Với công trình này, “tác giả đã đưa ra cách phân loại sơ đồ dựa theo nội dung kiến thức trong chương trình sinh học phổ thông, xây dựng các sơ đồ về các nội dung kiến thức môn sinh học
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp và Lí luận dạy học Lịch sử
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp và Lí luận dạy học Lịch sử
Người hướng dẫn khoa học
Th.S PHAN THỊ THÚY CHÂM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, còn có sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, cũng như sự động viên, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Phan Thị Thúy Châm - người thầy đã tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô trong tổ Xã hội trường THPT Mỹ Hào (Hưng Yên) đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm
và hoàn thành khóa luận
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thành khóa luận, song khóa luận cũng không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình Những số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chƣa đƣợc công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 6MỤC LỤC
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
4.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6.Ý nghĩa của đề tài 8
7.Cấu trúc của khóa luận 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT 9
1.1.Cơ sở lý luận 9
1.1.1.Một số khái niệm 9
1.1.1.1.Khái niệm về phương pháp dạy học 9
1.1.1.2 Khái niệm về phương pháp Graph 10
1.1.2.Phân loại Graph 11
1.1.3.Đặc trưng của kiến thức lịch sử 14
1.1.4.Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh THPT 16
1.1.5 Vai trò ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 18
1.1.5.1.Vai trò của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 18
1.1.5.2.Ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 20
1.1.6.Định hướng đổi mới PPDH trong DHLS ở trường THPT 22
1.2.Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 24
1.2.1.Thực trạng dạy và học lịch sử ở các trường THPT 24
1.2.2.Thực trạng vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 34
Trang 7CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI LỚP 10 Ở
TRƯỜNG THPT 35
2.1.Vị trí, mục tiêu, nội dung phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 35
2.1.1.Vị trí 35
2.1.2.Mục tiêu 36
2.1.3.Nội dung phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 38
2.2.Nguyên tắc khi sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 43
2.3.Quy trình thiết kế và sử dụng Graph cho nội dung bài học lịch sử 44
2.4 Những lưu ý khi sử dụng phương pháp Graph trong dạy học 49
2.6.Một số biện pháp sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 53
2.6.1.Sử dụng phương pháp Graph hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiến thức mới 54
2.6.2.Sử dụng phương pháp Graph hướng dẫn học sinh ôn tập, củng cố kiến thức 58
2.6.3.Sử dụng phương pháp Graph hướng dẫn học sinh tự học 60
2.7.Thực nghiệm sư phạm 63
2.7.1.Mục đích thực nghiệm 63
2.7.2.Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 63
2.7.3.Nội dung và phương pháp thực nghiệm 63
2.7.4 Kết quả thực nghiệm 64
2.7.4.1.Đánh giá kết quả thực nghiệm bài 32: Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu ở lớp thực nghiệm 10A6 64
2.7.4.2.Kết luận sau thực nghiệm 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68
KẾT LUẬN 69 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay trong xu thế hội nhập - phát triển, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và đặc biệt là cuộc “cách mạng công nghiệp 4.0”, để có thể đào tạo ra những con người có trí tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo và tính nhân văn, năng động thích nghi với mọi hoàn cảnh đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực từ mục tiêu đến nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học.Nghị quyết Trung ương 2 khóa XVIII đã đề cập rất cụ thể vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học ở mọi cấp học, bậc học: “Phải đổi mới phương pháp
giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.” [46]
Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH hiện nay là chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung, dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang chú trọng “hình hành năng lực”, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Nội dung này đã được nêu rõ trong mục tiêu của Nghị quyết Hội nghị TƯ 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học” [22; tr 13]
Định hướng trên đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục năm 2005:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tíc cực, tự giác, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [1; tr 77]
Như vậy vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêu quan trọng của sự nghiệp đổi mới GD-ĐT của Đảng và Nhà nước ta, trong đó đổi mới PPDH là vấn đề cấp thiết và quan trọng nhất Việc đổi mới PPDH phải trở
Trang 9thành một ưu tiên chiến lược để tìm giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy học và phải được thực hiện đồng bộ trong tất cả các môn học ở trường THPT trong đó có môn lịch sử
Lịch sử là môn học quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, nó giúp HS biết được quá trình phát triển của loài người, dân tộc, nhân loại và có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy việc HS chán và ngại học lịch sử diễn ra rất phổ biến Hiện tượng học sinh không biết lịch sử, nhớ nhầm sự kiện, nhân vật lịch sử không còn xa lạ Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng nay là do PPDH lịch sử của GV chưa đạt hiệu quả và chưa thu hút được sự chú ý của HS Vì vậy vấn đề đặt ra lúc này là cần phải đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Hiện nay, có rất nhiều phương pháp, KTDH tích cực, hiện đại nhưng trong đó sử dụng phương pháp Graph có ưu thế hơn cả trong việc hệ thống hóa kiến thức
Phương pháp Graph có ưu thế đặc biệt trong việc “mô hình hóa” cấu trúc hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, giúp HS có thể thấy được mối quan
hệ giữa các đơn vị kiến thức Đặc biệt Graph có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa,
nó thể hiện được tất cả các yếu tố, các bình diện khác nhau trong một chỉnh thể(mô hình) với những quan hệ ràng buộc với nhau Không chỉ vậy, với tính trực quan, Graph có khả năng biểu đạt những kiến thức của bài học bằng những sơ đồ minh họa dễ nhớ, dễ hiểu, giúp HS nhanh chóng lĩnh hội được kiến thức, củng cố kiến thức bền vững cho HS Ngoài ra khi sử dụng Graph vào dạy học sẽ tạo ra sự hứng thú trong học tâp cho HS do tính chất đa dạng trực quan của các loại Graph, đồng thời còn phát huy được tính sáng tạo của HS Vì vậy trong dạy học lịch sử hiện nay, chúng ta nhất thiết phải vận dụng phương pháp Graph để phát huy tính tích cực của
HS, góp phần nâng cao hiệu quả bài dạy và chất lượng dạy học lịch sử
Tuy nhiên việc vận dụng phương pháp Graph vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế và không được GV thường xuyên sử dụng hoặc nếu sử dụng cũng chỉ dừng lại ở việc dùng Graph để minh họa cho các kiến thức bài giảng của mình mà chưa cho HS được trực tiếp làm việc với Graph Việc sử dụng phương pháp Graph một cách không hợp lý sẽ khiến cho HS không hiểu hết ý nghĩa của Graph mà GV đưa ra, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc, làm giảm hiệu quả của phương pháp Graph Nếu sử dụng phương pháp
Graph trong dạy học lịch sử một cách hợp lí thì sẽ đảm bảo được yêu cầu “dạy là
Trang 10dạy để mà học, dạy cách học cho học sinh và học là học dưới sự điều kiển, hướng
dẫn, tổ chức của thầy.” [42, tr 24]
Từ những lý do chủ yếu trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng phương pháp
Graph trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường THPT” làm đề
tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sử dụng phương pháp Graph trong quá trình dạy học nói chung và môn lịch sử nói riêng từ lâu đã được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục học Đây là nguồn tài liệu quý báu để tác giả thực hiện khóa luận của mình
2.1.Các tài liệu, công trình nước ngoài nghiên cứu về Graph
“Lý thuyết Graph (còn được gọi là lý thuyết sơ đồ) ra đời từ hơn 250 năm
trước Lúc đầu lý thuyết này chỉ giải quyết những bài toán có tính chất giải trí Mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX, thì lý thuyết Graph mới thực sự được xem là một ngành toán học riêng biệt”[34;tr3]
Việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học được quan tâm vào những năm 60 của thế kỷ XX với một số công trình của các nhà khoa học Xô Viết Người đầu tiên nghiên cứu nguyên lý về xây dựng một Graph định hướng cho
việc dạy học là A.M XoKhor Năm 1965, “ ông đã vận dụng một số quan điểm của
lý thuyết Graph để mô hình hóa một đoạn nội dung trong tư liệu sách giáo khoa môn Hóa Điều này đã giúp cho HS phát hiện các nội dung tư liệu một cách trực quan và thấy được mối quan hệ giữa chúng với nhau”.[34; tr3]
Năm 1965, V.X.Polosin “dùng phương pháp Graph để diễn tả trực quan
diễn biến hoạt động dạy và học của thầy và trò khi thực hiện một thí nghiệm Hóa học đã tạo ra một bước tiến mới trong việc vận dụng lí thuyết Graph”.[34; tr3]
Năm 1972, V.P.Garkumop đã “sử dụng phương pháp Graph để mô hình hóa
các tình huống của dạy học nêu vấn đề, trên cơ sở đó ông đã phân loại các tình huống khác nhau của dạy học nêu vấn đề”.[34;tr14]
Tuy nhiên các công trình của XoKhor, Poloxin, Garkumop mới chỉ dừng lại
là nghiên cứu phương pháp khoa học trong lý luận dạy học
Sau này có một số nhà nghiên cứu và GV đã đưa phương pháp Graph vào kiểm nghiệm trong giảng dạy và thấy rõ được hiệu quả khi sử dụng phương pháp
Trang 11này vào dạy học Một số công trình tiêu biểu như: “Graph và ứng dụng của nó” của tác giả L.Lu.Berezina “Cuốn sách này đề cập đến khái niệm cơ bản của lý thuyết
Graph và ứng dụng của lý thuyết Graph đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và điều khiển” [34;tr4] “Graph và mạng lửa hữu hạn” của R.Baxep và “lý thuyết Graph”
của V.V Belop đều có “những nội dung định hướng việc ứng dụng Graph vào
nghiên cứu, giảng dạy ở các bộ môn tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học”.[34;tr4]
Năm 1973, tác giả Nguyễn Như Ất đã vận dụng “lí thuyết Graph” kết hợp với “phương pháp ma trận” để xây dựng cấu trúc nội dung dạy học theo quan điểm cấu trúc hệ thống
2.2 Các tài liệu, công trình trong nước nghiên cứu về Graph
Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu và vận dụng “lý thuyết Graph” thành PPDH trong hệ thống lí luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông là GS Nguyễn Ngọc Quang GS đã nghiên cứu và vận dụng cơ bản “lý thuyết Graph” trong khoa học giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy hóa học Từ năm 1981 đến năm
1983 GS đã công bố một loạt các bài báo như: “Phương pháp Graph trong dạy
học” (1981); “Phương pháp Graph và lý luận bài toán hóa học” (1982); “Sự chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học” (1983) Trong bài
“Phương pháp Graph trong dạy học” tác giả đã nhận định: “Dạy học theo Graph nội dung, giáo viên có định hướng rõ rệt, nắm chắc được những điều cơ bản, không
sa vào những điều thứ yếu, vụn vặt”; “Học theo Graph nội dung, học sinh dễ dàng định hướng vào cái cơ bản, theo dõi được sự phát triển logic của vấn đề, dựa vào
đó có thể tự lực tái hiện những chi tiết, những chứng minh và sẽ sử dụng sách giáo khoa có hiệu quả và thông minh hơn” [36] Như vậy GS Nguyễn Ngọc Quang đã
đặt nền móng và định hướng cho việc nghiên cứu “lý thuyết Graph” vào dạy học đồng thời khẳng định việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học có giá trị rất lớn và đạt được hiệu quả cao trong dạy học
Năm 1984, Phạm Tư đã có công trình: “Dùng Graph nội dung của bài lên
lớp để dạy chương Nito-Photpho ở lớp 11 trường THPT” Ở công trình này, “tác giả nhấn mạnh những cơ sở lý luận của việc chuyển từ phương pháp nghiên cứu khoa học thành phương pháp dạy học và giới thiệu khái quát từng bước quá trình nghiên cứu thực nghiệm phương pháp Graph ở bộ môn hóa học”[39;tr6] Đến năm
2003, tác giả đã một lần nữa khẳng định hiệu quả của việc sử dụng phương pháp Graph trong việc nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới PPDH bằng cách công bố
Trang 12lượng bài giảng” và “Dạy học bằng phương pháp Graph góp phần nâng cao chất lượng học tập, tự học”
Năm 1987, Nguyễn Chính Trung đã nghiên cứu đề tài: “Dùng phương pháp
Graph lập trình tối ưu và dạy môn sử dụng thông tin trong chiến dịch” Với đề tài
này, tác giả đã nghiên cứu chuyển hóa lý thuyết Graph toán học thành PPDH áp dụng vào lĩnh vực giảng dạy quân sự
Trong những năm gần đây, nhất là sau khi thực hiện các chương trình cải cách giáo dục các bài nghiên cứu, bài viết về việc sử dụng phương pháp Graph đã
có những bước chuyển nhất định Ứng dụng “lý thuyết Graph” được mở rộng ở nhiều môn học khác nhau Có thể kể đến các tác giả sau:
Năm 2000, Phạm Thị My đã chọn đề tài: “Ứng dụng lí thuyết Graph xây
dựng và sử dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh” để nghiên
cứu cho luận văn thạc sĩ của mình Với công trình này, “tác giả đã đưa ra cách
phân loại sơ đồ dựa theo nội dung kiến thức trong chương trình sinh học phổ thông, xây dựng các sơ đồ về các nội dung kiến thức môn sinh học và đưa ra một số biện pháp sử dụng sơ đồ”.[33;tr9]
Năm 2002, Phạm Minh Tâm đã nghiên cứu “Sử dụng Graph vào dạy học địa
lý lớp 12 THPT” trong đó “tác giả đã thiết kế một hệ thống Graph trong dạy học địa lý 12, đề xuất một số cách thức cơ bản để áp dụng hệ thống này vào thực tiễn dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn địa lý”.[41;tr10]
Năm 2005, Nguyễn Phúc Chỉnh có công trình “Sử dụng phương pháp Graph
nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học phần sinh thái học” và công trình “Nâng cao hiệu quả dạy học giải phẫu sinh lý người ở THCS bằng áp dụng phương pháp Graph” Tác giả đã thiết kế một số “Graph nội dung”
và “Graph hoạt động” cho nội dung giải phẫu sinh lý người nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học môn sinh học
Trong bộ môn lịch sử, để nâng cao hiệu quả dạy học thì vấn đề sử dụng sơ đồ cũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm:
Năm 1966 GS.Phan Ngọc Liên trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở
trường phổ thông cấp 3” của GS.Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị (chủ biên) đã đặt
ra vấn đề sử dụng “sơ đồ trực quan” trong dạy học lịch sử Vấn đề này tiếp tục được
tìm hiểu, bổ sung trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 2 của
Trang 13GS.Phan Ngọc Liên Trong cuốn sách này GS đã giành một dung lượng khá lớn để viết về tác dụng của sơ đồ trong dạy học lịch sử
Gần đây nhất vào năm 2008 trong cuốn “Đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học lịch sử ở trường phổ thông” do GS chủ biên có nội dung bài viết “Sử dụng phương pháp Graph hướng dẫn học sinh ôn tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT” của tác giả Trịnh Đình Tùng và Hoàng Thanh tú Nội dung cơ bản của công
trình này viết về “lý thuyết Graph”, một số loại Graph thường dùng và đưa ra một
số ví dụ về việc sử dụng phương pháp Graph nhằm hệ thống hóa kiến thức trong các bài ôn tập, tổng kết
Năm 2007, Nguyễn Thị Thủy với đề tài “Sử dụng phương pháp Graph trong
dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 lớp 12 THPT” đã đề xuất quy trình
sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử và đưa ra một số Graph nội dung bài học phần lịch sử 12 giai đoạn 1945-1954 để GV có thể áp dụng, nâng cao chất lượng dạy học
Như vậy với việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu, vận dụng “lý thuyết Graph” vào quá trình dạy học đã ngày càng được nhiều người quan tâm đến Tuy nhiên chưa có công trình nào tìm hiểu sâu về việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần LSTG cận đại (SGK Lịch sử lớp 10) Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu khóa luận tôt nghiệp của mình
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quá trình dạy học LSTG cận đại từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỷ XVIII (SGK, lớp 10 chương trình chuẩn) ở trường THPT có sử dụng phương pháp Graph
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc sử dụng phương pháp Graph trong việc thiết kế, tổ chức hướng dẫn HS bài tìm hiểu kiến thức mới, bài ôn tập, tổng kết và hướng dẫn học sinh tự học ở nhà phần LSTG cận đại lớp 10 ở trường THPT
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4.1 Mục đích
Trang 14Trên cơ sở “nghiên cứu lí luận dạy học” nói chung và thực tiễn của việc DHLS ở trường THPT nói riêng, đề tài nhằm:
- Đi sâu tìm hiểu vai trò, ý nghĩa của phương pháp Graph đối với việc dạy học lịch sử
- Đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần LSTG cận đại lớp 10 ở trường phổ thông
- Đề xuất một số lưu ý khi thiết lập Graph bài học và một số biện pháp sử dụng phương pháp Graph trong phần LSTG cận đại lớp 10
4.2 Nhiệm vụ
Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu “cơ sở lí luận” và “thực tiễn” của việc vận dụng phương pháp Graph vào dạy học phần LSTG cận đại lớp 10 ở trường phổ thông
- Điều tra thực trạng về việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Nguyên tắc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần LSTG cận đại lớp 10 ở trường THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những đề xuất đưa ra
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng phối hợp nhiều phương pháp trong đó có các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Nghiên cứu các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng
Trang 15- Phương pháp điều tra và khảo sát: Điều tra thực tế ở trường THPT qua các hình thức: quan sát, dự giờ, phiếu điều tra, trao đổi với GV về thực tế giảng dạy và
sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định các biện pháp sư phạm đề xuất trong đề tài Từ đó có cơ sở thực tiễn khẳng định tính đúng đắn cũng như tính khả thi của các biện pháp sư phạm đó
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập được một cách chính xác, đáng tin cậy với các kết quả thu được trong
quá trình điều tra, khảo sát và thực nghiệm
6 Ý nghĩa của đề tài
Trong thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông, phương pháp Graph chưa được nhiều GV quan tâm và vận dụng đúng cách Đề tài tập trung giải quyết những vấn đề tồn tại, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung
và dạy học phần LSTG cận đại lớp 10 nói riêng Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài giúp bản thân nắm chắc hơn kiến thức bộ môn lịch sử
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần lịch sử thế giới cận dại lớp 10 ở trường THPT
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ
THẾ GIỚI CẬN ĐẠI LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học
Khái niệm “phương pháp” xuất phát từ thuật ngữ Hy Lạp “Methodos”, có
nghĩa là “con đường nghiên cứu”, “cách nhận thức” “Phương pháp là hệ thống các
nguyên tắc điều kiển hoạt động cải tạo hiện thực hay hoạt động nhận thức lí luận của con người”[11;tr16] Phương pháp có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động
của con người, nhất là hoạt động giáo dục
Bách khoa toàn thư của Liên Xô năm 1965 định nghĩa rằng: “phương pháp
dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức” [20; tr47]
Theo I.la Lence cho rằng: “PPDH là một hệ thống những hành động có mục
đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của HS, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn”.[8;tr 46]
Theo GS.Nguyễn Ngọc Quang: “PPDH là cách thức làm việc của thầy và
trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, tích cực, tự lực, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học”.[6; tr23]
Theo GS.Đặng Vũ Hoạt-PGS Hà Thị Đức: “PPDH là tổng hợp cách thức
hoạt động của GV và HS nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề ra” [6; tr45]
Xuất phát từ những quan điểm về PPDH nói trên , ta có thể hiểu PPDHlà hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của GV nhằm tổ chức “hoạt động nhận thức” và “hoạt động thực hành” cho HS nhằm đảm bảo cho
HS lĩnh hội nội dung dạy học
Trang 17Trong môn lịch sử: “PPDH lịch sử là một khoa học nghiên cứu quá trình
dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nghiên cứu các quy luật của quá trình dạy học lịch sử, xác định nội dung, hình thức tổ chức và PPDH phù hợp với đặc trưng bộ môn, tâm lý người học và mục tiêu đào tạo của nhà trường”.[11;tr28]
1.1.1.2 Khái niệm về phương pháp Graph
Theo từ điển Tiếng Anh, Graph (danh từ) có nghĩa là “biểu đồ biểu diễn
cách mà hai hay nhiều tập hợp số liên quan với nhau” Graph (động từ) nghĩa là
“vẽ sơ đồ, vẽ đồ thị, minh họa bằng đồ thị, vẽ mạng, vẽ mạch” Graph (tính từ) có
nghĩa là “thuộc tính của sơ đồ, đồ thị, thuộc về sơ đồ, đồ thị, mạng mạch”.[45;tr15]
Theo lý thuyết Toán học, “một Graph gồm một tập hợp điểm gọi là
đỉnh(vertiex) của Graph cùng với một tập hợp đoạn thẳng hay đường cong gọi là cung (edge) của Graph Mỗi cung của Graph nối hai đỉnh khác nhau hoặc hai đỉnh khác nhau được nối nhiều nhất là một cung của Graph” [45;tr18] Như vậy để có
thể thiết lập một Graph hoàn chỉnh thì cần phải có hai yếu tố là các đỉnh và các cung của Graph Mỗi cung của Graph sẽ nối một cặp đỉnh có mối quan hệ với nhau
Đỉnh của Graph biểu thị một nội dung kiến thức hay một đối tượng nghiên cứu nào đó Mỗi đỉnh của Graph có thể được kí hiệu bằng một chữ cái (A,B,C, ), chữ số (1,2,3,…) hoặc bằng các dạng hình học (hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật,…)
Cung của Graph là đường nối các đỉnh của Graph, biểu thị mối quan hệ giữa các đỉnh của Graph Các cung của Graph được hiểu hiện bằng nhiều hình thức đa dạng, có thể là đoạn thẳng, đường gấp khúc, đường cong,…dài, ngắn, đậm nhạt khác nhau nhưng phải thống nhất trong cách sử dụng để các cung của Graph vừa thể hiện được mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức lại vừa có hình thức đẹp, rõ ràng
Tuy nhiên, cần phải lưu ý, bản chất của Graph không phụ thuộc vào cách kí hiệu, cách biểu thị các cung, các đỉnh mà bản chất của Graph thể hiện ở số lượng các đỉnh, các cung của Graph và mối liên hệ giữa các đỉnh của Graph
Graph có thể được biểu diễn dưới dạng “sơ đồ”, dạng “biểu đồ quan hệ” hoặc dạng “ma trận” Một Graph có thể có nhiều cách thể hiện khác nhau nhưng quan trọng nhất là Graph đó phải thấy được mối liên hệ giữa các đỉnh
Trong việc dạy học hiện nay, khi GV sử dụng phương pháp Graph để dẫn dắt
HS tìm hiểu nội dung của bài học bằng cách triển khai dần các đỉnh của Graph thì
Trang 18Theo T.S Nguyễn Phúc Chỉnh “phương pháp Graph dạy học được hiểu là
phương pháp tổ chức rèn luyện tạo được những sơ đồ học tập ở trong tư duy của học sinh Trên cơ sở đó hình thành một phong cách tư duy khoa học mang tính hệ thống” [34, tr11]
Hiện nay phương pháp Graph không chỉ được sử dụng trong các ngành KHTN ( toán, lý, hóa,…) mà đã được vận dung một cách sáng tạo sang các ngành KHXH trong đó có môn lịch sử thông qua việc xử lý sư phạm của GV, góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.1.2 Phân loại Graph
Trong dạy học lịch sử, có thể chia thành các loại Graph sau:
Đường trục thời gian: là loại Graph được thiết kế bằng một mũi tên định hướng(còn được gọi là cung), còn đỉnh là các hình quy ước thể hiện các sự kiện và các mốc thời gian tương ứng Loại Graph này thường được sử dụng để tái hiện diễn biến của một trận đánh, chiến dịch,… Hiện nay, HS thường rất ngại khi tìm hiểu diễn biến do diễn biến trong SGK còn dài, có nhiều mốc thời gian cần phải ghi nhớ Tuy nhiên khi sử dụng đường trục thời gian vào dạy học những sự kiện, mốc thời gian sẽ được mô hình hóa, khái quát hóa dưới dạng Graph giúp HS nhìn thấy rõ những sự kiện, mốc thời gian quan trọng, từ đó giúp HS ghi nhớ diễn biến một cách
14/7/1789 tấn công ngục Baxti
phái Lập hiến được thành lập
8/1789 thông qua tuyên ngôn
“Nhân Quyền
và Dân Quyền”
5/5/1789
Hội nghị ba
đẳng cấp
9/1789 Hiến pháp được thông qua
4/1792 Chiến tranh Pháp-liên quân Áo Phổ
Trang 19lịch sử nhất định GV cần phải củng cố lại kiến thức cho HS, để HS có thể nhớ lại những kiến thức đã được học Việc sử dụng Graph chuỗi sẽ giúp tái hiện, tổng kết,
ôn tập lại các sự kiện, mốc thời gian của các bài đã học, sau đó gắn thành một chuỗi các sự kiện quan trọng của một giai đoạn lịch sử có mối quan hệ với nhau Vì vậy
sử dụng Graph chuỗi trong dạy học lịch sử, HS sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức, từ đó nắm vững được những sự kiện của một giai đoạn mà HS cần phải nhớ đồng thời cũng thấy được tiến trình phát triển của lịch sử
Ví dụ: Graph chuỗi “Sự hình thành chủ nghĩa đế quốc”
Graph mạng: là loại Graph với một đỉnh ở trung tâm và các mũi tên định hướng nối các đỉnh khác Đỉnh ở trung tâm sẽ thể hiện một nội dung khái quát, còn các đỉnh kết nối sẽ diễn tả các nội dung chi tiết, bổ sung cho đỉnh khái quát Graph này thường được dùng để giải thích các khái niệm
Trong việc dạy học lịch sử, để hiểu được bản chất của một sự kiện, hiện tượng lịch sử thì HS cần phải nắm vững khái niệm Vì vậy việc hình thành khái niệm cho HS trong dạy học lịch sử là rất quan trọng Nếu trình bày khái niệm thiếu trọng tâm , lan man sẽ làm cho HS khó định hướng khi tiếp nhận thông tin Nhưng khi sử dụng Graph mạng , nội dung của khái niệm sẽ được mô hình hóa, khái quát hóa thành từng đỉnh của Graph Chính điều này sẽ giúp cho HS hiểu được bản chất của khái niệm một cách dễ dàng hơn
Tích tụ vốn TBCN
Sự hình thành các tổ chức độc quyền dưới nhiều hình thức như Các-ten, Xanh-đi-ca,…
Các nước tư bản chuyển từ giai đoạn tự
do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc
Trang 20Ví dụ: Sơ đồ giải thích khái niệm “Cách mạng tư sản”
Graph cây: là loại Graph có một đỉnh gốc và các mũi tên định hướng, kết nối với các đỉnh nhánh Do vậy, đỉnh gốc sẽ diễn tả nội dung kiến thức mang tính khái quát và các đỉnh nhánh sẽ diễn tả nội dung chi tiết Đây là loại Graph được dùng phổ biến nhất Graph cây có thể sử dụng trong nhiều nội dung bài học khác nhau nhưng thường dùng để trình bày nguyên nhân, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội,… Khác với các loại Graph ở trên Graph cây có thể mô hình hóa một khối lượng lớn kiến thức trong tài liệu SGK giúp HS có cái nhìn tổng quát nhất những nội dung kiến thức của một bài, chương đồng thời cũng giúp HS hiểu sâu, ghi nhớ lâu những kiến thức quan trọng của bài học
Ví dụ: Graph cây “Nguyên nhân bùng nổ cuộc cách mạng tư sản Pháp”
Lãnh đạo
Giai cấp tư sản
Nhiệm vụ: Đánh
đổ giai cấp phong kiến, mở đường cho CNTB phát
Động lực Quần chúng nhân dân
Nguyên nhân bùng nổ Cách mạng tư sản Pháp
Nguyên nhân sâu sa Nguyên nhân trực tiếp
“Tư tưởng triết học Ánh sáng”
mở đường cho cách mạng
Chính trị: Duy trì chế độ “quân chủ chuyên chế”
Xã hội: Mâu thuẫn giữa đẳng cấp thứ
ba, với tăng lữ , quý tộc
Vua Lui XVI triệu tập “hội nghị
ba đẳng cấp” để vay tiền và ban hành thêm thuế mới Đẳng cấp thứ 3 phản đối
Trang 21*Ưu điểm và hạn chế của phương pháp Graph
Việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học có những ưu thế sau:
- Trực quan hóa nội dung kiến thức lịch sử, giúp HS dễ dàng ghi nhớ và tái hiện tri thức về nội dung của bài học “Ngôn ngữ Graph” ngắn gọn, súc tích, chứa đựng đầy đủ thông tin sẽ giúp cho việc xử lý thông tin nhanh gọn và chính xác
- Khái quát hóa nội dung kiến thức bài học một cách logic Khi kết thúc một bài học, nhìn vào Graph, HS sẽ thấy được nội dung kiến thức chọn lọc nhất, cơ bản nhất của bài từ đó giúp HS dễ hiểu bài và ghi nhớ kiến thức lâu hơn
- Sơ đồ hóa kiến thức giúp HS ôn tập một cách hiệu quả nhất Graph không chỉ giúp HS ghi nhớ dễ dàng mà còn giúp HS có thể thấy được sự phát triển, bản chất giữa của các sự kiện từ đó giúp tư duy của HS trở nên rõ ràng và khúc triết hơn
- Giúp cho GV và HS sử dụng SGK hiệu quả hơn
Ngoài những ưu điểm trên thì phương pháp Graph cũng có những hạn chế:
- Sơ đồ thể hiện kiến thức hệ thống và khái quát cao nên những nội dung kiến thức một cách chi tiết không phù hợp để sử dụng nên chỉ có thể sử dụng với một số nội dung phù hợp trong chương trình
- Việc thiết kế sơ đồ trải qua nhiều bước, mất nhiều thời gian Để có một sơ
đồ dạy học đầy đủ nội dung, hình thức đẹp, có hiệu quả thì người lập sơ đồ cần phải
tỉ mỉ, kiên nhẫn, có ý tưởng sáng tạo
1.1.3 Đặc trưng của kiến thức lịch sử
Thứ nhất là tính quá khứ: Môn lịch sử là bộ môn thuộc ngành KHXH,
nghiên cứu những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá khứ “Tất cả những sự kiện,
hiện tượng lịch sử được nhắc đến thì đều là những chuyện đã xảy ra nên HS không thể quan sát trực tiếp mà chỉ có thể nhận thức gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại”[11;tr139] Có rất nhiều cách để GV có thể tái hiện lại các sự kiện lịch sử
như cho HS được trực tiếp làm việc với các nhân chứng lịch sử, thông qua phim ảnh, những câu chuyện, câu thơ và một trong những cách đạt hiệu quả cao là dùng phương pháp Graph để “sơ đồ hóa kiến thức” kết hợp với hình ảnh, lời nói của GV
Thứ hai là tính không lặp lại Trong lịch sử, không có sự kiện, hiện tượng
lịch sử nào là giống nhau “Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra duy nhất một
Trang 22điều này đỏi hỏi khi GV trình bày một sự kiện, hiện tượng lịch sử phải xem xét tính
cụ thể cả về thời gian và không gian làm này sinh sự kiện, hiện tượng đó”[11;tr140]
Thứ ba là tính cụ thể Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể
của các nước, các dân tộc khác nhau “Tuy bị tác động của những yếu tố chung (đời
sống vật chất, đời sống tinh thần) nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc lại không hoàn toàn giống nhau do mỗi quốc gia, dân tộc có nét văn hóa riêng, diện mạo riêng, điều kiện quy định riêng Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu” [11;tr140].Việc sử dụng phương pháp Graph để dạy học
sẽ làm cho không khí bài học sôi nổi HS sẽ được tự tay thiết kế các Graph theo ý tưởng của nhóm hoặc cá nhân mình Khi thiết kế, HS có thể sử dụng các màu sắc, hình khối khác nhau, các bức tranh tương ứng với nội dung kiến thức (tùy theo ý tưởng) để làm cho Graph thêm sinh động và hấp dẫn
Thứ tư là tính hệ thống (tính logic lịch sử) “Môn lịch sử bao gồm rất nhiều nội dung kiến thức phong phú, đề cập đến mọi mặt của đời sống xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, ngoại giao,…”[11;tr141] Các nội dung kiến
thức này được sắp xếp một cách logic, có hệ thống.Vì vậy khi tìm hiểu về một sự kiện hiện tượng lịch sử phải đặt nó trong mối quan hệ với các sự kiện hiện tượng lịch sử khác cùng thời để tìm ra bản chất và quy luật lịch sử Việc sử dụng phương pháp Graph sẽ góp phần giúp HS thấy được mối liện hệ giữa các sự kiện lịch sử của từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử, đặc biệt là giúp HS thấy được bản chất của lịch sử)
Thứ năm là tính hệ thống giữa “sử” và “luận”: Phần “sử” và phần “luận” là
hai phần cơ bản mà HS cần lĩnh hội trong quá trình học tập “Phần sử được tạo
thành bởi nhiều yếu tố như thời gian, địa điểm, nhân vật, diễn biến, kết quả bao gồm các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong xã hội loài người (lịch sử thế giới) cũng như của dân tộc (lịch sử dân tộc) Phần luận là cách giải thích, đánh giá, nhận xét, bình luận về các sự kiện lịch sử đã xảy ra.Trong môn lịch sử, hai phần sử
và luận có sự thống nhất cao độ, không tách rời”[11;tr145] Vì vậy, khi dạy học
lịch sử bên cạnh việc trình bày các sự kiện lịch sử thì GV cần phải giải thích, đánh giá sự kiện đó để HS có thể nắm rõ bản chất của sự kiện
Từ những đặc trưng trên có thể thấy việc dạy và học lịch sử ở trường THPT khác với các môn KHTN (toán, lý, hóa,…) Vì vậy , trong dạy học lịch sử GV có
Trang 23thể sử dụng phương pháp Graph kết hợp với nhiều PPDH khác nhau như thuyết trình, vấn đáp, KTDH tích cực, dạy học theo dự án,… để có thể giúp HS đi từ “hiểu đến biết,” từ “cung cấp sự kiện đến tạo biểu tượng lịch sử” giúp các em có thể tái tạo lại quá khứ, trên cơ sở đó hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn đồng thời hình thành các năng lực cần thiết cho HS
1.1.4 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh THPT
“Học sinh THPT thuộc lứa tuổi từ 16-18 về thể chất và cấu tạo bộ não đã gần đạt tới sự hoàn thiện như người lớn Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành nhưng còn kém so với người lớn”[15] Sự phát triển
về thể chất và tư duy ở lứa tuổi này có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của các
em Về tâm lý, có em có một số nét đáng chú ý sau:
Thứ nhất về sự hình thành thế giới quan: Đây là nét chủ yếu trong tâm lý của
HS giai đoạn này.Trên cơ sở các kiến thức khoa học mà các em đã tích lũy, các em dần xây dựng cho mình quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển của tự nhiên
và xã hội Lúc này các em đã có quan điểm về tự nhiên, xã hội, các nguyên tắc ứng
xử, những định hướng giá trị về con người
Thứ hai về sự phát triển của tự ý thức: Ở giai đoạn lứa tuổi này ý thức bản thân hay tự ý thức đã phát triển mạnh Các em đã bắt đầu đưa ra những quan điểm
về mục đích cuộc sống Các em cho rằng mình đã là người lớn và đòi hỏi mọi người phải đối xử và tôn trọng những ý kiến của mình Trong các hoạt động nhất là hoạt động chủ đạo, các em đã hình thành thái độ “tự khẳng định mình”, muốn thể hiện mình theo cách riêng và muốn được mọi người chú ý đến mình Theo Hà Thế Ngữ
thì lứa tuổi này: “mong muốn khẳng định giá trị phẩm chất và năng lực của bản
thân, mong muốn tự lập, mong muốn làm những việc có ý nghĩa,…”[13; tr72]
Thứ ba là hoạt động học tập Do đặc tính cơ bản là thái độ tự khẳng định mình, muốn tự lực, độc lập và thể hiện mình là người lớn nên hứng thú của HS khi học tập cũng phát triển mạnh Các em không chỉ thích hoạt động thực hành mà còn hứng thú trong hoạt động nhận thức Lúc này ham muốn tìm hiểu về thế giới xung quanh, tìm hiểu tri thức của các em là rất lớn Nhà tâm lý học người Nga Petrvski
đã nói: “ Tính ham học hỏi và tính tò mò là những đặc điểm của thiếu niên Nó mở
rộng tâm hồn để hấp thụ cái mới, cái thú vị và lớn lao, như cái bọt biển thấm hút
Trang 24những tin tức khác nhau, song xu hướng ưu thế của tính ham hiểu biết có thể khác nhau”[15; tr153]
Thứ tư là hoạt động giao tiếp Ở lứa tuổi này, quan hệ bạn bè chiếm vị trí quan trọng và chủ đạo Vì vậy GV cần tạo điều kiện để HS phát triển quan hệ giao tiếp, hợp tác trong tập thể nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục đề ra
Thứ năm về khả năng ghi nhớ Khả năng ghi nhớ của HS ở tuổi này đã có sự phát triển rõ rệt Các em đã có biện pháp để ghi nhớ một cách khoa học như đánh dấu, khái quát lại những ý trọng tâm, lập bảng liệt kê và bảng so sánh Các em cũng biết tài liệu nào cần nhớ cụ thể, tài liệu nào cần hiểu Vì vậy GV cần chú ý bồi dưỡng cho các em khả năng ghi nhớ logic, hệ thống hóa kiến thức trong quá trình học tập
Thứ sáu về khả năng quan sát: Ở lứa tuổi khả năng quan sát của các em đã bắt đầu phát triển có hệ thống Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường bị yếu tố bên ngoài tác động Vì vậy GV cần quan tâm và có những biện pháp để hướng sự quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định
Thứ bảy về hoạt động tư duy: HS lứa tuổi này phát triển mạnh về tư duy hình thức, lý luận và trừu tượng ngày cáng phát triển và chiếm ưu thế Tư duy của các
em giai đoạn này cũng đã nhất quán và chặt chẽ hơn Những điều này giúp cho HS
có thể phân tích được nội dung của các khái niệm và mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên, xã hội
Như vậy với sự trưởng thành về tư duy, khả năng ghi nhớ và ý thức học tập đòi hỏi người GV cần có những định hướng đúng đắn, những PPDH phù hợp với từng bài học để có thể giúp các em nâng cao được khả năng tư duy và rèn luyện các
kỹ năng trong học tập Việc sử dụng phương pháp Graph vào dạy học có tác động lớn đến HS, giúp HS hình thành “kỹ năng quan sát” và “ghi nhớ kiến thức một cách logic, có hệ thống” từ đó giúp HS dễ dàng ghi nhớ kiến thức đồng thời cũng giúp
HS phát triển “khả năng tư duy”, “sự sáng tạo”, “khả năng giao tiếp” và phát huy hứng thú học tập của HS
Cùng với sự phát triển ngày càng hoàn thiện các đặc điểm về thể chất và tâm
lý thì các hoạt động nhận thức của HS giai đoạn này cũng ngày càng đạt đến trình
độ cao Trong quá trình học tập lịch sử, quá trình nhận thức của HS đi từ giai đoạn
“nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính” “Quá trình nhận thức của HS bắt đầu
từ việc tri giác tài liệu về sự kiện, quá trình lịch sử để tạo biểu tượng Sau đó bằng
Trang 25các hoạt động của tư duy, tích cực độc lập, HS đi đến những tri thức trừu tượng, khái quát hóa”.[16;72]
Tuy nhiên khác với quá trình nhận thức chung của loài người, của các nhà khoa học thì quá trình nhận thức của HS được tiến hành trong quá trình dạy học, dưới sự hướng dẫn của GV Quá trình nhận thức này được diễn ra theo con đường
đã được khám phá, HS chỉ phải nhận thức cái mới cho bản thân mình Những kiến thức HS cần nắm vững trong quá trình học tập chỉ là những kiến thức phổ thông cơ bản, được rút ra từ các nhà khoa học và đã được gia công về mặt sư phạm
Tóm lại , đặc điểm nhận thức của học sinh THPT chính là một trong những
cơ sở không thể thiếu để GV dựa vào đó lựa chọn những hình thức tổ chức dạy học, PPDH phù hợp Nhiệm vụ của người GV là phát triển toàn diện khả năng nhận thức của HS đồng thời phát huy được tính tích cực, tự giác học tập của HS Sử dụng phương pháp Graph để phát triển năng lực tư duy, tính tích cực học tập cho HS trong việc tiếp thu kiến thức lịch sử
1.1.5 Vai trò ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.5.1.Vai trò của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Vai trò của Graph trong dạy học là khai thác thông tin một cách hiệu quả và phát huy năng lực nhận thức cho HS Phương pháp Graph có nhiều ưu thế trong việc mô hình hóa cấu trúc của hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn từ đơn giản đến phức tạp Graph hóa nội dung kiến thức lịch sử là hình thức diễn đạt tối ưu mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử Phương pháp Graph cũng thể hiện rõ vai trò phát triển của các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, và hình thành năng lực tự học cho HS Thông thường, khi học môn lịch sử, HS chỉ ghi nhớ nội dung bài học lịch sử khi bài học lịch sử đó thật sự hay và ấn tượng Tuy nhiên HS lại có thể lưu giữ một sơ đồ những khái niệm, diễn biến,… Vì thế phương pháp Graph là một phương pháp hữu hiệu cho cả GV và HS trong học tập môn lịch sử
*Đối với giáo viên
Thứ nhất phương pháp Graph là công cụ để cấu trúc lại nội dung kiến thức của bài học một cách có hệ thống, giúp GV không sa vào các kiến thức “thứ yếu”,
“vụn vặt” Đây là phương pháp để GV có thể xử lý kiến thức trong SGK một cách
Trang 26hữu hiệu, giúp GV sắp xếp, “mã hóa” các nội dung kiến thức một cách logic, ngắn gọn để truyền tải đến HS, tạo điều kiện cho HS ghi nhớ dễ dàng
Thứ hai khi sử dụng phương pháp Graph, GV sẽ tổ chức được các “hoạt động nhận thức” cho HS đồng thời cũng giúp GV kiểm tra được kiến thức, kĩ năng của HS
Thứ ba việc lập Graph bài học sẽ giúp cho GV việc xây dựng cấu trúc bài soạn của mình một cách hợp lý, giúp bài giảng của GV phản ánh được mục tiêu của chuẩn kiến thức cơ bản, và cũng định hướng cho HS vào những nhận thức cụ thể
Tóm lại khi sử dụng phương pháp Graph trong môn lịch sử sẽ giúp GV hoàn thành được nhiệm vụ truyền tải kiến thức đến HS trên tinh thần chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và hoạt động học tập của HS trong lớp Phương pháp Graph chính là một phương pháp hữu hiệu giúp GV sáng tạo ra những bài giảng với những hình thức mới, tạo sự hứng thú cho học sinh, tránh được cảm giác nhàm chán, tẻ nhạt khi học lịch sử
*Đối với học sinh
“Truyền và nhận thông tin”, “xử lý thông tin”, “lưu trữ và vận chuyển” thông tin là 3 giai đoạn của quá trình dạy học:
“Truyền thông tin” không chỉ là đơn thuần truyền từ “GV đến HS” mà còn phải truyền từ “HS đến HS” Các kênh truyền tải thông tin là “kênh hình”, “kênh chữ”, “kênh tiếng”,… trong đó “kênh hình” có năng lực chuyền tải thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất Phương pháp Graph có tính trực quan, các kiến thức cơ bản của bài học sẽ được “mô hình hóa” dưới dạng sơ đồ nhờ đó HS có thể tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất, chính xác nhất và cô đọng nhất
“Xử lý thông tin” là sử dụng thao tác tư duy nhằm phân tích , phân loại thông tin vào những hệ thống nhất định Quá trình này đòi hỏi HS cần phải có sự tư duy tốt để có thể xử lý tốt những thông tin mình nhận được Tuy nhiên Graph có tác dụng “mã hóa” các thông tin theo những hệ thống logic hợp lý giúp việc xử lý thông tin của HS đạt được hiệu quả cao hơn
“Lưu trữ thông tin” nghĩa là khả năng ghi nhớ của HS Với những phương pháp dạy học truyền thống (thầy đọc-trò chép) sẽ yêu cầu HS học thuộc lòng vì vậy
HS nhanh quên Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp Graph sẽ giúp HS ghi nhớ một cách khoa học, có hệ thống Việc ghi nhớ bằng Graph sẽ giúp cho việc tái hiện và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt hơn Điều này đã được nhà giáo dục
Trang 27Khalamop nhấn mạnh: “Học sinh quên tương đối nhanh lời phát biểu của các quy
tắc, kết luận và các khái quát lí thuyết và ghi nhớ vững chắc hơn nhiều những lời chứng minh logic cũng như các khái quát đã được hình thành trên cơ sở những thí
dụ và sự kiện rõ ràng và đã được củng cố trong quá trình luyện tập, thực hành Chỉ
có một hệ thống hợp lý các bài luyện tập đòi hỏi học sinh phải có những phương pháp đa dạng để tiếp thu tài liệu học tập và một sự căng thẳng trí tuệ cao mới cho phép đạt được những kiến thức sâu sắc và bền vững” [7; tr 12]
1.1.5.2.Ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT
*Về kiến thức
Khi sử dụng phương pháp Graph vào học tập lịch sử, các nội dung kiến thức trong SGK, sẽ được hệ thống hóa dưới dạng cô đọng và ngắn gọn nhất, giúp HS một mặt nắm vững các kiến thức trọng tâm của bài học, một mặt khác giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức để từ đó hình thành được các khái niệm và quy luật phát triển của lịch sử
*Về kỹ năng
- Kỹ năng khai thác tư liệu lịch sử: Để có thể xây dựng được một Graph nội dung bài học hoàn chỉnh yêu cầu HS phải kết hợp đọc kỹ nội dung SGK để có thể chắt lọc, lựa chọn những kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài kết hợp với việc sử dụng các thao tác tư duy để có thể thấy được mối quan hệ giữa cá sự kiện, hiện tượng lịch sử Đây chính là quy trình gia công, chuyển hóa những “tri thức lịch sử
có trong sách vở thành tri thức của bản thân” Hơn nữa thông qua cách thức học bằng phương pháp Graph, HS sẽ biết sử dụng SGK hiệu quả hơn và thông minh hơn
- Kỹ năng khái quát, tổng hợp các sự kiện lịch sử: Khi lập một sơ đồ Graph, đòi hỏi HS phải nắm vững nội dung của bài học Trên cơ sở đó HS sẽ tìm một Graph thích hợp để “xâu chuỗi các sự kiện đó lại thành một hệ thống” thể hiện bản chất của một thời kỳ hoặc một giai đoạn lịch sử với những nét nổi bật
- Kỹ năng làm việc nhóm: Khi giao bài tập thiết kế Graph sơ đồ nội dung bài học cho một nhóm thì lúc này vai trò của nhóm trưởng rất quan trọng Nhóm trưởng phải nắm được khái quát sơ đồ nội dung, phân chia những việc cần phải làm cho các thành viên trong nhóm Để có thể hoàn thành được sản phẩm các thành viên
Trang 28phải làm việc trên tinh thần hợp tác, liên kết chặt chẽ với nhau Qua hoạt động này
sẽ làm cho các thành viên trong nhóm hiểu nhau hơn, đoàn kết hơn
- Kỹ năng tự học: Khi dạy cho HS cách lập Graph tức là dạy cho các em kĩ năng cơ bản và khái quát nhất của kỹ năng tự học Yêu cầu bắt buộc khi các em lập Graph là các em phải “mã hóa” được những kiến thức của bài, vì vậy bắt buộc các
em tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu Và khi các em lập được Graph của một bài học cũng chính là các em đã nắm được những nội dung cơ bản nhất của bài học đó
- Kỹ năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo: Tùy theo nội dung của bài học, HS sẽ thiết lập một Graph phù hợp, tùy theo sự sáng tạo của HS
- Kỹ năng thuyết trình: Khi trình bày một Graph, yêu cầu HS phải thuyết trình để có thể cho người nghe hiểu được nội dung của Graph đó Chính điều này sẽ tạo điều kiện cho các em rèn luyện và phát triển khả năng thuyết trình của mình trước đám đông
- Khi sử dụng phương pháp Graph trong học tập sẽ hình thành cho HS những phẩm chất tư duy như: tính tích cực, tính độc lập trong suy nghĩ, trong hoạt động, trong nghiên cứu và tính tự lực Khi hình thành được tính tự lực và tính tích cực thì
sẽ hình thành được tính sáng tạo của học sinh trong học tập
* Về thái độ
Thứ nhất giúp HS rèn luyện tinh thần vượt khó, kiên trì trong lao động và học tập Để thiết kế một Graph nội dung bài học cần phải trải qua rất nhiều bước (xử lý tài liệu, xếp đỉnh, lập cung,…) nên yêu cầu HS phải rất “tích cực” và “chủ động”
Thứ hai sử dụng phương pháp Graph góp phần nâng cao tinh thần hợp tác trong học tập và lao động trong tập thể lớp
Thứ ba là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của bài học Các tiết học lich
sử mà HS cho là nhàm chán, vô vị với PPDH truyền thống “thầy đọc-trò chép” sẽ dần được thay thế bằng những tiết học sổi nổi với sự tham gia tích cực vào các hoạt động của HS Lúc này HS sẽ được tự tay thiết kế những Graph bài học theo ý tưởng của riêng mình Điều này sẽ góp phần tăng sự hứng thú của HS khi học tập môn lịch
sử, từ đó góp phần giúp HS yêu thích môn lịch sử hơn
Thứ tư ý thức tự học của HS được nâng cao, HS sẽ tự chủ động, tìm tòi, lĩnh hội các kiến thức để có thể thiết lập một Graph nội dung bài học
Trang 29*Năng lực hình thành
- Năng lực chuyên biệt
+ Năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử
+ Năng lực tái hiện và trình bày lịch sử
+ Năng lực giải thích lịch sử
- Năng lực chung
+ Năng lực giao tiếp và hợp tác
+ Năng lực tự chủ và tự học
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
1.1.6 Định hướng đổi mới PPDH trong DHLS ở trường THPT
Trong xu thế hội nhập như hiện nay, để có thể đưa đất nước phát triển thì chúng ta cần phải đào tạo ra những người lao động mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội Để có thể làm được điều này điều quan trọng nhất là phải phát triển KH-CN hiện đại , giáo dục tiên tiến, đặc biệt là phải tiến hành đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực của người học
Ở nước ta hiện nay, công cuộc đổi mới PPDH đang diễn ra mạnh mẽ Các tài
liệu, văn kiện của Đảng và Chính phủ đều định hướng phải“lấy người học làm
trung tâm, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy, giải quyết vấn đề” [46] Dạy học
lúc này không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức, cung cấp thông tin mà phải dạy cho các em phương pháp học đồng thời cũng cần tăng cường rèn luyện khả năng tự học để các em có thể tự tìm kiếm và xử lý thông tin Chiến lược phát triển
giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã chỉ rõ “Tiếp tuc đổi mới phương pháp dạy học và
đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” [22; tr13] Đặc biệt trong vấn đề
đổi mới dạy học nói chung được pháp chế hóa trong chương II, điều 28, luật Giáo
dục của nước CHXHCNVN “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động , sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh” [22; tr12]
Trang 30Bản chất của đổi mới PPDH ở trường phổ thông nói chung và PPDH lịch sử nói riêng là “chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung” sang hình thức
“dạy học theo hướng phát triển năng lực, lấy HS làm trung tâm” Việc học tập lúc này không chỉ dừng lại ở việc HS nắm được những kiến thức mà phải biết vận dụng những kiến thức đó vào thực tế Việc đánh giá kết quả học tập của HS không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra, tái hiện lại kiến thức mà quan trọng nhất là kiểm tra khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau và khả năng đánh giá thực tiễn cuộc sống Vì vậy phải thay đổi cách dạy học từ “thầy đọc-trò chép, thầy hỏi-trò trả lời” sang “thầy chủ đạo, trò chủ động” “thầy trò cùng tương tác” nhằm phát huy năng lực chung và năng lực chuyên biệt trong môn lịch
sử đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học Trong dạy học, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, là kim chỉ nam, là người tổ chức các hoạt động học tập để HS chủ động tìm hiểu kiến thức mới, phát hiện được vấn đề và tìm cách để giải quyết những vấn đề đó Trong dạy học lịch sử cần chú trọng rèn luyện cho HS kĩ năng tìm kiếm, khai thác các nguồn sử liệu để đưa ra các nhận xét, đánh giá từ đó dần bỏ các thói quen học tập thụ động, loại bỏ PPDH truyền thụ một chiều, nhồi nhét kiến thức,…
Cùng với việc đổi mới PPDH thì hiện nay Bộ GD và ĐT nước ta đang triển khai chương trình thay đổi SGK để cải cách nền giáo dục Nội dung quan trọng nhất của chương trình đổi mới SGK là chuyển từ tập trung kiến thức, kĩ năng sang phát triển năng lực cho HS Điểm đặc biệt của chương trình đổi mới là việc thực hiện chủ trương “một chương trình nhiều bộ SGK”, các nhà trường sẽ dựa vào điều kiện của mình để lựa chọn SGK cho phù hợp
Cũng giống như các môn học khác, môn lịch sử cũng có nhiều sự thay đổi Chương trình môn lịch sử được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực của
HS Nội dung chương trình được thiết kế bao gồm “nội dung cốt lõi” (LSTG, LSVN,các cuộc CMTS…) và “các chủ đề học tập” giúp HS kết nối lịch sử với cuộc sống hiện tại và định hướng cho HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai Với
sự đổi mới này đòi hỏi GV phải thay đổi PPDH Bên cạnh các PPDH truyền thồng,
GV phải thường xuyên sử dụng xen kẽ các PPDH mới, kỹ thuật dạy học tích cực vào bài dạy của mình Chú ý tới việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo chủ
đề để HS phát huy năng lực tự chủ, tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề GV cần áp dụng CNTT, coi trọng các phương tiện dạy học trực quan như tranh ảnh, sa bàn, lược đồ, bản đồ ,…
Trang 31Tóm lại, mục đích của việc dạy và học tích cực, đổi mới PPDH lịch sử không phải là xóa bỏ mọi phương pháp truyền thống thay thế bằng các PPDH hiện đại mà chúng ta sẽ sử dụng các phương pháp đó cho phù hợp với nội dung bài học theo hướng tích cực, chủ động nhằm phát triển năng lực cho người học
1.2.Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch
Hầu hết GV ở các trường THPT hiện nay chỉ sử dụng PPDH truyền thống
“thầy đọc-trò chép” Nhiều GV đã quen với cách dạy học truyền thống nên có tâm
lý ngại đổi mới, chỉ phụ thuộc vào một tài lệu duy nhất là SGK Có một số GV còn
áp dụng kiểu dạy học vấn đáp GV hỏi-HS trả lời đến hết bài học Đặc biệt, khi tìm hiểu một khái niệm, nhiều GV chỉ đưa ra khái niệm đó đến HS mà chưa dẫn dắt học sinh tự đưa ra khái niệm khiến HS không hiểu bản chất của khái niệm đó là gì
Việc áp dụng các phương pháp, KTDH trong các bài dạy ở trường THPT của
GV còn hạn chế Có rất ít GV thường xuyên sử dụng các PPDH tích cực trong khi
đó phần lớn GV chỉ thỉnh thoảng sử dụng thậm chí có GV chỉ sử dụng một phương pháp là “thầy đọc-trò chép”, “GV hỏi-HS trả lời” GV không chú ý đến việc tổ chức các hoạt động học tập mà chỉ nặng về truyền đạt kiến thức Chính điều này đã làm cho những bài dạy của GV trở nên đơn điệu, không thu hút được sự chú ý học tập của HS
Ngoài ra hiện nay còn có hiện tượng một số thầy cô đã lạm dụng sự hỗ trợ của CNTT chuyển từ hình thức “thầy đọc-trò chép” sang hình thức “thầy chiếu-trò chép” Nhiều GV đã sử dụng hình ảnh, video nhưng chỉ mang tính chất minh họa, trình bày hết nội dung bài học lên powerpoint để học sinh ngồi dưới chép Đây là thực trạng cần phải được giải quyết một cách nhanh nhất, tránh việc sử dụng sai mục đích các thiết bị dạy học.Việc áp dụng CNTT vào dạy học nhằm mục đích làm
Trang 32cho tiết học thêm sổi nổi chứ không phải thay thế vai trò của người thầy trong quá trình giảng dạy
Hiện tượng HS chán và ngại học lịch sử diễn ra phổ biến ở tất cả các trường THPT Chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử ngày càng giảm sút nghiêm trọng Điều này được biểu hiện rõ nét qua các kỳ thi Kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018 đã cho thấy thực trạng đáng báo động trọng việc học lịch sử của HS Gần 84% bài thi môn lịch sử dưới điểm trung bình và lịch sử là một trong hai môn có điểm trung bình thấp nhất trong các môn Kết quả này đang đánh lên một hồi chuông cảnh báo
về việc dạy và học môn lịch sử của HS Nếu để hiện tượng này tiếp tục diễn ra mà không có hướng khắc phục sẽ tạo ra một lỗ hổng lớn về lịch sử dân tộc của HS, từ
đó ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước nói chung và ngành giáo dục nói riêng Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là do:
Các em chưa có phương pháp học tập môn lịch sử đúng đắn và hiệu quả Khi học lịch sử, các em chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất là “học thuộc lòng”,
“học vẹt” nhằm mục đích thi cho qua môn Hơn nữa, khi học tập ở nhà, các em không có những phương pháp để học tập Các em cũng chưa biết cách sử dụng các phương pháp để ghi nhớ như phương pháp Graph, lập bảng so sánh, liệt kê,… Chính do phương pháp học không đúng cách khiến các em cảm thấy khó khăn khi nhớ các sự kiện lịch sử dẫn đến hiện tượng chán nản khi học môn lịch sử
Từ thực trạng dạy và học lịch sử hiện nay đặt ra yêu cầu cấp thiết là cần phải đổi mới hình thức, PPDH lịch sử, áp dụng nhiều phương pháp mới, KTDH tích cực vào bài học để tăng hiệu quả bài dạy Ngoài ra chính bản thân nhà trường, GV, HS, phụ huynh cần phải loại bỏ suy nghĩ môn lịch sử là môn phụ và phải giành nhiều thời gian hơn nữa cho việc học tập môn lịch sử
1.2.2 Thực trạng vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Để tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra cho GV và
HS trong quá trình TTSP Tổng cộng có 10 GV ở các trường: THPT Mỹ Hào (Hưng Yên), THPT Mê Linh (Hà Nội), THPT Tiên Du 1(Bắc Ninh),……và học sinh ở 3 trường: THPT Mỹ Hào (số lượng 2 lớp ), THPT Mê Linh (số lương 1 lớp), THPT Tiên Du 1 (số lượng 1 lớp) với số phiếu phát ra là 145 phiếu
*Nội dung phiếu điều tra gồm:
Trang 33-Quan điểm, nhận thức của GV, HS về bộ môn lịch sử, chất lượng dạy và học lịch sử ở trường THPT hiện nay
-Mức độ sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT -Đánh giá được những lợi ích của việc sử dụng phương pháp Graph khi dạy học lịch sử
-Đánh giá được ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực HS
*Hình thức, phương pháp điều tra
-Tiến hành trao đổi với GV, HS của trường thực nghiệm, phát phiếu điều tra cho GV và HS ở 3 trường THPT Từ số liệu thu được tiến hành xử lí số liệu
Qua điều tra tổng hợp kết quả thực tiễn, tôi rút ra những kết luận sau:
Thứ nhất quan điểm của HS về môn lịch sử và các phương pháp HS sử dụng chủ yếu trong việc học lịch sử
- “Mức độ yêu thích môn lịch sử (Rất thích/Thích/Bình thường/không
thích”
Kết quả điều tra khảo sát cho thấy đa số các em HS khi học tập lịch sử đều cảm thấy “bình thường” Số này chiếm tỉ lệ 57,2% Trong khi đó tỉ lệ HS “rất thích học lịch sử” chỉ chiếm 4,1%, HS “thích học lịch sử” chiếm 15,2 %, còn lại 23,5%
HS “không thích học lịch sử” Từ số liệu này cho thấy, ở hầu hết các trường phổ thông hiện nay là các em không thích hoặc chưa quan tâm đúng mức đến bộ môn lịch sử Lí do các em đưa ra để giải thích cho việc không thích học lịch sử là: “Lịch
sử có quá nhiều sự kiện khó nhớ nên các em không muốn học thuộc”(ý kiến này chiếm 60,4%) Có em lại cho rằng: “Phương pháp của GV còn nặng nề về truyền đạt kiến thức, thầy đọc-trò chép nên không tạo được hứng thú cho HS” Số lượng này chiếm 17,5% Chính vì vậy GV cần phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động tích cực của HS
Trang 34- “Trong việc học lịch sử ở trường THPT, em thường sử dụng phương pháp
học tập chủ yếu nào?”
Kết quả điều tra cho thấy hai phương pháp được HS thường xuyên sử dụng
là “học thuộc lòng bài giảng của thầy cô” (chiếm 79%) và “kết hợp SGK, bài giảng của thầy cô với tài liệu tham khảo” (chiếm 60%) Trong khi đó việc “sử dụng phương pháp Graph để hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức bài học” lại không chưa được HS sử dụng đến Có tới 58% HS chưa bao giờ sử dụng, 38% HS rất ít hoặc thỉnh thoảng mới sử dụng Điều này cho thấy HS chưa có phương pháp học tập lịch sử đúng đắn, đa số các em chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất là “học vẹt” bài giảng của thầy cô, tiếp thu kiến thức thụ động từ GV mà chưa chủ động tìm hiểu kiến thức
Bảng 1.1: Bảng thống kê ý kiến của HS về phương pháp học tập thường sử
dụng trong học môn lịch sử ở trường phổ thông “mức độ 1 tương ứng với không
sử dụng, số 5 tương ứng với rất thường xuyên sử dụng, chiều từ 1 đến 5 diễn tả mức
độ thường xuyên tăng dần”
Trang 35thầy cô và tài liệu tham khảo 4 3.Ghi nhớ ý chính, tự triển khai
học tập theo ý của riêng mình
40 27,6 35 24 38 26,1 23 16 9 6,3
4.Sử dụng phương pháp Graph
để “hệ thống hóa”, “khái quát
hóa” kiến thức bài học
84 58 32 22 23 16 3 2 3 2
Thứ hai, các phương pháp, hình thức dạy học mà GV thường sử dụng trong dạy học lịch sử và quan điểm của GV về vai trò, ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực và lấy học sinh làm trung tâm
- “Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, các thầy cô thường sử dụng
phương pháp, hình thức dạy học chủ yếu nào?”
Sau khi điều tra, khảo sát thì kết quả cho thấy hầu hết GV sử dụng nhiều phương pháp khác nhau cho tiết dạy nhưng trong đó phương pháp dạy học truyền thống “hỏi-đáp” và phương pháp thuyết trình được các thầy cô sử dụng thường xuyên Số lượng này chiếm 80% 70% GV “thường xuyên” sử dụng “sự hỗ trợ của CNTT và đồ dùng trực quan”, 50% GV thường xuyên “sử dụng các nguồn tư liệu như văn học, phim ảnh” Phương pháp “sử dụng các trò chơi để tăng hứng thú học tập của HS” thì thỉnh thoảng GV mới sử dụng (chiếm 60%) Việc vận dụng sơ đồ Graph thì chưa được GV sử dụng đến Số lượng GV rất ít sử dụng chiếm đến 70%, 30% thì thỉnh thoảng mới sử dụng và đặc biệt là “không” có GV nào “thường xuyên
sử dụng” Như vậy từ kết quả này cho thấy trong việc dạy học GV mới chỉ áp dụng những phương pháp truyền thống còn các phương pháp và hình thức dạy học tích cực thì chưa được GV sử dụng nhiều
Trang 36Bảng 2.1: Bảng thống kê ý kiến của GV về các phương pháp tổ chức dạy học lịch
sử ở trường THPT “mức độ 1 tương ứng với không sử dụng, số 5 tương ứng với rất
thường xuyên sử dụng, chiều từ 1 đến 5 diễn tả mức độ thường xuyên tăng dần”
4.Sử dụng các trò chơi (ô chữ, đoán ý đồng
đội, truy tìm kho báu, )
6 60 4 40
5 Sử dụng phương pháp Graph 7 70 3 30
- “Đánh giá của thầy/cô về vai trò, ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp, hình
thức dạy học theo hướng phát triển năng lực và lấy học sinh làm trung tâm”
Bảng 3.1: Bảng thống kê ý kiến của GV về vai trò ý nghĩa của việc đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của HS “số 1 tương ứng
với không hiệu quả, số 5 ứng với rất hiệu quả, chiều từ 1 đến 5 diễn tả mức độ quan
2.Giúp HS dễ dàng tiếp thu kiến thức 6 60 4 40
3.Giúp HS tự tin hơn trong giao tiếp 6 60 4 40
4.Phát huy tính tích cực, khả năng tư duy
của HS
3 30 7 70
5.Phát triển năng lực CNTT 2 20 6 60 2 20
Trang 376.Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo
4 40 6 60
7 Phát triển năng lực tự học 3 30 7 70
Như vậy khi nhìn vào bảng số liệu này chúng ta có thể thấy được, phần lớn
GV đều cho rằng việc đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực và lấy HS làm trung tâm là rất hiệu quả trong việc “tiếp thu kiến thức”, “phát triển các kỹ năng”, hình thành các năng lực như “năng lực giải quyết vấn đề”, “năng lực sử dụng CNTT” và đặc biệt là “năng lực tự học cho HS” Ngoài ra GV cũng nhận thấy rằng khi đổi mới PPDH, HS sẽ được tham gia vào các hoạt động học tập nhiều hơn, các
em được tự mình tìm hiểu các vần đề và giải quyết các vấn đề dưới sự hướng dẫn của GV vì vậy các em sẽ tự tin hơn trong giao tiếp và thuyết trình Từ đó sẽ phát huy tính tích cực, khả năng tư duy của HS và làm cho HS có hứng thú hơn khi học môn lịch sử
Từ kết quả này cũng chứng tỏ việc triển khai chủ trương đổi mới PPDH đã được đưa đến GV và có tác động đến nhận thức của GV GV đã thấy được những vai trò và ý nghĩa của việc đổi mới PPDH
Thứ ba, đánh giá của HS về mức độ sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử của GV ở trường THPT
- “Trong tiết học Lịch sử, thầy cô các em có thường xuên sử dụng phương
pháp Graph để giảng dạy hay không?”
Sau khi tiến hành khảo sát thì thu được kết quả như sau: 24% HS trả lời rằng
GV “chưa bao giờ” sử dụng phương pháp Graph, 29,7% là “rất ít”, 37,2% là “thỉnh thoảng”, 9% trả lời là “thường xuyên” Từ hai số liệu điều tra của GV và HS cho thấy GV cũng đã sử dụng phương pháp Graph trong dạy học môn lịch cho HS nhưng mức độ còn ít, thậm chí số lượng GV “không bao giờ” sử dụng chiếm một phần khá lớn Điều này cho thấy rằng việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT vẫn chưa được GV sử dụng và chú trọng đến
Trang 38Hình 1.2 : Biểu đồ tổng hợp ý kiến của HS về vấn đề GV có thường xuyên sử
dụng phương pháp Graph để giảng dạy trong môn lịch sử
Đơn vị: Phần trăm(%)
Thứ 4: Quan điểm của GV và HS về phương pháp Grpah
- “Quan điểm của GV và HS về phương pháp Graph”
+ Về phía HS khi được hỏi về phương pháp Graph là gì thì hầu hết HS đều trả lời là không biết hoặc chưa nghe bao giờ Nhưng khi được giải thích Graph là
sơ đồ thì các em ít nhiều đã khẳng định từng sử dụng ít nhất một lần
+ Về phía GV khi tiến hành điều tra nhận định của GV về phương pháp Graph thì đã rõ ràng tuy nhiên, khi lập Graph , GV chưa tuân theo đúng quy trình khoa học
- “Em thường sử dụng phương pháp Graph trong những nội dung lịch sử
- “Thầy cô thường sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở
trường THPT trong những trường hợp nào?”
Kết quả khảo sát cho thấy có đến 61,5% GV thường sử dụng phương pháp Graph trong các bài “ôn tập, tổng kết, kiểm tra, đánh giá” 38,5% GV sử dụng trong
“kiểm tra bài cũ, dạy chủ đề mới, bài tìm hiểu kiến thức mới” và không có GV nào
Trang 39sử dụng trong việc “hướng dẫn HS tự học ở nhà” Như vậy, việc củng cố, ôn tập kiến thức cho HS sau khi học xong bài mới vẫn chưa được GV chú trọng đến
Thứ năm: Quan điểm của GV và HS về lợi ích của phương pháp Graph
- “Theo em phương pháp Graph có tác dụng như thế nào trong việc học tập
môn lịch sử?”
Đa số HS đều đồng ý rằng phương pháp Graph sẽ giúp cho các em rèn luyện thêm các kĩ năng như “tự học”, “kỹ năng thiết lập sơ đồ tư duy”,…Ngoài rèn luyện được các kĩ năng, khi sử dụng phương pháp Graph trong việc học lịch sử còn giúp các em “dễ nhớ, dễ hiểu”, nắm được các nội dung trọng tâm của bài, củng cố, “khắc sâu kiến thức” được học trên lớp
- “Theo thầy cô, việc sử dụng phương pháp Graph cho HS trong dạy học
lịch sử đem lại những hiệu quả gì?”
Kết quả khảo sát cho thấy, đa phần GV đều thừa nhận vai trò của phương pháp Graph trong việc “đổi mới hình thức dạy học , tăng hứng thú học tập của HS” (40% cho rằng là hiệu quả, 60% là rất hiệu quả), “tạo không khí học tập sôi nổi, hào hứng, cụ thể hóa những nội dung kiến thức lịch sử” (30% hiệu quả, 70% rất hiệu quả), “phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS” Tuy nhiên dẫu đã nhận thấy được vai trò của phương pháp Graph trong quá trình dạy học ở trường THPT nhưng phần lớn GV lại không sử dụng phương pháp Graph, vẫn còn dạy chay là phổ biến và nếu có dùng thì cũng chỉ dừng lại ở việc minh họa kiến thức, ít
Hình 1.3: Biểu đồ thể hiện ý kiến của HS về tác dụng của
phương pháp Graph trong việc học tập lịch sử
Trang 40cho HS làm việc với phương pháp Graph, cũng tức là chưa đi sâu vào rèn luyện thao tác tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn cho HS
Bảng 4.1: Bảng thống kê về ý kiến của GV về mức độ hiệu quả khi sử dụng
phương pháp Graph vào dạy học “Số 1 tương ứng với không hiệu quả, số 5
tương ứng với rất hiệu quả, chiều từ 1 đến 5 diễn tả mức độ quan trọng tăng dần”
1.Giúp đổi mới hình thức dạy học, tạo sự
mới là và tăng hứng thú học tập của HS
2.Rèn luyện được cho HS kĩ năng tự học 7 70 3 30
3.Rèn luyện được cho HS kỹ năng thiết lập
sơ đồ tư duy
4.Giúp HS dễ nhớ, dễ hiểu, khắc sâu kiến
thức và nằm được các nội dung trọng tam
của bài học
5.GV có thể cấu trúc hóa nội dung bài học
trên lớp và nâng cao hiệu quả bài dạy
- Thứ sáu: Quan điểm của GV về những khó khăn thường gặp phải khi sử
dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử
77% GV cho rằng việc thiết kế sơ đồ trên lớp “tốn nhiều thời gian sẽ ảnh hưởng đến tiết dạy”, đồng thời “GV cũng phải giành nhiều thời gian để thiết kế những Graph” 15,9% GV trả lời là “HS chưa biết cách để thiết lập Graph” và 7,7%
là “tạo áp lực lớn cho HS khi về nhà do có quá nhiều bài tập từ các môn”
Tuy nhiên khi HS được hỏi về “mong muốn được học một tiết học lịch sử theo hình thức” nào thì có tới 47% HS trả lời rằng muốn “tham gia vào các hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV”, 33% HS muốn được “thiết kế những sơ đồ học tập ghi nhớ kiến thức theo ý của riêng mình”, chỉ có 11 % HS muốn học theo
“hình thức vấn đáp giáo viên hỏi-học sinh trả lời” và 9% HS muốn học theo