nhấn mạnh, “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâmđể đưa đất nước ta
bước vào một giai đoạn phát triển mới,thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Xây dựng nhà nước dưới hình thức nhà nước pháp quyền
Để thể hiện và thực hiện đầy đủ bản chất quyền lực của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tồn tại dưới hình thức chế độ dân chủ, hơn nữa phải là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ cao nhất, triệt để nhất và rộng rãi nhất.
Hình thức chế độ dân chủ là hình thức bắt buộc đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa, nếu không muốn làm tha hóa bản chất quyền lực của minh Khẳng định điều đó, Ph.Ăngghen viểt: “Nếu có một điều gì chắc chắn thì đó là đảng ta và giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến nắm quyền thống trị dưới một hình thức chính trị, như nền cộng hòa dân chủ Nền cộng hòa này cũng chính là hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa từ một đất nước không trải qua chế độ dân chủ tư sản, mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phải khắc phục tình trạng thiếu dân chủ và dân chủ còn mang nặng tính hình thức trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Một trong những lý do chủ yếu của tình trạng đó là do, Nhà nước chưa thực sự tồn tại dưới hình thức chế độ dân chủ, chưa xây dựng được những thiết chế, cơ chế nhà nước thực hiện một cách hữu hiệu quyền dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân Mặt khác, do ảnh hưởng của chiến tranh và những nguyên nhân khác, nên Nhà nước còn mang nặng tính chất là một hệ thống quan liêu, mệnh lệnh hành chính Vì vậy, dân chủ hóa tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở Việt Nam phải gắn liền với quá trình đổi mới căn bản tổ chức và hoạt động của Nhà nước Chủ trương đổi mới Nhà nước theo mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đánh dấu mốc quan ừọng trong quá trình đổi mới và xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trang 10Có thể nói, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước trước đây chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền, nhưng một số đặc trưng, giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền thì đã được nhận thức và diễn đạt khá rõ nét trong các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 Đó chính là kết quả của việc yận dụng tư tưởng về nhà nước kiểu mới của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh.
Bước vào đổi mới, nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngày càng đầy
đủ hơn, rõ ràng, cụ thể hom và quyết tâm xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, chủ trương đổi mới nhà nước đã manh nha một số nội dung về nhà nước pháp quyền Đó là sự khẳng định, “quản lý đất nước bằng pháp
luật, chứ không chỉ bằng đạo lý” “Phải quan tâm xây dựng pháp luật Từng bước bồ
sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức
và hoạt động theo pháp luật” Đến Đại hội VII, quan điểm đổi mới tứià nước được bổ
sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp, vói sự phân công rành mạch ba quyền đó” Như vậy, qua hai nhiệm kỳ Đại hội
của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi mới nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng có những bước tiến quan trọng Tuy nhiên, đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta mới được chính thức khẳng định Thuật ngữ nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được chính thức sử dụng trong Văn kiện quan trọng của Đảng Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta mới có quyết tâm cao trong việc đổi mới Nhà nước theo hướng xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong Văn kiện Đại hội IX, Đảng ta coi:
“Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” là một
nhiệm vụ có tính chiến lược và xuyên suốt trong đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với Việt Nam là điều mới
mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm Mô hình nhà nước pháp quyền đã được nhân loại thử nghiệm, chọn lọc qua