1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

54 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 720,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ.Phân môn Chính tả giúp học sinh hình thành năng lực, thói quen viết đúng chính tả đó là thói

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS ĐỖ THỊ THU HƯƠNG

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, đặc biệt là PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương- người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Trong qua trình nghiên cứu, tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và bạn đọc góp ý để khóa luận của tôi hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Vi Thị Hằng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận: “Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3” Là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của

PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương Các số liệu, kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực Kết quả nghiên cứu khóa luận này chưa được đăng tải trên bất kì một chương trình khoa học hay tạp chí nào

Hà Nội, tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Vi Thị Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc khóa luận 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Một số thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu 5

1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi Tiểu học 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 13

1.2.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học 13

Tiểu kết chương 1 15

Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 3 17

2.1 Khảo sát các lỗi chính tả trong bài viết chính tả của học sinh 17

2.1.1 Mục đích khảo sát 17

2.1.2 Địa điểm và thời gian khảo sát 17

2.1.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát 17

2.1.4 Thống kê bài viết chính tả 17

2.1.5 Nội dung khảo sát 17

2.1.6 Kết quả khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiến Thắng A - Mê Linh - Hà Nội và nhận xét 18

Trang 5

2.2 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh lớp 3 21

Tiểu kết chương 2 22

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RẺN CHÍNH TẢ 24

CHO HỌC SINH LỚP 3 24

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3 24

3.2 Biện pháp chữa các lỗi: phụ âm dầu, lỗi phần vần và lỗi thanh điệu 25

3.2.1 Luyện phát âm 25

3.2.2 Ghi nhớ hình thức chữ viết với nghĩa của từ 25

3.2.3 Phân tích so sánh 27

3.2.4 Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả: 27

3.2.5 Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập: 34

3.2.6 Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các môn học khác: 39

3.3 Biện pháp chữa lỗi viết hoa 40

3.3.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững quy tắc viết hoa 40

3.3.2 Một số bài tập giúp học sinh chữa lỗi viết hoa 43

Tiểu kết chương 3 46

KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường, đặc biệt là trong trường Tiểu học Tiếng Việt là một môn công cụ, là cơ sở để hình thành vốn ngôn ngữ chuẩn làm nền tảng cho các bậc học sau này Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường góp phần rèn luyện cho các em năng lực tư duy, phương pháp làm việc, giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm trong sáng, lành mạnh

Viết là một dạng hoạt ngôn ngữ, là quá trình chuyển từ lời nói ở dạng âm thanh sang hình thức chữ viết Theo một số từ điển thì Chính tả là viết đúng,

là lối viết hợp với chuẩn Cụ thể, Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ.Phân môn Chính tả giúp học sinh hình thành năng lực, thói quen viết đúng chính tả đó là thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực đồng thời là cơ sở để học các môn học khác từ đó làm chủ được tiếng nói và khả năng sử dụng trong các hoạt động giao tiếp và tư duy

Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn học Tiếng Việt là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho học sinh kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phát triển tư duy cho học sinh Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhân cách con người mới Phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực chữ viết Dạy tốt chính tả cho học sinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ năng cơ bản mà các em cần đạt tới

Đối với học sinh Tiểu học, việc học chính tả là vô cùng quan trọng Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở để viết đúng Tuy nhiên, có trường hợp đọc sai nhưng viết đúng Trên thực tế, ở nhiều địa phương có

Trang 7

nhiều người dân ở những vùng miền khác nhau đến định cư thì hiện tượng không đồng âm trong cách phát âm là rất phổ biến Chính vì vậy học sinh Tiểu học mắc lỗi chính tả rất nhiều Qua việc tìm hiểu thức tế trong việc dạy

và học Chính tả, chúng tôi nhận thấy việc học Chính tả của học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn Từ những lý do trên và với mong muốn giúp học sinh lớp

3 có những biện pháp để học tốt hơn phân môn Chính tả, chúng tôi quyết

định chọn đề tài “Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thực tiễn đề tài này, các tác giả đã quan tâm nghiên cứu như:

Trong cuốn Dạy học sinh viết đúng chính tả của Trịnh Mạnh và Trần

Thành Lâm năm 1969, chúng ta đã có những tài liệu ban đầu được dùng cho giáo viên dạy Tiểu học, cung cấp những kiến thức cơ bản cho việc dạy Chính

tả ở Tiểu học như phương pháp, quy trình, nội dung cơ bản, tuy nhiên sau nhiều cuộc cải cách giáo dục và quá trình hoàn thiện ngôn ngữ tiếng Việt, những nội dung này còn ít tính phù hợp với dạy học hiện đại

Giáo trình Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học của Lê A (1982, Nhà xuất

bản Đại học Sư phạm) tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học Chính tả ở Tiểu học, đưa ra một số nguyên tắc và một số kiểu bài dạy học Chính tả ở Tiểu học, cũng như các vấn đề về chính tả phương ngữ nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả Giáo trình đã bổ sung những thiếu sót, đưa ra cách hiểu và giải thích đúng đắn hơn về các quy tắc chính tả mà

“Luật và mẹo chính tả” của Phan Quang An đã đề xuất

Giáo trình Dạy học chính tả ở Tiểu học của Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân

Thu (1995, Nhà xuất bản Giáo dục) các tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và

cơ sở thực tiễn của việc dạy học Chính tả ở Tiểu học, đồng thời đưa ra một số nguyên tắc, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Chính tả nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói

Trang 8

chung Ngoài ra các tác giả còn đưa ra một số quy tắc chính tả tiếng Việt giúp người đọc biết viết đúng, thành thạo âm tiết, từ đó hình thành kĩ năng chính tả tiếng Việt

Trong cuốn Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học của

Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hưởng đã giải đáp những băn khoăn của nhiều giáo viên hiện nay về nội dung và phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả Đặc biệt là đưa ra những lỗi chính tả mà học sinh hay mắc phải và biện pháp khắc phục, cách chấm chữa bài chính tả, cách luyện phát âm đúng rất hữu ích cho giáo viên Có thể coi đây là cuốn cẩm nang cho giáo viên dạy Tiếng Việt

Trong cuốn Tiếng Việt thực hành của GS.TS Bùi Minh Toán - PGS.TS

Nguyễn Quanh Ninh (2004, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm) đã dành một chương bàn về việc luyện kĩ năng chính tả tiếng Việt, các tác giả đã đưa ra một số nguyên tắc chính tả tiếng Việt và cách luyện chữa các lỗi chính tả thường gặp, đưa ra các quy tắc viết hoa và phương thức biểu đạt các từ ngữ và thuật ngữ nước ngoài, là tài liệu tham khảo thêm dành cho giáo viên Tiểu học

Bên cạnh đó, trong cuốn Từ điển vần của Hoàng Phê, tác giả liên tục cập

nhật số lượng vần lớn và tương đối đầy đủ, từ điển giúp cho người viết tìm thấy các dạng viết vần chuẩn thông dụng trong văn bản, giải quyết các vấn đề chính tả trong tiếng Việt, rất hữu ích đối với người nghiên cứu, học tập và giảng dạy phân môn Chính tả ở Tiểu học

Trên cơ sở kế thừa kết quả lý luận quý báu của những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi đi sâu hơn vào nghiên cứu đối tượng cụ thể là các biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3, từ đó giúp học sinh lớp 3 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung hạn chế lỗi chính tả

Trang 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận về việc rèn chính tả cho học sinh lớp 3

- Khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3

- Đề xuất các biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

5 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3 Khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3A, 3B, 3D tại trường Tiểu học Tiến Thắng A- Mê Linh- Hà Nội với số lượng 150 bài

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp khảo sát, điều tra

- Phương pháp thống kê toán học

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo Nội dung khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3

Chương 3: Một số biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

Trang 10

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.1.1.1 Khái niệm Chính tả

Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Nói cách khác chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân Nó là phương tiện thuận lợi cho việc lưu truyền thông tin, đảm bảo cho người viết, người đọc thống nhất những điều đã viết

Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc một cách linh hoạt

có tính chất sáng tạo

Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất, chính tả thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ không bị trở ngại giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước với đời sau Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa phát

triển của một dân tộc

Chuẩn chính tả có những đặc điểm chính sau:

Đặc điểm đầu tiên của Chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối của nó Đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết

có thể chưa hợp lý nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả thì người viết không được tự ý viết khác đi Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là cách

Trang 11

viết thống nhất, thống nhất mọi người, mọi văn bản, mọi địa phương

Do chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên nó ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp) Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính chất cố hữu khá rõ

Chuẩn chính tả có tính chất ổn định cao, rất ít thay đổi, thường giữ nguyên trong thời gian dài nên thường tạo thành thói quen, tạo nên tâm lí trong lối viết của người bản ngữ Mặc dù vậy, chuẩn chính tả không phải là bất biến, khi chuẩn chính tả đã lỗi thời sẽ dần dần được thay thế bằng nhưng chuẩn chính tả mới

Cũng như những chuẩn ngôn ngữ khác, chuẩn ngôn ngữ chính tả là kết quả của sự lựa chọn giữa nhiều hình thức chính tả đang cùng tồn tại

em Là cơ sở để học Chính tả Nghe- viết và Nhớ- viết

- Dạng bài Nghe- viết

+ Đây là dạng bài thể hiện đặc trưng riêng của phân môn Chính tả Hình thức chính tả nghe đọc thể hiện rõ nhất đặc trưng của chính tả tiếng Việt là: Chính tả ngữ âm, giữa âm và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ với nhau- đọc thế nào viết thế ấy

Trang 12

+ Dạng bài này yêu cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ hay câu do giáo viên đọc và viết lại một cách chính xác như trong văn bản mẫu theo đúng tốc

độ quy định

+ Muốn viết được dạng này, học sinh phải có khả năng chuyển từ ngôn ngữ âm thanh sang hình thức chữ viết, phải nhớ được mặt chữ và các quy tắc chính tả tiếng Việt Vì chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa nên học sinh cần phải hiểu được nghĩa của từng tiếng, từng từ của văn bản

+ Để các kĩ năng chính tả được hình thành một cách nhanh chóng, văn bản được lựa chọn làm bài viết chính tả phải chứa nhiều hiện tượng chính tả cần dạy

- Dạng bài Nhớ- viết

Dạng bài này yêu cầu học sinh tái hiện lại hình thức chữ viết, viết lại một văn bản mà em đã học thuộc nhằm kiểm tra khả năng ghi nhớ của học sinh và được thực hiện vào giai đoạn học sinh đã quen và nhớ hình thức chữ viết của tiếng Việt

b Chính tả âm- vần

+ Hệ thống bài tập chính tả âm- vần trong chương trình phân môn Chính

tả lớp 3 có số lượng phong phú và được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng Nhờ vậy, chính tả âm- vần đã góp phần rèn luyện cho học sinh các kĩ năng chính tả, đặc biệt là kĩ năng viết đúng trong các trường hợp khó và dễ lẫn Thông qua các bài tập thích hợp các kĩ năng chính tả ở học sinh được hình thành một cách tự nhiên, bền vững

+ Dựa vào hình thức có thể chia hệ thống bài tập chính tả âm- vần thành các kiểu bài tập sau: Bài tập điền vào chỗ trống, bài tập tìm từ, bài tập tìm tiếng, bài tập lựa chọn, bài tập đặt câu và bài tập giải câu đố

1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi Tiểu học

1.2.1.1 Đặc điểm tâm lý

Trang 13

Lứa tuổi học sinh Tiểu học bao gồm các em từ 6 đến 11 tuổi Lứa tuổi này có hoạt động chủ đạo là học tập, sau đó là hoạt động vui chơi Hoạt động học rất quan trọng và có ý nghĩa đối với các em

Nếu như ở bậc học mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến bậc Tiểu học hoạt động của trẻ đã có sự thay đổi, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập của các em vẫn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang chơi các trò chơi vận động

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản than và gia đình như: tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, … Ngoài ra, trẻ còn tham gia hoạt động lao động tập thể như: trực nhật lớp, trồng cây, trồng hoa, …

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong… Những thay đổi kèm theo: Trong gia đình: Các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thực hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh

tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ

Trang 14

sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

Ở cuối Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những

hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sang tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối Tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt tưởng tượng của các em trong giai đoạn này

bị chi phối mạnh ẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đề gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Cần phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

c Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học

Hầu hết học sinh Tiểu học đều có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản than thong qua các kênh thong tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụn thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Trang 15

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng như vậy nên cần phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện

cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,

Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng

d Chú ý của học sinh Tiểu học

Ở đầu Tiểu học, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,

điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định chiếm

ưu thế hơn so với chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dung trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi, … Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Ở tuổi cuối Tiểu học, trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú

ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự

nỗ lức về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài… Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành trong khoảng thời gian quy định

Nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng

quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ

e Trí nhớ của học sinh Tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic

Ở tuổi đầu Tiểu học, ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm

Trang 16

ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Ở tuổi cuối Tiểu học, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng

cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển, tuy nhiên hiệu quả của việc ghi nhớ

có chủ định còn phụ thuộc nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dân của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý, tình cảm, hay hứng thú của các em…

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

g Ý chí của học sinh Tiểu học

Ở đầu tuổi Tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào

yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Đến cuối tuổi Tiểu học, các em đã có khả năng biến yêu cầu của người

lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh Tiểu học đòi hỏi phải có sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha

mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường

Trang 17

thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học

1.2.1.2 Đặc điểm sinh lý

Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hô, xương chân, xương tay còn đang trong thời kì phát triển (thời kì cốt hóa) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập… Vì thế mà các hoạt động vui chơi của các em thì cha mẹ, thầy cô cần chú ý, quan tâm đến các em, hướng các em đến các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn

Hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi hoạt động mạnh như chạy, nhảy, … Vì vậy mà các nhà giáo dục đưa các

em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự

an tàom cho trẻ

Hệ thần kinh cao cấp đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với trò chơi trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, … Dựa vào cơ chế sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4cm, trọng lượng mỗi năm tăng 2 kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106cm (nam) 104cm (nữ) Tuy nhiên con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khảong 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh

Trang 18

khoảng 85-90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học

1.2.1.1 Vị trí của phân môn Chính tả ở Tiểu học

Phân môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng ở Tiểu học vì giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy

riêng trong khi ở trung học cơ sở không có

Phân môn Chính tả ở chương trình Tiểu học có hai kiểu bài là chính tả đoạn bài và chính tả âm vần Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúng chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả Thời gian dành cho bài tập chính tả âm vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn

kĩ năng qua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Qua các bài tập chính tả âm, vần các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học

Tính chất nổi bật của phân môn Chính tả là thực hành bởi vì chỉ có thể hình thành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập Căn cứ vào mục tiêu dạy môn Tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếu nói riêng của phân môn Chính tả lớp 3 Ngoài kĩ năng rèn học sinh đọc thông chúng ta còn rèn cho học sinh viết thạo, viết đúng chính tả, rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, tính thẩm mĩ Ngoài việc nắm vững vị trí, nhiệm vụ, tính chất, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy phù hợp, giáo viên còn phải nắm vững các nguyên tắc dạy chính tả tiếng Việt Dạy chính tả là một quá trình rèn luyện lâu dài, không chỉ ở giờ chính tả

mà có thể rèn luyện phân tích từ phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn

Trang 19

Ví dụ một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tả thì bài văn đó không đạt điểm cao Ví dụ cụ thể hơn nữa là học sinh dự thi viết chữ đẹp cấp huyện dù chữ có đẹp bao nhiêu nhưng mắc một vài lỗi chính

tả thì cũng không đem lại kết quả Nếu một em viết sai nhiều lỗi chính tả (từ 5 lỗi trở lên) thì không thể học tốt các môn học khác

1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học

Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hóa mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt (đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho học sinh những thao tác tư duy cơ bản, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản

về tự nhiên, xã hội để góp phần giáo dục và hình thành nhân cách cho học sinh

Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả có nhiệm vụ là giúp học sinh nắm vững qui tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả, nói cách khác là giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho học sinh công cụ để học tập và giao tiếp xã hội Ngoài

ra phân môn còn rèn cho học sinh một số kĩ năng, phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, chính xác, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt

1.2.2 Nội dung chương trình phân môn Chính tả lớp 3

Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết Cả năm học sinh được học 62 tiết chính tả

Chương trình của phân môn Chính tả ở lớp 3 gồm các dạng sau:

1.2.2.1 Chính tả đoạn, bài:

Học sinh nhìn - viết (tập chép), Nhớ - viết và Nghe - viết một đoạn hay một bài có độ dài trên dưới 60 chữ (tiếng) Phần lớn các bài chính tả này được

Trang 20

trích từ bài tập đọc vừa học trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc

1.2.2.1 Chính tả âm, vần:

Nội dung cụ thể của chính tả âm, vần là luyện viết các tiếng có âm vần

dễ viết sai chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ (c /k, g/gh,

Nhìn chung phần lớn các bài viết đều có số lượng chữ viết tương đối phù hợp với học sinh lớp 3

Sau mỗi bài viết đều có phần luyện tập để rèn luyện, củng cố cho học sinh viết đúng chính tả

Khi nghiên cứu sách giáo viên, chúng tôi thấy có gợi ý gồm một số từ viết đúng được sách giáo khoa đưa ra, giáo viên nên chọn thêm các từ khác cho phù hợp với phương ngữ, hoặc trong các bài tập phân biệt có thể chọn hình thức phân biệt cho phù hợp với ngôn ngữ từng vùng miền

Tiểu kết chương 1

Học sinh Tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Học sinh Tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh

Trẻ em đến tuổi học thường bắt đầu quá trình học tập bằng quá trình học chữ, biết chữ mới có phương tiện để học Tiếng Việt và học các môn khoa học

Trang 21

khác Biết chữ là để biết đọc thông viết thạo Vì vậy trẻ phải được học chính

tả Chính tả là phân môn có tính chất công cụ, nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của trẻ Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học môn Tiếng Việt và các môn khoa học khác, môn chính tả cung cấp cho trẻ những quy tắc sử dụng hệ thống chữ viết làm cho trẻ nắm vững các quy tắc đó và hình thành kỹ năng viết thông thạo Tiếng Việt

Đây là cơ sở lý luận và cơ thực tiễn quan trọng, giúp chúng tôi nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu của đề tài khóa luận

Trang 22

Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC

tả, biết được điểm mạnh, điểm yếu của học sinh cũng như những khó khăn, thuận lợi mà học sinh và giáo viên gặp phải trong quá trình dạy và học về phân môn này Qua đây, định hướng và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao việc học chính tả cho học sinh lớp 3

2.1.2 Địa điểm và thời gian khảo sát

Địa điểm: Trường Tiểu học Tiến Thắng A- Mê Linh- Hà Nội

Thời gian: Từ ngày 28/02/2018- 10/03/2018

2.1.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát

Đối tượng: Để tìm hiểu về việc học chính tả của học sinh, chúng tôi tiến

hành khảo sát học sinh lớp 3A, 3B, 3D trường Tiểu học Tiến Thắng A- Mê Linh- Hà Nội

Phạm vi: Thông qua một số bài Tập đọc mà học sinh đã học, tiến hành

cho học sinh Nghe- viết một đoạn văn hoặc một đoạn thơ cho học sinh lớp 3A, 3B, 3D trường Tiểu học Tiến Thắng A- Mê Linh- Hà Nội

2.1.4 Thống kê bài viết chính tả

Số lượng: 150 bài

2.1.5 Nội dung khảo sát

Khảo sát các lỗi chính tả mà học sinh hay mắc phải:

- Lỗi phụ âm đầu

- Lỗi phần vần

Trang 23

- Lỗi thanh điệu

- Lỗi viết hoa

- Các lỗi khác

Tiến hành cho học sinh Nghe- viết vào giấy kẻ ô-li

2.1.6 Kết quả khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiến Thắng A - Mê Linh - Hà Nội và nhận xét

lượng (lỗi)

Tỉ lệ

%

Số lượng (lỗi)

Tỉ lệ Số

lượng (lỗi)

Tỉ lệ

%

Lỗi viết hoa: Dựa vào bảng thống kê, tôi nhận thấy lỗi viết hoa có số

lượng nhiều nhất 230 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 69,9%, học sinh thường mắc các

lỗi viết hoa như sau:Tên người, tên địa danh,…

+ Nguyễn Thị Thu Hà (Học sinh lớp 3B, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Lỗi phụ âm đầu: Học sinh viết sai 53 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 16,1%

Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi âm đầu, chủ yếu là lẫn lộn các phụ âm đầu như: ch/tr, s/x, r/d/g, g/gh, ng/ngh

Ví dụ:

Trong câu: “Chúng gọi nhau, trò chuyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau, ồn

mà vui không thể tưởng được.” Học sinh viết lẫn lộn các phụ âm như ch/tr,

Trang 24

Trong câu: “Chúng gọi nhau, trò chuyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau, ồn

mà vui không thể tưởng được” Học sinh viết lẫn lộn phụ âm đầu ch/tr

+ chêu (ghẹo) - trêu (ghẹo) ( Học sinh Nguyễn Thị Thu Hà, lớp 3B, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

+ chò (chuyện) - trò (chuyện) ( Học sinh Đại, lớp 3B, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

+ chanh (cãi) - tranh (cãi) ( Học sinh Đỗ Đức Hiếu, lớp 3B, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Trong câu: “Chào mào, sáo sậu, sáo đen …”.Học sinh viết lẫn lộn phụ

Trong câu: “Chúng gọi nhau, trò chuyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau,

ồn mà vui không thể tưởng được” Học sinh viết lẫn lộn phụ âm đầu c/k

Trang 25

+ k/c: kãi – cãi (Học sinh Diệu Linh, lớp 3B, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Trong câu: “Người ngồi trên lưng mặc áo xanh da trời” Học sinh viết lẫn lộn phụ âm đầu r/d

+ r/d: ra (trời) - da (trời) (Học sinh Đỗ Quang Thái, lớp 3D, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Trong câu: “Rì rào sóng vỗ” Học sinh viết lẫn lộn phụ âm đầu r/gi

+ r/gi: gì giào - rì rào (Học sinh Đỗ Viết Đức, lớp 3A, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Lỗi phần vần: Học sinh viết sai 16 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 4,9% Chủ

yếu học sinh viết lẫn lộn một số vần sau: iên/ uyên, at/ac, uc/ up, an/ang/oang, iet/ iec, et/ep, uân/ân

Trang 26

Trong câu: “Mềm mại tay cô” Học sinh viết lẫn lộn vần en/em

+ en/em: mền (mại) - mềm (mại) (Học sinh Đỗ Văn Hải, lớp 3A, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Trong câu: “Biển biếc bình minh” Học sinh viết lẫn lộn vần iêt/ iêc + iêt/iêc: (biển) biết - (biển) biếc (Học sinh Đỗ Anh Tú, lớp 3A, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Trong câu: “Như phép màu nhiệm” Học sinh viết lẫn lộn vần et/ep + et/ep: phét (màu) - phép (màu) (Học sinh Nguyễn Thị Dung, lớp 3A, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Trong cụm từ: “Theo Lê Tấn” Học sinh viết lẫn lộn vần uân/ân

+ uân/ân: (Lê) Tuấn – (Lê) Tấn

Lỗi thanh điệu: Học sinh mắc 13 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 3,1% Học sinh

thường viết thiếu dấu thanh, lẫn lộn dấu sắc với dấu ngã

Ví dụ:

+ sõng (vỗ) - sóng (vỗ) ( Học sinh Đỗ Minh Quân, lớp 3A, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Lỗi khác: Học sinh mắc 17 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 5,2% Các lỗi tiêu

biểu là: viết tắt, không xuống dòng, không lùi vào đầu dòng, không dùng dấu gạch nối để viết tên nước ngoài

2.2 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh lớp 3

- Về phía giáo viên:

Dạy học phân môn chính tả tương đối phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực

Một số giáo viên chưa đầu tư thời gian để nghiên cứu kiến thức và đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp với học sinh, còn lệ thuộc vào sách giáo khoa, sách giáo viên dẫn đến việc dạy học trở nên khô khan, nhàm chán, không gây được hứng thú cho học sinh

Trang 27

Nhiều giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc dạy học chính tả Đa số giáo viên chỉ chú ý đến việc dạy kiến thức mà bỏ qua việc dạy viết chính tả cho học sinh

Nhiều giáo viên chưa nắm rõ nội dung và phương pháp dạy của từng dạng bài tập chính tả Dẫn đến chưa đưa ra được những phương pháp phù hợp với học sinh

Chủ yếu giáo viên còn dạy chính tả theo phương pháp truyền thống, không chủ động tìm tòi những phương pháp dạy học mới

Nhiều giáo viên chưa dành thời gian luyện chữ, chữ viết chưa đẹp, chưa đúng quy định

- Về phía học sinh

Sự tập trung, chú ý của học sinh còn hạn chế dẫn đến học sinh viết theo cảm nhận, chưa khắc sâu vào tư duy, chưa biết sử dụng quy tắc chính tả

Nhiều học sinh chưa có tính cẩn thận nên viết bài ẩu, cẩu thả

Gặp khó khăn trong việc xác định định chữ này hay chữ kia, dấu này hay dấu kia

Học sinh không biết mình đang viết sai dẫn đến việc viết sai chính tả kéo dài nếu không được sửa chữa kịp thời

- Về phía phụ huynh

Phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc dạy viết cho học sinh Hoặc chính phụ huynh cũng chưa biết được cách viết đúng chính tả, dẫn đến việc dạy viết sai cho học sinh

Tiểu kết chương 2

Trong chương 2, chúng tôi đã nghiên cứu nội dung chương trình dạy học về các kiểu bài chính tả lớp 3 Từ đó tiến hành kháo sát thực trạng viết chính tả của học sinh ở 3 lớp: Lớp 3A, 3B và 3D tại trường Tiểu học Tiến Thắng A với số lượng là 150 bài chính tả Nghe- viết Chúng tôi nhận thấy, lỗi

Ngày đăng: 23/12/2019, 10:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w