1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIVAIDS của học sinh trường trung học phổ thông nghĩa lộ, thị xã nghĩa lộ , tỉnh yên bái năm 2007

140 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 8 pháp lệnh phòng chống HIV/AIDS quy định rõ: "Giáo dục phòngchống HIV/AIDS phải được đưa vào các trường học với nội dung phù hợp với từngloại hình trường học, phù hợp với trình độ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

HIV xuất hiện năm 1981 sau đó đã nhanh chóng lan ra khắp toàn cầu, sốngười nhiễm HIV và chết do AIDS ngày càng gia tăng, gây hậu quả nghiêm trọngđối với sức khoẻ cộng đồng, ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển kinh tế, xã hội, ổnđịnh an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Theo báo cáo của cục phòng chốngHIV/AIDS Việt Nam tính đến cuối năm 2007 toàn Thế giới có khoảng 33,2 triệungười nhiễm HIV/AIDS đang còn sống Khoảng 1/3 trong tổng số những ngườihiện đang bị nhiễm HIV/AIDS ở độ tuổi 15-24 Trong khi HIV đang lan tràn nhanhchóng trên khắp thế giới, Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít vềHIV/AIDS để tự bảo vệ mình chống lại căn bệnh này [27] Ở Việt Nam trường hợpnhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tháng 12/1990 đến 30/06/ 2007 cả nước có128.136 người nhiễm HIV, 25.219 người chuyển sang giai đoạn AIDS, 14.052người tử vong do AIDS [27] Đối tượng nhiễm HIV có xu hướng "trẻ hoá" ngàycàng rõ rệt, lứa tuổi 15-49 chiếm 95% các trường hợp, lứa tuổi vị thành niên (10-19tuổi) chiếm 8,3% các trường hợp [2] Đối tượng nhiễm HIV ở Việt Nam không còntồn tại trong một số nhóm nguy cơ cao mà đã xuất hiện trong nông dân, học sinh,sinh viên, tân binh và cả 64 tỉnh, thành phố trên toàn quốc đều có người nhiễm HIV/AIDS Dịch HIV/AIDS tại Việt Nam có liên quan mật thiết với tình trạng tiêmchích ma tuý, 53,4% người nhiễm HIV là người nghiện chích ma tuý [3] Nguy cơlây nhiễm HIV qua tiêm chích ma tuý ở mức rất cao do tình trạng nghiện ma tuý giatăng, đặc biệt là tầng lớp tuổi trẻ

Tại Tỉnh Yên Bái theo báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV/AIDStrường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ngày 24/9/1997, tính đến cuối tháng12/2007 toàn tỉnh có 2136 người nhiễm HIV, 220 người chuyển sang giai đoạnAIDS, 76 người tử vong do AIDS Đối tượng nhiễm HIV có liên quan đến nghiệnchích ma tuý là 57.39 %, lứa tuổi 20-29 nhiễm cao nhất chiếm 50.95 %, lứa tuổi từ13-19 chiếm 4,7% [17]

Trang 2

Theo báo cáo của Trung tâm Y tế Dự phòng Thị xã Nghĩa Lộ trường hợpnhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ngày 13/10/1998 tính đến cuối tháng 12/ 2007toàn Thị xã có 226 người nhiễm HIV, 47 người chuyển sang giai đoạn AIDS, 25người tử vong do AIDS Đối tượng nhiễm chủ yếu là nghiện chích ma tuý [18].Hoạt động thông tin giáo dục truyền thông đã và đang được tiến hành thườngxuyên, nhưng ở đối tượng học sinh hoạt động này chưa được đặc biệt chú ý

Nghĩa Lộ là Thị xã gồm 07 xã, phường đông dân, cách thành phố Yên Báihơn 80 km về phía tây, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông (trên 80%), đờisống còn gặp nhiều khó khăn Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước,quá trình đô thị hoá đang diễn ra rất nhanh chóng, việc mở rộng các khu côngnghiệp, khu vui chơi giải trí, sự phát triển kinh tế xã hội cùng với sự giao lưu buônbán làm ăn với các tỉnh như Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, đặc biệt là vớicác thành phố lớn làm các tệ nạn xã hội dễ xâm nhập vào địa bàn của Thị xã, đặcbiệt là tệ nạn ma tuý, do đó nguy cơ nhiễm HIV ngày càng cao, số đối tượng nghiệnchích ngày càng gia tăng

Trường trung học phổ thông Nghĩa Lộ đóng trên địa bàn phường Pú Trạng làtrường được thành lập từ năm 1961, tổng số học sinh của trường tại thời điểmtháng 12/2007 là 1068 học sinh, cơ sở vật chất của trường còn khó khăn, chất lượngđầu vào tương đối cao, số học sinh cá biệt không nhiều so với tất cả các trườngTHPT của Thị xã Học sinh chủ yếu sinh sống tại địa bàn Thị xã và một phần nhỏ từcác xã thuộc huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải đến học Vì thế nên việcquản lý, giáo dục học sinh gặp rất nhiều khó khăn Việc tuyên truyền và tổ chức cáchoạt động về phòng chống HIV/AIDS chưa được quan tâm đúng mức Đồng thờiqua kết quả khảo sát nhanh 50 học sinh tại trường cho thấy kiến thức về phòngchống HIV/AIDS của các em chưa cao: Chỉ có 10% học sinh biết đủ và đúng đườnglây nhiễm HIV, chỉ có trên một nửa (57,5%) có kiến thức chung về phòng chốngHIV/AIDS đạt yêu cầu

Hiện tại vẫn chưa có vacxin phòng lây nhiễm cũng chưa có thuốc điều trị đặchiệu cho người bị nhiễm HIV/AIDS, vì vậy việc khống chế sự lan truyền của đạidịch này chủ yếu và quan trọng nhất được xác định trong chiến lược quốc gia phòng

Trang 3

chống HIV/AIDS đến năm 2010 là tăng cường thông tin, giáo dục truyền thông thayđổi hành vi, đặc biệt là công tác thông tin giáo dục truyền thông cho thanh thiếuniên Điều 8 pháp lệnh phòng chống HIV/AIDS quy định rõ: "Giáo dục phòngchống HIV/AIDS phải được đưa vào các trường học với nội dung phù hợp với từngloại hình trường học, phù hợp với trình độ lứa tuổi, giới tính và phong tục tập quáncủa các dân tộc"[19].

Giáo dục phòng chống HIV/AIDS trong nhà trường nhằm mục đích nâng caonhận thức của học sinh về HIV/AIDS, giúp cho học sinh thay đổi hành vi, chấp nhận

và thực hành hành vi an toàn để tự phòng tránh lây nhiễm HIV cho mình, cho ngườithân và cộng đồng Hơn nữa, điều đó cũng làm cho mọi học sinh trở thành tuyêntruyền viên tích cực về phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS trong gia đình, bạn bè vàcộng đồng nơi các em đang sinh sống Trong bản kế hoạch hoạt động phòng chốngHIV/AIDS của Ban chỉ đạo phòng chống HIV/AIDS Thị xã Nghĩa Lộ cũng chỉ rõrằng: Phải đẩy mạnh các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông cả về bề rộng vàchiều sâu, nhà trường đảm bảo các tiết giảng dạy, ngoại khoá về phòng lây nhiễmHIV trong bộ môn giáo dục công dân, sinh vật cho học sinh Lồng ghép với hoạtđộng phòng chống tệ nạn ma tuý mại dâm ở nhà trường [17] Nhưng để hoạt độngtruyền thông thực sự có kết quả, cần phải biết kiến thức, thái độ, thực hành về phònglây nhiễm HIV của các em như thế nào, để từ đó đưa ra khuyến nghị phù hợp, đặcbiệt trên địa bàn Thị xã Nghĩa Lộ chưa có nghiên cứu nào về vấn đề KAP của các emhọc sinh, đặc biệt đối tượng học sinh trung học phổ thông là đối tượng đã có quan hệtình dục và rất dễ ảnh hưởng bởi các tác động của tiêu cực của xã hội Xuất phát từ

tình hình trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Kiến thức, thái độ, thực hành

phòng chống HIV/AIDS của học sinh trường trung học phổ thông Nghĩa Lộ, Thị xã Nghĩa Lộ , tỉnh Yên Bái năm 2007" Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin không chỉ

cho Học sinh trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ mà có thể bước đầu hiểu được những vấn

đề này trong lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông tại tỉnh Yên Bái Trên cơ sở đógiúp cho việc đề xuất những hoạt động phòng ngừa kịp thời và định hướng chonhững nghiên cứu sâu hơn trên lứa tuổi học đường để có thể phát triển các chươngtrình can thiệp phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS một cách hiệu quả

Trang 4

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨUMục tiêu cụ thể:

1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của học sinhtrường THPT Nghĩa Lộ, Thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái năm 2007

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòngchống HIV/AIDS của học sinh trường THPT Nghĩa Lộ, Thị xã Nghĩa Lộ, tỉnhYên Bái năm 2007

Trang 5

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS

1.1.1 Định nghĩa

AIDS Là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired ImmunodeficiencySyndrome” có nghĩa là "Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải" do nhiễm HIV(Human immunodeficiency virus) Khi vào cơ thể, HIV tấn công và tiêu huỷ dầncác tế bào miễn dịch, làm suy giảm miễn dịch của cơ thể tạo điều kiện thuận lợi chocác nhiễm trùng cơ hội, các rối loạn tinh thần kinh và các ung thư phát triển dẫn đến

tử vong [2]

1.1.2 Đặc điểm

Có hai loại HIV gồm HIV1 và HIV2 Đây là các Retro virus (các virus phiên

mã ngược) thuộc họ Lentiviridae HIV có tính đột biến cao nên gây nhiều khó khăncho việc sản xuất vaccin Đích tấn công của HIV là các tế bào có điểm tiếp nhậnCD4 bao gồm tế bào lymphoT4, tế bào niêm mạc ruột, tế bào niêm mạc đường hôhấp, tế bào đệm thần kinh và các tế bào thượng bì HIV tấn công và tiêu diệt tế bào

cơ thể theo hai cách: một là trực tiếp xâm nhập vào các cơ quan khác nhau, hai làlàm suy yếu hệ miễn dịch và tạo điều kiện cho các yếu tố vi sinh vật khác gây bệnh

Sau khi nhiễm HIV khoảng 4 - 8 tuần, cơ thể sản xuất ra kháng thể chống lạiHIV, kháng thể này đạt nồng độ cao vào tuần thứ 10 nhưng không tiêu diệt đượcHIV Phát hiện được kháng thể trong cơ thể có nghĩa là người đó đã bị nhiễm HIV.Thời gian từ khi bị nhiễm cho đến khi có kháng thể trong máu được gọi là thời kỳcửa sổ Người nhiễm HIV ở thời kỳ này mặc dù xét nghiệm máu âm tính nhưng đã

có thể làm lây nhiễm HIV cho người khác

HIV là một virus yếu, nó có thể tồn tại lâu trong cơ thể nhưng khi ra môitrường bên ngoài HIV rất dễ dàng bị tiêu diệt bởi các tác nhân lý hoá Trong cácdịch chất lỏng, nó dễ bị phá huỷ ở 560C trong 20 phút Trong các chế phẩm đôngkhô, HIV bị tiêu diệt ở 680C trong 2 giờ Các hoá chất chứa Clo bất hoạt virus trong

Trang 6

vài phút, pH quá kiềm hoặc quá toan cũng bất hoạt nhanh virus, nhưng các tia cựctím hoặc tia gamma lại ít có tác dụng trên HIV.

1.1.3 Đường lây truyền

Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất củanhiễm HIV Người ta đã phân lập được HIV từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo,nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể Nhiều nghiêncứu về dịch tễ học cho thấy chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai tròquan trọng trong việc làm lây truyền HIV Do đó có 3 phương thức làm lây truyềnHIV đó là:

- Lây truyền theo đường tình dục: Là phương thức lây quan trọng và phổbiến nhất trên thế giới , nguy cơ lây nhiễm HIV qua một lần giao hợp với một ngườinhiễm HIV nếu không dùng bao cao su là từ 0,01 – 1%

- Lây truyền theo đường máu: HIV có mặt trong máu toàn phần và các thànhphần của máu, do đó HIV có thể truyền qua máu hay các sản phẩm của máu cónhiễm HIV Nguy cơ lây truyền HIV qua đường máu có tỷ lệ rất cao, trên 90%

- Lây truyền từ mẹ sang con: Mẹ bị nhiễm HIV có khả năng truyền cho controng quá trình mang thai, khi đẻ và khi cho con bú Nguy cơ lây truyền từ mẹ sangcon từ 20 -30%

Tuy nhiên, tần suất lây nhiễm còn tuỳ thuộc vào lượng virus của nguồn lâycho nên có khi chỉ một lần tiếp xúc cũng đã bị lây nhiễm HIV

Ngoài ra HIV không lây qua các tiếp xúc thông thường như: Ở chung mộtnhà, thở chung không khí, ho, sổ mũi, làm việc chung, chơi thể thao chung, bắt tay,khoác tay, ôm hôn…Dùng chung các vật dụng trong nhà như: Nhà vệ sinh, khăntắm, chậu rửa mặt, bồn tắm, bể bơi, bát đũa, các vật dụng lao động…hay bị các côntrùng hoặc súc vật cắn cũng không làm lây truyền HIV

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới lây nhiễm HIV

1.1.4.1 Yếu tố sinh học

Người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục có khả năng nhiễm HIVcao hơn bình thường 2-9 lần Hẹp bao quy đầu dẫn đến dễ bị các bệnh lây truyền

Trang 7

qua đường tình dục gây loét do vậy nguy cơ nhiễm HIV và lây bệnh cho người kháccao hơn Ngoài ra, giai đoạn nhiễm HIV cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng lâytruyền, nguy cơ lây nhiễm rất cao ngay sau khi bị nhiễm HIV (giai đoạn cửa sổ) vàgiai đoạn AIDS (có khoảng 3.000 virus/1ml máu) Ở giai đoạn nhiễm HIV khôngtriệu chứng, số lượng HIV chỉ khoảng 20-40 virus/1ml máu [16].

1.1.4.2 Yếu tố hành vi

Nhiễm HIV/AIDS có liên quan chặt chẽ với hành vi cá nhân: Sử dụng chungbơm kim tiêm khi tiêm chích ma tuý (TCMT), lối sống có nhiều bạn tình, không sửdụng bao cao su khi quan hệ tình dục, phương thức sinh hoạt tình dục (quan hệ tìnhdục qua đường hậu môn với bạn tình bị nhiễm HIV có nguy cơ lây nhiễm cao hơn

so với QHTD qua đường âm đạo), sử dụng chung các dụng cụ xăm trổ…Hiện nay ởViệt nam hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV nhiều nhất là tiêm chích ma tuý

1.1.4.3 Yếu tố dân tộc học

Yếu tố dân tộc học cũng có mối liên quan tới nhiễm HIV Có sự khác biệt có

ý nghĩa về tỷ lệ nhiễm và phương thức lan truyền HIV giữa những quốc gia khácnhau như ở Châu Phi hình thức lan truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục (QHTD)nhưng ở Châu Á thì chủ yếu lại qua con đường TCMT Tỷ lệ nhiễm HIV rất cao ởcác thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh… và tăngnhanh ở các khu đô thị hoá

Tỷ lệ nhiễm HIV có xu hướng trẻ hoá rõ rệt, hiện nay TCMT vẫn được coi làcon đường chính dẫn đến lây nhiễm HIV Thông thường thanh thiếu niên sử dụng

ma tuý vì ma tuý được coi là tạo thêm hương vị cho cuộc đời, hoặc giúp họ cảmthấy đã giải quyết được vấn đề của mình Lứa tuổi vị thành niên là khoảng thời gian

có những thay đổi lớn về thể chất và cảm xúc, hoặc do đòi hỏi phải phù hợp với bạn

bè và thường không có kỹ năng cần thiết để vượt qua sự căng thẳng tâm lý, áp lựccủa cuộc sống, lúc này ma tuý có thể được coi là một giải pháp đối với họ [15][16]

1.1.4.4 Yếu tố văn hoá, kinh tế, xã hội

Sự kém hiểu biết về HIV/AIDS, tác hại của ma tuý, an toàn tình dục, yếu tố

về kinh tế như nghèo đói, không đủ nguồn lực để đương đầu với AIDS, mặt tiêu cực

Trang 8

của kinh tế thị trường, thái độ kỳ thị của xã hội với các nhóm nguy cơ cao (nghiệnchích ma tuý, mại dâm), thái độ đối với việc giáo dục tình dục cũng có ảnh hưởngđến sự lây nhiễm HIV [16].

1.1.5.Tiêm chích ma tuý và HIV

HIV có thể lây truyền qua việc sử dụng ma tuý khi máu của một người sửdụng ma tuý nhiễm HIV lây truyền sang người sử dụng ma tuý khác chưa bị nhiễm.Bơm kim tiêm là dụng cụ tiêm chích trước tiên tham gia vào quá trình lây truyềnHIV qua máu bị nhiễm giữa những người TCMT với nhau Dùng chung bơm kimtiêm và sử dụng bơm kim tiêm nhiều lần dẫn đến sự lan truyền của máu bị nhiễmHIV Ngay cả một lượng máu rất nhỏ bị nhiễm HIV trong bơm tiêm cũng có thểđược truyền sang người sử dụng tiếp theo Trong những năm qua, thanh thiếu niên

đã trở thành nhóm dân số lớn nhất bị nhiễm HIV HIV lây truyền giữa những ngườinghiện chích ma tuý, những bạn chích dùng chung bơm kim tiêm và truyền cho concái họ là yếu tố chính gây ra sự lan truyền không ngừng của HIV [15]

1.1.6 Các biện pháp phòng lây nhiễm HIV

Hiện nay chưa có vắc xin phòng nhiễm HIV và thuốc điều trị đặc hiệu vớingười nhiễm HIV/AIDS cho nên bằng những biện pháp phòng bệnh cá nhân tíchcực, chúng ta có thể góp phần ngăn chặn được sự lan truyền của virus HIV

- Phòng lây nhiễm qua đường máu bằng cách: Không tiêm chích ma tuý,không dùng chung bơm kim tiêm, thực hiện tốt công tác tiệt trùng trong y tế và antoàn truyền máu

- Phòng lây nhiễm qua đường tình dục: Không sinh hoạt tình dục bừa bãi,chung thuỷ với một bạn tình duy nhất, dùng bao cao su đúng cách khi quan hệ tìnhdục, khám và điều trị dứt điểm các bệnh lây truyền qua đường tình dục

- Phòng lây truyền từ mẹ sang con:

+ Thực hiện giáo dục sức khoẻ và tư vấn cho nữ thanh niên về nguy cơ dễ bịlây nhiễm HIV và hậu quả lây nhiễm cho chồng, con

+ Khuyến khích xét nghiệm sàng lọc trước khi kết hôn, khi quyết định cóthai và khi có thai

Trang 9

+ Tư vấn cho thanh niên đã bị nhiễm HIV không nên xây dựng gia đình,không nên có thai hoặc nên phá thai sớm khi đã bị nhiễm HIV, những người vẫnquyết định đẻ nên đến các cơ sở sản phụ khoa tuyến tỉnh để được tư vấn.

1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS

1.2.1 Tình hình dịch trên thế giới

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải đã lấy đi sinh mạng của 25 triệungười kể từ trường hợp đầu tiên được phát hiện vào năm 1981 và trở thành mộttrong những vụ dịch tồi tệ nhất được ghi nhận trong lịch sử Mặc dù gần đây khảnăng tiếp cận với các chương trình điều trị và dự phòng đã có hiệu quả, nhưng sốngười sống với HIV và số người tử vong do AIDS vẫn đang tiếp tục gia tăng Ởnhiều khu vực trên thế giới số nhiễm mới chủ yếu tập trung trong nhóm thanh niên(15 – 24 tuổi) Tính riêng số người từ 15 tuổi trở lên, thanh niên chiếm 40% số các

ca nhiễm mới trong năm 2006 [23]

Khu vực Cận Sahara Châu Phi đang tiếp tục phải gánh chịu những hậu quảnặng nề của dịch toàn cầu sự lan tràn rộng rãi của HIV, bắt đầu từ những năm đầuthập kỷ 80, số trường hợp nhiễm HIV tiếp tục tăng và đến nay có khoảng 25 triệungười đang sống với HIV chiếm 63% tổng số người nhiễm HIV trên toàn cầu, trong

đó có thêm 3,2 triệu người nhiễm mới và 2,4 triệu người đã tử vong vì các bệnh liênquan đến HIV trong năm 2006 Đặc biệt dịch diễn ra trầm trọng ở các khu vực phíaNam Châu Phi trừ Zimbabwe là nước duy nhất có tỷ lệ hiện nhiễm HIV đang giảm

đi Hình thái lây truyền chủ yếu là quan hệ tình dục khác giới, tuy nhiên một vấn đềmới nổi cộm lên ở khu vực này là tiêm chích ma tuý đang trở thành một yếu tố tiềmtàng làm dịch gia tăng ở nhiều nước, trong đó đáng chú ý là Kenya, Nigeria và NamPhi [23]

Châu Mỹ la tinh và Caribe là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề thứ 2 trên thếgiới Tính đến cuối năm 2005 có gần 2 triệu người bị nhiễm HIV, đa số các trườnghợp mới nhiễm là nữ thanh niên 15 – 24 tuổi [28]

Trang 10

Ngoài ra tốc độ gia tăng HIV cũng đáng quan tâm ở các nước Đông Âu,Trung Á, trong đó nghiêm trọng nhất là Ukraina, là nước có tỷ lệ nhiễm HIV caonhất ở Châu Âu hiện nay Hình thức làm lây truyền chủ yếu là việc dùng các dụng

cụ tiêm chích không an toàn, dịch ở các nước này chủ yếu ảnh hưởng tới nhómthanh niên như ở Nga khoảng 80% số người nhiễm dưới 30 tuổi [23]

Tại Châu Á, mặc dù dịch HIV/AIDS xuất hiện muộn, trường hợp đầu tiênđược phát hiện ở Thái Lan vào năm 1985 Nhưng đến cuối năm 2005 đã có khoảng8,6 triệu người nhiễm HIV, trong đó số nhiễm mới là khoảng 1 triệu người Dịch tễhọc lây nhiễm HIV ở khu vực này có nhiều hình thái khác biệt, tại Thái Lan vàCampuchia chủ yếu lây nhiễm qua quan hệ tình dục khác giới, nhưng ở một số nướckhác như Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia hình thức lây truyền chủ yếu qua tiêmchích ma tuý và tình trạng lây truyền qua đường tình dục khác giới cũng ngày cànggia tăng [19][23]

Tại Thái Lan, theo ước tính có khoảng 580.000 trường hợp nhiễm HIV vàothời điểm năm 2005 Thái Lan là nước triển khai chương trình bao cao su rất sớm,

số các trường hợp nhiễm mới đang có xu hướng giảm xuống ở một số nhóm đốitượng Tuy nhiên ở nhóm dưới 22 tuổi tỷ lệ hiện nhiễm đã tăng từ 13 - 22% trongcùng thời kỳ, chứng tỏ tỷ lệ nhiễm mới rất cao [19][23]

Theo UNAIDS và WHO tại Trung Quốc đến cuối năm 2005 có khoảng 1,1triệu người bị nhiễm HIV, trong đó nhóm thanh niên từ 15-24 tuổi chiếm tỷ lệ0,2% Dịch HIV liên quan đến tiêm chích ma tuý ở Trung Quốc đã đạt đến mức báođộng, 44% số người bị nhiễm HIV là do tiêm chích ma tuý [23]

Các mô hình dự báo cho thấy đến năm 2010, nếu công tác phòng, chống lâynhiễm HIV không được tăng cường một cách toàn diện, sẽ có khoảng 50% trẻ vịthành niên bị ảnh hưởng bởi đại dịch HIV, khoảng 18,5 triệu người bị nhiễm HIV ởNam và Đông Nam Châu Á, chỉ riêng Trung Quốc sẽ có khoảng 10 đến 15 triệutrường hợp nhiễm HIV và Ấn Độ có khoảng 20 đến 25 triệu người có HIV dươngtính Tuy nhiên các biện pháp can thiệp kịp thời sẽ làm giảm đáng kể các trườnghợp nhiễm mới [15][29]

Trang 11

1.2.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng 12năm 1990, là nữ giới tiền sử có quan hệ tình dục với khách du lịch người nướcngoài Đến năm 1992 chỉ có 11 trường hợp nhiễm HIV được báo cáo Năm 1993 có

sự bùng nổ dịch ở những người TCMT ở các tỉnh phía nam, chủ yếu là Thành phố

Hồ Chí Minh và tỉnh Khánh Hoà Những năm tiếp theo mỗi năm có khoảng từ 1500đến 2500 trường hợp nhiễm HIV được báo cáo [10]

Từ năm 1998, HIV đã lan tràn trên phạm vi toàn quốc Đến nay, dịchHIV/AIDS đã xuất hiện ở 64 tỉnh, thành phố với hơn 93% số huyện đã có ngườinhiễm HIV/AIDS Một số tỉnh thành đã có 100% số xã, phường có người nhiễmHIV/AIDS [23] Mười tỉnh, thành phố có số báo cáo nhiễm HIV cao nhất là ThànhPhố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, An Giang, Đồng Nai, CầnThơ, Nghệ An, Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Tháp Trong vài năm tới, hàng năm sẽ cókhoảng 40000 người nhiễm HIV nếu không có một chương trình dự phòng toàndiện hơn [24]

Theo báo cáo của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương [24]: HIV/AIDS vẫnchủ yếu tập chung trong nhóm đối tưọng có hành vi nguy cơ cao và đang có dấuhiệu lan ra cộng đồng, có tới 53,4% số nhiễm HIV là người TCMT, 2,68% là gáimại dâm và 1,56% là bệnh nhân hoa liễu Hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu là quaTCMT và có chiều hướng tăng qua các năm Năm 1996 tỷ lệ nhiễm HIV trongnhóm này là 9,4%, năm 2004 là 28,6% và năm 2005 khoảng 33% Bên cạnh đó tỷ

lệ nhiễm HIV qua quan hệ tình dục tiếp tục tăng từ 0,6% năm 1994 lên 3,6% năm

2005 trong nhóm gái mại dâm, từ 0,5% năm 1994 lên 3,2% năm 2005 trong nhómbệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Nhiễm HIV ở nước ta có

xu hướng trẻ hóa, nhiễm cao nhất là từ 13-49 tuổi chiếm tỷ lệ 97%, trong đó lứatuổi từ 13-19 chiếm tỷ lệ 9% Tỷ lệ nam giới nhiễm HIV cao gấp 6 lần nữ giới,nhưng số nữ giới bị nhiễm so với nam giới đang tăng mỗi năm

Dự báo vào năm 2010, số người nhiễm HIV ở Việt Nam ước tính là 350.970trường hợp, trung bình mỗi năm sẽ có thêm khoảng 20.000 - 30.000 người nhiễm

Trang 12

mới [19] Như vậy để ngăn chặn được đại dịch HIV Việt Nam cần một chương trìnhphòng chống HIV/AIDS toàn diện, mạnh mẽ và hiệu quả

1.2.3 Tình hình nhiễm HIV tại tỉnh Yên Bái và thị xã Nghĩa Lộ

Trường hợp HIV dương tính được phát hiện đầu tiên vào năm 1997, tính đếnnay toàn tỉnh đã có 2136 người nhiễm HIV Tốc độ lây nhiễm tiếp tục tăng với mức

độ năm sau gần gấp đôi năm trước, số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạnAIDS và tử vong do AIDS đang có xu hướng tăng mạnh Trên 80% số người nhiễmHIV thuộc nhóm đối tượng nguy cơ cao, trong đó đối tượng nghiện chích ma tuýchiếm 57,39% tổng số người nhiễm, tỷ lệ người nhiễm HIV có xu hướng tăng ởnhóm TCMT Sự lây nhiễm HIV đã lan ra cộng đồng ở nhiều lứa tuổi và ngườinhiễm HIV đang có xu hướng trẻ hoá, trong đó nhóm tuổi 13 - 19 tuổi là 4,7% [17]

Tại thị xã Nghĩa Lộ theo đánh giá của Ban chỉ đạo phòng chống HIV/AIDSmặc dù hiện tại mới có 226 trường hợp HIV được phát hiện, nhưng dự đoán thì sốngười nhiễm HIV tiếp tục gia tăng cho nên công tác thông tin giáo dục truyền thôngcần được đẩy mạnh [18]

1.3 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của học sinh

Việc không thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống tại một số địaphương đã làm lây lan HIV trong cộng đồng Hàng năm tỷ lệ nhiễm HIV trongnhóm thanh niên ngày càng gia tăng Do đó muốn đưa ra một kế hoạch, dự án canthiệp có hiệu quả thì ta phải biết được thực trạng của đối tượng mà ta quan tâm Đểđáp ứng điều này, đã có rất nhiều cuộc điều tra về kiến thức, thái độ, thực hành vềphòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng đặc biệt là ở đối tượng thanh thiếu niên.Dựa vào các kết quả điều tra đó mà đưa ra các ưu tiên, các mức độ can thiệp khácnhau Kết quả của các nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức, thái độ, thựchành phòng chống HIV/AIDS của thanh thiếu niên trong những năm qua cho thấycòn nhiều em có hiểu biết chưa đúng về HIV, có hành vi tình dục và tiêm chích không an toàn

Trang 13

Một cuộc điều tra ở các trường kỹ thuật tại Bắc Kinh năm 1996 cho thấynhận thức của sinh viên về các đường lây truyền HIV là 77,5 %, nhưng vẫn có 45%hiểu sai về các đường không có khả năng lây truyền như giao tiếp thông thường:học chung lớp, dùng chung nhà vệ sinh, chỉ có 47,7% biết dùng bao cao su có thểphòng tránh lây nhiễm HIV và 8,3% sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân [30].

Điều tra trên 927 sinh viên đại học và cao đẳng ở một thành phố miền namNepan năm 2002 cho thấy: Tuy hiểu biết đúng về ba đường lây và hậu quả cuốicùng của HIV/AIDS của nam là 90% và nữ là 79%, nhưng chỉ có 30% nam và 22%

nữ biết được các biện pháp an toàn để phòng tránh, nam sinh viên có quan hệ tìnhdục rất bừa bãi 38%, chỉ có 20% trong số đó có sử dụng bao cao su [31]

Nghiên cứu của Kẹo Bua Liên Vông Su Văn năm 2006 trên 422 học sinhtrường THPT số 3 Viêng Chăn Lào cho thấy kiến thức chung phòng chống HIV đạt

là 61,1%, trong đó tỷ lệ học sinh biết về đường lây truyền: Qua tiêm chích chungbơm kim tiêm là 98,6%, qua đường tình dục 90%, đường máu là 87%, mẹ truyềncho con khi mang thai 97% Về thái độ 91,2% số học sinh được điều tra có thái độchia sẻ giúp đỡ với người nhiễm HIV, thái độ chung đạt 64,9% Về thực hành có96,6% có thực hành tốt Tuy nhiên có 12,8% đã từng QHTD và có 37% trong số đókhông sử dụng bao cao su Học sinh đã từng sử dụng ma tuý là 3,3% nhưng chỉ có43% là không sử dụng chung bơm kim tiêm [25]

Nghiên cứu của Võ Minh Phúc năm 1998 trên đối tượng học sinh PTTH tỉnhBạc Liêu cho thấy tỷ lệ học sinh biết các đường có thể làm lây truyền HIV: QHTDkhông an toàn(72,4%), dùng chung dụng cụ tiêm không khử trùng sạch (86,9%).Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh cho rằng giao tiếp thông thường 4,2%, dùngchung đồ dùng cá nhân 7,6%, muỗi đốt 12,8% Thái độ của học sinh đối với ngườinhiễm thì có 92,2% sẽ quan tâm giúp đỡ Về thực hành, có 2,9% đã từng QHTD,trong đó sử dụng bao cao su là 63,3%, dùng chung bàn chải đánh răng 9,9% [13]

Một nghiên cứu cắt ngang tại huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình của Hồ ThiênNga tiến hành trên 220 học sinh năm 2000 cho thấy tỷ lệ học sinh có kiến thứcchung đạt là 73,3% Tỷ lệ hiểu đúng về đường lây truyền khá cao, qua tiêm chích

Trang 14

87,4 %, mẹ truyền cho con 96,6%, truyền máu 97%, qua QHTD 96,6% Tuy nhiênvẫn còn một số em cho rằng lây qua tiếp xúc thông thường như bắt tay, muỗi rệpđốt, ăn chung bát đũa Học sinh có thái độ đúng về phòng chống HIV/AIDS là96,1%, thực hành chung đúng 68,4%, trong đó không dùng chung bàn chải đánhrăng, dao cạo dâu là 60,7% Trong nghiên cứu cũng tìm thấy có sự khác biệt về kiếnthức giữa học sinh ở thị trấn và học sinh ở xa thị trấn, có mối liên quan giữa kiếnthức với thái độ, hành vi của các em.

Năm 2003 một cuộc điều tra lớn và toàn diện nhất về thanh thiếu niên lầnđầu tiên được thực hiện ở Viêt Nam (SAVY) Điều tra được tiến hành với 7584thanh thiếu niên trong độ tuổi 14 – 25 ở 42 tỉnh, thành phố từ những vùng thành thịlớn nhất cho tới vùng nông thôn Phương pháp thu thập số liệu là phỏng vấn trựctiếp và tự điền vào những câu hỏi nhạy cảm vì vậy đây là nghiên cứu có tính đạidiện và độ tin cậy cao Kết quả cho thấy: Thanh thiếu niên thành thị hiểu biết nhiềuhơn về HIV so với thanh thiếu niên nông thôn Tỷ lệ thanh thiếu niên biết các biệnpháp phòng tránh HIV là khá cao, sử dụng BCS khi QHTD 97,5%, không dùngchung BKT 96,7%, không quan hệ tình dục 77%, truyền máu không an toàn 94,8%

Về thái độ, nhìn chung thanh thiếu niên có thái độ tích cực ít sợ hãi đối với ngườinhiễm HIV Chỉ có 13,4% nói rằng họ sẽ không giúp đỡ người nhiễm HIV trongcộng đồng Nghiên cứu cũng cho thấy QHTD trước hôn nhân là không phổ biến ởnhóm tuổi 14 - 17( 20/3213 người), tỷ lệ thanh thiếu niên thừa nhận có sử dụng matuý là 0,5% [4]

Trong một nghiên cứu của Nguyễn Trần Hiển và cộng sự tiến hành năm

2004 trên 3336 thanh niên 15 - 24 tuổi chưa lập gia đình tại 7 tỉnh (Thanh Hoá,Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Dương, Bình Phước, Long An và Sóc Trăng) là những tỉnh

có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao, nhiều nhóm quần thể lưu động, có biên giới với Lào

và Campuchia cho thấy tỷ lệ thanh niên hiểu về cách phòng lây nhiễm HIV, có cáchành vi quan hệ tình dục và tiêm chích ma tuý là khác nhau giữa các tỉnh Về kiếnthức, nêu đủ và đúng 3 cách phòng nhiễm HIV thấp nhất ở Sóc Trăng 59,9%, caonhất ở Nghệ An 79% Tỷ lệ nêu 1 trong 3 biện pháp sai phòng nhiễm HIV khá cao,

Trang 15

cao nhất ở Long An 65,9% và Nghệ An 59,7% Về thực hành, tỷ lệ TCMT cao nhất

ở Long An 1,7%, sau đó đến Bình Dương là 1,5%, không có trường hợp nào ở SócTrăng và Hà Tĩnh Tỷ lệ có QHTD trước hôn nhân ở các tỉnh phía Nam cao hơn cáctỉnh phía Bắc, cao nhất ở Long An (21,2%), trong đó chỉ có 39,3% dùng bao cao su [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Thành Công trên 384 học sinh trung học phổ thônghuyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2004 cho thấy đa số (85,9%) các em cókiến thức đúng về các khái niệm cơ bản về HIV/AIDS, đường lây truyền, cáchphòng, chống Tuy vậy vẫn còn 43,3% học sinh khẳng định rằng muỗi đốt cũng làmlây HIV, 41,9% học sinh không biết đồng tính luyến ái nam có thể làm lây HIV haykhông và chỉ có 28% cho rằng có thể lây Nghiên cứu cũng cho thấy kiến thức củacác em chủ yếu thu được từ thông tin đại chúng (97,9%) và thầy cô giáo (80,7%).Thái độ của học sinh trong phòng, chống HIV còn hạn chế, chỉ có 48,4% học sinh

có thái độ tích cực, còn 51,6% có thái độ chưa tích cực Phần lớn học sinh có thựchành tốt 99,2%, nhưng đáng lưu ý là tỷ lệ học sinh đã từng TCMT là 1%, có QHTD

và thường xuyên không sử dụng bao cao su là 1,5% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cómối liên quan giữa khối học với kiến thức phòng chống HIV của các em [6]

Một nghiên cứu khác của Lê Trọng Lưu và Nguyễn Đỗ Nguyên năm 2004tại các trường THPT tỉnh Ninh Thuận thấy rằng kiến thức chung của học sinh đạt46,7%, trong đó biết đúng khả năng phòng lây nhiễm HIV là 69,9%, biết đúng khảnăng điều trị HIV là 77,9% Về thái độ chỉ có 64,5% học sinh có thái độ tích cựctrong phòng lây nhiễm HIV Nghiên cứu cũng nêu rõ một số thông tin về thực hànhcủa học sinh như sau: Sử dụng riêng dao cạo râu 69,7%, sử dụng riêng bàn chảiđánh răng 74,4%, dùng riêng dao cắt sửa móng tay là 69,9%, có QHTD là 0,5%,trong đó chỉ có 25% có sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục Chủ yếu họcsinh tiếp cận nguồn thông tin qua tivi 97,1%, qua báo (91,8%), qua đài phát thanh(86,8%), trường học là 88,2% Kiến thức chung của các em có liên quan đến khốihọc, khối 12 tỷ lệ hiểu biết cao hơn khối 10 [11]

Các nghiên cứu cắt ngang tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành phòngchống HIV/AIDS của thanh thiếu niên mới chủ yếu tập trung trên đối tượng học sinh

Trang 16

tại vùng thành thị, mà chưa có nghiên cứu riêng trên đối tượng học sinh nông thôn, trừSAVY chỉ ra được có sự khác biệt về kiến thức của thanh thiếu niên giữa 2 vùng

Các nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác nhau về kiến thức phòng tránhHIV của thanh niên ở các tỉnh, có thể vì các nghiên cứu tiến hành độc lập và cáchđánh giá khác nhau nên để có kết quả một cách toàn diện và khách quan, cần cónhững cuộc điều tra như SAVY Về thực hành của các em mặc dù sử dụng phươngpháp thu thập thông tin là tự điền vào những câu hỏi nhạy cảm, nhưng do khôngquan sát được vì vậy chưa chắc đã phản ánh đúng tình hình thực tế vì hành viQHTD và TCMT vẫn được gia đình, nhà trường và xã hội cho là trái đạo đức, là tệnạn xã hội

Lứa tuổi thanh thiếu niên là giai đoạn có nhiều thay đổi trong qúa trình pháttriển: Thay đổi về thể chất, tâm sinh lý, cách ứng xử, mối quan tâm và hướngnghiệp … đó là hiện tượng bình thường và là một phần của sự phát triển Đây cũng

là thời điểm các em thường có nhiều câu hỏi mà hầu như không có câu trả lời, đồngthời thanh thiếu niên cũng đang ở trong quá trình thu nhận kiến thức và phát triểncác kỹ năng từ đó có thể định hướng cho họ trong suốt cuộc đời Cho nên giáo dụcnói chung và giáo dục phòng chống HIV/AIDS nói riêng trong giai đoạn này thực

sự rất có hiệu quả

Trang 17

Chương 2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh đang học tại trường, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ tháng 01năm 2008 đến tháng 06 năm 2008

- Điều tra được tiến hành tại trường THPT Nghĩa Lộ, Thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích ( Nghiên cứu định lượng)

2.4 Phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

2d

p p

Z

2 / 1

n: Là số học sinh cần điều tra

Z 1- / 2: Hệ số tin cậy Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z = 1,96

α: là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5%

p: Tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về HIV/AIDS Qua điều tra nhanh tạitrường tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về HIV/AIDS là 57% nên chọn P = 0,57

d: Sai số mong muốn = 0,07 Thay số vào công thức trên ta có n = 192 Ước tính số trường hợp nghỉ học hoặc từ chối tham gia, sẽ cộng thêm 10%

bỏ cuộc  n = 211

Để tăng hiệu quả thiết kế (do chọn mẫu cụm) nhân cỡ mẫu với 2 Vậy số học sinhcần điều tra là 422

Trang 18

2.4.2 Cách chọn mẫu

Áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm, mỗi cụm là 1 lớp, giả định kiến thức,thái độ và thực hành của học sinh Nam và học sinh Nữ là như nhau do đó chúng tôitiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Toàn trường có: 27 lớp với tổng số 1068 học sinh

Mã hoá các lớp ở từng khối theo số thứ tự và tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên,chúng tôi đã chọn được 10 lớp: 5 lớp 10 (A2, A3, B1, B3, B4); 5 lớp 11 (A1, A2,B3, B4, B5) với tổng số là 430 em Chúng tôi tiến hành phát vấn theo lớp và khốicho đủ tổng số mẫu là 430 học sinh

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

+ Sử dụng bộ câu hỏi tự điền (Phụ lục 2)

+ Các lớp đã chọn được bố trí tập trung vào giờ sinh hoạt và tiến hành điềnphiếu dưới sự giám sát của nghiên cứu viên trong 30 phút

+ Nghiên cứu viên phát bộ câu hỏi tự điền (phụ lục 2), trước khi phát giải thích

rõ cho các em về mục đích của nghiên cứu, sự tham gia là tự nguyện, tính bí mật

và thông tin thu được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu

+ Sau khi điền xong thu phiếu tại lớp

2.6 Các biến số nghiên cứu ( Phụ lục 3 )

2.7 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá (Phụ lục 4)

Bằng cách cộng điểm cho từng câu hỏi, đánh giá là đạt nếu tổng số điểm từ 60% trở lên tương ứng với từng phần

2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Sau khi thu thập số liệu làm sạch và tiến hành loại bỏ các phiếu không hợp lệ(Phiếu không hợp lệ là những phiếu điền không đầy đủ tất cả các thông tin trong bộcâu hỏi), mã hoá bộ số liệu trước khi nhập vào máy

- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata

- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 13.0

- Sử dụng các thuật toán thống kê: test χ2, p để phân tích mối liên quan

Trang 19

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:

- Nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng đạo đức trường Đại học y tếCông cộng phê duyệt bằng văn bản

- Nghiên cứu chỉ tiến hành khi được sự chấp thuận của Lãnh đạo Trung tâm y tế

Dự phòng Thị xã Nghĩa Lộ, sự đồng tình ủng hộ của Ban giám hiệu, tập thể giáoviên và các em học sinh trường THPT Nghĩa Lộ

- Phiếu tự điền khuyết danh

- Kết quả thu được chỉ nhằm mục đích biết cụ thể hơn về thực trạng KAP phòngchống HIV/AIDS của các em học sinh trong trường, đề xuất những khuyến nghịphù hợp trong việc thông tin giáo dục truyền thông về lĩnh vực này một cáchphù hợp và có hiệu quả, không phục vụ cho mục đích nào khác

Trang 20

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng số học sinh tham gia vào nghiên cứu là 430 em, trong đó có 32 phiếukhông hợp lệ Như vậy số phiếu cuối cùng đưa vào phân tích là 398, đạt tỷ lệ trả lời

là 94% số mẫu đề ra và vẫn đủ cỡ mẫu tối thiểu (384)

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và gia đình

Bảng 1: Tỷ lệ học sinh phân bố theo tuổi

Biểu đồ 1: Tỷ lệ học sinh phân bố theo giới

Phân bố ĐTNC có sự chênh lệch về giới: nam 54.3%, nữ chiếm 45,7%

Khối 11 51.5%

Khối 10 48.5%

Biểu đồ 2: Tỷ lệ học sinh phân bố theo khối

Tỷ lệ học sinh khối 10 và khối 11 là tương đương nhau, lớp 10 là 48,5%, lớp 11 là 51,5%

Trang 21

Bảng 2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo hoàn cảnh gia đình.

Hầu hết đối tượng nghiên cứu sống cùng bố mẹ ( 95%), chỉ có 5% sống cùng

bố hoặc mẹ hoặc cùng họ hàng Nghề nghiệp của bố mẹ ĐTNC chủ yếu là nôngdân, bố là 88,7% và mẹ là 91% Trên một nửa (64,3%) ĐTNC có bố có trình độvăn hoá từ THCS trở xuống và có 2/3 ĐTNC có mẹ có trình độ văn hoá từ THCStrở xuống

Trang 22

3.2 Kiến thức của học sinh về HIV/AIDS

Bảng 3 Hiểu biết về tác nhân gây HIV/AIDS

Bảng 4 Hiểu biết về đường lây truyền HIV/AIDS

Hiểu biết của học sinh về các đường lây truyền HIV là khá cao: Qua đườngmáu: 84,7%, do QHTD không an toàn là 92,2 %, do mẹ truyền cho con là 85,2%.Tuy nhiên vẫn còn có tỷ lệ không nhỏ học sinh hiểu sai về đường lây HIV như qua

ôm hôn (13,8%), muỗi đốt (30,7%)…

Bảng 5 Hiểu biết về thời gian con người có thể truyền HIV/AIDS

Thời gian truyền bệnh HIV/AIDS Tần số Tỷ lệ %

Con người có thể truyền bệnh HIV

Trang 23

Con người chỉ có thể truyền bệnh

Con người chỉ có thể truyền bệnh

Chỉ có gần một nửa ( 43,5%) số học sinh biết được con người có thể truyền HIV ngay sau khi bị nhiễm

Bảng 6 Hiểu biết về đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS

Nhóm nguy cơ cao Tần số Tỷ lệ %

Tỷ lệ học sinh biết đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV là người TCMT,người mua bán dâm, trẻ mới đẻ có mẹ bị nhiễm HIV là khá cao, tuy nhiên chỉ có18,6% và 16,6% là biết người bị viêm nhiễm đường sinh dục và người có quan hệtình dục đồng giới cũng là đối tượng có nguy cơ

Bảng 7 Hiểu biết về khả năng phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS

Khả năng phòng lây nhiễm HIV Tần số Tỷ lệ %

Trang 24

Hiểu biết của các em về một số biện pháp phòng lây nhiễm HIV là khá tốt:

Có 81,2% chọn không nên TCMT, 78% chọn dùng BCS khi QHTD, 73,2% chọnkhông nên sinh con khi bị nhiễm HIV, 70% cho rằng cần phải xét nghiệm ngườicho máu Tuy nhiên chỉ có 54,7% biết là không dùng chung dao cạo râu và 31,1%biết là không dùng chung bàn chải đánh răng

Bảng 9 Hiểu biết về khả năng điều trị HIV/AIDS

Chữa khỏi một thời gian, sau đó tái phát 60 15,1

Chỉ sử dụng bao cao su khi quan hệ

Trang 25

Không biết 16 4,0

Hầu hết các em biết tình dục an toàn là sống chung thủy một vợ, một chồng(89,9%), không QHTD bừa bãi (79,1%) nhưng chỉ có 1/3 số học sinh biết không QHTDđồng giới

Bảng 11 Hiểu biết về tiêm chích an toàn

Biểu đồ 3 Hiểu biết về cách xử lý khi giẫm phải bơm kim tiêm đã qua sử dụng

Có tới 51,8% số học sinh không biết cách xử lý đúng khi giẫm phải BKT đã qua

Trang 26

Đối xử với người bị

nhiễm HIV trong

Trang 27

Gần gũi, giúp đỡ cai nghiện 368 92,5

Chỉ tham gia khi được vận động 43 10,8

Chỉ tham gia khi được vận động 25 6,3

Bảng 17 Thái độ của học sinh với quan điểm người nhiễm HIV có khả năng

cống hiến và làm việc bình thường

Trang 28

người nhiễm HIV Tổng 398 100

Đa số học sinh ( 71,1%) đồng ý người nhiễm HIV có khả năng cống hiến và làm việcbình thường

Rất cần Cần Không cần Không biết

Biểu đồ 4 Thái độ của học sinh với quan điểm cần phải cách ly người nhiễm

HIV

Chỉ có 50,3% học sinh cho rằng không cần phải cách ly người nhiễm HIV

Bảng 18 Thái độ chung về phòng chống HIV/AIDS

Trang 29

3.4 Thực hành phòng chống HIV/AIDS

Bảng 19 Tỷ lệ ĐTNC tham gia các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại

trường, địa phương

Nói chuyện với bạn bè, người thân về HIV/

Tham gia các hoạt động do đoàn thanh niên

Trang 30

Chỉ có 1/3 số học sinh có KAP phòng chống HIV đạt.

3.5 Tiếp cận thông tin

Trang 31

Bảng 26 Nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS

Trang 32

Trách nhiệm của mỗi người trong phòng, chống nhiễm HIV/AIDS

Tác động của dịch HIV/AIDS

Biểu đồ 5 Những nội dung về HIV/AIDS mà học sinh cần biết

Những nội dung về HIV/AIDS mà học sinh cần biết chủ yếu là kiến thức cơbản về HIV/AIDS 85,2%, trách nhiệm của mỗi người trong phòng, chống nhiễmHIV/AIDS 72,4%

Bảng 28 Hình thức tuyên truyền về HIV/AIDS phù hợp nhất cần đưa vào

Trang 33

Bảng 29 Mối liên quan giữa kiến thức phòng chống HIV/AIDS với một số đặc

điểm của đối tượng nghiên cứu và gia đình

Kiến thức

Đặc điểm

Không đạt( n, %)

Đạt( n, %)

16 - 17 44 (20,3) 173 (79,7)

Khối

Khối 10 76 ( 39,4) 117 (60,6) χ2 = 23.4

4.84P< 0.001Khối 11 36 (17,6) 169 (82,4)

Trình độ văn hoá của

THPTtrở lên 23 (18,5) 101 (81,5)

15 (27,8) 39 (72,2)

2 = 0.47

p = 0.49THPT 23 (18,5) 101 ( 81,5) χ2 = 1.9

Trang 34

19 (27,9) 49 (72,1)

2 = 0.08

p = 0.78THPT

Bảng 30 Mối liên quan giữa thái độ phòng chống HVI/AIDS với một số đặc

điểm của đối tượng nghiên cứu và gia đình

Thái độ

Đặc điểm

Khôngtích cực(n,%)

Tích cực(n,%)

Trang 35

67 (32,7) 138

(67,3)Hiện sống

cùng

(34,9)

246(65,1)

χ2 = 0.03

p = 0.88Khác 13 (36,1) 23 (63,9)

2 = 0.15

p = 0.7Kết quả bảng trên cho thấy, không có mối liên quan giữa một số đặc điểmcủa ĐTNC và gia đình với thái độ phòng chống HIV/AIDS ( p > 0,05)

Bảng 31 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ phòng chống HIV/AIDS

Kiến thức

Thái độKhông tích cực

(n, %)

Tích cực( n,% )

Trang 36

Bảng 32 Mối liên quan giữa thực hành phòng chống HVI/AIDS với một số đặc

điểm của đối tượng nghiên cứu và gia đình

Thực

hành

Đặc điểm

Không đạt( n, %)

Đạt( n , %)

78 (38,0) 127

(62,0)Hiện sống cùng

THPT trở lên 43 (34,7) 81 (65,3) χ

2 = 2.87

P = 0.09

Trang 37

Bảng 33 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống HIV/AIDS

χ2 = 9.2

P < 0.01

Không đạt( n, %)

Đạt( n, %)

Đạt( n, %)Không tích cực 62 (44,6) 77 (55,4)

Không tìm thấy mối liên quan giữa thái độ với thực hành phòng chống HIV/AIDS ( p > 0,05)

Chương 4

Trang 38

BÀN LUẬN 4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Trong tất cả học sinh được chọn vào nghiên cứu, học sinh nam chiếm54.3%, còn lại là học sinh nữ 45,7% phân bố đều ở cả 2 khối Hầu hết học sinh có

độ tuổi đúng với quy định của ngành giáo dục: lớp 10 tương ứng với 15 tuổi, lớp 11tương ứng với 16 tuổi Như vậy các em đang ở giai đoạn bản lề của sự phát triển từtuổi thiếu niên sang tuổi trưởng thành, phát triển nhanh về thể chất với việc hoànthiện bộ máy sinh sản và trưởng thành nhanh về mặt nhận thức xã hội với việc hìnhthành những đặc tính cơ bản về nhân cách đồng thời cũng là lứa tuổi muốn tự khẳngđịnh cái “ Tôi” nên rất dễ sa đà vào vào các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm vànguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng như HIV/AIDS là rất caonếu như không có đầy đủ kiến thức về cách phòng chống các bệnh này

Nghề nghiệp của cha mẹ học sinh chủ yếu là nông dân: bố là 87,7%, mẹ là91% cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Hồ Thiên Nga (bố 57,8% và mẹ64,6%) , các nghề nghiệp khác chiếm tỷ lệ thấp ở cả bố và mẹ Trình độ học vấn củacha mẹ học sinh chủ yếu là từ THCS trở xuống: 64,3% bố và 77, 2 % mẹ cao hơnnghiên cứu của Hồ Thiên Nga ( bố 54,7%, mẹ 53,7%), đây có lẽ là một trong nhữngyếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp kiến thức cho học sinh về phòng chốngHIV/AIDS

4.2 Kiến thức của học sinh trong phòng chống HIV/AIDS

Hiểu biết của học sinh về căn nguyên gây bệnh thì chỉ có 51.3% cho rằngnguyên nhân dẫn đến HIV/AIDS là do vi rút Kết quả này thấp hơn nhiều so vớinghiên cứu của Chu Quốc Ân 98,3% và của Hồ thiên Nga là 96,6% [1][12], có tới39,9% không biết nguyên nhân gây bệnh là gì

Hiểu biết của học sinh về đường lây truyền HIV/AIDS qua nghiên cứu chothấy: Lây truyền qua đường máu là 84,7%, tương đương với nghiên cứu của KẹoBua Liên 87% [25], thấp hơn nghiên cứu của Hồ Thiên Nga 97% và của Chu Quốc

Ân 94,4% [1][12], do quan hệ tình dục không an toàn 92,2%, tương đương vớinghiên cứu của Kẹo Bua Liên 90%, thấp hơn nghiên cứu của Hồ Thiên Nga 96,6%

Trang 39

[12][25], của Nguyễn Vũ Thượng 98% và của Chu Quốc Ân 98,3% [1][14], Nhưngcao hơn kết quả của Võ Minh Phúc 72,4% [13] Hơn ¾ ( 85,2%) học sinh trongmẫu nghiên cứu cho rằng HIV có thể lây từ mẹ sang con, kết quả này cũng thấp hơncủa Hồ Thiên Nga 96,6% [12], của Chu Quốc Ân 95,2% [1] và 97,2% của Nguyễn

Vũ Thượng [14] Như vậy số học sinh trả lời đúng các đường lây truyền là tươngđối cao, tuy nhiên vẫn còn một số em hiểu sai về đường lây truyền HIV, 30,7% họcsinh cho rằng muỗi đốt cũng làm lây truyền HIV, cao hơn nghiên cứu của ChuQuốc Ân 11% [1], nhưng thấp hơn so với 47,6% ở Thanh Hoá và 35,3% ở SócTrăng [7], có 13,8% cho rằng bắt tay, ôm nhau cũng có thể làm lây truyền HIV.Điều này sẽ làm cho học sinh có thái độ không đúng với người nhiễm HIV/AIDSnhư kỳ thị xa lánh, phân biệt đối xử

Hiểu biết của học sinh về đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV: Tỷ lệ họcsinh trả lời chính xác nhóm có nguy cơ cao bị lây nhiễm HIV là: Người tiêm chích

ma tuý 87,7% tương đương với kết quả của Hồ Thiên Nga 88,8% [12], người muabán dâm 65%, chỉ có 18,6% cho rằng người bị viêm nhiễm đường sinh dục cũng cónguy cơ lây nhiễm HIV điều này rất đáng lưu ý vì các em học sinh trong trường đã

có hiện tượng QHTD trước hôn nhân, cần phải có kiến thức để chủ động phòngngừa Có 16,6% học sinh biết QHTD đồng giới cũng là nguy cơ, kết quả này thấphơn nghiên cứu của Nguyễn Thành Công 28% [6]

Hiểu biết về cách phòng tránh lây nhiễm HIV: Có 78% trả lời dùng bao cao

su đúng cách khi quan hệ tình dục, thấp hơn nghiên cứu của Chu Quốc Ân 88,7%[1], của Hồ Thiên Nga 92,7% và của SAVY 97,5% [4][12] Không dùng chung bơmkim tiêm 67.6%, kết quả này thấp hơn so với kết quả của Hồ Thiên Nga 82,5% [12].Xét nghiệm người cho máu 70%, thấp hơn nhiều so với kết quả của Chu Quốc Ân

là 91,4% , của Hồ Thiên Nga là 94,6% và của SAVY 96,7% [1][4][12] Chung thuỷvới một người 69,2%, tương đương với nghiên cứu của Hồ Thiên Nga 69,4% [12].Chỉ có 54,7% cho rằng không dùng chung dao cạo râu và bàn chải đánh răng là mộttrong những biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV, tương đương với kết quả củaChu Quốc Ân 58,9% nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Hồ Thiên Nga 60,7%[1][12] Đây là kiến thức cần bổ sung tuyên truyền để các em có đầy đủ kiến thức

Trang 40

về các đường lây này để từ đó có kiến thức phòng ngừa tốt nhất vì trên thực tế hiệnnay còn nhiều người vẫn có thói quen sử dụng chung bàn chải đánh răng và daocạo râu với người khác Còn 24,1% học sinh cho rằng cần phải cách li người nhiễmHIV/AIDS, cao hơn của Chu Quốc Ân 6.8% và tương đương với kết quả của HồThiên Nga [1][12] Đây là quan điểm sai, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến thái độ củacác em với những người bị nhiễm HIV/AIDS

Về khả năng điều trị HIV/AIDS của y học hiện nay, có 61,1% học sinh trảlời chưa chữa khỏi được, tương đương với kết quả nghiên cứu của Chu Quốc Ân64,4% [1]

An toàn tình dục là khái niệm đã được các phương tiện truyền thông sử dụngtrong công tác tuyên truyền phòng ngừa các bệnh xã hội do đó hầu hết các em đãbiết tình dục an toàn là sống chung thủy một vợ, một chồng ( 89,9%), không QHTDbừa bãi (79,1%), nhưng chỉ có 1/3 số học sinh biết là không nên QHTD đồng giới

Như vậy, hiểu biết về HIV/AIDS của học sinh trường THPT Nghĩa Lộ so vớimột số nghiên cứu được thực hiện tại các địa phương khác là thấp mặc dù thời điểmnghiên cứu sau nhiều năm, đã có các chương trình tuyên truyền về HIV/AIDS trênnhiều kênh thông tin khác nhau, lý do có thể đây là vùng miền núi, khả năng tiếpcận với các nguồn thông tin đại chúng khó khăn hơn các vùng khác, thêm vào đó làtrình độ học vấn của bố mẹ học sinh chưa cao, nghề nghiệp chủ yếu là nông dân nênviệc cung cấp thông tin cho con còn nhiều hạn chế

Kiến thức chung phòng chống HIV/AIDS của học sinh trường THPT Nghĩa

Lộ là 71,9 %, kết quả này tương đương với nghiên cứu của Hồ Thiên Nga 73,3%[12] Tuy nhiên kết quả của nghiên cứu này vẫn thấp hơn nhiều so mục tiêu củachương trình hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2001 - 2005 làđến cuối năm 2005 có trên 90% học sinh sinh viên có hiểu biết về HIV/AIDS.Nguyên nhân có thể do cơ vật chất của trường còn khó khăn, các tổ chức đoàn thểhọat động chưa được hiệu quả, nên công tác tuyên truyền cũng như các hoạt độngngoại khoá nói chung và về HIV/AIDS nói riêng hầu như còn bỏ ngỏ Vì vậy côngtác truyền thông, giáo dục về HIV/AIDS tại nhà trường, địa phương cần được tiếptục quan tâm hơn nữa trong thời gian tới cả về hình thức và nội dung

Ngày đăng: 23/12/2019, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w