1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

57 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 801,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viếtthống nhất cho các từ của một ngôn ngữ.Phân môn Chính tả giúp học sinhhình thành năng lực, thói quen viết đúng chính tả đó là thói qu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=======o0o=======

VI THỊ HẰNG

BIỆN PHÁP RÈN CHÍNH TẢ

CHO HỌC SINH LỚP 3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS ĐỖ THỊ THU HƯƠNG

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáotrong khoa Giáo dục Tiểu học, đặc biệt là PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương- ngườitrực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Trong qua trình nghiên cứu, tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót,kính mong quý thầy cô và bạn đọc góp ý để khóa luận của tôi hoàn thiện hơn.Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Vi Thị Hằng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận: “Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp

3” Là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của

PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương Các số liệu, kết quả nghiên cứu là hoàn toàntrung thực Kết quả nghiên cứu khóa luận này chưa được đăng tải trên bất kìmột chương trình khoa học hay tạp chí nào

Hà Nội, tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Vi Thị Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc khóa luận 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Một số thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu 5

1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi Tiểu học 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 13

1.2.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học 13

Tiểu kết chương 1 15

Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 3 17

2.1 Khảo sát các lỗi chính tả trong bài viết chính tả của học sinh 17

2.1.1 Mục đích khảo sát 17

2.1.2 Địa điểm và thời gian khảo sát 17

2.1.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát 17

2.1.4 Thống kê bài viết chính tả 17

2.1.5 Nội dung khảo sát 17

2.1.6 Kết quả khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiến Thắng A - Mê Linh - Hà Nội và nhận xét 18

Trang 5

2.2 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh lớp 3 21

Tiểu kết chương 2 22

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RẺN CHÍNH TẢ 24

CHO HỌC SINH LỚP 3 24

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3 24

3.2 Biện pháp chữa các lỗi: phụ âm dầu, lỗi phần vần và lỗi thanh điệu 25

3.2.1 Luyện phát âm 25

3.2.2 Ghi nhớ hình thức chữ viết với nghĩa của từ 25

3.2.3 Phân tích so sánh 27

3.2.4 Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả: 27

3.2.5 Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập: 34

3.2.6 Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các môn học khác: 39

3.3 Biện pháp chữa lỗi viết hoa 40

3.3.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững quy tắc viết hoa 40

3.3.2 Một số bài tập giúp học sinh chữa lỗi viết hoa 43

Tiểu kết chương 3 46

KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 7

Tiếng Việt là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường, đặcbiệt là trong trường Tiểu học Tiếng Việt là một môn công cụ, là cơ sở để hìnhthành vốn ngôn ngữ chuẩn làm nền tảng cho các bậc học sau này Việc dạyTiếng Việt trong nhà trường góp phần rèn luyện cho các em năng lực tư duy,phương pháp làm việc, giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm trongsáng, lành mạnh

Viết là một dạng hoạt ngôn ngữ, là quá trình chuyển từ lời nói ở dạng âmthanh sang hình thức chữ viết Theo một số từ điển thì Chính tả là viết đúng,

là lối viết hợp với chuẩn Cụ thể, Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viếtthống nhất cho các từ của một ngôn ngữ.Phân môn Chính tả giúp học sinhhình thành năng lực, thói quen viết đúng chính tả đó là thói quen viết đúngtiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực đồng thời là cơ sở để học các mônhọc khác từ đó làm chủ được tiếng nói và khả năng sử dụng trong các hoạtđộng giao tiếp và tư duy

Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thựchiện mục tiêu của môn học Tiếng Việt là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩnăng nghe cho học sinh kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt

và phát triển tư duy cho học sinh Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, conngười, góp phần hình thành nhân cách con người mới Phát triển tiếng mẹ đẻcho học sinh trong đó có năng lực chữ viết Dạy tốt chính tả cho học sinh tiểuhọc là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ năng cơ bản mà các em cần đạt tới.Đối với học sinh Tiểu học, việc học chính tả là vô cùng quan trọng Chữviết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đó việc viếtđúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở để viết đúng Tuy nhiên, cótrường hợp đọc sai nhưng viết đúng Trên thực tế, ở nhiều địa phương có

Trang 8

nhiều người dân ở những vùng miền khác nhau đến định cư thì hiện tượngkhông đồng âm trong cách phát âm là rất phổ biến Chính vì vậy học sinhTiểu học mắc lỗi chính tả rất nhiều Qua việc tìm hiểu thức tế trong việc dạy

và học Chính tả, chúng tôi nhận thấy việc học Chính tả của học sinh còn gặprất nhiều khó khăn Từ những lý do trên và với mong muốn giúp học sinh lớp

3 có những biện pháp để học tốt hơn phân môn Chính tả, chúng tôi quyết

định chọn đề tài “Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thực tiễn đề tài này, các tác giả đã quan tâm nghiên cứu như:

Trong cuốn Dạy học sinh viết đúng chính tả của Trịnh Mạnh và Trần

Thành Lâm năm 1969, chúng ta đã có những tài liệu ban đầu được dùng chogiáo viên dạy Tiểu học, cung cấp những kiến thức cơ bản cho việc dạy Chính

tả ở Tiểu học như phương pháp, quy trình, nội dung cơ bản, tuy nhiên saunhiều cuộc cải cách giáo dục và quá trình hoàn thiện ngôn ngữ tiếng Việt,những nội dung này còn ít tính phù hợp với dạy học hiện đại

Giáo trình Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học của Lê A (1982, Nhà xuất

bản Đại học Sư phạm) tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn củaviệc dạy học Chính tả ở Tiểu học, đưa ra một số nguyên tắc và một số kiểubài dạy học Chính tả ở Tiểu học, cũng như các vấn đề về chính tả phương ngữnhằm nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả Giáo trình đã bổ sung những thiếusót, đưa ra cách hiểu và giải thích đúng đắn hơn về các quy tắc chính tả mà

“Luật và mẹo chính tả” của Phan Quang An đã đề xuất

Giáo trình Dạy học chính tả ở Tiểu học của Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân

Thu (1995, Nhà xuất bản Giáo dục) các tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và

cơ sở thực tiễn của việc dạy học Chính tả ở Tiểu học, đồng thời đưa ra một sốnguyên tắc, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Chính tả nhằm nângcao chất lượng dạy học Chính tả nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói

Trang 9

chung Ngoài ra các tác giả còn đưa ra một số quy tắc chính tả tiếng Việt giúpngười đọc biết viết đúng, thành thạo âm tiết, từ đó hình thành kĩ năng chính tảtiếng Việt

Trong cuốn Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học của

Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hưởng đã giải đáp những băn khoăn của nhiều giáoviên hiện nay về nội dung và phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt nóichung và phân môn Chính tả Đặc biệt là đưa ra những lỗi chính tả mà họcsinh hay mắc phải và biện pháp khắc phục, cách chấm chữa bài chính tả, cáchluyện phát âm đúng rất hữu ích cho giáo viên Có thể coi đây là cuốn cẩmnang cho giáo viên dạy Tiếng Việt

Trong cuốn Tiếng Việt thực hành của GS.TS Bùi Minh Toán - PGS.TS

Nguyễn Quanh Ninh (2004, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm) đã dành mộtchương bàn về việc luyện kĩ năng chính tả tiếng Việt, các tác giả đã đưa ramột số nguyên tắc chính tả tiếng Việt và cách luyện chữa các lỗi chính tảthường gặp, đưa ra các quy tắc viết hoa và phương thức biểu đạt các từ ngữ vàthuật ngữ nước ngoài, là tài liệu tham khảo thêm dành cho giáo viên Tiểu học

Bên cạnh đó, trong cuốn Từ điển vần của Hoàng Phê, tác giả liên tục cập

nhật số lượng vần lớn và tương đối đầy đủ, từ điển giúp cho người viết tìmthấy các dạng viết vần chuẩn thông dụng trong văn bản, giải quyết các vấn đềchính tả trong tiếng Việt, rất hữu ích đối với người nghiên cứu, học tập vàgiảng dạy phân môn Chính tả ở Tiểu học

Trên cơ sở kế thừa kết quả lý luận quý báu của những công trình nghiêncứu trên, chúng tôi đi sâu hơn vào nghiên cứu đối tượng cụ thể là các biệnpháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3, từ đó giúp họcsinh lớp 3 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung hạn chế lỗi chính tả

Trang 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận về việc rèn chính tả chohọc sinh lớp 3

- Khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3

- Đề xuất các biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

5 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3Khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3A, 3B, 3D tại trườngTiểu học Tiến Thắng A- Mê Linh- Hà Nội với số lượng 150 bài

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp khảo sát, điều tra

- Phương pháp thống kê toán học

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo Nội dung khóa luậngồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3

Chương 3: Một số biện pháp rèn chính tả cho học sinh lớp 3

Trang 11

Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần nhưtuyệt đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc một cách linh hoạt

có tính chất sáng tạo

Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất, chính tảthống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ không bị trở ngại giữa các địaphương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước với đời sau.Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa pháttriển của một dân tộc

Chuẩn chính tả có những đặc điểm chính sau:

Đặc điểm đầu tiên của Chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệtđối của nó Đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết

có thể chưa hợp lý nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả thì ngườiviết không được tự ý viết khác đi Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là cách

Trang 12

viết thống nhất, thống nhất mọi người, mọi văn bản, mọi địa phương

Do chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên nó ít bị thayđổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từvựng, chuẩn ngữ pháp) Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định,tính chất cố hữu khá rõ

Chuẩn chính tả có tính chất ổn định cao, rất ít thay đổi, thường giữnguyên trong thời gian dài nên thường tạo thành thói quen, tạo nên tâm lítrong lối viết của người bản ngữ Mặc dù vậy, chuẩn chính tả không phải làbất biến, khi chuẩn chính tả đã lỗi thời sẽ dần dần được thay thế bằng nhưngchuẩn chính tả mới

Cũng như những chuẩn ngôn ngữ khác, chuẩn ngôn ngữ chính tả là kếtquả của sự lựa chọn giữa nhiều hình thức chính tả đang cùng tồn tại

1.1.1.3 Các dạng bài chính tả

a Chính tả đoạn bài: Bao gồm các dạng: Tập chép, Nghe viết và Nhớ

Trang 13

em Là cơ sở để học Chính tả Nghe- viết và Nhớ- viết.

- Dạng bài Nghe- viết

+ Đây là dạng bài thể hiện đặc trưng riêng của phân môn Chính tả Hìnhthức chính tả nghe đọc thể hiện rõ nhất đặc trưng của chính tả tiếng Việt là:Chính tả ngữ âm, giữa âm và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ với nhau- đọcthế nào viết thế ấy

Trang 14

+ Dạng bài này yêu cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ hay câu do giáoviên đọc và viết lại một cách chính xác như trong văn bản mẫu theo đúng tốc

độ quy định

+ Muốn viết được dạng này, học sinh phải có khả năng chuyển từ ngônngữ âm thanh sang hình thức chữ viết, phải nhớ được mặt chữ và các quy tắcchính tả tiếng Việt Vì chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa nên học sinhcần phải hiểu được nghĩa của từng tiếng, từng từ của văn bản

+ Để các kĩ năng chính tả được hình thành một cách nhanh chóng, vănbản được lựa chọn làm bài viết chính tả phải chứa nhiều hiện tượng chính tảcần dạy

- Dạng bài Nhớ- viết

Dạng bài này yêu cầu học sinh tái hiện lại hình thức chữ viết, viết lại mộtvăn bản mà em đã học thuộc nhằm kiểm tra khả năng ghi nhớ của học sinh vàđược thực hiện vào giai đoạn học sinh đã quen và nhớ hình thức chữ viết củatiếng Việt

b Chính tả âm- vần

+ Hệ thống bài tập chính tả âm- vần trong chương trình phân môn Chính

tả lớp 3 có số lượng phong phú và được thể hiện dưới nhiều hình thức đadạng Nhờ vậy, chính tả âm- vần đã góp phần rèn luyện cho học sinh các kĩnăng chính tả, đặc biệt là kĩ năng viết đúng trong các trường hợp khó và dễlẫn Thông qua các bài tập thích hợp các kĩ năng chính tả ở học sinh đượchình thành một cách tự nhiên, bền vững

+ Dựa vào hình thức có thể chia hệ thống bài tập chính tả âm- vần thànhcác kiểu bài tập sau: Bài tập điền vào chỗ trống, bài tập tìm từ, bài tập tìmtiếng, bài tập lựa chọn, bài tập đặt câu và bài tập giải câu đố

1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi Tiểu học

1.2.1.1 Đặc điểm tâm lý

Trang 15

Lứa tuổi học sinh Tiểu học bao gồm các em từ 6 đến 11 tuổi Lứa tuổinày có hoạt động chủ đạo là học tập, sau đó là hoạt động vui chơi Hoạt độnghọc rất quan trọng và có ý nghĩa đối với các em.

Nếu như ở bậc học mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thìđến bậc Tiểu học hoạt động của trẻ đã có sự thay đổi, chuyển từ hoạt động vuichơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập củacác em vẫn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vậtsang chơi các trò chơi vận động

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bảnthan và gia đình như: tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, … Ngoài ra, trẻcòn tham gia hoạt động lao động tập thể như: trực nhật lớp, trồng cây,trồng hoa, …

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào củatrường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong…Những thay đổi kèm theo: Trong gia đình: Các em luôn cố gắng là mộtthành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều nàyđược thực hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh

tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từrất nhỏ

Trang 16

sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

Ở cuối Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những

hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sang tạo tươngđối phát triển ở giai đoạn cuối Tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làmthơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt tưởng tượng của các em trong giai đoạn này

bị chi phối mạnh ẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiệntượng đề gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Cần phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biếncác kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các emnhững câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm,hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tínhcủa mình một cách toàn diện

c Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học

Hầu hết học sinh Tiểu học đều có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vàolớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thànhthạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngônngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xungquanh và tự khám phá bản than thong qua các kênh thong tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nhậnthức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tưduy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụn thể thôngqua ngôn ngữ nói và viết của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệcủa trẻ

Trang 17

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng như vậy nên cần phải trau dồi vốn ngônngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào cácloại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện

cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chứccác cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,

Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.

d Chú ý của học sinh Tiểu học

Ở đầu Tiểu học, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,

điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định chiếm

ưu thế hơn so với chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đếnnhững môn học, giờ học có đồ dung trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiềutranh ảnh, trò chơi, … Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu bền vững,chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Ở tuổi cuối Tiểu học, trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú

ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự

nỗ lức về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một côngthức toán hay một bài hát dài… Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiệngiới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian chophép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành trong khoảng thời gianquy định

Nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ vànên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầuhay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng

quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ.

e Trí nhớ của học sinh Tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic

Ở tuổi đầu Tiểu học, ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm

Trang 18

ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việcghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cáchkhái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.

Ở tuổi cuối Tiểu học, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng

cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển, tuy nhiên hiệu quả của việc ghi nhớ

có chủ định còn phụ thuộc nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệcủa các em, sức hấp dân của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý, tình cảm, hayhứng thú của các em…

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách kháiquát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quantrọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơngiản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lýhứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

g Ý chí của học sinh Tiểu học

Ở đầu tuổi Tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào

yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáokhen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối vớiviệc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thựchiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Đến cuối tuổi Tiểu học, các em đã có khả năng biến yêu cầu của người

lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bềnvững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫnchủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh Tiểu học đòi hỏi phải có sựkiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha

mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường

Trang 19

thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút.Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bướcđầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nềnnếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững củacác thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử tháchcủa trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quantâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về trithức khoa học.

1.2.1.2 Đặc điểm sinh lý

Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hô, xương chân, xươngtay còn đang trong thời kì phát triển (thời kì cốt hóa) nên dễ bị cong vẹo, gẫydập… Vì thế mà các hoạt động vui chơi của các em thì cha mẹ, thầy cô cầnchú ý, quan tâm đến các em, hướng các em đến các hoạt động vui chơi lànhmạnh, an toàn

Hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các tròchơi hoạt động mạnh như chạy, nhảy, … Vì vậy mà các nhà giáo dục đưa các

em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự

an tàom cho trẻ

Hệ thần kinh cao cấp đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duycủa các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tưduy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với trò chơi trí tuệ, các cuộc thi trítuệ, … Dựa vào cơ chế sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các emvới các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4cm, trọng lượng mỗi năm tăng 2 kg Nếutrẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106cm (nam) 104cm (nữ).Tuy nhiên con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịchkhảong 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh

Trang 20

khoảng 85-90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạchthấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học

1.2.1.1 Vị trí của phân môn Chính tả ở Tiểu học

Phân môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng ở Tiểu học vì giai đoạnTiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tảcho học sinh Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạyriêng trong khi ở trung học cơ sở không có

Phân môn Chính tả ở chương trình Tiểu học có hai kiểu bài là chính tảđoạn bài và chính tả âm vần Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viếtđúng chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả Thời gian dành chobài tập chính tả âm vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn

kĩ năng qua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Qua các bài tậpchính tả âm, vần các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữghi tiếng có âm, vần, thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học

Tính chất nổi bật của phân môn Chính tả là thực hành bởi vì chỉ có thểhình thành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập.Căn cứ vào mục tiêu dạy môn Tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếunói riêng của phân môn Chính tả lớp 3 Ngoài kĩ năng rèn học sinh đọc thôngchúng ta còn rèn cho học sinh viết thạo, viết đúng chính tả, rèn cho học sinhmột số phẩm chất như tính cẩn thận, tính thẩm mĩ Ngoài việc nắm vững vịtrí, nhiệm vụ, tính chất, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy phùhợp, giáo viên còn phải nắm vững các nguyên tắc dạy chính tả tiếng Việt.Dạy chính tả là một quá trình rèn luyện lâu dài, không chỉ ở giờ chính tả

mà có thể rèn luyện phân tích từ phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tậplàm văn

Trang 21

Ví dụ một học sinh làm một bài văn rất hay nhưng mắc nhiều lỗi chính tảthì bài văn đó không đạt điểm cao Ví dụ cụ thể hơn nữa là học sinh dự thiviết chữ đẹp cấp huyện dù chữ có đẹp bao nhiêu nhưng mắc một vài lỗi chính

tả thì cũng không đem lại kết quả Nếu một em viết sai nhiều lỗi chính tả (từ 5lỗi trở lên) thì không thể học tốt các môn học khác

1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở Tiểu học

Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hóa mục tiêu của phânmôn Tiếng Việt ở Tiểu học, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sửdụng tiếng Việt (đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho học sinhnhững thao tác tư duy cơ bản, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản

về tự nhiên, xã hội để góp phần giáo dục và hình thành nhân cách cho họcsinh

Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả có nhiệm vụ là giúphọc sinh nắm vững qui tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả, nói cáchkhác là giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả,củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viếttiếng Việt, trang bị cho học sinh công cụ để học tập và giao tiếp xã hội Ngoài

ra phân môn còn rèn cho học sinh một số kĩ năng, phẩm chất tốt như: tính cẩnthận, chính xác, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viếtcủa tiếng Việt

1.2.2 Nội dung chương trình phân môn Chính tả lớp 3

Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết Cả năm học sinhđược học 62 tiết chính tả

Chương trình của phân môn Chính tả ở lớp 3 gồm các dạng sau:

1.2.2.1 Chính tả đoạn, bài:

Học sinh nhìn - viết (tập chép), Nhớ - viết và Nghe - viết một đoạn haymột bài có độ dài trên dưới 60 chữ (tiếng) Phần lớn các bài chính tả này được

Trang 22

trích từ bài tập đọc vừa học trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc.

1.2.2.1 Chính tả âm, vần:

Nội dung cụ thể của chính tả âm, vần là luyện viết các tiếng có âm vần

dễ viết sai chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ (c /k, g/gh,

ng/ngh, ia/ya, i/y,…)

Hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương (l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi,

an/ang, dấu hỏi, dấu ngã)

Các bài tập luyện viết những tiếng dễ viết sai do cách phát âm địaphương bao giờ cũng là loại bài tập lựa chọn, dành cho một vùng phương ngữnhất định Giáo viên sẽ căn cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tảcủa mỗi lớp hoặc mỗi học sinh mà chọn bài tập thích hợp cho các em

Nhìn chung phần lớn các bài viết đều có số lượng chữ viết tương đối phùhợp với học sinh lớp 3

Sau mỗi bài viết đều có phần luyện tập để rèn luyện, củng cố cho họcsinh viết đúng chính tả

Khi nghiên cứu sách giáo viên, chúng tôi thấy có gợi ý gồm một số từviết đúng được sách giáo khoa đưa ra, giáo viên nên chọn thêm các từ kháccho phù hợp với phương ngữ, hoặc trong các bài tập phân biệt có thể chọnhình thức phân biệt cho phù hợp với ngôn ngữ từng vùng miền

Tiểu kết chương 1

Học sinh Tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Học sinh Tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tươnglai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủđịnh chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõnét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh

Trẻ em đến tuổi học thường bắt đầu quá trình học tập bằng quá trình họcchữ, biết chữ mới có phương tiện để học Tiếng Việt và học các môn khoa học

Trang 23

khác Biết chữ là để biết đọc thông viết thạo Vì vậy trẻ phải được học chính

tả Chính tả là phân môn có tính chất công cụ, nó có vị trí quan trọng tronggiai đoạn học tập đầu tiên của trẻ Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việchọc môn Tiếng Việt và các môn khoa học khác, môn chính tả cung cấp chotrẻ những quy tắc sử dụng hệ thống chữ viết làm cho trẻ nắm vững các quytắc đó và hình thành kỹ năng viết thông thạo Tiếng Việt

Đây là cơ sở lý luận và cơ thực tiễn quan trọng, giúp chúng tôi nghiêncứu và thực hiện những nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu của đề tài khóa luận

Trang 24

Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC

SINH LỚP 3 2.1 Khảo sát các lỗi chính tả trong bài viết chính tả của học sinh

2.1.1 Mục đích khảo sát

Từ mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sátviệc học chính tả của học sinh qua các bài chính tả Nghe- viết Từ đó, nắm bắtđược thực trạng và khả năng của học sinh trong việc học về phân môn chính

tả, biết được điểm mạnh, điểm yếu của học sinh cũng như những khó khăn,thuận lợi mà học sinh và giáo viên gặp phải trong quá trình dạy và học vềphân môn này Qua đây, định hướng và đề xuất các biện pháp nhằm nâng caoviệc học chính tả cho học sinh lớp 3

2.1.2 Địa điểm và thời gian khảo sát

Địa điểm: Trường Tiểu học Tiến Thắng A- Mê Linh- Hà Nội.

Thời gian: Từ ngày 28/02/2018- 10/03/2018.

2.1.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát

Đối tượng: Để tìm hiểu về việc học chính tả của học sinh, chúng tôi tiến

hành khảo sát học sinh lớp 3A, 3B, 3D trường Tiểu học Tiến Thắng A- MêLinh- Hà Nội

Phạm vi: Thông qua một số bài Tập đọc mà học sinh đã học, tiến hành

cho học sinh Nghe- viết một đoạn văn hoặc một đoạn thơ cho học sinh lớp3A, 3B, 3D trường Tiểu học Tiến Thắng A- Mê Linh- Hà Nội

2.1.4 Thống kê bài viết chính tả

Số lượng: 150 bài

2.1.5 Nội dung khảo sát

Khảo sát các lỗi chính tả mà học sinh hay mắc phải:

- Lỗi phụ âm đầu

- Lỗi phần vần

Trang 25

- Lỗi thanh điệu

- Lỗi viết hoa

- Các lỗi khác

Tiến hành cho học sinh Nghe- viết vào giấy kẻ ô-li

2.1.6 Kết quả khảo sát thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Tiến Thắng A - Mê Linh - Hà Nội và nhận xét

Tỉ lệ Số

lượng (lỗi)

Tỉ lệ

%

Số lượng (lỗi)

Tỉ lệ Số

lượng (lỗi)

Tỉ lệ

%

Lỗi viết hoa: Dựa vào bảng thống kê, tôi nhận thấy lỗi viết hoa có số

lượng nhiều nhất 230 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 69,9%, học sinh thường mắc cáclỗi viết hoa như sau:Tên người, tên địa danh,…

+ Nguyễn Thị Thu Hà (Học sinh lớp 3B, trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Lỗi phụ âm đầu: Học sinh viết sai 53 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 16,1%.

Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi âm đầu, chủ yếu là lẫn lộn cácphụ âm đầu như: ch/tr, s/x, r/d/g, g/gh, ng/ngh

Ví dụ:

Trong câu: “Chúng gọi nhau, trò chuyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau, ồn

mà vui không thể tưởng được.” Học sinh viết lẫn lộn các phụ âm như ch/tr,

Trang 26

Trong câu: “Chúng gọi nhau, trò chuyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau, ồn

mà vui không thể tưởng được” Học sinh viết lẫn lộn phụ âm đầu ch/tr

+ chêu (ghẹo) - trêu (ghẹo) ( Học sinh Nguyễn Thị Thu Hà, lớp 3B,trường Tiểu học Tiến Thắng A)

+ chò (chuyện) - trò (chuyện) ( Học sinh Đại, lớp 3B, trường Tiểu họcTiến Thắng A)

+ chanh (cãi) - tranh (cãi) ( Học sinh Đỗ Đức Hiếu, lớp 3B, trường Tiểuhọc Tiến Thắng A)

Trong câu: “Chào mào, sáo sậu, sáo đen …”.Học sinh viết lẫn lộn phụ

Trong câu: “Chúng gọi nhau, trò chuyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau,

ồn mà vui không thể tưởng được” Học sinh viết lẫn lộn phụ âm đầu c/k

Trang 27

+ k/c: kãi – cãi (Học sinh Diệu Linh, lớp 3B, trường Tiểu học TiếnThắng A).

Trong câu: “Người ngồi trên lưng mặc áo xanh da trời” Học sinh viếtlẫn lộn phụ âm đầu r/d

+ r/d: ra (trời) - da (trời) (Học sinh Đỗ Quang Thái, lớp 3D, trường Tiểuhọc Tiến Thắng A)

Trong câu: “Rì rào sóng vỗ” Học sinh viết lẫn lộn phụ âm đầu r/gi

+ r/gi: gì giào - rì rào (Học sinh Đỗ Viết Đức, lớp 3A, trường Tiểu họcTiến Thắng A)

Lỗi phần vần: Học sinh viết sai 16 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 4,9% Chủ

yếu học sinh viết lẫn lộn một số vần sau: iên/ uyên, at/ac, uc/ up, an/ang/oang,iet/ iec, et/ep, uân/ân

Trang 28

Trong câu: “Mềm mại tay cô” Học sinh viết lẫn lộn vần en/em.

+ en/em: mền (mại) - mềm (mại) (Học sinh Đỗ Văn Hải, lớp 3A, trườngTiểu học Tiến Thắng A)

Trong câu: “Biển biếc bình minh” Học sinh viết lẫn lộn vần iêt/ iêc.+ iêt/iêc: (biển) biết - (biển) biếc (Học sinh Đỗ Anh Tú, lớp 3A, trườngTiểu học Tiến Thắng A)

Trong câu: “Như phép màu nhiệm” Học sinh viết lẫn lộn vần et/ep.+ et/ep: phét (màu) - phép (màu) (Học sinh Nguyễn Thị Dung, lớp 3A,trường Tiểu học Tiến Thắng A)

Trong cụm từ: “Theo Lê Tấn” Học sinh viết lẫn lộn vần uân/ân

+ uân/ân: (Lê) Tuấn – (Lê) Tấn

Lỗi thanh điệu: Học sinh mắc 13 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 3,1% Học sinh

thường viết thiếu dấu thanh, lẫn lộn dấu sắc với dấu ngã

Ví dụ:

+ sõng (vỗ) - sóng (vỗ) ( Học sinh Đỗ Minh Quân, lớp 3A, trường Tiểuhọc Tiến Thắng A)

Lỗi khác: Học sinh mắc 17 lỗi/ 150 bài, chiếm tỉ lệ 5,2% Các lỗi tiêu

biểu là: viết tắt, không xuống dòng, không lùi vào đầu dòng, không dùng dấugạch nối để viết tên nước ngoài

2.2 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh lớp 3

- Về phía giáo viên:

Dạy học phân môn chính tả tương đối phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải cónăng lực

Một số giáo viên chưa đầu tư thời gian để nghiên cứu kiến thức và đưa ranhững phương pháp dạy học phù hợp với học sinh, còn lệ thuộc vào sách giáokhoa, sách giáo viên dẫn đến việc dạy học trở nên khô khan, nhàm chán,không gây được hứng thú cho học sinh

Ngày đăng: 07/09/2019, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (1982), Chữ viết và Dạy chữ viết ở Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chữ viết và Dạy chữ viết ở Tiểu học
Tác giả: Lê A
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcSư phạm
Năm: 1982
2. Lê A, Thành Thị Yên Nữ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến (1996), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, (Giáo trình chính thức đào tạo giáo viên Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt, (
Tác giả: Lê A, Thành Thị Yên Nữ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục)
Năm: 1996
5. Nguyễn Sinh Huy (1997), Giáo trình Tâm lý học Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học Sư phạm
Năm: 1997
6. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2002), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nhàxuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2002
4. Phan Ngọc (1982), Chữa lỗi Chính tả cho học sinh Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữa lỗi Chính tả cho học sinh Tiểu học
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục Hà Nội
Năm: 1982
5. Hoàng Phê, Từ điển vần, Nhà xuất bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển vần
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
7. Sách giáo khoa Tiếng Việt, (Tập 1 và Tập 2), Nhà Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt
8. Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (2009), Tiếng Việt thực hành, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Nhàxuất bản Giáo dục
Năm: 2009
9. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn văn Hiệp (2007), Tiếng Việt thực hành, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn văn Hiệp
Nhà XB: Nhàxuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2007
10. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2002), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2002
3. Nguyễn Trí Dạy (2002), Dạy và học tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, Nhà xuất bản Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w