1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông tây tiền hải, tỉnh thái bình hiện nay

70 674 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 513,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng được những yêu cầu đó đòi hỏi các cấp học, ngành học phải đổi mới về nội dung, chương trình… trong đó nhấn mạnh đến đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

=====***=====

NGUYỄN THỊ LUYẾN

SỰ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN

“CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” (MÔN GDCD LỚP 10)

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂY TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Giáo dục công dân

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân em

đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô và bạn bè Em xin được gửi lời

cảm ơn chân thành nhất tới thầy Nguyễn Quang Thuận, người đã tận tình

hướng dẫn em hoàn thành bài khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị đã giảng dạy chỉ bảo em trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên đã góp ý và ủng hộ tôi hoàn thành khóa luận này

Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự đóng góp của thầy cô cùng các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2013

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Luyến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy

Nguyễn Quang Thuận, tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kỳ chương trình nghiên cứu nào của các tác giả khác

Sinh viên

Nguyễn Thị Luyến

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” (MÔN GDCD LỚP 10) Ở TRƯỜNG THPT TÂY TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY 7 1.1 Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần

“Công dân với đạo đức” (môn GDCD lớp 10) ở trường THPT 7 1.2 Cở sở thực tiễn của phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần

“Công dân với đạo đức” (môn GDCD lớp 10) ở trường THPT 29 Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆC VẬN DỤNG

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN

“CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” (MÔN GDCD LỚP 10) Ở TRƯỜNG THPT TÂY TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY 36 2.1 Khái quát về trường trung học phổ thông Tây Tiền Hải ( Thái Bình) 36 2.2 Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD ở trường THPT Tây Tiền Hải 37 2.3 Cách thức tiến hành phương pháp nêu vấn đề 45 2.4 Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào thiết kế một số bài trong SGK GDCD lớp 10 47 2.5 Một số đề xuất để việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông đạt hiệu quả 57 KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh quốc tế được đặc trưng bởi xã hội hóa tri thức và toàn cầu hóa đã và đang đặt ra những đòi hỏi đối với người lao động, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ

và đào tạo nguồn nhân lực

Để đáp ứng được những yêu cầu đó đòi hỏi các cấp học, ngành học phải đổi mới về nội dung, chương trình… trong đó nhấn mạnh đến đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học với những hình thức khác nhau như “lấy người học làm trung tâm”, “phát huy tính tích cực”, “phương pháp dạy học tích cực”…

Mục 2 – điều 28 – Trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật giáo dục

(2009) quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [12, tr.71]

Trên thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhiều năm qua ở trường Trung học phổ thông nói chung, trường Trung học phổ thông Tây Tiền Hải nói riêng cho thấy, mặc dù đã cố gắng nhiều trong việc thay đổi cách dạy, cách học, tuy nhiên phần nhiều trong dạy học vẫn thiên về phương pháp dạy học truyền thống “giáo viên giảng – học sinh ghi” nên kết quả học tập chưa cao Trong khi đó thực tiễn của việc dạy học lại vô cùng phong phú Môn GDCD, đặc biệt là môn giáo dục công dân lớp 10 với những kiến thức mang tính khái quát, trừu tượng cao, nếu không gắn với thực tiễn đời sống thì sẽ trở nên khô khan, cứng nhắc, khó tiếp thu Vì thế cần thiết kế bài dạy dưới hình thức những vấn đề, câu hỏi, các tình huống để học sinh hăng hái chủ động

Trang 7

trao đổi, giải quyết các vấn đề đặt ra, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học Như vậy chất lượng học tập môn GDCD sẽ tốt hơn

Một khía cạnh nữa, đó là trong xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường hiện nay thì việc phát hiện sớm và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành đạt trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà được đặt ra như một mục tiêu giáo dục

Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn góp phần sức lực nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục công dân ở trường

Trung học phổ thông hiện nay, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông Tây Tiền Hải, tỉnh Thái Bình hiện nay”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

* Thế giới

Trên thực tế dưới những tên gọi khác nhau, tư tưởng dạy học nêu vấn đề

đã tồn tại từ lâu trong lịch sử

Thời cổ đại, các hình thức nêu vấn đề đã thấy trong những buổi tọa đàm

do Xocrat tổ chức hay trong cách dạy học trò của Khổng Tử

Các đại biểu của nền giáo dục mới từ những năm 70 của thế kỷ XIX đã nêu lên phương pháp tìm tòi phát kiến trong việc giải quyết những vấn đề có chứa đựng những khó khăn nhất định Tuy nhiên chưa có sự giải thích đầy đủ

về bản chất và cách thức vận dụng phương pháp này

Sang thế kỷ XX, xu hướng dạy học nêu vấn đề (hay dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề) đã được nhiều nhà khoa học giáo dục quan tâm cả trên bình

Trang 8

diện lý luận và thực nghiệm rộng rãi ở nhiều môn học khác nhau cho nhiều lứa tuổi học sinh phổ thông

+ Năm 1976 V.Ôkôn nhà giáo dục Ba Lan trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” đã đúc kết những kết quả tích cực của công trình

thực nghiệm hàng chục năm về dạy học nêu vấn đề

+ I.Ia.Lecne, nhà giáo dục Xô Viết trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” đã

lý giải và làm sáng tỏ bản chất của phương pháp dạy học gọi là dạy học nêu vấn đề, vạch ra cơ sở phương pháp, tác dụng, phạm vi của phương pháp này + Năm 1983 In – Babansky chính thức đặt tên cho phương pháp tổng hợp (Phương pháp nêu vấn đề - Ơristic) là nêu vấn đề tìm tòi Theo Babansky khi áp dụng phương pháp nêu vấn đề tìm tòi phải làm mấy việc là:

Xây dựng tình huống có vấn đề

Tổ chức trao đổi tập thể về cách giải quyết tình huống ấy

Khẳng định những giải pháp đúng

Nêu lên nhiệm vụ sẵn sàng giải quyết tình huống

Như vậy, các nhà giáo dục trên thế giới đã đánh giá cao vai trò của phương pháp nêu vấn đề và sự nghiên cứu phương pháp này ngày càng sâu sắc

Trang 9

- Đề tài “Xây dựng tình huống có vấn đề trong giảng dạy Vật lý nhằm nâng cao chất lượng học tập” của tác giả Nguyễn Hồng Việt

- PGS.TS Lê Phước Lộc trong giáo trình “Những cơ sở lý luận dạy học các môn học ở trường phổ thông” coi dạy học nêu vấn đề là một trong bốn

phương pháp dạy học cơ bản khi nghiên cứu tài liệu mới Đó là:

+ Phương pháp diễn giảng

+ Phương pháp đàm thoại gợi mở

+ Các phương pháp trực quan

+ Dạy học nêu vấn đề

Như vậy, có thể khẳng định rằng, đã có rất nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu đã đề cập và đánh giá cao vai trò của phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng, nhưng chưa có đề tài nào đề cập đến việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trường THPT một cách cụ thể

Vì vậy, tôi đã tiếp tục kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của phương pháp dạy học nêu vấn

đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Tây Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là phương pháp dạy học nêu vấn đề và vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “ Công dân với đạo đức” ỏ trường trung học phổ thông Tây Tiền Hải

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại trường Trung học phổ thông Tây Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Trang 10

Thời gian nghiên cứu: Trong thời gian đi thực tập từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 5 tháng 4 năm 2013

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:

- Lý luận cơ bản về phương pháp dạy học nêu vấn đề và việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Tây Tiền Hải

- Làm rõ thực trạng dạy và học môn GDCD ở trường THPT Tây Tiền Hải

- Rút ra quy trình và điều kiện thực hiện dạy học bằng phương pháp nêu vấn đề phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Tây Tiền Hải (Thái Bình)

4 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học phổ thông Tây Tiền Hải

- Trên cơ sở đó tìm hiểu thực trạng vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD và đưa ra một số giải pháp để việc vận dụng phương pháp này trong nhà trường đạt hiệu quả cao

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp có tính chất nền tảng, quán xuyến toàn bộ quá trình nghiên cứu là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê toán học

6 Đóng góp mới của đề tài

Nắm được thực trạng của việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Tây Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Trang 11

Đề xuất một số biện pháp cho việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT đạt được hiệu quả

Vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào thiết kế một số bài trong chương trình SGK GDCD lớp 10

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương, 7 tiết

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” (MÔN GDCD LỚP 10) Ở TRƯỜNG THPT TÂY TIỀN HẢI, TỈNH THÁI

1.1.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học

Khái niệm về phương pháp xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại

“Phương pháp” xuất phát từ thuật ngữ Hy Lạp cổ (Methodos) nghĩa là con đường nghiên cứu, cách thức để đạt tới mục đích nhất định

Ph.Bêcơn – nhà triết học người Anh đã ví phương pháp như là ngọn đèn soi đường cho người lữ hành đi trong đêm tối

Còn R Đềcáctơ lại khẳng định: Phương pháp là con đường, cách thức đi đến chân lý

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp là một phạm trù gắn với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức

và hoạt động thực tiễn của con người

Phương pháp bao giờ cũng hình thành từ sự tác động qua lại giữa cái khách quan và cái chủ quan

Phương pháp mang tính khách quan vì nó gắn liền với đối tượng, với khách thể mà con người muốn tác động bằng hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình

Phương pháp có tính chủ quan vì do con người tìm kiếm, lựa chọn và

sử dụng

Trang 13

Sự phù hợp cả hai mặt khách quan và chủ quan là điều kiện nhất định để

có được phương pháp đúng đắn khoa học

Phương pháp có nguồn gốc và nội dung từ thực tiễn Trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật khách quan, phương pháp đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ có hiệu quả để nghiên cứu và cải tạo thế giới

Trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng rất cần có phương pháp Phương pháp chính là một trong những thành tố cấu trúc của quá trình dạy học,

có vai trò quan trọng trong việc thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học

Có nhiều những quan niệm khác nhau về phương pháp dạy học

Theo tác giả Đanilốp và M.Seatkin trong cuốn “Lý luận dạy học trường trung học” khẳng định “Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu của thầy và trò, trong quá trình đó thầy tổ chức sự tác động của trò đến đối tượng nghiên cứu mà kết quả là trò lĩnh hội được nội dung trí dục” [14, tr.67] Nhà giáo dục Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Phương pháp dạy học là con đường chính yếu, cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt nội dung trí dục để trên cơ sở đó và thông qua đó chỉ đạo sự học tập của trò, còn trò lĩnh hội và tự chỉ đạo sự học tập của bản thân

để cuối cùng đạt tới mục đích dạy học” [11, tr.23]

Như vậy, với những cách thức diễn đạt khác nhau nhưng ở góc độ nào phương pháp dạy học cũng là hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên, là hoạt động nhận thức và thực hành có tổ chức của học sinh, nhằm đảm bảo cho trò lĩnh hội được nội dung trí dục

Vì vậy, phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học

Phương pháp dạy học là một khái niệm rất phức hợp có nhiều bình diện, phương diện khác nhau Phương pháp dạy học có một số đặc điểm sau:

Trang 14

- Phương pháp dạy học định hướng mục tiêu dạy học

- Phương pháp dạy học là sự thống nhất của phương pháp dạy và phương pháp học

- Phương pháp dạy học thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục

- Phương pháp dạy học là sự thống nhất của logic nội dung dạy học và logic tâm lý nhận thức

- Phương pháp dạy học có mặt bên ngoài và mặt bên trong, có mặt khách quan và chủ quan

- Phương pháp dạy học là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học

Trong những nghiên cứu mới về dạy học, việc tạo môi trường học tập thích hợp được đặc biệt chú ý Mặt khác, định hướng chung của việc đổi mới giáo dục chú trọng là việc hình thành năng lực cho học sinh Do đó có thể

hiểu phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những môi trường dạy học được chuẩn bị, nhằm đạt được mục đích dạy học, phát hiện các năng lực của cá nhân

Phương pháp dạy học rất đa dạng và phong phú, được vận dụng một cách linh hoạt trong giảng dạy các môn học ở nhà trường, căn cứ vào đối tượng dạy học cụ thể, nội dung tri thức môn học và từng đơn vị kiến thức Giáo dục công dân là một môn khoa học xã hội, có ưu thế trong việc giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh trung học nói chung và học

sinh trung học phổ thông nói riêng Do đó phương pháp dạy học GDCD chính

là những hình thức và cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên

và học sinh nhằm phát hiện những quy luật của quá trình dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và phương pháp dạy

Trang 15

học cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy và học môn GDCD ở trường trung học [7, tr.20]

Trong hệ thống các phương pháp dạy học môn GDCD có nhiều phương pháp Có phương pháp truyền thống như: Phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan…

Có những phương pháp mới phát huy tính tích cực của học sinh như: Phương pháp dự án, phương pháp đóng vai, phương pháp nêu vấn đề…trong

đó phương pháp nêu vấn đề là một trong những phương pháp rất hiệu quả trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh

1.1.1.2 Quan niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề

* Vấn đề

Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn cản trở cần vượt qua Một số vấn đề được đặc trưng bởi 3 thành phần:

- Trạng thái xuất phát: không mong muốn

- Trạng thái đích: trạng thái mong muốn

Trang 16

Vấn đề khác nhiệm vụ ở chỗ đó là: Khi giải quyết một nhiệm vụ thì đã

có sẵn trình tự và cách thức giải quyết cũng như những kiến thức, kỹ năng đã

có đủ để giải quyết nhiệm vụ đó Còn vấn đề theo Lecne “Là một câu hỏi nảy

ra hay được đặt ra cho chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tìm tòi sáng tạo lời giải nhưng chủ thể đã có một số phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào việc tìm tòi đó” [16, tr.27]

Như vậy trong mỗi vấn đề phải có một cái gì đó chưa biết nhưng đồng thời phải có một cái gì đó đã biết hoặc đã cho, nếu không chúng ta sẽ không thể nhận thức được

Vấn đề có các dấu hiệu như:

Dưới góc độ khác nhau, phương pháp dạy học nêu vấn đề được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan niệm:

Trên quan điểm giáo dục, I.Ia.Lecne cho rằng “Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học trong chương trình” [16, tr 5 – 6]

Trang 17

V.Ôkôn – Nhà giáo dục Ba Lan quan niệm “Dạy học nêu vấn đề là toàn

bộ các hoạt động như tổ chức tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú

ý giúp đỡ cho học sinh những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuối cùng là quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức tiếp thu được” [18, tr.103]

PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng “Dạy học nêu vấn đề là hình thức dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, bao gồm sự kết hợp các phương pháp dạy và học có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Nhờ vậy nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ sở khoa học, phát triển tính tích cực, tính tự lực

và năng lực sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan cho họ” [1, tr 41]

Như vậy, với những quan niệm khác nhau của các tác giả trong và ngoài nước về phương pháp dạy học nêu vấn đề, mặc dù còn nhiều sự khác biệt nhưng các tác giả đều nhấn mạnh đến mục tiêu cơ bản của phương pháp dạy học nêu vấn đề là nhằm rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh, trong đó bao gồm cả khả năng nhận biết và phát hiện vấn đề

Xét về bản chất phương pháp dạy học nêu vấn đề phản ánh những nội dung sau:

Thứ nhất: Phương pháp dạy học nêu vấn đề bao gồm những hệ thống tác

động của giáo viên và học sinh, những cách thức thực hiện tổng quát các quy luật và nguyên tắc dạy học nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học

Thứ hai: Phương pháp dạy học nêu vấn đề là sự mô hình hóa quá trình tư

duy, cho nên những quy luật tâm lý tư duy và quy luật lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức là cơ sở của nó

Thứ ba: Trong dạy học nêu vấn đề, phương tiện điều khiển hoạt động

nhận thức của học sinh là việc giáo viên tạo nên tình huống có vấn đề, học sinh ý thức rõ được vấn đề đó và tự lực hoặc dưới sự chỉ đạo của giáo viên giải quyết vấn đề, kiểm tra những kết luận đã rút ra

Trang 18

Thứ tư: Phương pháp dạy học nêu vấn đề tạo điều kiện thực hiện tốt ba

nhiệm vụ của dạy học đó là:

+ Dạy và học để làm gì ? (Mục đích)

+ Dạy và học những vấn đề gì ? (Nội dung dạy học)

+ Dạy và học như thế nào ? (Phương pháp và hình thức dạy học)

Qua đây ta có thể định nghĩa về phương pháp dạy học nêu vấn đề như

sau: Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Học sinh được đặt ra trong một tình huống có vấn đề thông qua việc giải quyết vấn đề đó giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức

Dạy học nêu vấn đề có những đặc trưng cơ bản sau:

+ “Giáo viên đặt ra trước học sinh những bài toán nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm

+ Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán nhận thức như là mâu thuẫn trong nội tâm mình, hay nói cách khác là đặt học sinh vào tình huống

có vấn đề trở thành nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bài toán nhận thức + Thông qua quá trình giải bài toán nhận thức, học sinh lĩnh hội được nội dung, cách thức giải quyết một cách một cách tự giác, tích cực hứng thú của sự nhận thức sáng tạo” [5, tr.111]

* Đặc điểm của dạy học nêu vấn đề

Là một phương pháp dạy học tích cực, phương pháp nêu vấn đề có một

số đặc điểm cơ bản sau:

+ Là một hệ phương pháp trong đó phương pháp xây dựng tình huống có vấn đề là trung tâm chỉ đạo, có tác dụng gắn bó các phương pháp khác thành một hệ thống toàn vẹn

+ Hạt nhân của dạy học nêu vấn đề là hệ thống tình huống có vấn đề và

hệ thống các câu hỏi nêu vấn đề

Trang 19

+ Có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Người học được đặt trong tình huống trong đó có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức trạng thái có nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bằng được mâu thuẫn đó, người học lĩnh hội kiến thức tự giác và tích cực trong đó

có niềm vui của sự nhận thức sáng tạo

+ Dạy học nêu vấn đề có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học, trong

đó tư duy độc lập sáng tạo vừa là phương tiện vừa là mục đích của quá trình dạy học

+ Có yêu cầu cao đối với người dạy và người học

+ Tốn nhiều thời gian, hiệu suất ban đầu thấp nhưng hiệu quả và chất lượng cao HS nắm chắc kiến thức, nhớ lâu, đảm bảo sự cá nhân hóa hướng vào người học

+ Có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học, nhiều dạng bài ở các mức khác nhau

* Ưu điểm của phương pháp dạy học nêu vấn đề

Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Bản chất của nó là tạo nên một chuỗi những “tình huống có vấn đề”, “ tình huống học tập” và điều khiển học sinh giải quyết những vấn đề học tập đó Nhờ vậy, nó đảm bảo cho HS lĩnh hội vững chắc những cơ sở khoa học, phát triển năng lực tư duy sáng tạo

và hình thành cơ sở thế giới quan khoa học

Có thể khái quát những ưu điểm của dạy học nêu vấn đề như sau:

- Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS, giúp hình thành tính độc lập, sáng tạo trong tư duy, khắc phục được tình trạng thụ động trong việc tiếp nhận tri thức của HS

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề giúp HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, chuẩn bị được năng lực

Trang 20

thích ứng với đời sống xã hội, đó là phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh, đó chính là “dạy học cách học” cho người học

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề giúp HS vững tin vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống học tập cũng như đời sống hiện thực Rèn luyện tác phong mạnh dạn, tự tin, tính độc lập trong học tập và sinh hoạt tập thể, tạo ra niềm vui sướng của sự khám phá tri thức mới, đồng thời tăng cường hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác để giải quyết tình huống

- Dạy học nêu vấn đề giúp giáo viên thu được những thông tin phản hồi của HS, từ đó có thể điều chỉnh hướng suy nghĩ giải quyết vấn đề của HS được đúng hướng

- Áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề là một biện pháp tốt, thực hiện phương châm “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” hoàn toàn phù hợp với quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm”, thích hợp cho mọi cấp học và môn học

- Phương pháp này không yêu cầu phải sử dụng nhiều và đầy đủ các phương tiện dạy học hiện đại, rất phù hợp cho điều kiện còn thiếu các trang thiết bị dạy học hiện đại ở các trường phổ thông, đặc biệt là các trường phổ thông ở nông thôn hiện nay

* Nhược điểm của phương pháp dạy học nêu vấn đề

Tuy có nhiều ưu điểm nhưng cũng giống như các phương pháp khác, phương pháp nêu vấn đề không phải là phương pháp vạn năng và duy nhất đúng Phương pháp nêu vấn đề có những hạn chế nhất định Đó là:

- Phương pháp này yêu cầu giáo viên phải đầu tư nhiều công sức và thời gian cho việc soạn giáo án, bởi vì xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học là việc khó, không phải giáo viên nào cũng làm được Giáo viên phải đặt

ra được các tình huống có vấn đề, dự kiến các hướng giải quyết vấn đề của

Trang 21

HS và các phương án để điều chỉnh hướng tư duy của HS vào các phương án giải quyết vấn đề đúng Đòi hỏi giáo viên phải có kinh nghiệm chuyên môn,

có trình độ sâu rộng và am hiểu những vấn đề thực tế liên quan đến bộ môn

- Mức độ tham gia tích cực của HS phụ thuộc vào trạng thái tâm lý, phụ

thuộc vào việc giáo viên đặt ra tình huống có vấn đề có thực sự là “có vấn đề” với HS không

- Nếu giáo viên tổ chức lớp học không tốt sẽ mất nhiều thời gian vì HS sẽ tốn nhiều thời gian để giải quyết những tình huống và rút ra tri thức cần thiết

1.1.2 Tình huống có vấn đề và cách tạo tình huống có vấn đề

1.1.2.1 Tình huống có vấn đề

* Tình huống có vấn đề

Theo nghĩa chung nhất, tình huống là một sự kiện có thực trong đời sống

xã hội với những đặc trưng vật lý, sinh lý, tâm lý xã hội Theo đó, mọi cá nhân và xã hội luôn sống trong các tình huống nhất định, thường xuyên chịu

sự tác động của tình huống và luôn luôn phải tìm cách giải quyết các tình huống đó Có những tình huống giản đơn xảy ra trong bữa ăn, trong sinh hoạt, giao tiếp hằng ngày, có những tình huống phức tạp xảy ra trong hoạt động nghề nghiệp, trong nghiên cứu khoa học… Trong rất nhiều các tình huống như vậy, tùy theo mối quan hệ được thiết lập với chủ thể hành động mà tình huống sẽ trở thành tình huống có vấn đề hay tình huống không có vấn đề Trong đó tình huống có vấn đề là trung điểm của phương pháp dạy học nêu vấn đề, nó có vai trò quan trọng trong quá trình lĩnh hội tri thức và điều khiển quá trình tư duy

Theo A.M Machiukin “Một tình huống gọi là tình huống có vấn đề khi xuất hiện sự không tương xứng, sự xung khắc giữa cái đã biết và cái đòi hỏi, cách thức và những yếu tố thực hiện hành động đang đòi hỏi, hoặc khi con người gặp phải một vài điều kiện mới mà không thể thực hiện hành động đã biết” [17, tr.25]

Trang 22

Tác giả Đặng Văn Đức – Nguyễn Thu Hằng quan niệm “tình huống vấn

đề hay tình huống học tập là trạng thái tâm lý xuất hiện khi con người gặp phải tình huống khó khăn giải quyết mà bằng tri thức đã có, bằng cách thức

đã biết không thể thực hiện được mà đòi hỏi phải lĩnh hội tri thức mới và cách thức hành động mới Nói cách khác tình huống vấn đề hay tình huống học tập là trạng thái tâm lý khi HS gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết nhưng muốn biết” [6, tr.102]

Còn PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo lại quan niệm “Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý của sự khó khăn về trí tuệ xuất hiện ở con người khi họ trong tình huống có vấn đề mà họ phải giải quyết chứ không thể giải thích một sự kiện mới bằng tri thức đã có trước đây và họ phải tìm cách thức hoạt động mới” [1, tr.43]

Có thể nói dưới những góc độ khác nhau, tình huống có vấn đề được các

tác giả quan niệm khá phong phú, nhưng đều thống nhất ở quan niệm coi tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý độc đáo nảy sinh khi con người gặp phải chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn trong bản thân giữa cái đã biết

và cái chưa biết, điều đó đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn bằng cách tìm tòi, sáng tạo tích cực không phải bằng tái hiện hay bắt trước

Tuy nhiên, không phải tình huống nào cũng trở thành tình huống có vấn

đề, tình huống có vấn đề chỉ xuất hiện khi có sự không tương xứng giữa cái

đã biết và cái chưa biết Nêu tri thức mới không hấp dẫn hoặc quá khó đối với

HS thì tình huống có vấn đề cũng không có giá trị Vì thế tình huống có vấn

đề có giá trị khi:

Một là: Phải tồn tại một vấn đề Trong tình huống phải chứa đựng mâu

thuẫn nhận thức, đó là mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết Người học phải ý thức được khó khăn trong tư duy hoặc trong hành động mà vốn hiểu biết sẵn chưa đủ để vượt qua

Trang 23

Hai là: Phải gợi được nhu cầu nhận thức Tình huống có vấn đề phải gây

được sự ngạc nhiên, tò mò, căng thẳng, hứng thú và mong muốn giải quyết vấn đề Để có được trạng thái tâm lý đó, tình huống có vấn đề cần được xây dựng theo logic khách quan của tiến trình dạy học

Ba là: Tình huống có vấn đề phải mang tính vừa sức, phù hợp với trình

độ hiểu biết của người học, gây cho người học niềm tin vào khả năng giải quyết vấn đề

* Các loại tình huống có vấn đề

Khi bàn về tình huống có vấn đề, có nhiều quan điểm chỉ ra sự phân loại

tình huống có vấn đề Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, tình huống có vấn đề

có các loại sau:

Một là: Tình huống nghịch lý

Là tình huống có vấn đề mới nhìn dường như là vô lý, không phù hợp với quy luật, lý thuyết đã thừa nhận chung Đối với HS tình huống này được tạo ra bằng cách giới thiệu những sự kiện, hiện tượng trái với quan điểm thông thường, với kinh nghiệm cá nhân, cách thức giải quyết ở đây là tìm và phân tích chỗ sai, chỗ chưa chính xác trong cách hiểu vấn đề, từ đó tìm ra cách hiểu khoa học Nhờ cách giải quyết những nghịch lý tương tự trên có thể tạo nên lý thuyết mới bao quát hơn so với lý thuyết cũ, thậm chí bác bỏ lý thuyết cũ đã lỗi thời

Hai là: Tình huống lựa chọn

Là tình huống có vấn đề xuất hiện khi đứng trước một sự lựa chọn rất khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết Phương án nào cũng có những hợp lý đồng thời cũng có những hạn chế nhất định Người học chỉ lựa chọn một phương án duy nhất mà bản thân cho là tối ưu, là hợp lý nhất trên

cơ sở phân tích các phương án

Ba là: Tình huống bác bỏ

Trang 24

Là tình huống có vấn đề đòi hỏi phải bác bỏ một luận điểm, một kết luận sai lầm phản khoa học Để đạt được điều đó HS phải tìm ra chỗ yếu, chỗ sai, chỗ thiếu chính xác của luận điểm, của kết luận đó, chứng minh tính chất sai lầm của nó

Bốn là: Tình huống “tại sao”

Là tình huống phổ biến trong nghiên cứu khoa học và trong dạy học Tình huống này xuất hiện khi người ta gặp phải những hiện tượng, sự kiện mà

con người chưa đủ tri thức để giải thích hiện tượng đó và luôn thốt lên “tại sao” [1, tr.47]

Các tình huống này đỏi hỏi HS phải vận dụng kiến thức và kỹ năng vốn

có để giải quyết vấn đề đặt ra, phải tìm được mối liên hệ, đặc biệt là mối liên

hệ nhân quả Điều quan trọng là giáo viên phải làm thế nào để tạo tình huống

có vấn đề Làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải nắm được và phân biệt được các loại tình huống có vấn đề nhằm tạo ra hệ thống mâu thuẫn phù hợp với môn học và trình độ HS của mình

1.1.2.2 Cách tạo tình huống có vấn đề

Có nhiều cách để xây dựng tình huống có vấn đề

PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo đưa ra những cách sau:

- Tạo cho HS bắt gặp những sự kiện, hiện tượng đòi hỏi phải giải thích

về mặt lý luận

+ Ví dụ: Khi tìm hiểu sự bùng nổ dân số và trách nhiệm của công dân trong việc hạn chế sự bùng nổ dân số, giáo viên có thể đưa ra số liệu sau: Theo điều tra của Tổng cục thống kê ở Việt Nam, nước ta có:

16.660 trẻ vị thành niên ở tuổi 13 – 14, 125.400 em tuổi 15 – 17, 407.755 em từ 17 – 19 tuổi đã có vợ, chồng [3, tr.216]

Giáo viên nêu vấn đề: Theo em những số liệu trên nói lên điều gì? Sự bùng nổ dân số sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào?

Trang 25

- Để cho HS phân tích những sự kiện, hiện tượng làm cho họ đụng phải mâu thuẫn giữa thực tiễn đời sống và khái niệm khoa học về những sự kiện đó + Ví dụ: Trong bài 13 “Công dân với cộng đồng”, ở mục 1: “Cộng đồng

và vai trò của cộng đồng đối với cuộc sống của con người”, giáo viên có thể xây dựng tình huống:

Em hãy phân tích mối liên hệ giữa cộng đồng đối với cuộc sống con người? Trên cơ sở trả lời được câu hỏi, HS dễ dàng liên hệ và so sánh giữa thực tiễn đời sống mà các em được tiếp xúc với nội dung tri thức các em được học

- Tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách đề ra giả thuyết, tính chất nghiên cứu

- Kích thích học sinh khái quát sơ bộ những sự kiện mới để tạo nên tình huống có vấn đề

- Tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách tạo ra cho HS những bài tập có tính chất nghiên cứu

+ Ví dụ: Trong bài 13 “Công dân với cộng đồng”, giáo viên có thể xây dựng tình huống có vấn đề bằng cách đưa ra bài tập: Hãy giải thích cách hiểu của em về câu ca dao sau:

Một cây làm chẳng lên non

Ba cây chụm lại lên hòn núi cao

- Trình bày cho HS những sự kiện, thoạt đầu mới nhìn dường như không thể giải thích được và dẫn đến việc đề xuất vấn đề khoa học trong lịch sử khoa học

- Tạo nên tình huống có vấn đề bằng cách kích thích HS so sánh, đối chiếu những sự kiện, hiện tượng, quy tắc hoạt động [1, tr.50]

Như vậy, có nhiều cách tạo tình huống có vấn đề, giáo viên cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung môn học, bài học và năng lực của HS để lựa chọn cách thức xây dựng tình huống có vấn đề

Trang 26

1.1.3 Các hình thức của phương pháp dạy học nêu vấn đề

* Trình bày nêu vấn đề

Đây là hình thức trình bày bài giảng của giáo viên bằng thủ pháp gây tình huống nhằm lôi cuốn sự chú ý của HS bằng cách diễn đạt vấn đề dưới dạng nghi vấn gợi mở hoặc đặt ra những câu hỏi

Thực chất trình bày nêu vấn đề đó là: Sau khi tạo ra tình huống có vấn đề, giáo viên đã tự mình giải quyết tình huống đó thay vì HS giải quyết Không những vậy, giáo viên còn vạch rõ logic của quá trình đi đến lời giải đó với những mâu thuẫn những lệch lạc của nó, nêu ra nguồn gốc phát sinh mâu thuẫn, lệch lạc, những luận cứ khẳng định cho mỗi bước đi tới lời giải cuối cùng

Với cách trình bày như vậy sẽ gợi ở HS nhu cầu theo dõi logic của bài và

kiểm tra sự đúng đắn của bài một cách “không chủ định”

Trong quá trình trình bày, nếu giáo viên trình bày một bước nào đó thiếu

cơ sở hoặc chưa thật thuyết phục thì HS sẽ nảy ra thắc mắc, hoài nghi, phản đối Điều này sẽ bồi dưỡng năng lực nhìn thấy vấn đề, óc phê phán và những nét tư duy sáng tạo Bên cạnh đó, kiểu trình bày nêu vấn đề cho phép HS nghe

và dự đoán được các bước nghiên cứu tiếp theo của mình, hoặc xây dựng bước đó theo cách khác riêng theo ý mình, thể hiện sự sáng tạo ở trình độ nào

Trang 27

là…Nghĩa vụ của con người khác với hoạt động nuôi con của con vật như thế nào? (…) Con người cần có cuộc sống tự do, bình đẳng và được sống trong một đất nước hòa bình Vậy nghĩa vụ đặt ra là gì? (…) Trẻ em cần được đi học” Vậy nghĩa vụ đặt ra như thế nào?” (…) Từ đó giáo viên rút ra khái niệm

về nghĩa vụ Sau khi trình bày xong, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi và câu trả lời nhằm phát triển vấn đề: “Trong đời sống, người ta thường hay nhầm lẫn giữa việc thực hiện nghĩa vụ với những hành vi giúp đỡ người khác” Do đó

để phân biệt được nghĩa vụ với các hành vi khác, cần thấy được những yêu cầu khi thực hiện nghĩa vụ Đó là gì? (…)

Với cách trình bày nêu vấn đề như trên, sẽ khơi gợi cho HS nhu cầu

“không chủ định” theo dõi logic của bài, có thể dự đoán được bước nghiên cứu tiếp theo, hoặc xây dựng các bước nghiên cứu đó theo cách nói riêng của mình, thể hiện sự sáng tạo đối với vấn đề học tập

Sử dụng hình thức trình bày nêu vấn đề nhằm giải quyết những bài giảng khó, những vấn đề phức tạp mà HS chưa thể tự giải quyết được hoặc bước đầu giúp HS làm quen với quan niệm dạy học nêu vấn đề

* Nêu vấn đề một phần (hay nêu vấn đề tìm tòi bộ phận)

Khi một bài học mà nội dung kiến thức của bài học đó hoặc đề cập tới vấn đề mới mà HS không thể tự giải quyết được, còn nội dung kiến thức của phần tiếp theo HS có thể tự giải quyết trên nền tảng kiến thức của phần trước thì áp dụng hình thức dạy học này là cần thiết Trong quá trình vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đề một phần, giáo viên có thể gợi ý bước thứ nhất hay một bước khó tiếp theo, các bước còn lại HS phải tự lực làm lấy Giáo viên có thể lập kế hoạch giải còn thực hiện kế hoạch thì giao cho HS Hay nói cách khác, với kiểu dạy học nêu vấn đề một phần, HS không tham gia giải quyết tất cả vấn đề, mà chỉ tham gia giải quyết một phần vấn đề và không nhất thiết phải

là liên tục

Trang 28

Thực chất của kiểu dạy học này là giáo viên lập kế hoạch các bước giải, lập kế hoạch cho quá trình đi đến lời giải hay làm cho quá trình đó trở nên dễ giải hơn, còn HS tự lực giải quyết một vấn đề

Ví dụ: Trong bài 11 “ Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học”, mục 3:

“Nhân phẩm và danh dự” có hai mục nhỏ: a Nhân phẩm, b Danh dự Trong mục 3 này giáo viên có thể tập trung sử dụng kiểu nêu vấn đề một phần vào mục b Vì sau khi HS nắm được khái niệm nhân phẩm chính là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người có được, chính là những giá trị làm người của mỗi con người Những biểu hiện của nhân phẩm như: có lương tâm trong sáng, nhu cầu vật chất tinh thần lành mạnh, thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức… Trên cơ sở những kiến thức vừa nắm bắt được ở phần a, dưới sự hướng dẫn của giáo viên thông qua các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt: Khi con người tạo ra cho mình những giá trị đạo đức, giá trị làm người tốt thì có được xứng đáng công nhận không? Ai công nhận? HS có thể tự lực giải quyết được vấn đề, hiểu được bản chất của khái niệm danh dự chính là nhân phẩm được xã hội đánh giá và công nhận

Sử dụng kiểu dạy học nêu vấn đề một phần, giáo viên trình bày bài giảng theo kiểu nêu vấn đề, nhưng chỉ giải quyết vấn đề đến một chừng mực nào đó, những phần còn lại thì tổ chức cho HS tự lực giải quyết

Với kiểu dạy học này, HS sẽ thu được kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, nắm được các yếu tố tìm tòi nghiên cứu

* Nêu vấn đề toàn phần

Giáo viên đưa ra vấn đề cùng hệ thống các câu hỏi chính, câu hỏi phụ, gợi mở… để dẫn dắt HS độc lập giải quyết vấn đề và rút ra kết luận Thực chất của việc dạy học này là giáo viên tổ chức cho HS nghiên cứu nội dung khoa học của bài học một cách sáng tạo

Trang 29

Nêu vấn đề toàn phần là kiểu dạy học điển hình nhất của dạy học nêu vấn đề Kiểu dạy học này đảm bảo phát huy tới mức cao nhất sự phát triển khả năng tư duy sáng tạo của HS, hình thành ở HS những tri thức, kỹ năng kỹ xảo mới, khơi dậy ở các em niềm say mê, hứng thú của sự tìm tòi phát hiện Mặc dù vậy, việc áp dụng hình thức nêu vấn đề toàn phần vẫn còn phụ thuộc vào nội dung kiến thức bài học, tùy thuộc vào trình độ của HS, sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, phương pháp tiến hành của giáo viên và ý thức chủ động tự giác của HS trong học tập

* Nêu vấn đề có tính giả thuyết

Với kiểu dạy học này, giáo viên sẽ đưa vào bài học một số giả thuyết hoặc quan điểm có tính chất mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên cứu nhằm xây dựng tình huống có vấn đề thuộc loại giả thuyết Về phía HS đòi hỏi phải lựa chọn quan điểm nào đúng và có sự lập luận vững chắc về sự lựa chọn của mình, đồng thời phải phê phán chính xác, khách quan những quan điểm không đúng đắn, phản khoa học Đây là một yêu cầu cao đối với HS THPT, nhất là HS lớp 10, vốn sống còn ít, kiến thức còn hạn chế, cách nhìn với cuộc sống còn đơn giản Nhưng nếu làm được điều này sẽ giúp các em có bản lĩnh,

tự tin, quyết đoán, biết xác lập một lập trường tư tưởng vững vàng, không bị lôi kéo vào các quan điểm và hành động phản khoa học

Một số đặc điểm của nêu vấn đề có tính giả thuyết:

- Kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết sẽ đưa HS vào các quan điểm, giả thuyết khác nhau, buộc học sinh phải tìm tòi lựa chọn quan điểm nào đúng để dần đi đến chiếm lĩnh tri thức mới

- Rèn luyện cho HS khả năng so sánh phân tích, lập luận khoa học, đem lại sự hứng thú và tích cực cao khi tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề

Để giúp HS có cơ hội đối chiếu, đánh giá hoặc phê phán quan điểm, giả thuyết trong những trường hợp cần thiết, giáo viên nên trình bày rõ về lịch sử khoa học của vấn đề, hoàn cảnh, điều kiện làm nảy sinh những quan điểm, giả

Trang 30

thuyết đó… Tức là mở rộng những thông tin liên quan để HS thuận lợi trong quá trình tiến tới phán đoán, kết luận vấn đề

Ví dụ: Có thể nêu vấn đề có tính giả thuyết như sau:

Khi nhu cầu và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhu cầu lợi ích của xã hội, cá nhân phải biết:

+ Đặt nhu cầu và lợi ích cá nhân lên trên nhu cầu và lợi ích của xã hội + Đặt nhu cầu và lợi ích của cá nhân ngang bằng với nhu cầu và lợi ích của xã hội

+ Đặt nhu cầu và lợi ích của xã hội lên trên nhu cầu và lợi ích của cá nhân + Đảm bảo quyền lợi của mình như quyền lợi chung

+ Hy sinh quyền lợi của mình vì quyền lợi chung

Quan điểm nào đúng, quan điểm nào sai? Vì sao?

Hoặc có những quan điểm sau đây về danh dự:

+ Danh dự chính là uy tín đã được xác nhận và suy tôn

+ Danh dự là đức tính đã được tôn trọng và đề cao

+ Danh dự là nhân phẩm đã được đánh giá và công nhận

+ Danh dự là năng lực đã được khẳng định và thừa nhận

Ví dụ: Giáo viên đưa ra số liệu nói lên hiện tượng dân số tăng nhanh: + 1950 dân số thế giới 2,5 tỷ

+ 1980 dân số thế giới 4,4 tỷ

Trang 31

+ 1987 dân số thế giới 5 tỷ

+ 2006 dân số thế giới 6,6 tỷ

Em có suy nghĩ gì về các số liệu nói trên?

Trên đây là một số hình thức dạy học nêu vấn đề Giáo viên cần căn cứ

và khả năng của bản thân, trình độ của HS, nội dung từng đơn vị kiến thức để

Là một môn khoa học xã hội, gắn với đường lối của Đảng, cùng với các môn khoa học khác, môn GDCD góp phần hình thành cho HS những phẩm chất tốt đẹp của người công dân trong thời đại mới Môn GDCD đã trực tiếp hình thành cho HS thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến và đạo đức trong sáng, trực tiếp hình thành niềm tin lý tưởng và ý thức pháp luật cho các thế hệ công dân của đất nước Việt Nam Điều đó cho thấy đây là môn học giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho HS ý thức và hành vi, góp phần hình thành và phát triển ở HS những phẩm chất và năng lực cần thiết của người công dân trong xã hội, đang hòa vào sự phát triển chung của nhân loại Bên cạnh đó môn GDCD có vai trò quan trọng trong việc trong việc phát triển tâm lực – một thành tố cơ bản của nhân cách HS Vì thế môn GDCD góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng được đòi hỏi của thời kỳ CNH, HĐH đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại Đây là điểm khác biệt giữa môn GDCD với các môn học khác trong trường THPT, đồng thời đây cũng là điểm nói lên vị trí rất quan trọng của môn học này

Trang 32

Như vậy, nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức cho học sinh được tất cả các môn học, các hình thức giáo dục của nhà trường thực hiện, nhưng chỉ có môn GDCD mới có thể giáo dục trực tiếp cho HS những tri thức theo một hệ thống xác định, toàn diện về thế giới quan, nhân sinh quan, có ý thức sống phù hợp với quy luật khách quan, xác định được trách nhiệm của công dân đối với bản thân, gia đình, cộng đồng xã hội Các môn học khác không thay thế được môn GDCD trong nhiệm vụ giáo dục này

Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường nói chung, trường THPT nói riêng được quan tâm và diễn ra mạnh mẽ

ở các trường học, trong đó việc vận dụng các phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của người học được áp dụng hầu hết ở các cấp học

Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS với một số đặc trưng như: Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS, dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác, kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò…

Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một phương pháp dạy học có vị trí hết sức quan trọng trong các phương pháp dạy học tích cực cần thiết phải vận dụng vào môn GDCD như: Phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp dự

án, phương pháp đóng vai… Là một phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạy học nêu vấn đề có vai trò quan trọng trong dạy môn GDCD ở trường THPT, cụ thể:

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề tạo cho người học phát huy trí tuệ, óc thông minh sáng tạo của mình, đòi hỏi cố gắng đến mức cao nhất sự suy nghĩ tìm tòi, để giải quyết tốt vấn đề đặt ra, đặc biệt là những vấn đề có tính quy luật Điều này sẽ giúp người học phát hiện chính mình, sở trường, khả năng tiềm ẩn trong bản thân người học

Trang 33

- Giúp giáo viên kiểm tra đánh giá năng lực của HS thông qua việc trình bày, lý giải những vấn đề, những tình huống của HS, phân loại được HS, từ

đó có những biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng

- Thông qua việc giải những bài toán nhận thức trên lớp, phương pháp này còn có khả năng tập hợp trí tuệ của cả tập thể lớp để giải quyết vấn đề, tạo điều kiện cho các em học hỏi lẫn nhau, hỗ trợ đồng tâm với nhau để thực hiện nhiệm vụ chung

- Rèn luyện cho HS phương pháp tự học Thông qua việc lý giải các bài toán nhận thức, người học sẽ thu được không chỉ tri thức mà cả những kỹ năng, kỹ xảo mới, từ đó giúp các em có thể sử dụng phương pháp nhận thức

mà mình tiếp nhận được để tìm hiểu những nội dung tri thức mới không chỉ trong sách giáo khoa mà cả trong các tài liệu khác và những tình huống xảy ra trong thực tiễn

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề bồi dưỡng cho HS lòng ham học thông qua niềm vui sau khi giải quyết xong tình huống có vấn đề

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề giúp cho HS ghi nhớ một cách sâu sắc nội dung tri thức Quy luật của tâm lý học đã khẳng định: Con người sẽ nhớ lâu hơn những gì tự mình khám phá, giải quyết Thông qua việc tự mình giải quyết các vấn đề HS sẽ nhớ lâu hơn những tri thức mình đã học

- Với môn GDCD không chỉ yêu cầu HS nắm vững tri thức mà còn biết vận dụng những tri thức vào thực tiễn để đánh giá, lý giải các hiện tượng diễn

ra trong cuộc sống Điều đó đòi hỏi phải biết vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy môn GDCD Bởi vì phương pháp này rèn luyện cho HS khả năng vận dụng lý thuyết vào trong thực tế, rèn luyện được năng lực phát triển và giải quyết vấn đề, đáp ứng được yêu cầu: Dạy học không chỉ đơn giản

là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động

Trang 34

- Nội dung môn GDCD bao gồm tri thức khác nhau như: Triết học, Chính trị, Kinh tế, Văn hóa, Đạo đức, Pháp luật…, cùng với sự phát triển của

xã hội, những tri thức này ngày càng trở nên phong phú Mặt khác, theo quy luật của chương trình không thể tăng thời gian trên lớp để truyền thụ nội dung tri thức, do đó theo quy luật chung để giải quyết điều này là tích cực hóa hoạt động của HS, tạo điều kiện cho HS độc lập giải quyết các tình huống, các vấn

đề trong học tập Phương pháp dạy học nêu vấn đề đã đáp ứng yêu cầu trên

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề làm cho hoạt động của giáo viên tích cực hơn Trong đó giáo viên trở thành người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS Do đó hoạt động của giáo viên phức tạp, khó khăn hơn rất nhiều Yêu cầu quan trọng đối với giáo viên đó là phải chuẩn bị

kỹ trước khi lên lớp, có tri thức sâu rộng, có kỹ năng sư phạm và lòng nhiệt tình nghề nghiệp Điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng học tập, rèn luyện, suy nghĩ tích cực và sáng tạo

1.2 Cở sở thực tiễn của phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” (môn GDCD lớp 10) ở trường THPT

1.2.1 Đặc điểm môn GDCD phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT

Môn GDCD ở trường THPT có vai trò quan trọng trong việc hình thành

và phát triển nhân cách con người Cùng với các môn học khác, môn GDCD góp phần đào tạo những con người mới vừa có tri thức khoa học, vừa có đạo đức, năng lực hoạt động thực tiễn, có phẩm chất chính trị tư tưởng, có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với gia đình và đối với chính bản thân mình Phần “Công dân với đạo đức” là một trong năm phân môn của chương trình môn GDCD ở trường THPT và là một trong hai phần của chương trình môn GDCD lớp 10 Phần “Công dân với đạo đức” có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho HS những hiểu biết về các phạm trù cơ bản của đạo đức học

Trang 35

và trách nhiệm đạo đức của người công dân trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là phần tổng kết, khái quát lại những nội dung giáo dục đạo đức mà học sinh đã được học ở tiểu học và THCS

Mục tiêu của phần này gồm:

* Về kiến thức:

- Hiểu được các giá trị, chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật cơ bản

để chủ động giải quyết tốt, hợp lý các quan hệ với gia đình, cộng đồng, Nhà nước, nhân loại và các quan hệ khác

- Hiểu được sự cần thiết và cách thức rèn luyện để đạt các phẩm chất, năng lực chủ yếu của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trên cơ

sở đó xác định được trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội

* Về kỹ năng:

- Có kỹ năng phân tích đánh giá các quan điểm hành vi, các hiện tượng đạo đức trong đời sống hằng ngày, ở trường và ngoài xã hội, biết tự điều chỉnh hành vi của mình và lên án, đấu tranh với những hành vi sai trái khác

- Có kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học vào giải thích và giải quyết những vấn đề gần gũi, có tính chất phổ biến trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội cũng như những khó khăn vướng mắc của bản thân và gia đình, lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống

- Biết bảo vệ và thực hiện đúng đắn các quyền, nghĩa vụ của công dân

- Có kỹ năng tự tổ chức và rèn luyện để có hành vi, thói quen, hành động phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội

- Biết xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện và kiên trì thực hiện mục tiêu kế hoạch đặt ra

* Về tư tưởng, thái độ:

- Yêu quê hương, yêu đất nước

Ngày đăng: 16/11/2015, 12:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh quá trình dạy học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
2. Phùng Văn Bộ (chủ biên), Nguyễn Như Hải, Trần Thế Vĩnh, Hoàng Ngọc Mai (2001), Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học
Tác giả: Phùng Văn Bộ (chủ biên), Nguyễn Như Hải, Trần Thế Vĩnh, Hoàng Ngọc Mai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
3. Hồ Thanh Diện (2006), Thiết kế bài giảng Giáo dục công dân 10, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thiết kế bài giảng Giáo dục công dân 10
Tác giả: Hồ Thanh Diện
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
4. Hồ Thanh Diện, Vũ Xuân Vinh (2007), Bài tập tình huống Giáo dục công dân, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập tình huống Giáo dục công dân
Tác giả: Hồ Thanh Diện, Vũ Xuân Vinh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Nguyễn Việt Dũng, Vũ Hồng Tiến, Nguyễn Văn Phúc (1999), Phương pháp giảng dạy Kinh tế chính trị ở các trường đại học – cao đẳng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương pháp giảng dạy Kinh tế chính trị ở các trường đại học – cao đẳng
Tác giả: Nguyễn Việt Dũng, Vũ Hồng Tiến, Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng ( 2003), Phương pháp dạy học Địa lý theo hướng tích cực, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Địa lý theo hướng tích cực
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
7. Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga (2009), Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông, Nxb Đại học sư phạm , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2009
8. Đặng Vũ Hoạt (chủ biên ) ( 2004), Lý luận dạy học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
9. Trần Thị Hồng (2006), Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong môn GDCD lớp 10 ở trường trung học phổ thông Đông Sơn – Tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong môn GDCD lớp 10 ở trường trung học phổ thông Đông Sơn – Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Trần Thị Hồng
Năm: 2006
10. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
11. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Lý luận dạy học đại cương, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1989
12. Tìm hiểu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (2010), Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
Tác giả: Tìm hiểu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
13. In. K- Babansky (1983), Giáo dục học, Nxb Tiến bộ Maxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: K- Babansky
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Maxcơva
Năm: 1983
14. M. Đanilôp và M. Seatkin (1980), Lý luận dạy học trường trung học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học trường trung học
Tác giả: M. Đanilôp và M. Seatkin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
15. G. N. Kazansky, Snazanova (1978), Lý luận dạy học (tài liệu dịch) Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học (tài liệu dịch)
Tác giả: G. N. Kazansky, Snazanova
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm
Năm: 1978
16. I. Ia. Lecne (1977) Phương pháp dạy học nêu vấn đề (dịch giả Nguyễn Tất Đắc), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học nêu vấn đề (dịch giả Nguyễn Tất Đắc)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. A.M. Machiuskin (1972) Tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học, Maxcơva, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học, Maxcơva
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. V.Ôkôn (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề
Tác giả: V.Ôkôn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1976

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1.1 MỨC ĐỘ GIÁO VIÊN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU - Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông tây tiền hải, tỉnh thái bình hiện nay
BẢNG 1.1 MỨC ĐỘ GIÁO VIÊN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU (Trang 45)
BẢNG 1.2 MỨC ĐỘ GIÁO VIÊN SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP - Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông tây tiền hải, tỉnh thái bình hiện nay
BẢNG 1.2 MỨC ĐỘ GIÁO VIÊN SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP (Trang 46)
BẢNG 1.3 MỨC ĐỘ GIÁO VIÊN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU - Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông tây tiền hải, tỉnh thái bình hiện nay
BẢNG 1.3 MỨC ĐỘ GIÁO VIÊN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU (Trang 47)
1  Hình thức cá nhân  0  0  0 - Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông tây tiền hải, tỉnh thái bình hiện nay
1 Hình thức cá nhân 0 0 0 (Trang 47)
BẢNG  1.4  KẾT  QUẢ  TÌM  HIỂU  VỀ  NHỮNG  KHÓ  KHĂN  MÀ  GIÁO VIÊN GẶP PHẢI TRONG QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG PHƯƠNG  PHÁP NÊU VẤN ĐỀ - Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức (môn GDCD lớp 10) ở trường trung học phổ thông tây tiền hải, tỉnh thái bình hiện nay
1.4 KẾT QUẢ TÌM HIỂU VỀ NHỮNG KHÓ KHĂN MÀ GIÁO VIÊN GẶP PHẢI TRONG QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w