1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp graph trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường THPT

128 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 4,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.” [46] Định hướng quan trọng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp và Lí luận dạy học Lịch sử

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp và Lí luận dạy học Lịch sử

Người hướng dẫn khoa học

Th.S PHAN THỊ THÚY CHÂM

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bảnthân, còn có sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, cũng như sự độngviên, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Phan Thị Thúy Châm người thầy đã tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóaluận

-Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử đãtạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô trong tổ Xã hộitrường THPT Mỹ Hào (Hưng Yên) đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm

và hoàn thành khóa luận

Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thành khóa luận, song khóa luận cũng khôngtránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quýthầy cô và các bạn

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình Những sốliệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bốtrong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Trang 6

MỤC LỤC

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

4.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6.Ý nghĩa của đề tài 8

7.Cấu trúc của khóa luận 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT 9

1.1.Cơ sở lý luận 9

1.1.1.Một số khái niệm 9

1.1.1.1.Khái niệm về phương pháp dạy học 9

1.1.1.2 Khái niệm về phương pháp Graph 10

1.1.2.Phân loại Graph 11

1.1.3.Đặc trưng của kiến thức lịch sử 14

1.1.4.Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh THPT 16

1.1.5 Vai trò ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 18

1.1.5.1.Vai trò của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 18

1.1.5.2.Ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 20

1.1.6.Định hướng đổi mới PPDH trong DHLS ở trường THPT 22

1.2.Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 24

1.2.1.Thực trạng dạy và học lịch sử ở các trường THPT 24

1.2.2.Thực trạng vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT 25

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 34

Trang 7

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAPH

TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI LỚP 10 Ở

TRƯỜNG THPT 35

2.1.Vị trí, mục tiêu, nội dung phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 35

2.1.1.Vị trí 35

2.1.2.Mục tiêu 36

2.1.3.Nội dung phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 38

2.2.Nguyên tắc khi sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 43

2.3.Quy trình thiết kế và sử dụng Graph cho nội dung bài học lịch sử 44

2.4 Những lưu ý khi sử dụng phương pháp Graph trong dạy học 49

2.6.Một số biện pháp sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 53

2.6.1.Sử dụng phương pháp Graph hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiến thức mới 54

2.6.2.Sử dụng phương pháp Graph hướng dẫn học sinh ôn tập, củng cố kiến thức 58

2.6.3.Sử dụng phương pháp Graph hướng dẫn học sinh tự học 60

2.7.Thực nghiệm sư phạm 63

2.7.1.Mục đích thực nghiệm 63

2.7.2.Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 63

2.7.3.Nội dung và phương pháp thực nghiệm 63

2.7.4 Kết quả thực nghiệm 64

2.7.4.1.Đánh giá kết quả thực nghiệm bài 32: Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu ở lớp thực nghiệm 10A6 64

2.7.4.2.Kết luận sau thực nghiệm 67

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68

KẾT LUẬN 69 PHỤ LỤC

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 9

Hiện nay trong xu thế hội nhập - phát triển, sự bùng nổ của công nghệ thôngtin và đặc biệt là cuộc “cách mạng công nghiệp 4.0”, để có thể đào tạo ra nhữngcon người có trí tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo và tính nhân văn, năng động thíchnghi với mọi hoàn cảnh đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải đổi mới căn bản, toàndiện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực từ mục tiêu đến nội dung và đặc biệt là phươngpháp dạy học.Nghị quyết Trung ương 2 khóa XVIII đã đề cập rất cụ thể vấn đề đổi

mới phương pháp dạy học ở mọi cấp học, bậc học: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.” [46]

Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH hiện nay là chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung, dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang chútrọng “hình hành năng lực”, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.Nội dung này đã được nêu rõ trong mục tiêu của Nghị quyết Hội nghị TƯ 8 khóa

XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học” [22; tr 13]

Định hướng trên đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục năm 2005:

“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tíc cực, tự giác, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình

cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [1; tr 77]

Như vậy vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêuquan trọng của sự nghiệp đổi mới GD-ĐT của Đảng và Nhà nước ta, trong đó đổimới PPDH là vấn đề cấp thiết và quan trọng nhất Việc đổi mới PPDH phải trở

Trang 10

thành một ưu tiên chiến lược để tìm giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượngdạy học và phải được thực hiện đồng bộ trong tất cả các môn học ở trường THPTtrong đó có môn lịch sử

Lịch sử là môn học quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, nógiúp HS biết được quá trình phát triển của loài người, dân tộc, nhân loại và có ýnghĩa rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS Tuy nhiên thực tế hiệnnay cho thấy việc HS chán và ngại học lịch sử diễn ra rất phổ biến Hiện tượng họcsinh không biết lịch sử, nhớ nhầm sự kiện, nhân vật lịch sử không còn xa lạ Mộttrong những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng nay là do PPDH lịch sử của GVchưa đạt hiệu quả và chưa thu hút được sự chú ý của HS Vì vậy vấn đề đặt ra lúcnày là cần phải đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Hiện nay, córất nhiều phương pháp, KTDH tích cực, hiện đại nhưng trong đó sử dụng phươngpháp Graph có ưu thế hơn cả trong việc hệ thống hóa kiến thức

Phương pháp Graph có ưu thế đặc biệt trong việc “mô hình hóa” cấu trúchoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, giúp HS có thể thấy được mối quan

hệ giữa các đơn vị kiến thức Đặc biệt Graph có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa,

nó thể hiện được tất cả các yếu tố, các bình diện khác nhau trong một chỉnh thể(môhình) với những quan hệ ràng buộc với nhau Không chỉ vậy, với tính trực quan,Graph có khả năng biểu đạt những kiến thức của bài học bằng những sơ đồ minhhọa dễ nhớ, dễ hiểu, giúp HS nhanh chóng lĩnh hội được kiến thức, củng cố kiếnthức bền vững cho HS Ngoài ra khi sử dụng Graph vào dạy học sẽ tạo ra sự hứngthú trong học tâp cho HS do tính chất đa dạng trực quan của các loại Graph, đồngthời còn phát huy được tính sáng tạo của HS Vì vậy trong dạy học lịch sử hiện nay,chúng ta nhất thiết phải vận dụng phương pháp Graph để phát huy tính tích cực của

HS, góp phần nâng cao hiệu quả bài dạy và chất lượng dạy học lịch sử

Tuy nhiên việc vận dụng phương pháp Graph vào dạy học lịch sử ở trườngphổ thông hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế và không được GV thường xuyên sửdụng hoặc nếu sử dụng cũng chỉ dừng lại ở việc dùng Graph để minh họa cho cáckiến thức bài giảng của mình mà chưa cho HS được trực tiếp làm việc với Graph.Việc sử dụng phương pháp Graph một cách không hợp lý sẽ khiến cho HS khônghiểu hết ý nghĩa của Graph mà GV đưa ra, tiếp thu kiến thức một cách thụ động,máy móc, làm giảm hiệu quả của phương pháp Graph Nếu sử dụng phương pháp

Graph trong dạy học lịch sử một cách hợp lí thì sẽ đảm bảo được yêu cầu “dạy là

Trang 11

dạy để mà học, dạy cách học cho học sinh và học là học dưới sự điều kiển, hướng dẫn, tổ chức của thầy.” [42, tr 24]

Từ những lý do chủ yếu trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng phương pháp

Graph trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường THPT” làm đề

tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường trunghọc phổ thông hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sử dụng phương pháp Graph trong quá trình dạy học nói chung vàmôn lịch sử nói riêng từ lâu đã được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáodục học Đây là nguồn tài liệu quý báu để tác giả thực hiện khóa luận của mình

2.1.Các tài liệu, công trình nước ngoài nghiên cứu về Graph

“Lý thuyết Graph (còn được gọi là lý thuyết sơ đồ) ra đời từ hơn 250 năm trước Lúc đầu lý thuyết này chỉ giải quyết những bài toán có tính chất giải trí Mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX, thì lý thuyết Graph mới thực sự được xem là một ngành toán học riêng biệt”[34;tr3].

Việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học được quan tâmvào những năm 60 của thế kỷ XX với một số công trình của các nhà khoa học XôViết Người đầu tiên nghiên cứu nguyên lý về xây dựng một Graph định hướng cho

việc dạy học là A.M XoKhor Năm 1965, “ ông đã vận dụng một số quan điểm của

lý thuyết Graph để mô hình hóa một đoạn nội dung trong tư liệu sách giáo khoa môn Hóa Điều này đã giúp cho HS phát hiện các nội dung tư liệu một cách trực quan và thấy được mối quan hệ giữa chúng với nhau”.[34; tr3]

Năm 1965, V.X.Polosin “dùng phương pháp Graph để diễn tả trực quan diễn biến hoạt động dạy và học của thầy và trò khi thực hiện một thí nghiệm Hóa học đã tạo ra một bước tiến mới trong việc vận dụng lí thuyết Graph”.[34; tr3]

Năm 1972, V.P.Garkumop đã “sử dụng phương pháp Graph để mô hình hóa các tình huống của dạy học nêu vấn đề, trên cơ sở đó ông đã phân loại các tình huống khác nhau của dạy học nêu vấn đề”.[34;tr14]

Tuy nhiên các công trình của XoKhor, Poloxin, Garkumop mới chỉ dừng lại

là nghiên cứu phương pháp khoa học trong lý luận dạy học

Sau này có một số nhà nghiên cứu và GV đã đưa phương pháp Graph vàokiểm nghiệm trong giảng dạy và thấy rõ được hiệu quả khi sử dụng phương pháp

Trang 12

này vào dạy học Một số công trình tiêu biểu như: “Graph và ứng dụng của nó” của tác giả L.Lu.Berezina “Cuốn sách này đề cập đến khái niệm cơ bản của lý thuyết Graph và ứng dụng của lý thuyết Graph đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và điều khiển” [34;tr4] “Graph và mạng lửa hữu hạn” của R.Baxep và “lý thuyết Graph” của V.V Belop đều có “những nội dung định hướng việc ứng dụng Graph vào nghiên cứu, giảng dạy ở các bộ môn tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học”.[34;tr4]

Năm 1973, tác giả Nguyễn Như Ất đã vận dụng “lí thuyết Graph” kết hợpvới “phương pháp ma trận” để xây dựng cấu trúc nội dung dạy học theo quan điểmcấu trúc hệ thống

2.2 Các tài liệu, công trình trong nước nghiên cứu về Graph

Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu và vận dụng “lý thuyết Graph” thànhPPDH trong hệ thống lí luận dạy học hiện đại ở trường phổ thông là GS NguyễnNgọc Quang GS đã nghiên cứu và vận dụng cơ bản “lý thuyết Graph” trong khoahọc giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy hóa học Từ năm 1981 đến năm

1983 GS đã công bố một loạt các bài báo như: “Phương pháp Graph trong dạy học” (1981); “Phương pháp Graph và lý luận bài toán hóa học” (1982); “Sự chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học” (1983) Trong bài

“Phương pháp Graph trong dạy học” tác giả đã nhận định: “Dạy học theo Graph nội dung, giáo viên có định hướng rõ rệt, nắm chắc được những điều cơ bản, không

sa vào những điều thứ yếu, vụn vặt”; “Học theo Graph nội dung, học sinh dễ dàng định hướng vào cái cơ bản, theo dõi được sự phát triển logic của vấn đề, dựa vào

đó có thể tự lực tái hiện những chi tiết, những chứng minh và sẽ sử dụng sách giáo khoa có hiệu quả và thông minh hơn” [36] Như vậy GS Nguyễn Ngọc Quang đã

đặt nền móng và định hướng cho việc nghiên cứu “lý thuyết Graph” vào dạy họcđồng thời khẳng định việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học có giá trị rấtlớn và đạt được hiệu quả cao trong dạy học

Năm 1984, Phạm Tư đã có công trình: “Dùng Graph nội dung của bài lên lớp để dạy chương Nito-Photpho ở lớp 11 trường THPT” Ở công trình này, “tác giả nhấn mạnh những cơ sở lý luận của việc chuyển từ phương pháp nghiên cứu khoa học thành phương pháp dạy học và giới thiệu khái quát từng bước quá trình nghiên cứu thực nghiệm phương pháp Graph ở bộ môn hóa học”[39;tr6] Đến năm

2003, tác giả đã một lần nữa khẳng định hiệu quả của việc sử dụng phương phápGraph trong việc nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới PPDH bằng cách công bố

liên tiếp hai bài báo “Dạy học bằng phương pháp Graph góp phần nâng cao chất

Trang 13

Năm 2002, Phạm Minh Tâm đã nghiên cứu “Sử dụng Graph vào dạy học địa

lý lớp 12 THPT” trong đó “tác giả đã thiết kế một hệ thống Graph trong dạy học địa lý 12, đề xuất một số cách thức cơ bản để áp dụng hệ thống này vào thực tiễn dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn địa lý”.[41;tr10]

Năm 2005, Nguyễn Phúc Chỉnh có công trình “Sử dụng phương pháp Graph nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học phần sinh thái học” và công trình “Nâng cao hiệu quả dạy học giải phẫu sinh lý người ở THCS bằng áp dụng phương pháp Graph” Tác giả đã thiết kế một số “Graph nội dung”

và “Graph hoạt động” cho nội dung giải phẫu sinh lý người nhằm mục đích nângcao chất lượng dạy học môn sinh học

Trong bộ môn lịch sử, để nâng cao hiệu quả dạy học thì vấn đề sử dụng sơ đồcũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm:

Năm 1966 GS.Phan Ngọc Liên trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp 3” của GS.Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị (chủ biên) đã đặt

ra vấn đề sử dụng “sơ đồ trực quan” trong dạy học lịch sử Vấn đề này tiếp tục được

tìm hiểu, bổ sung trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 2 của

Trang 14

trình này viết về “lý thuyết Graph”, một số loại Graph thường dùng và đưa ra một

số ví dụ về việc sử dụng phương pháp Graph nhằm hệ thống hóa kiến thức trong cácbài ôn tập, tổng kết

Năm 2007, Nguyễn Thị Thủy với đề tài “Sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 lớp 12 THPT” đã đề xuất quy trình

sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử và đưa ra một số Graph nội dungbài học phần lịch sử 12 giai đoạn 1945-1954 để GV có thể áp dụng, nâng cao chấtlượng dạy học

Như vậy với việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhậnthấy việc nghiên cứu, vận dụng “lý thuyết Graph” vào quá trình dạy học đã ngàycàng được nhiều người quan tâm đến Tuy nhiên chưa có công trình nào tìm hiểusâu về việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phần LSTG cận đại (SGKLịch sử lớp 10) Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu khóaluận tôt nghiệp của mình

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quá trình dạy học LSTG cận đại từ giữathế kỉ XVI đến cuối thế kỷ XVIII (SGK, lớp 10 chương trình chuẩn) ở trườngTHPT có sử dụng phương pháp Graph

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung vào việc sử dụng phương pháp Graph trong việc thiết kế, tổchức hướng dẫn HS bài tìm hiểu kiến thức mới, bài ôn tập, tổng kết và hướng dẫnhọc sinh tự học ở nhà phần LSTG cận đại lớp 10 ở trường THPT

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích

Trang 15

Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu “cơ sở lí luận” và “thực tiễn” của việc vận dụng phương phápGraph vào dạy học phần LSTG cận đại lớp 10 ở trường phổ thông

- Điều tra thực trạng về việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

- Nguyên tắc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

- Đề xuất một số biện pháp sử dụng phương pháp Graph trong dạy học phầnLSTG cận đại lớp 10 ở trường THPT

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những đềxuất đưa ra

5 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng phối hợp nhiều phương pháp trong đó có các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Nghiên cứu các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng

Trang 16

- Phương pháp điều tra và khảo sát: Điều tra thực tế ở trường THPT qua cáchình thức: quan sát, dự giờ, phiếu điều tra, trao đổi với GV về thực tế giảng dạy và

sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểmđịnh các biện pháp sư phạm đề xuất trong đề tài Từ đó có cơ sở thực tiễn khẳngđịnh tính đúng đắn cũng như tính khả thi của các biện pháp sư phạm đó

- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lí các sốliệu thu thập được một cách chính xác, đáng tin cậy với các kết quả thu được trongquá trình điều tra, khảo sát và thực nghiệm

6 Ý nghĩa của đề tài

Trong thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông, phương pháp Graphchưa được nhiều GV quan tâm và vận dụng đúng cách Đề tài tập trung giải quyếtnhững vấn đề tồn tại, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung

và dạy học phần LSTG cận đại lớp 10 nói riêng Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đềtài giúp bản thân nắm chắc hơn kiến thức bộ môn lịch sử

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận baogồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp Graphtrong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường THPT

Chương 2: Một số biện pháp sử dụng phương pháp Graph trong dạy họcphần lịch sử thế giới cận dại lớp 10 ở trường THPT

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

PHƯƠNG PHÁP GRAPH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ

THẾ GIỚI CẬN ĐẠI LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học

Khái niệm “phương pháp” xuất phát từ thuật ngữ Hy Lạp “Methodos”, có

nghĩa là “con đường nghiên cứu”, “cách nhận thức” “Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều kiển hoạt động cải tạo hiện thực hay hoạt động nhận thức lí luận của con người”[11;tr16] Phương pháp có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động

của con người, nhất là hoạt động giáo dục

Bách khoa toàn thư của Liên Xô năm 1965 định nghĩa rằng: “phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức” [20; tr47]

Theo I.la Lence cho rằng: “PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của HS, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn”.[8; tr 46]

Theo GS.Nguyễn Ngọc Quang: “PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, tích cực, tự lực, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học”.[6; tr23]

Theo GS.Đặng Vũ Hoạt-PGS Hà Thị Đức: “PPDH là tổng hợp cách thức

hoạt động của GV và HS nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề ra” [6; tr45]

Xuất phát từ những quan điểm về PPDH nói trên , ta có thể hiểu PPDH là hệthống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của GV nhằm tổchức “hoạt động nhận thức” và “hoạt động thực hành” cho HS nhằm đảm bảo cho

HS lĩnh hội nội dung dạy học

Trang 18

Trong môn lịch sử: “PPDH lịch sử là một khoa học nghiên cứu quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nghiên cứu các quy luật của quá trình dạy học lịch sử, xác định nội dung, hình thức tổ chức và PPDH phù hợp với đặc trưng bộ môn, tâm lý người học và mục tiêu đào tạo của nhà trường”.[11;tr28]

1.1.1.2 Khái niệm về phương pháp Graph

Theo từ điển Tiếng Anh, Graph (danh từ) có nghĩa là “biểu đồ biểu diễn cách mà hai hay nhiều tập hợp số liên quan với nhau” Graph (động từ) nghĩa là

“vẽ sơ đồ, vẽ đồ thị, minh họa bằng đồ thị, vẽ mạng, vẽ mạch” Graph (tính từ) có nghĩa là “thuộc tính của sơ đồ, đồ thị, thuộc về sơ đồ, đồ thị, mạng mạch”.[45;tr15]

Theo lý thuyết Toán học, “một Graph gồm một tập hợp điểm gọi là đỉnh(vertiex) của Graph cùng với một tập hợp đoạn thẳng hay đường cong gọi là cung (edge) của Graph Mỗi cung của Graph nối hai đỉnh khác nhau hoặc hai đỉnh khác nhau được nối nhiều nhất là một cung của Graph” [45;tr18] Như vậy để có

thể thiết lập một Graph hoàn chỉnh thì cần phải có hai yếu tố là các đỉnh và các cungcủa Graph Mỗi cung của Graph sẽ nối một cặp đỉnh có mối quan hệ với nhau

Đỉnh của Graph biểu thị một nội dung kiến thức hay một đối tượng nghiêncứu nào đó Mỗi đỉnh của Graph có thể được kí hiệu bằng một chữ cái (A,B,C, ),chữ số (1,2,3,…) hoặc bằng các dạng hình học (hình tròn, hình vuông, hình chữnhật,…)

Cung của Graph là đường nối các đỉnh của Graph, biểu thị mối quan hệ giữacác đỉnh của Graph Các cung của Graph được hiểu hiện bằng nhiều hình thức đadạng, có thể là đoạn thẳng, đường gấp khúc, đường cong,…dài, ngắn, đậm nhạtkhác nhau nhưng phải thống nhất trong cách sử dụng để các cung của Graph vừa thểhiện được mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức lại vừa có hình thức đẹp, rõ ràng

Tuy nhiên, cần phải lưu ý, bản chất của Graph không phụ thuộc vào cách kíhiệu, cách biểu thị các cung, các đỉnh mà bản chất của Graph thể hiện ở số lượngcác đỉnh, các cung của Graph và mối liên hệ giữa các đỉnh của Graph

Graph có thể được biểu diễn dưới dạng “sơ đồ”, dạng “biểu đồ quan hệ”hoặc dạng “ma trận” Một Graph có thể có nhiều cách thể hiện khác nhau nhưngquan trọng nhất là Graph đó phải thấy được mối liên hệ giữa các đỉnh

Trong việc dạy học hiện nay, khi GV sử dụng phương pháp Graph để dẫn dắt

HS tìm hiểu nội dung của bài học bằng cách triển khai dần các đỉnh của Graph thìlúc này Graph đã mang tính chất của một PPDH

Trang 19

Theo T.S Nguyễn Phúc Chỉnh “phương pháp Graph dạy học được hiểu là phương pháp tổ chức rèn luyện tạo được những sơ đồ học tập ở trong tư duy của học sinh Trên cơ sở đó hình thành một phong cách tư duy khoa học mang tính hệ thống” [34, tr11].

Hiện nay phương pháp Graph không chỉ được sử dụng trong các ngànhKHTN ( toán, lý, hóa,…) mà đã được vận dung một cách sáng tạo sang các ngànhKHXH trong đó có môn lịch sử thông qua việc xử lý sư phạm của GV, góp phầnnâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông

1.1.2 Phân loại Graph

Trong dạy học lịch sử, có thể chia thành các loại Graph sau:

Đường trục thời gian: là loại Graph được thiết kế bằng một mũi tên địnhhướng(còn được gọi là cung), còn đỉnh là các hình quy ước thể hiện các sự kiện vàcác mốc thời gian tương ứng Loại Graph này thường được sử dụng để tái hiện diễnbiến của một trận đánh, chiến dịch,… Hiện nay, HS thường rất ngại khi tìm hiểudiễn biến do diễn biến trong SGK còn dài, có nhiều mốc thời gian cần phải ghi nhớ.Tuy nhiên khi sử dụng đường trục thời gian vào dạy học những sự kiện, mốc thờigian sẽ được mô hình hóa, khái quát hóa dưới dạng Graph giúp HS nhìn thấy rõnhững sự kiện, mốc thời gian quan trọng, từ đó giúp HS ghi nhớ diễn biến một cách

dễ dàng hơn

Ví dụ: Đường trục thời gian tổng kết diễn biến giai đoạn 1: “Cách mạngbùng nổ Nền quân chủ lập hiến” ở bài 31: CMTS Pháp cuối thế kỷ XVIII

Trang 20

phái Lập hiến được thành lập

8/1789 thông qua tuyên ngôn “Nhân Quyền và Dân Quyền”

9/1789 Hiến pháp được thông qua

4/1792 Chiến tranh Pháp-liên quân Áo Phổ

Graph chuỗi: là loại Graph được tạo thành bởi các đỉnh mô hình hóa bằnghình vuông hoặc hình chữ nhật và các cung mô hình hóa bằng những mũi tên thẳngđịnh hướng (có thể nằm ngang hoặc nằm dọc) Loại Graph thường được sử dụngtrong các bài ôn tập, sơ kết, tổng kết Thông thường, sau khi học xong một giai đoạn

Trang 21

lịch sử nhất định GV cần phải củng cố lại kiến thức cho HS, để HS có thể nhớ lạinhững kiến thức đã được học Việc sử dụng Graph chuỗi sẽ giúp tái hiện, tổng kết,

ôn tập lại các sự kiện, mốc thời gian của các bài đã học, sau đó gắn thành một chuỗicác sự kiện quan trọng của một giai đoạn lịch sử có mối quan hệ với nhau Vì vậy

sử dụng Graph chuỗi trong dạy học lịch sử, HS sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ giữacác đơn vị kiến thức, từ đó nắm vững được những sự kiện của một giai đoạn mà HScần phải nhớ đồng thời cũng thấy được tiến trình phát triển của lịch sử

Ví dụ: Graph chuỗi “Sự hình thành chủ nghĩa đế quốc”

Trang 22

Tích tụ vốn TBCN

Sự hình thành các tổ chức độc quyền dưới nhiều hình thức như Các-ten, Xanh-đi-ca,…

Các nước tư bản chuyển từ giai đoạn tự

do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc

Graph mạng: là loại Graph với một đỉnh ở trung tâm và các mũi tên địnhhướng nối các đỉnh khác Đỉnh ở trung tâm sẽ thể hiện một nội dung khái quát, còncác đỉnh kết nối sẽ diễn tả các nội dung chi tiết, bổ sung cho đỉnh khái quát Graphnày thường được dùng để giải thích các khái niệm

Trong việc dạy học lịch sử, để hiểu được bản chất của một sự kiện, hiệntượng lịch sử thì HS cần phải nắm vững khái niệm Vì vậy việc hình thành kháiniệm cho HS trong dạy học lịch sử là rất quan trọng Nếu trình bày khái niệm thiếutrọng tâm , lan man sẽ làm cho HS khó định hướng khi tiếp nhận thông tin Nhưngkhi sử dụng Graph mạng , nội dung của khái niệm sẽ được mô hình hóa, khái quáthóa thành từng đỉnh của Graph Chính điều này sẽ giúp cho HS hiểu được bản chấtcủa khái niệm một cách dễ dàng hơn

Trang 23

Ví dụ: Sơ đồ giải thích khái niệm “Cách mạng tư sản”

Trang 24

Lãnh đạo

Giai cấp tư sản

Quần chúng nhân dân

Nhiệm vụ: Đánh

đổ giai cấp phong kiến, mở đường cho CNTB phát

Graph cây: là loại Graph có một đỉnh gốc và các mũi tên định hướng, kết nốivới các đỉnh nhánh Do vậy, đỉnh gốc sẽ diễn tả nội dung kiến thức mang tính kháiquát và các đỉnh nhánh sẽ diễn tả nội dung chi tiết Đây là loại Graph được dùngphổ biến nhất Graph cây có thể sử dụng trong nhiều nội dung bài học khác nhaunhưng thường dùng để trình bày nguyên nhân, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội,… Khác với các loại Graph ở trên Graph cây có thể mô hình hóa một khốilượng lớn kiến thức trong tài liệu SGK giúp HS có cái nhìn tổng quát nhất nhữngnội dung kiến thức của một bài, chương đồng thời cũng giúp HS hiểu sâu, ghi nhớlâu những kiến thức quan trọng của bài học

Ví dụ: Graph cây “Nguyên nhân bùng nổ cuộc cách mạng tư sản Pháp”

Nguyên nhân bùng nổCách mạng tư sản Pháp

Nguyên nhân sâu sa Nguyên nhân trực tiếp

Xã hội: Mâu thuẫn giữa đẳng cấp thứ

ba, với tăng lữ , quý tộc

“Tư tưởng triết học Ánh sáng”

mở đường cho cách mạng.

Vua Lui XVI triệu tập “hội nghị

ba đẳng cấp” để vay tiền và ban hành thêm thuế mới  Đẳng cấp thứ 3 phản đối

Trang 25

*Ưu điểm và hạn chế của phương pháp Graph

Việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học có những ưu thế sau:

- Trực quan hóa nội dung kiến thức lịch sử, giúp HS dễ dàng ghi nhớ và táihiện tri thức về nội dung của bài học “Ngôn ngữ Graph” ngắn gọn, súc tích, chứađựng đầy đủ thông tin sẽ giúp cho việc xử lý thông tin nhanh gọn và chính xác

- Khái quát hóa nội dung kiến thức bài học một cách logic Khi kết thúc mộtbài học, nhìn vào Graph, HS sẽ thấy được nội dung kiến thức chọn lọc nhất, cơ bảnnhất của bài từ đó giúp HS dễ hiểu bài và ghi nhớ kiến thức lâu hơn

- Sơ đồ hóa kiến thức giúp HS ôn tập một cách hiệu quả nhất Graph khôngchỉ giúp HS ghi nhớ dễ dàng mà còn giúp HS có thể thấy được sự phát triển, bảnchất giữa của các sự kiện từ đó giúp tư duy của HS trở nên rõ ràng và khúc triếthơn

- Giúp cho GV và HS sử dụng SGK hiệu quả hơn

Ngoài những ưu điểm trên thì phương pháp Graph cũng có những hạn chế:

- Sơ đồ thể hiện kiến thức hệ thống và khái quát cao nên những nội dungkiến thức một cách chi tiết không phù hợp để sử dụng nên chỉ có thể sử dụng vớimột số nội dung phù hợp trong chương trình

- Việc thiết kế sơ đồ trải qua nhiều bước, mất nhiều thời gian Để có một sơ

đồ dạy học đầy đủ nội dung, hình thức đẹp, có hiệu quả thì người lập sơ đồ cần phải

tỉ mỉ, kiên nhẫn, có ý tưởng sáng tạo

1.1.3 Đặc trưng của kiến thức lịch sử

Thứ nhất là tính quá khứ: Môn lịch sử là bộ môn thuộc ngành KHXH, nghiên cứu những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá khứ “Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử được nhắc đến thì đều là những chuyện đã xảy ra nên HS không thể quan sát trực tiếp mà chỉ có thể nhận thức gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại”[11;tr139] Có rất nhiều cách để GV có thể tái hiện lại các sự kiện lịch sử

như cho HS được trực tiếp làm việc với các nhân chứng lịch sử, thông qua phimảnh, những câu chuyện, câu thơ và một trong những cách đạt hiệu quả cao là dùngphương pháp Graph để “sơ đồ hóa kiến thức” kết hợp với hình ảnh, lời nói của GV

Thứ hai là tính không lặp lại Trong lịch sử, không có sự kiện, hiện tượng lịch sử nào là giống nhau “Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra duy nhất một lần, gắn với một khoảng thời gian, không gian nhất định và nhân vật cụ thể Chính

Trang 26

điều này đỏi hỏi khi GV trình bày một sự kiện, hiện tượng lịch sử phải xem xét tính

cụ thể cả về thời gian và không gian làm này sinh sự kiện, hiện tượng đó”[11;tr140].

Thứ ba là tính cụ thể Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nước, các dân tộc khác nhau “Tuy bị tác động của những yếu tố chung (đời sống vật chất, đời sống tinh thần) nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc lại không hoàn toàn giống nhau do mỗi quốc gia, dân tộc có nét văn hóa riêng, diện mạo riêng, điều kiện quy định riêng Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu” [11;tr140].Việc sử dụng phương pháp Graph để dạy học

sẽ làm cho không khí bài học sôi nổi HS sẽ được tự tay thiết kế các Graph theo ýtưởng của nhóm hoặc cá nhân mình Khi thiết kế, HS có thể sử dụng các màu sắc,hình khối khác nhau, các bức tranh tương ứng với nội dung kiến thức (tùy theo ýtưởng) để làm cho Graph thêm sinh động và hấp dẫn

Thứ tư là tính hệ thống (tính logic lịch sử) “Môn lịch sử bao gồm rất nhiều nội dung kiến thức phong phú, đề cập đến mọi mặt của đời sống xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, ngoại giao,…”[11;tr141] Các nội dung kiến

thức này được sắp xếp một cách logic, có hệ thống.Vì vậy khi tìm hiểu về một sựkiện hiện tượng lịch sử phải đặt nó trong mối quan hệ với các sự kiện hiện tượnglịch sử khác cùng thời để tìm ra bản chất và quy luật lịch sử Việc sử dụng phươngpháp Graph sẽ góp phần giúp HS thấy được mối liện hệ giữa các sự kiện lịch sử củatừng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử, đặc biệt là giúp HS thấy được bản chất của lịchsử)

Thứ năm là tính hệ thống giữa “sử” và “luận”: Phần “sử” và phần “luận” là hai phần cơ bản mà HS cần lĩnh hội trong quá trình học tập “Phần sử được tạo thành bởi nhiều yếu tố như thời gian, địa điểm, nhân vật, diễn biến, kết quả bao gồm các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong xã hội loài người (lịch sử thế giới) cũng như của dân tộc (lịch sử dân tộc) Phần luận là cách giải thích, đánh giá, nhận xét, bình luận về các sự kiện lịch sử đã xảy ra.Trong môn lịch sử, hai phần sử

và luận có sự thống nhất cao độ, không tách rời”[11;tr145] Vì vậy, khi dạy học

lịch sử bên cạnh việc trình bày các sự kiện lịch sử thì GV cần phải giải thích, đánhgiá sự kiện đó để HS có thể nắm rõ bản chất của sự kiện

Từ những đặc trưng trên có thể thấy việc dạy và học lịch sử ở trường THPTkhác với các môn KHTN (toán, lý, hóa,…) Vì vậy , trong dạy học lịch sử GV có

Trang 27

thể sử dụng phương pháp Graph kết hợp với nhiều PPDH khác nhau như thuyếttrình, vấn đáp, KTDH tích cực, dạy học theo dự án,… để có thể giúp HS đi từ “hiểuđến biết,” từ “cung cấp sự kiện đến tạo biểu tượng lịch sử” giúp các em có thể táitạo lại quá khứ, trên cơ sở đó hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học kinhnghiệm và vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn đồng thời hình thành các nănglực cần thiết cho HS.

1.1.4 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh THPT

“Học sinh THPT thuộc lứa tuổi từ 16-18 về thể chất và cấu tạo bộ não đã gần đạt tới sự hoàn thiện như người lớn Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành nhưng còn kém so với người lớn”[15] Sự phát triển

về thể chất và tư duy ở lứa tuổi này có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của các

em Về tâm lý, có em có một số nét đáng chú ý sau:

Thứ nhất về sự hình thành thế giới quan: Đây là nét chủ yếu trong tâm lý của

HS giai đoạn này.Trên cơ sở các kiến thức khoa học mà các em đã tích lũy, các emdần xây dựng cho mình quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển của tự nhiên

và xã hội Lúc này các em đã có quan điểm về tự nhiên, xã hội, các nguyên tắc ứng

xử, những định hướng giá trị về con người

Thứ hai về sự phát triển của tự ý thức: Ở giai đoạn lứa tuổi này ý thức bảnthân hay tự ý thức đã phát triển mạnh Các em đã bắt đầu đưa ra những quan điểm

về mục đích cuộc sống Các em cho rằng mình đã là người lớn và đòi hỏi mọi ngườiphải đối xử và tôn trọng những ý kiến của mình Trong các hoạt động nhất là hoạtđộng chủ đạo, các em đã hình thành thái độ “tự khẳng định mình”, muốn thể hiệnmình theo cách riêng và muốn được mọi người chú ý đến mình Theo Hà Thế Ngữ

thì lứa tuổi này: “mong muốn khẳng định giá trị phẩm chất và năng lực của bản thân, mong muốn tự lập, mong muốn làm những việc có ý nghĩa,…”[13; tr72]

Thứ ba là hoạt động học tập Do đặc tính cơ bản là thái độ tự khẳng địnhmình, muốn tự lực, độc lập và thể hiện mình là người lớn nên hứng thú của HS khihọc tập cũng phát triển mạnh Các em không chỉ thích hoạt động thực hành mà cònhứng thú trong hoạt động nhận thức Lúc này ham muốn tìm hiểu về thế giới xungquanh, tìm hiểu tri thức của các em là rất lớn Nhà tâm lý học người Nga Petrvski

đã nói: “ Tính ham học hỏi và tính tò mò là những đặc điểm của thiếu niên Nó mở rộng tâm hồn để hấp thụ cái mới, cái thú vị và lớn lao, như cái bọt biển thấm hút

Trang 28

những tin tức khác nhau, song xu hướng ưu thế của tính ham hiểu biết có thể khác nhau”[15; tr153].

Thứ tư là hoạt động giao tiếp Ở lứa tuổi này, quan hệ bạn bè chiếm vị tríquan trọng và chủ đạo Vì vậy GV cần tạo điều kiện để HS phát triển quan hệ giaotiếp, hợp tác trong tập thể nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục đề ra

Thứ năm về khả năng ghi nhớ Khả năng ghi nhớ của HS ở tuổi này đã có sựphát triển rõ rệt Các em đã có biện pháp để ghi nhớ một cách khoa học như đánhdấu, khái quát lại những ý trọng tâm, lập bảng liệt kê và bảng so sánh Các em cũngbiết tài liệu nào cần nhớ cụ thể, tài liệu nào cần hiểu Vì vậy GV cần chú ý bồidưỡng cho các em khả năng ghi nhớ logic, hệ thống hóa kiến thức trong quá trìnhhọc tập

Thứ sáu về khả năng quan sát: Ở lứa tuổi khả năng quan sát của các em đãbắt đầu phát triển có hệ thống Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường bị yếu tốbên ngoài tác động Vì vậy GV cần quan tâm và có những biện pháp để hướng sựquan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định

Thứ bảy về hoạt động tư duy: HS lứa tuổi này phát triển mạnh về tư duy hìnhthức, lý luận và trừu tượng ngày cáng phát triển và chiếm ưu thế Tư duy của các

em giai đoạn này cũng đã nhất quán và chặt chẽ hơn Những điều này giúp cho HS

có thể phân tích được nội dung của các khái niệm và mối quan hệ nhân quả trong tựnhiên, xã hội

Như vậy với sự trưởng thành về tư duy, khả năng ghi nhớ và ý thức học tậpđòi hỏi người GV cần có những định hướng đúng đắn, những PPDH phù hợp vớitừng bài học để có thể giúp các em nâng cao được khả năng tư duy và rèn luyện các

kỹ năng trong học tập Việc sử dụng phương pháp Graph vào dạy học có tác độnglớn đến HS, giúp HS hình thành “kỹ năng quan sát” và “ghi nhớ kiến thức một cáchlogic, có hệ thống” từ đó giúp HS dễ dàng ghi nhớ kiến thức đồng thời cũng giúp

HS phát triển “khả năng tư duy”, “sự sáng tạo”, “khả năng giao tiếp” và phát huyhứng thú học tập của HS

Cùng với sự phát triển ngày càng hoàn thiện các đặc điểm về thể chất và tâm

lý thì các hoạt động nhận thức của HS giai đoạn này cũng ngày càng đạt đến trình

độ cao Trong quá trình học tập lịch sử, quá trình nhận thức của HS đi từ giai đoạn

“nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính” “Quá trình nhận thức của HS bắt đầu

từ việc tri giác tài liệu về sự kiện, quá trình lịch sử để tạo biểu tượng Sau đó bằng

Trang 29

các hoạt động của tư duy, tích cực độc lập, HS đi đến những tri thức trừu tượng, khái quát hóa”.[16;72]

Tuy nhiên khác với quá trình nhận thức chung của loài người, của các nhàkhoa học thì quá trình nhận thức của HS được tiến hành trong quá trình dạy học,dưới sự hướng dẫn của GV Quá trình nhận thức này được diễn ra theo con đường

đã được khám phá, HS chỉ phải nhận thức cái mới cho bản thân mình Những kiếnthức HS cần nắm vững trong quá trình học tập chỉ là những kiến thức phổ thông cơbản, được rút ra từ các nhà khoa học và đã được gia công về mặt sư phạm

Tóm lại , đặc điểm nhận thức của học sinh THPT chính là một trong những

cơ sở không thể thiếu để GV dựa vào đó lựa chọn những hình thức tổ chức dạy học,PPDH phù hợp Nhiệm vụ của người GV là phát triển toàn diện khả năng nhận thứccủa HS đồng thời phát huy được tính tích cực, tự giác học tập của HS Sử dụngphương pháp Graph để phát triển năng lực tư duy, tính tích cực học tập cho HStrong việc tiếp thu kiến thức lịch sử

1.1.5 Vai trò ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT

1.1.5.1.Vai trò của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Vai trò của Graph trong dạy học là khai thác thông tin một cách hiệu quả vàphát huy năng lực nhận thức cho HS Phương pháp Graph có nhiều ưu thế trongviệc mô hình hóa cấu trúc của hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn từđơn giản đến phức tạp Graph hóa nội dung kiến thức lịch sử là hình thức diễn đạttối ưu mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử Phương pháp Graph cũng thể hiện rõvai trò phát triển của các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, vàhình thành năng lực tự học cho HS Thông thường, khi học môn lịch sử, HS chỉ ghinhớ nội dung bài học lịch sử khi bài học lịch sử đó thật sự hay và ấn tượng Tuynhiên HS lại có thể lưu giữ một sơ đồ những khái niệm, diễn biến,… Vì thế phươngpháp Graph là một phương pháp hữu hiệu cho cả GV và HS trong học tập môn lịchsử

*Đối với giáo viên

Thứ nhất phương pháp Graph là công cụ để cấu trúc lại nội dung kiến thứccủa bài học một cách có hệ thống, giúp GV không sa vào các kiến thức “thứ yếu”,

“vụn vặt” Đây là phương pháp để GV có thể xử lý kiến thức trong SGK một cách

Trang 30

hữu hiệu, giúp GV sắp xếp, “mã hóa” các nội dung kiến thức một cách logic, ngắn gọn để truyền tải đến HS, tạo điều kiện cho HS ghi nhớ dễ dàng.

Thứ hai khi sử dụng phương pháp Graph, GV sẽ tổ chức được các “hoạtđộng nhận thức” cho HS đồng thời cũng giúp GV kiểm tra được kiến thức, kĩ năngcủa HS

Thứ ba việc lập Graph bài học sẽ giúp cho GV việc xây dựng cấu trúc bàisoạn của mình một cách hợp lý, giúp bài giảng của GV phản ánh được mục tiêu củachuẩn kiến thức cơ bản, và cũng định hướng cho HS vào những nhận thức cụ thể

Tóm lại khi sử dụng phương pháp Graph trong môn lịch sử sẽ giúp GV hoànthành được nhiệm vụ truyền tải kiến thức đến HS trên tinh thần chuẩn kiến thức, kĩnăng, thái độ và hoạt động học tập của HS trong lớp Phương pháp Graph chính làmột phương pháp hữu hiệu giúp GV sáng tạo ra những bài giảng với những hìnhthức mới, tạo sự hứng thú cho học sinh, tránh được cảm giác nhàm chán, tẻ nhạt khihọc lịch sử

*Đối với học sinh

“Truyền và nhận thông tin”, “xử lý thông tin”, “lưu trữ và vận chuyển” thôngtin là 3 giai đoạn của quá trình dạy học:

“Truyền thông tin” không chỉ là đơn thuần truyền từ “GV đến HS” mà cònphải truyền từ “HS đến HS” Các kênh truyền tải thông tin là “kênh hình”, “kênhchữ”, “kênh tiếng”,… trong đó “kênh hình” có năng lực chuyền tải thông tin nhanhnhất, hiệu quả nhất Phương pháp Graph có tính trực quan, các kiến thức cơ bản củabài học sẽ được “mô hình hóa” dưới dạng sơ đồ nhờ đó HS có thể tiếp thu kiến thứcmột cách nhanh nhất, chính xác nhất và cô đọng nhất

“Xử lý thông tin” là sử dụng thao tác tư duy nhằm phân tích , phân loại thôngtin vào những hệ thống nhất định Quá trình này đòi hỏi HS cần phải có sự tư duytốt để có thể xử lý tốt những thông tin mình nhận được Tuy nhiên Graph có tácdụng “mã hóa” các thông tin theo những hệ thống logic hợp lý giúp việc xử lýthông tin của HS đạt được hiệu quả cao hơn

“Lưu trữ thông tin” nghĩa là khả năng ghi nhớ của HS Với những phươngpháp dạy học truyền thống (thầy đọc-trò chép) sẽ yêu cầu HS học thuộc lòng vì vậy

HS nhanh quên Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp Graph sẽ giúp HS ghi nhớ mộtcách khoa học, có hệ thống Việc ghi nhớ bằng Graph sẽ giúp cho việc tái hiện vàvận dụng kiến thức một cách linh hoạt hơn Điều này đã được nhà giáo dục

Trang 31

Khalamop nhấn mạnh: “Học sinh quên tương đối nhanh lời phát biểu của các quy tắc, kết luận và các khái quát lí thuyết và ghi nhớ vững chắc hơn nhiều những lời chứng minh logic cũng như các khái quát đã được hình thành trên cơ sở những thí

dụ và sự kiện rõ ràng và đã được củng cố trong quá trình luyện tập, thực hành Chỉ

có một hệ thống hợp lý các bài luyện tập đòi hỏi học sinh phải có những phương pháp đa dạng để tiếp thu tài liệu học tập và một sự căng thẳng trí tuệ cao mới cho phép đạt được những kiến thức sâu sắc và bền vững” [7; tr 12]

1.1.5.2.Ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT

*Về kiến thức

Khi sử dụng phương pháp Graph vào học tập lịch sử, các nội dung kiến thứctrong SGK, sẽ được hệ thống hóa dưới dạng cô đọng và ngắn gọn nhất, giúp HSmột mặt nắm vững các kiến thức trọng tâm của bài học, một mặt khác giúp các emchủ động lĩnh hội kiến thức để từ đó hình thành được các khái niệm và quy luật pháttriển của lịch sử

*Về kỹ năng

- Kỹ năng khai thác tư liệu lịch sử: Để có thể xây dựng được một Graph nộidung bài học hoàn chỉnh yêu cầu HS phải kết hợp đọc kỹ nội dung SGK để có thểchắt lọc, lựa chọn những kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài kết hợp với việc sửdụng các thao tác tư duy để có thể thấy được mối quan hệ giữa cá sự kiện, hiệntượng lịch sử Đây chính là quy trình gia công, chuyển hóa những “tri thức lịch sử

có trong sách vở thành tri thức của bản thân” Hơn nữa thông qua cách thức họcbằng phương pháp Graph, HS sẽ biết sử dụng SGK hiệu quả hơn và thông minhhơn

- Kỹ năng khái quát, tổng hợp các sự kiện lịch sử: Khi lập một sơ đồ Graph,đòi hỏi HS phải nắm vững nội dung của bài học Trên cơ sở đó HS sẽ tìm mộtGraph thích hợp để “xâu chuỗi các sự kiện đó lại thành một hệ thống” thể hiện bảnchất của một thời kỳ hoặc một giai đoạn lịch sử với những nét nổi bật

- Kỹ năng làm việc nhóm: Khi giao bài tập thiết kế Graph sơ đồ nội dung bàihọc cho một nhóm thì lúc này vai trò của nhóm trưởng rất quan trọng Nhóm trưởngphải nắm được khái quát sơ đồ nội dung, phân chia những việc cần phải làm chocác thành viên trong nhóm Để có thể hoàn thành được sản phẩm các thành viên

Trang 32

phải làm việc trên tinh thần hợp tác, liên kết chặt chẽ với nhau Qua hoạt động này

sẽ làm cho các thành viên trong nhóm hiểu nhau hơn, đoàn kết hơn

- Kỹ năng tự học: Khi dạy cho HS cách lập Graph tức là dạy cho các em kĩnăng cơ bản và khái quát nhất của kỹ năng tự học Yêu cầu bắt buộc khi các em lậpGraph là các em phải “mã hóa” được những kiến thức của bài, vì vậy bắt buộc các

em tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu Và khi các em lập được Graph của một bài họccũng chính là các em đã nắm được những nội dung cơ bản nhất của bài học đó

- Kỹ năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo: Tùy theo nội dung của bàihọc, HS sẽ thiết lập một Graph phù hợp, tùy theo sự sáng tạo của HS

- Kỹ năng thuyết trình: Khi trình bày một Graph, yêu cầu HS phải thuyếttrình để có thể cho người nghe hiểu được nội dung của Graph đó Chính điều này sẽtạo điều kiện cho các em rèn luyện và phát triển khả năng thuyết trình của mìnhtrước đám đông

- Khi sử dụng phương pháp Graph trong học tập sẽ hình thành cho HS nhữngphẩm chất tư duy như: tính tích cực, tính độc lập trong suy nghĩ, trong hoạt động,trong nghiên cứu và tính tự lực Khi hình thành được tính tự lực và tính tích cực thì

sẽ hình thành được tính sáng tạo của học sinh trong học tập

* Về thái độ

Thứ nhất giúp HS rèn luyện tinh thần vượt khó, kiên trì trong lao động vàhọc tập Để thiết kế một Graph nội dung bài học cần phải trải qua rất nhiều bước(xử lý tài liệu, xếp đỉnh, lập cung,…) nên yêu cầu HS phải rất “tích cực” và “chủđộng”

Thứ hai sử dụng phương pháp Graph góp phần nâng cao tinh thần hợp táctrong học tập và lao động trong tập thể lớp

Thứ ba là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của bài học Các tiết học lich

sử mà HS cho là nhàm chán, vô vị với PPDH truyền thống “thầy đọc-trò chép” sẽdần được thay thế bằng những tiết học sổi nổi với sự tham gia tích cực vào các hoạtđộng của HS Lúc này HS sẽ được tự tay thiết kế những Graph bài học theo ý tưởngcủa riêng mình Điều này sẽ góp phần tăng sự hứng thú của HS khi học tập môn lịch

sử, từ đó góp phần giúp HS yêu thích môn lịch sử hơn

Thứ tư ý thức tự học của HS được nâng cao, HS sẽ tự chủ động, tìm tòi, lĩnhhội các kiến thức để có thể thiết lập một Graph nội dung bài học

Trang 33

*Năng lực hình thành

- Năng lực chuyên biệt

+ Năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử

+ Năng lực tái hiện và trình bày lịch sử

+ Năng lực giải thích lịch sử

- Năng lực chung

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác

+ Năng lực tự chủ và tự học

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

1.1.6 Định hướng đổi mới PPDH trong DHLS ở trường THPT

Trong xu thế hội nhập như hiện nay, để có thể đưa đất nước phát triển thìchúng ta cần phải đào tạo ra những người lao động mới đáp ứng được yêu cầu, đòihỏi của xã hội Để có thể làm được điều này điều quan trọng nhất là phải phát triểnKH-CN hiện đại , giáo dục tiên tiến, đặc biệt là phải tiến hành đổi mới PPDH theohướng phát triển năng lực của người học

Ở nước ta hiện nay, công cuộc đổi mới PPDH đang diễn ra mạnh mẽ Các tài

liệu, văn kiện của Đảng và Chính phủ đều định hướng phải“lấy người học làm trung tâm, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy, giải quyết vấn đề” [46] Dạy học

lúc này không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức, cung cấp thông tin mà phảidạy cho các em phương pháp học đồng thời cũng cần tăng cường rèn luyện khảnăng tự học để các em có thể tự tìm kiếm và xử lý thông tin Chiến lược phát triển

giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã chỉ rõ “Tiếp tuc đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” [22; tr13] Đặc biệt trong vấn đề

đổi mới dạy học nói chung được pháp chế hóa trong chương II, điều 28, luật Giáo

dục của nước CHXHCNVN “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động , sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm

vui, hứng thú học tập cho học sinh” [22; tr12].

Trang 34

Bản chất của đổi mới PPDH ở trường phổ thông nói chung và PPDH lịch sửnói riêng là “chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung” sang hình thức

“dạy học theo hướng phát triển năng lực, lấy HS làm trung tâm” Việc học tập lúcnày không chỉ dừng lại ở việc HS nắm được những kiến thức mà phải biết vận dụngnhững kiến thức đó vào thực tế Việc đánh giá kết quả học tập của HS không chỉdừng lại ở việc kiểm tra, tái hiện lại kiến thức mà quan trọng nhất là kiểm tra khảnăng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau và khảnăng đánh giá thực tiễn cuộc sống Vì vậy phải thay đổi cách dạy học từ “thầy đọc-trò chép, thầy hỏi-trò trả lời” sang “thầy chủ đạo, trò chủ động” “thầy trò cùngtương tác” nhằm phát huy năng lực chung và năng lực chuyên biệt trong môn lịch

sử đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học Trong dạyhọc, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, là kim chỉ nam, là người tổ chức các hoạtđộng học tập để HS chủ động tìm hiểu kiến thức mới, phát hiện được vấn đề và tìmcách để giải quyết những vấn đề đó Trong dạy học lịch sử cần chú trọng rèn luyệncho HS kĩ năng tìm kiếm, khai thác các nguồn sử liệu để đưa ra các nhận xét, đánhgiá từ đó dần bỏ các thói quen học tập thụ động, loại bỏ PPDH truyền thụ mộtchiều, nhồi nhét kiến thức,…

Cùng với việc đổi mới PPDH thì hiện nay Bộ GD và ĐT nước ta đang triểnkhai chương trình thay đổi SGK để cải cách nền giáo dục Nội dung quan trọng nhấtcủa chương trình đổi mới SGK là chuyển từ tập trung kiến thức, kĩ năng sang pháttriển năng lực cho HS Điểm đặc biệt của chương trình đổi mới là việc thực hiệnchủ trương “một chương trình nhiều bộ SGK”, các nhà trường sẽ dựa vào điều kiệncủa mình để lựa chọn SGK cho phù hợp

Cũng giống như các môn học khác, môn lịch sử cũng có nhiều sự thay đổi.Chương trình môn lịch sử được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực của

HS Nội dung chương trình được thiết kế bao gồm “nội dung cốt lõi” (LSTG,LSVN,các cuộc CMTS…) và “các chủ đề học tập” giúp HS kết nối lịch sử với cuộcsống hiện tại và định hướng cho HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai Với

sự đổi mới này đòi hỏi GV phải thay đổi PPDH Bên cạnh các PPDH truyền thồng,

GV phải thường xuyên sử dụng xen kẽ các PPDH mới, kỹ thuật dạy học tích cựcvào bài dạy của mình Chú ý tới việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo chủ

đề để HS phát huy năng lực tự chủ, tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề GV cần ápdụng CNTT, coi trọng các phương tiện dạy học trực quan như tranh ảnh, sa bàn,lược đồ, bản đồ ,…

Trang 35

Tóm lại, mục đích của việc dạy và học tích cực, đổi mới PPDH lịch sử khôngphải là xóa bỏ mọi phương pháp truyền thống thay thế bằng các PPDH hiện đại màchúng ta sẽ sử dụng các phương pháp đó cho phù hợp với nội dung bài học theohướng tích cực, chủ động nhằm phát triển năng lực cho người học.

1.2.Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch

Hầu hết GV ở các trường THPT hiện nay chỉ sử dụng PPDH truyền thống

“thầy đọc-trò chép” Nhiều GV đã quen với cách dạy học truyền thống nên có tâm

lý ngại đổi mới, chỉ phụ thuộc vào một tài lệu duy nhất là SGK Có một số GV còn

áp dụng kiểu dạy học vấn đáp GV hỏi-HS trả lời đến hết bài học Đặc biệt, khi tìmhiểu một khái niệm, nhiều GV chỉ đưa ra khái niệm đó đến HS mà chưa dẫn dắt họcsinh tự đưa ra khái niệm khiến HS không hiểu bản chất của khái niệm đó là gì

Việc áp dụng các phương pháp, KTDH trong các bài dạy ở trường THPT của

GV còn hạn chế Có rất ít GV thường xuyên sử dụng các PPDH tích cực trong khi

đó phần lớn GV chỉ thỉnh thoảng sử dụng thậm chí có GV chỉ sử dụng một phươngpháp là “thầy đọc-trò chép”, “GV hỏi-HS trả lời” GV không chú ý đến việc tổ chứccác hoạt động học tập mà chỉ nặng về truyền đạt kiến thức Chính điều này đã làmcho những bài dạy của GV trở nên đơn điệu, không thu hút được sự chú ý học tậpcủa HS

Ngoài ra hiện nay còn có hiện tượng một số thầy cô đã lạm dụng sự hỗ trợcủa CNTT chuyển từ hình thức “thầy đọc-trò chép” sang hình thức “thầy chiếu-tròchép” Nhiều GV đã sử dụng hình ảnh, video nhưng chỉ mang tính chất minh họa,trình bày hết nội dung bài học lên powerpoint để học sinh ngồi dưới chép Đây làthực trạng cần phải được giải quyết một cách nhanh nhất, tránh việc sử dụng saimục đích các thiết bị dạy học.Việc áp dụng CNTT vào dạy học nhằm mục đích làm

Trang 36

cho tiết học thêm sổi nổi chứ không phải thay thế vai trò của người thầy trong quátrình giảng dạy.

Hiện tượng HS chán và ngại học lịch sử diễn ra phổ biến ở tất cả các trườngTHPT Chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử ngày càng giảm sút nghiêm trọng.Điều này được biểu hiện rõ nét qua các kỳ thi Kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018 đãcho thấy thực trạng đáng báo động trọng việc học lịch sử của HS Gần 84% bài thimôn lịch sử dưới điểm trung bình và lịch sử là một trong hai môn có điểm trungbình thấp nhất trong các môn Kết quả này đang đánh lên một hồi chuông cảnh báo

về việc dạy và học môn lịch sử của HS Nếu để hiện tượng này tiếp tục diễn ra màkhông có hướng khắc phục sẽ tạo ra một lỗ hổng lớn về lịch sử dân tộc của HS, từ

đó ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước nói chung và ngành giáo dục nói riêng.Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là do:

Các em chưa có phương pháp học tập môn lịch sử đúng đắn và hiệu quả Khihọc lịch sử, các em chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất là “học thuộc lòng”,

“học vẹt” nhằm mục đích thi cho qua môn Hơn nữa, khi học tập ở nhà, các emkhông có những phương pháp để học tập Các em cũng chưa biết cách sử dụng cácphương pháp để ghi nhớ như phương pháp Graph, lập bảng so sánh, liệt kê,…Chính do phương pháp học không đúng cách khiến các em cảm thấy khó khăn khinhớ các sự kiện lịch sử dẫn đến hiện tượng chán nản khi học môn lịch sử

Từ thực trạng dạy và học lịch sử hiện nay đặt ra yêu cầu cấp thiết là cần phảiđổi mới hình thức, PPDH lịch sử, áp dụng nhiều phương pháp mới, KTDH tích cựcvào bài học để tăng hiệu quả bài dạy Ngoài ra chính bản thân nhà trường, GV, HS,phụ huynh cần phải loại bỏ suy nghĩ môn lịch sử là môn phụ và phải giành nhiềuthời gian hơn nữa cho việc học tập môn lịch sử

1.2.2 Thực trạng vận dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

Để tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy họclịch sử ở trường phổ thông, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra cho GV và

HS trong quá trình TTSP Tổng cộng có 10 GV ở các trường: THPT Mỹ Hào (HưngYên), THPT Mê Linh (Hà Nội), THPT Tiên Du 1(Bắc Ninh),……và học sinh ở 3trường: THPT Mỹ Hào (số lượng 2 lớp ), THPT Mê Linh (số lương 1 lớp), THPTTiên Du 1 (số lượng 1 lớp) với số phiếu phát ra là 145 phiếu

*Nội dung phiếu điều tra gồm:

Trang 37

-Quan điểm, nhận thức của GV, HS về bộ môn lịch sử, chất lượng dạy và học lịch sử ở trường THPT hiện nay.

-Mức độ sử dụng phương pháp Graph trong dạy học lịch sử ở trường THPT.-Đánh giá được những lợi ích của việc sử dụng phương pháp Graph khi dạy học lịch sử

-Đánh giá được ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy họctheo hướng phát triển năng lực HS

*Hình thức, phương pháp điều tra

-Tiến hành trao đổi với GV, HS của trường thực nghiệm, phát phiếu điều tra cho GV và HS ở 3 trường THPT Từ số liệu thu được tiến hành xử lí số liệu

Qua điều tra tổng hợp kết quả thực tiễn, tôi rút ra những kết luận sau:

Thứ nhất quan điểm của HS về môn lịch sử và các phương pháp HS sử dụng chủ yếu trong việc học lịch sử.

- “Mức độ yêu thích môn lịch sử (Rất thích/Thích/Bình thường/không

Trang 38

Kết quả điều tra khảo sát cho thấy đa số các em HS khi học tập lịch sử đềucảm thấy “bình thường” Số này chiếm tỉ lệ 57,2% Trong khi đó tỉ lệ HS “rất thíchhọc lịch sử” chỉ chiếm 4,1%, HS “thích học lịch sử” chiếm 15,2 %, còn lại 23,5%

HS “không thích học lịch sử” Từ số liệu này cho thấy, ở hầu hết các trường phổthông hiện nay là các em không thích hoặc chưa quan tâm đúng mức đến bộ mônlịch sử Lí do các em đưa ra để giải thích cho việc không thích học lịch sử là: “Lịch

sử có quá nhiều sự kiện khó nhớ nên các em không muốn học thuộc”(ý kiến nàychiếm 60,4%) Có em lại cho rằng: “Phương pháp của GV còn nặng nề về truyềnđạt kiến thức, thầy đọc-trò chép nên không tạo được hứng thú cho HS” Số lượngnày chiếm 17,5% Chính vì vậy GV cần phải đổi mới phương pháp dạy học nhằmphát huy tính chủ động tích cực của HS

Trang 39

Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện ý kiến của HS về mức độ yêu thích

môn lịch sử

4.1%

Trang 40

23.5% 15.2%

57.2%

Rất thích Thích Bình thường Không thích

- “Trong việc học lịch sử ở trường THPT, em thường sử dụng phương pháp học tập chủ yếu nào?”

Kết quả điều tra cho thấy hai phương pháp được HS thường xuyên sử dụng

là “học thuộc lòng bài giảng của thầy cô” (chiếm 79%) và “kết hợp SGK, bài giảngcủa thầy cô với tài liệu tham khảo” (chiếm 60%) Trong khi đó việc “sử dụngphương pháp Graph để hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức bài học” lại khôngchưa được HS sử dụng đến Có tới 58% HS chưa bao giờ sử dụng, 38% HS rất íthoặc thỉnh thoảng mới sử dụng Điều này cho thấy HS chưa có phương pháp họctập lịch sử đúng đắn, đa số các em chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất là “họcvẹt” bài giảng của thầy cô, tiếp thu kiến thức thụ động từ GV mà chưa chủ động tìmhiểu kiến thức

Bảng 1.1: Bảng thống kê ý kiến của HS về phương pháp học tập thường sử

dụng trong học môn lịch sử ở trường phổ thông “mức độ 1 tương ứng với không

sử dụng, số 5 tương ứng với rất thường xuyên sử dụng, chiều từ 1 đến 5 diễn tả mức

độ thường xuyên tăng dần”.

Ngày đăng: 18/11/2019, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w